Tôi là một người yêu thơ nhưng chưa bao giờ đặt chân lên xứ Huế dù chỉ một lần. Nhưng qua những tác phẩm thơ hiện đại Việt Nam, tôi đã tưởng tượng được vẻ đẹp xứ Huế. Không chỉ một nhà thơ đặt bút viết về xứ Huế. Mà hàng ngàn nhà thơ những cây bút chuyên và không chuyên, họ đã sáng tác và vẫn đang nung nấu trong mình cái chất thơ đậm đà, cái men say ngọt ngào không dứt.
Xứ Huế trong tôi là một cõi tiên mơ mộng, không chỉ mang vẻ đẹp ở một điển nào đó mà xứ Huế là một vùng đất trọn vẹn, hài hoà giữa thiên nhiên và con người. Cái kết tinh giao hoà đó làm cho xứ Huế nổi bật về nhiều mặt. Ta không nói đến lịch sử hình thành xứ Huế cho đến nay mà chỉ bàn về xứ Huế trong thơ ca hiên đại Việt Nam.
Nói đến xứ Huế trước tiên ta phải nói đến dòng sông Hương. Dòng sông mà đã gợi thi hứng cho hàng bao nhiêu nhà thơ. Một đề tài vô tận để các nhà thơ thả hồn mình vào đó để lấy được trọn vẹn cái hồn của sông Hương - xứ Huế. Từ các nhà thơ cách mạng cho đến những nhà thơ lãng mạng dòng sông Hương đã trở thành biểu tượng của vẻ đẹp. Nhưng trước vẻ đẹp đó con người ta thường đổ vào nỗi buồn. Dường như cái dòng sông lấp lánh như những viên ngọc nằm trên dải lụa màu chảy qua đất Huế là một dòng sông luôn rửa cái buồn cho các thi sĩ (nhà thơ). Cái đẹp của nó có thể lấn áp được cái buồn bã rồi đổ ra biển Đông mà cái buồn nhất chính là ải tình. Ngoài ra còn sự đau khổ khác của cuộc đời, sự nhớ nhung với vùng đất tươi đẹp - xứ Huế. Họ gần như là tìm đến đề tài sông Hương để viết, để bày tỏ nỗi lòng mình dù là những tác giả nhiều khi chưa từng đến Huế hay đã từng đặt chân thì cảm xúc lại càng mãnh liệt. Tôi nhớ đến một câu của Nguyễn Bính :
"Nhớ gửi cho anh
Vài giọt nước sông Hương."
(Nguyễn Bính - Huế và em)
Hay
"Người đã ra đi hồn ở lại
Tình trăm năm ấy trở về nguồn
Hương Giang vẳng câu hò mái đẩy
Nét đài trang thấp thoáng đôi bờ"
(Hoàng Sa - Bến đợi sông chờ)
Và người ta cũng đưa cái nỗi thất tình ra. Hàn Mặc Tử khi nhìn được bức tranh phong cảnh Huế của Hoàng Cúc gửi đến trong bệnh tật và sự cô đơn chia lìa thì cảm xúc đã đến. Trong bức ảnh, những tưởng tượng trong óc người thi sĩ tuy có mơ hồ như những câu thơ để lại trong lòng người đọc là vĩnh cửu và trong các nhà nghiên cứu văn học bài thơ là một tác phẩm quý báu. Với ba khổ thơ thì Hàm Mặc Tử dành riêng khổ hai để miêu tả dòng sông Hương lúc đêm tối là hình ảnh mây gió, dòng nước và hình ảnh những cây bắp lay trong gió nhưng hay hơn cả vẫn là hai câu thơ:
"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"
(Hàm Mặc Tử - Đây thôn Vĩ Dạ)
Hay muốn cống hiến một cái gì đó lúc cuối đời, Thanh Hải đã làm một bài thơ đậm chất Huế đúng như một người con xứ Huế:
"Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc"
Dòng sông chính là dòng sông Hương xanh biếc và bông hoa tím đó chính là Thanh Hải. Bông hoa tím muốn toả hương, muốn nổi bật, muốn cống hiến nhiều cho đất nước dù là cuối đời sắp phải đi khỏi thế gian này. Kết thúc bài thơ chính là một câu hát mang đậm chất xứ Huế :
"Mùa xuân ta xin hát
Khúc Nam ai Nam bằng
Nước non ngàn dăm mình
Nước non ngàn dặm tình
Nhịp phách tiền đất Huế."
(Thanh Hải - Mùa xuân nho nhỏ)
Không chỉ những nhà thơ lãng mạng mà nhà thơ cách mạng nổi tiếng như Tố Hữu - một cây bút thơ sáng rực trong nền văn học cách mạng Việt nam. Trong tập thơ đầu tay "Từ ấy" người con xứ Huế bày đã viết về dòng sông Hương một dòng sông mà xuất hiện trên dòng là một cô gái đang buông chèo. Khát vong cho cô gái đó mà mở rộng ra cũng như khát vọng cho toàn dân tộc Việt Nam, "Ngày mai cô sẽ từ trong ra ngoài". Cái hình ảnh sông Hương với bối cảnh thiên nhiên con người cứ lập đi lập lại như một vòng tuần hoàn, được kết hợp khép kín. Và từ "Giang" như mở rộng vòng tuần hoàn đó làm cho khung cảnh thêm rộng thêm đau khi đất nước còn đang trong ách nô lệ thực dân, nhân dân không được nắm chủ quyền, đất nước còn bom đạn. Chính sự lặp đi lặp lại làm cho câu thơ có điệu nhạc, đúng như đề bài của nó "tiếng hát sông Hương".
"Trên dòng Hương giang
Em buông mái chèo
Trời trong veo
Nước trong veo
Em buông mái chèo
Trên dòng Hương giang."
(Tố Hữu - Tiếng hát sông Hương)
Hay khi Tố Hữu trở về Huế sau những năm rời xa. Được chở về cái nơi "chôn rau cắt rốn" thật vui biết bao ngay đầu bài thơ đã thấy Tố Hữu nhắc đếm mái chèo của sông Hương "Mái nhì man mác nuớc sông Hương"( Tố Hữu - Quê mẹ).
Không chỉ sông Hương mà còn còn rất nhiều địa danh thắng ảnh khác cũng đi vào thơ ca. Như thôn Vĩ Dạ nằm bên bờ sông Hương nơi mà chỉ dành cho vua quan và các hoàng thân quốc thích triều Nguyễn ở. Với những vườn cây "xanh như ngọc". Hàm Mặc Tử đã lấy cả khổ đầu tiên của bài Thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" để viết về ước muốn đến Huế qua câu hỏi, qua lời mời ở đầu bài "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?", và cũng nhấm mạnh vẻ đẹp con người qua câu "Lá trúc chen ngang mặt chữ điền". Một con người với khuôn mặt ven tròn... Nhưng tất cả những hình ảnh đó là để nhấn mạnh và làm điểm tựa cho miêu tả thiên nhiên Vĩ Dạ thêm cân bằng và hài hoà. Thôn Vĩ được hiện lên bắt đầu từ hàng cau cao khi nhìn xa xa trong nắng sớm:
"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc".
Vẻ đẹp thôn Vĩ còn được một người bạn của Hàm Mặc Tử đó là Bích Khuê viết với thể lục bát dản dị:
"Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thôn
Biếc buông cành trúc không buồn mà say"
(Bích Khuê - Huế đa tình)
Tân Văn một nhà thơ từ Canada cũng viết về thôn Vĩ có điểm giống với Hàm Mặc Tử. Hàng cau cũng được hiện lên đầu tiên trong nắng, nhưng là nắng trưa và cũng có một lời mời nhưng thay vai so với Hàm Mặc Tử . Chính tác giả thân phận con trai mời người con gái đến.
"Em có về thăm thôn Vĩ xưa
Hàng cau xanh mượt dưới nắng trưa"
(Tân Văn - Trời Huế vào Thu)
Hình ảnh núi Ngự Bình, chùa Thiên Mụ cũng được vang lên trong những câu thơ viết về xứ Huế:
"Huế có núi Ngự Bình hồng tươi da thịt"
Hay
"Huế có phép thiêng chùa Thiên Mụ"
(Trần Trúc Tâm - Huế)
Một cách so sánh thật đặc biệt "Ngự Bình hồng tươi như da thịt" Đúng như ngọn núi có sức sống như con người với vẻ đẹp hồng hào tươi tắn. Còn chùa Thiên Mụ có phép thiêng đặt vào hình ảnh chùa thật hợp lí. Núi thì đẹp, chùa thì thiêng.
Ngẫm cái cảnh trong thơ và thử tưởng tưởng bằng tâm hồn, ta nhận ra được xứ Huế đẹp chừng nào! Sông Hương, Thôn Vĩ, núi Ngự Bình, chùa Thiên Mụ chỉ mới ngần ấy phong cảnh thôi ta cũng thấy xứ Huế đẹp không kém đất Thăng Long. Người ở xa thi luôn khao khát, ao ước ngày đến Huế với nỗi mong ước triền miên:
"Như trời hạn hán ngóng mưa
Mong ra thăm Huế vẫn chưa một lần."
(Phan Tạo - Huế và em)
Và Huế đưa nỗi nhớ cho những người đi xa:
"Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh anh nhớ trong mơ
...
Hải Vân ơi, xin đừng tắt ngọn đèn khuya".
(Thu Bồn - Tạm biệt)
Cái phong cảnh đẹp mà không có cả vẻ đẹp con người thì thật nhàm chán khô cằn như trong hoang mạc vậy. Và chính con người xứ Huế tôn lên vẻ đẹp phong cảnh mà làm cho người ta nhớ nhung :
"Huế xưa vương vãi vẫn vương
Tóc em mưa gội nhớ thương nghìn trùng."
(Bích Vân - Về Huế nghe mưa)
Nói đến con người xứ Huế chủ đạo trong thơ ca là hình ảnh người phụ nữ - những cô gái trẻ. Với tà áo dài thướt tha và chiếc nón tạo lên vẻ dịu dàng. Trong cái sương mờ ở Cung Đình Huế người con gái xuất hiên lên ẩn hiện mờ ảo vào làn sương:
"Áo em trắng xoá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh"
(Hàm Mặc Tử - Đây thôn Vĩ Dạ)
Bóng dáng người con gái hiện lên với biết bao nhiêu mờ ảo trong bóng sương và tà áo trắng lại càng làm mờ hình ảnh người con gái.Cái áo trắng dường như để lại ấn tượng mạnh trong nhà thơ. Mưa nhiều tạo ra các mảng sương che cô gái đến nỗi "mờ nhân ảnh". Đây chính là sự mơ mộng mà Hoàng Cúc trong tưởng tưởng nhà thơ trong bức ảnh Hoàng Cúc gửi đến. Đó là sự đích thực của người con gái xứ Huế mờ ảo xa xôi trong sự cách biệt giữa hai người có một khoảng xa.
Người con gái xứ Huế đẹp đến nỗi một lần nhìn thấy đã yêu với chiếc nón bài thơ Tân Văn có sự cảm nhận riêng và độc đáo cái đẹp của người phụ nữ Huế đã hút hồn anh nhưng Tân Văn cũng chưa miêu tả cặn kẽ vẻ đẹp người con gái xứ Huế
"Hỡi cô gái Huế của tôi ơi!
Cô đã làm tôi mơ mông rồi."
Hay
"Chiếc nón bài thơ rất gợi tình
Tóc thề duyên dáng má xinh xinh".
(Tân Văn - Gửi cô gái Huế)
Thật sự người con gái xứ Huế đẹp và duyên dáng đến mấy nhưng muốn yêu được, trong mắt Tân Văn thì khó khăn vô cùng. Anh lại viết với một giong đầy thất vòng:
"Cô ơi! Xa quá làm sao với
Tình tôi đành gửi đến trăng sao".
(Tân Văn - Gửi cô gái xứ Huế)
Người con gái Huế trong mắt Đặng Khánh Lê thì lại khác. Chắc do mỗi người có một tính cách khác nhau yêu mến và gợi cảm hứng từ những nhân vật khác nhau. Cho nên trong mắt anh người con gái xứ Huế hay hờn, hay nhăn, không thích trêu đùa muốn sự dịu dàng. Nếu nói như vậy ta có thể hiểu được tính cách của người con gái xứ Huế ưa nịnh, thích những lời ngọt ngào.
"Gái Huế theo anh thật hay hờn
Mới đùa chút xíu dỗi anh luôn".
Hay
"Gái Huế theo anh thật hay nhăn
Cứ bắt người ta phải dịu dàng".
(Đặng Khánh Lê - Gái quê)
Thật đẹp! Thiên nhiên con người xứ Huế có vẻ đẹp ấn tượng trong các nhà thơ để lại biết bao dấu ấn cho người đọc. Không chỉ vậy các nhà văn cũng viết rất nhiều về mảnh đất tươi đẹp này như Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường... Xứ Huế đẹp như vậy nhưng vẫn có lời than:
"Giời mưa xứ Huế sao buồn thế?
Cứ kéo dài ra hết cả ngày"
(Nguyễn Bính - Huế và em)
Đúng là một lời than về theo chiều hướng bác bỏ vẻ đẹp xứ Huế. Nhưng thật sự ta đọc hết bài thơ này thì ta thấy Nguyễn Bính cũng say lòng với cái mảnh đất đa tình này cũng ngã mình trước vẻ đẹp không dứt. Chính mưa nhiều lại là đặc sắc riêng cho xứ Huế. Mưa tạo ra các lớp sương mờ ảo mà chính các lớp sương đã gợi thi hứng cho hàng bao nhiêu nhà thơ. Các xứ Huế ông trời đã ban cho những cơn mưa tao lên đặc sắc riêng không nơi nào có trên đất nước Việt Nam. Các nhà thơ thả buồn, thả nhớ, thả hồn say đắm từ cảnh vật đến con người rồi tạo ra những kiệt tác.

TS Nguyễn Trí Hiếu (VN)
Thi sĩ, Chuyên gia tài chánh ngân hàng