Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Hai 2026
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 12
 Lượt truy cập: 28530932

 
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP 02.02.2026 13:30
Việt Nam – Trung Quốc: Những chênh lệch về thành quả
28.12.2010 15:21

Những khác biệt về chất lượng quản lý, và nhỏ hơn là về các quy định luật pháp, là hai nhân tố thể chế mà Trung Quốc có ưu thế hơn Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam có một lợi thế so với Trung Quốc về ổn định chính trị. Như vậy, các thể chế dường như vẫn không phải là nhân tố quyết định sự chênh lệch về tăng trưởng giữa hai nước.

Tác giả: Vũ Minh Khương

Trong năm thập kỷ vừa qua, Đông Á đã nổi lên là một khu vực với những câu chuyện ngoạn mục về sự phát triển kinh tế. Ngân hàng Thế giới (WB) đã xác định 8 nền kinh tế châu Á đạt thành quả cao nhất (HPAEs) là Nhật Bản, "Bốn Con rồng châu Á" gồm Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan, và ba nền kinh tế mới được công nghiệp hóa (NIEs) gồm Indonesia, Malaysia và Thái Lan.

Trong khi bốn Con rồng châu Á và NIEs đều đạt được các thành quả ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và phát triển, giữa các nền kinh tế này vẫn có sự khác biệt về nhịp độ và hiệu quả của tăng trưởng. Hơn nữa, sự phục hồi chậm chạp sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 của các nền kinh tế NIEs cũng như của bốn Con rồng châu Á khiến ta nghĩ rằng hai nhóm này có những khác biệt đáng kể về các nhân tố cơ bản tạo ra thành quả kinh tế của họ.

Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế đáng chú ý kể từ khi phát động cuộc cải cách kinh tế trong nước (Trung Quốc vào năm 1978 và Việt Nam năm 1986). Tuy nhiên, giống như giữa bốn Con rồng châu Á với NIEs, hai nước này cũng chứng kiến những khác biệt lớn về thành quả tăng trưởng kinh tế. Trung Quốc và Việt Nam đi theo những mô hình tăng trưởng tương tự nhau, nhưng tăng trưởng của Việt Nam hiện thấp hơn của Trung Quốc rất nhiều.

Bên cạnh Trung Quốc, cần phải nhấn mạnh rằng Ấn Độ, nước đã thúc đẩy tăng trưởng mạnh kể từ khi tiến hành cải cách năm 1991, cũng đã làm tốt hơn Việt Nam từ năm 2004, và cả Trung Quốc và Ấn Độ dự kiến sẽ phục hồi nhanh hơn Viêt Nam sau cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay.

Các quan sát trên cho thấy sự khác biệt về thành quả kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ lớn hơn nữa, chứ không đơn giản là sự chênh lệch về số lượng trong tăng trưởng kinh tế vào một thời gian nào đó.

Những nét tương đồng

Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vào năm 1949, trong khi quá trình này ở Việt Nam bắt đầu năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước thống nhất. Cả Trung Quốc và Việt Nam đã bắt đầu phát triển kinh tế từ những nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.

Tháng 12/1978, phiên họp toàn thể lần thứ ba của Ủy ban trung ương đảng lần thứ 11 ở Trung Quốc đã đưa ra sáng kiến về cuộc cải cách kinh kế. Tám năm sau, vào tháng 12/1986, Đại hội lần thứ VI của đảng Cộng sản Việt Nam cũng phát động cải cách kinh tế, được biết đến với cái tên "Đổi Mới". Dù các cuộc cải cách kinh tế ở hai nước được khởi động cách nhau gần một thập kỷ, nhưng hai cuộc cải cách này có những đặc điểm tương đồng, về bối cảnh dẫn tới cải cách, các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ban đầu, cũng như các phương pháp tiến hành cải cách và quản lý kinh tế.

Thực vậy, cuộc cải cách kinh tế ở cả hai nước đề xuất phát từ bối cảnh gồm ba nhân tố quan trọng cần cho sự thay đổi: khả năng lĩnh hội cái mới, khủng hoảng và cơ hội. Trong thời kỳ tiền cải cách (ở Trung Quốc từ năm 1949-1978, ở Việt Nam từ năm 1954-1986), hai nước đã có những nỗ lực vượt bậc nhằm xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, song chưa thành công. Trung Quốc bị bần cùng hóa bởi thảm họa Đại Nhảy vọt và Cách mạng văn hóa, trong khi nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ vì chính sách tập thể hóa đất đai, quốc hữu hóa công nghiệp tư nhân và các thể chế thương mại.

Sau gần 30 năm phát triển kinh tế với mức tăng trưởng hàng năm đạt 2,7%, GDP trên đầu người của Trung Quốc năm 1978 chỉ đạt 164 USD. Năm 1986, Việt Nam bị liệt vào danh sách các nước nghèo nhất thế giới, với GDP trên đầu người chỉ là 203 USD. Tăng trưởng chỉ đạt 1,4% trong 10 năm sau khi đất nước thống nhất năm 1976 và Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào viện trợ kinh tế của Liên Xô.

Các mô hình phát triển kinh tế làm ai cũng thấy nản này đã khiến Trung Quốc và Việt Nam quyết định thay đổi cách quản lý kinh tế. Đối với Việt Nam vào năm 1986, thái độ sẵn sàng thay đổi càng lớn hơn khi cải cách kinh tế ở Trung Quốc đã bước đầu thành công.

Ngoài ra, hai nước đều phải đối mặt với những khó khăn lớn khiến các cuộc cải cách của họ trở nên cấp thiết hơn. Lĩnh vực nông nghiệp của Trung Quốc suy giảm 1,8% trong năm 1976 và 2,2% năm 1977. Trong khi đó, Việt Nam chứng kiến cảnh thiếu lương thực trầm trọng, siêu lạm phát và trợ cấp giảm. Sản lượng lương thực trên đầu người hàng năm giảm từ 304kg (quy ra thóc) năm 1985 xuống còn 301kg năm 1986 và 281kg năm 1987. Tỷ lệ lạm phát cao phi mã: 90% năm 1985, 455% năm 1986, 361% năm 1987 và 374% năm 1988. Trợ giúp hàng năm tính theo đầu người mà Việt Nam nhận được giảm hơn 50%, từ 6 USD/người trong những năm 1978-1982 xuống còn 2,6 USD những năm 1983-1987.

Các cuộc cải cách ở hai nước trở nên khả thi nhờ một số nhân tố bên ngoài và bên trong. Đối với Trung Quốc, Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời năm 1976 đã mở đường cho Đặng Tiểu Bình trở thành hạt nhân của ban lãnh đạo đảng. Đối với Việt Nam, các chương trình cải cách cơ bản, được Mikhail Gorbachev phát động từ năm 1985 ở Liên Xô - sau này là mô hình phát triển kinh tế cho Việt Nam cũng như việc cung cấp các hỗ trợ chính cho người dân - nói trong chừng mực nào đó, đã gợi cảm hứng cho giới lãnh đạo Việt Nam. Hơn nữa, khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời năm 1986, Việt Nam chuyển sang giai đoạn cải cách mà Đại hội đảng VI hồi tháng 12/1986 đã đề ra.

Các bối cảnh tương tự nhau đã dẫn tới các cuộc cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam như đã nói ở trên là nền tảng cho thực tế là các cuộc cải cách ở cả hai nước mang tính kinh tế hơn là chính trị.

Về các điều kiện phát triển kinh tế - xã hội ban đầu, Trung Quốc và Việt Nam ở mức độ phát triển tương đương nhau trong nhiều lĩnh vực, trong đó có nguồn nhân lực cơ bản, kinh tế và cơ sở hạ tầng. Hai nước có tỷ lệ người biết đọc biết viết và có chế độ dinh dưỡng như nhau. Nếu tuổi thọ ở Trung Quốc cao hơn thì Việt Nam lại vượt về tỷ lệ người trưởng thành biết chữ và tỷ lệ người ở tuổi trung niên.

Nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam khi khởi động cải cách đều ở mức chưa phát triển, với GDP đầu người đạt 165 USD ở Trung Quốc và 203 USD ở Việt Nam. Bên cạnh cấu trúc GDP, lĩnh vực công nghiệp là chủ đạo ở Trung Quốc (48,2%), trong khi ở Việt Nam nông nghiệp là lĩnh vực chủ chốt (38,1%). Sự khác nhau này đặt ra cả ưu và nhược điểm cho cả hai nước trong giai đoạn đầu cải cách kinh tế. Đối với Trung Quốc, lĩnh vực công nghiệp rộng lớn, chủ yếu do nhà nước sở hữu, tạo ra nền tảng vững chắc hơn để công nghiệp hóa, song tính hiệu quả rất kém của nó - quá nhiều nhân công lại thiếu định hướng thị trường - đòi hỏi những nỗ lực lớn và thiện chí chính trị mạnh mẽ để cải cách. Đối với Việt Nam, lĩnh vực nông nghiệp nòng cốt có thể cho phép "nhảy cóc" với các dự án phát triển công nghiệp mới. Tuy nhiên, ngành công nghiệp nhỏ bé cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam gặp khó khăn khi tìm kiếm các nhân công lành nghề và xây dựng một mạng lưới công nghiệp phụ trợ ngay từ đầu quá trình công nghiệp hóa.

Về kinh tế nông thôn, 80% dân số của cả hai nước sống tại khu vực nông thôn, và hai nước đều có sản lượng ngũ cốc trên hecta tương đương nhau (2,802 kg đối với Trung Quốc và 2,715 kg đối với Việt Nam). Nền kinh tế cả hai nước đều mở cửa ở mức rất thấp và có cơ sở hạ tầng yếu kém khi bắt đầu tiến hành cải cách. Tỷ trọng xuất khẩu trong GDP đạt 6,6% ở cả hai nước. Tỷ lệ người sử dụng điện thoại (tính trên 1.000 dân) là 1,3 ở Việt Nam và 2,0 ở Trung Quốc.

Trong khi các cuộc cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam được khởi động dưới sức ép của sự thất vọng về kinh tế và nhu cầu rất lớn phải tìm ra một con đường mới để xây dựng nền kinh tế, quan tâm lớn của lãnh đạo hai nước là duy trì ổn định chính trị và quyền lực tuyệt đối của đảng Cộng sản. Kết quả là, để xác định tính hợp pháp của hệ thống chính trị, hai nước chọn cách tiến hành cải cách "từng bước" với mục tiêu đặc biệt là tăng trưởng kinh tế. Về mặt này, hai bên có một số tương đồng lớn:

- Khởi động cải cách là quyết định bước ngoặt của đảng Cộng sản với một đội ngũ lãnh đạo mới.

- Quản lý lĩnh vực nông nghiệp: hai nước đều đưa vào một "hệ thống trách nhiệm thỏa thuận với hộ gia đình". Bước này đã biến hộ ra đình thành một đơn vị sản xuất, khích lệ nông dân nỗ lực tối đa. Điều này chính thức diễn ra ở Trung Quốc năm 1980 và ở Việt Nam năm 1988, tức là khoảng hai năm sau khi phát động cải cách ở hai nước.

- Hợp pháp hóa sự hình thành và phát triển của lĩnh vực tư nhân. Bước này được Trung Quốc thực hiện năm 1982 thông qua sửa đổi hiến pháp, đặt lĩnh vực tư nhân là "một thành phần bổ sung của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa". Việt Nam cũng làm theo năm 1990 với việc ban hành Luật Công ty.

- Các cuộc cải cách doanh nghiệp vừa và nhỏ (SOE) và "nâng cấp sân chơi" được tiến hành theo ba bước. Giai đoạn đầu (1979-1984 đối với Trung Quốc và 1987-1994 đối với Việt Nam) tập trung trao cho SOE quyền tự quyết nhiều hơn và làm cho các doanh nghiệp này hướng vào thương mại hơn trong khi xóa bỏ nền kinh tế chỉ huy. Bước hai (1985-1993 đối với Trung Quốc và 1994-1998 đối với Việt Nam) nhằm tái cấu trúc SOE trong khi thiết lập một khung pháp lý cho các doanh nghiệp này hoạt động trong một nền kinh tế thị trường. Giai đoạn ba (từ 1994 tại Trung Quốc và từ 1999 tại Việt Nam) nhằm nâng cấp sân chơi cho tất cả các tác nhân trong nền kinh tế và tăng tốc khối tư nhân.

- Hai nước đã tích cực tận dụng toàn cầu hóa, nỗ lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thúc đẩy xuất khẩu. Cả hai đều ban hành các đạo luật thu hút FDI ngay sau khi phát động cải cách (năm 1979 ở Trung Quốc và 1987 ở Việt Nam).

- Các cuộc cải cách tài chính. Cả hai nước đã bắt đầu cải cách lĩnh vực ngân hàng, tách các ngân hàng thương mại lớn của nhà nước khỏi ngân hàng trung ương và đặt chúng vào một nền tảng thương mại nghiêm ngặt hơn với việc thành lập thị trường chứng khoán và các ngân hàng tư nhân. Phải mất hơn một thập kỷ kể từ khi bắt đầu cải cách, hai nước mới cho ra đời thị trường chứng khoán đầu tiên của mình (Trung Quốc năm 1990 và Việt Nam năm 2000).

Hai nước có những khác biệt đáng kể, như quy mô dân số, các đặc điểm lịch sử và tính hiệu quả của đội ngũ lãnh đạo. Các yếu tố dân số và lịch sử tạo cho mỗi nước một số ưu điểm, được cho là có một tác động đáng kể tới thành quả kinh tế. Dân số đông khiến Trung Quốc có sức hút lớn về thị trường và nguồn lao động cả lành nghề và phổ thông. Thời kỳ phát triển hòa bình lâu dài của Trung Quốc cũng khiến hệ thống chính trị của họ ít phải quan tâm tới di sản chiến tranh và tập trung hơn vào phát triển đất nước. Phía bên kia, dân số ít hơn khiến Việt Nam nhanh nhẹn hơn. Bên cạnh đó, Việt Nam có một lợi thế là "người đến sau", cho phép họ nghiên cứu và học hỏi từ các kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc mà không phải trả một giá nào. Sự nổi lên của Trung Quốc cũng biến Việt Nam thành một điểm đến thu hút FDI vì các nhà đầu tư nước ngoài luôn muốn đa dạng hóa đầu tư của mình với mô hình "Trung Quốc cộng một".

Như vậy, mỗi nước đều có thể tận dụng một số lợi thế đáng kể từ các đặc điểm của mình để thúc đẩy các thành quả kinh tế.

Việt Nam đã đi qua 20 năm cải cách và Trung Quốc 30 năm, các phân tích so sánh về tăng trưởng của hai nước này cho thấy những khác biệt. Tăng trưởng của Trung Quốc trong 20 năm đầu cải cách đã vượt xa của Việt Nam. GDP trên đầu người của Trung Quốc đạt 9,8%, trong khi của Việt Nam là 7,1%. Ngoài ra, cũng tồn tại một khoảng cách lớn giữa hai nước trong mỗi giai đoạn kế hoạch 5 năm. Trong 20 năm, GDP của Trung Quốc tăng 6,5 lần trong khi của Việt Nam chỉ tăng 4 lần.

Việt Nam bị bỏ xa đằng sau Trung Quốc không chỉ về số lượng mà còn về chất lượng tăng trưởng. Điều này thể hiện trong khoảng cách tăng trưởng tổng sản lượng (TFP), tăng trưởng về sản lượng trong lĩnh vực nông nghiệp và một số chỉ số phát triển chọn lọc. Trong thời gian từ 1986-2006 tăng trưởng TFP của Trung Quốc cao hơn nhiều của Việt Nam.

Cần phải nhấn mạnh rằng tăng trưởng TFP của Việt Nam trong giai đoạn đầu cải cách 1986-1996 ở mức khá cao (4,4%), gần với của Trung Quốc (5,6%). Tuy nhiên, con số này của Việt Nam từ 1996-2006 giảm còn 1,8% trong khi Trung Quốc duy trì ở mức cao 4,5%.

Sự sụt giảm tăng trưởng TFP và khoảng cách lớn giữa Việt Nam và Trung Quốc cho thấy tính hiệu quả của tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đang xuống cấp.

So sánh các chỉ số phát triển xã hội của Trung Quốc và Việt Nam cho thấy nhiều khác biệt.  Việt Nam có sức cạnh tranh cao với Trung Quốc về mặt các biện pháp cơ bản nhằm phát triển nhân lực. Tuy nhiên, Việt Nam lại gần bằng Trung Quốc trong các chỉ số khác như khả năng nghiên cứu, sự lan tràn bệnh AIDS và tai nạn giao thông. Tỷ lệ người chết vì AIDS tăng từ 10,9 (tính trên 100.000 người) vào năm 2003 lên 15,7 năm 2005 (tăng 44%) ở Việt Nam, trong khi các con số của Trung Quốc lần lượt là 2,0 và 2,4. Tỷ lệ chết vì AIDS của Việt Nam cao hơn Trung Quốc 5,5 lần vào năm 2003 và 6,5 lần vào năm 2005. Tỷ lệ chết vì tai nạn giao thông ở Việt Nam tăng 176%, từ mức 7,9 vào năm 1998 lên 13,9 năm 2003, tức là cao hơn ở Trung Quốc 1,3 lần vào năm 1998 và 1,7 lần vào năm 2003.

Việt Nam đã đuổi kịp Trung Quốc về tuổi thọ và số người biết chữ trong khi vượt xa Trung Quốc về tỷ lệ chết ở trẻ em (từ năm 2000), tỷ lệ sử dụng internet (từ năm 2004) và tỷ lệ sinh viên học tập tại Mỹ (từ năm 2006).

Thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam năm 1986 thấp hơn ở Trung Quốc từ 20-30% (Việt Nam: 203 USD/người, trung bình sức mua 1,031 USD; Trung Quốc: 311 USD/người, trung bình sức mua là 1,289 USD). Điều này có nghĩa là mức thu nhập ban đầu có lợi cho Việt Nam và đó hoàn toàn không phải là một nhân tố thúc đẩy thành quả tăng trưởng nhanh hơn.

Trong khi nguồn nhân lực cơ bản bị ảnh hưởng bởi chính sách, nó lại được định hình cơ bản bởi di sản xã hội.  Việt Nam và Trung Quốc có những tương đồng khá lớn về nguồn nhân lực vì sự giống nhau về địa lý, văn hóa và lịch sử. Thực vậy, như đã nói ở trên, Việt Nam có sức cạnh tranh cao với Trung Quốc về các phép đo cơ bản nguồn nhân lực, như kiến thức giáo dục, chăm sóc y tế và áp dụng công nghệ thông tin. Điều đó có nghĩa là nguồn nhân lực cơ bản cũng không phải là nhân tố tạo ra sự khác biệt về tăng trưởng giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Sự khác biệt về thể chế được so sánh thông qua các yếu tố như sự ổn định chính trị, pháp luật và chất lượng điều tiết của nhà nước.

Sự ổn định chính trị gồm khả năng chính phủ không bị bất ổn bởi các nhân tố vi hiến và bạo lực, bao gồm cả chủ nghĩa khủng bố. Về điểm này, Việt Nam rõ ràng ở mức độ tốt hơn Trung Quốc. Vì sự ổn định chính trị có một tác động vững chắc đến đầu tư và tăng trưởng, nên nhân tố này được coi là một điểm hơn của Việt Nam so với Trung Quốc.

Luật pháp được xác định là mức độ mà người dân tin và tuân thủ các quy định xã hội, trong đó có chất lượng tuân thủ hợp đồng, chất lượng của tòa án và cảnh sát, cũng như khả năng phạm tội và bạo lực. Về điểm này, Việt Nam kém Trung Quốc. Luật pháp có một tác động lớn tới tăng trưởng, vì vậy nhân tố này cũng có ảnh hưởng nào đó tới khoảng cách về tăng trưởng giữa hai nước.

Chất lượng quản lý là khả năng chính phủ đưa ra các chính sách và quy định giúp thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực tư nhân. Về điểm này, cả hai nước còn yếu. Tuy nhiên, Trung Quốc mạnh hơn Việt Nam. Vì vậy nhân tố này cũng góp phần tạo ra sự cách biệt về thành quả tăng trưởng giữa hai nước.

Tóm lại, những khác biệt về chất lượng quản lý, và nhỏ hơn là về các quy định luật pháp, là hai nhân tố thể chế mà Trung Quốc có ưu thế hơn Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam có một lợi thế so với Trung Quốc về ổn định chính trị. Như vậy, các thể chế dường như vẫn không phải là nhân tố quyết định sự chênh lệch về tăng trưởng giữa hai nước.

Quốc Thái dịch



Trật tự thế giới mới ra đời như thế nào?

Kỷ nguyên đa cực đã đến và nó hoàn toàn không giống như Mỹ tưởng tượng.

Bạn đang muốn tìm một dấu hiệu cho thấy kỷ nguyên đa cực đã bất ngờ trở thành hiện thực từ khi nào? Bạn có thể đúng khi nhắc tới ngày mà Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ - hai cường quốc mới nổi say mê chủ nghĩa quốc tế nhất thế giới - hồi tháng Năm vừa qua cùng tuyên bố đã tham gia làm trung gian cho một thỏa thuận hoán đổi hạt nhân với Iran, có thể mở đường tới một giải pháp hòa bình cho bế tắc hạt nhân hiện nay.

Thổ Nhĩ Kỳ và Brazil không phải là các siêu cường, cũng không phải là thành viên của Hội đồng Bảo an LHQ. Nhưng chỉ khi Tổng thống Mỹ Barack Obama nhậm chức với tuyên bố một mục tiêu mới về chủ nghĩa đa phương, các cường quốc đang nổi đã nhắc nhớ chúng ta rằng tôn trọng thứ bậc tôn ti không còn là nhiệm vụ của bất kỳ ai.

Chỉ vài thập kỷ trôi qua đã tạo ra sự khác biệt như thế nào? Mới cách đây hơn 20 năm, khi Tổng thống Mỹ George H.W. Bush - người vừa chứng kiến sự sụp đổ của Bức tường Berlin và thấy Liên Xô tan rã trước mắt - đã đứng trước bục diễn thuyết của Đại hội đồng LHQ ở New York và tuyên bố một "trật tự thế giới mới" - hệ thống quốc tế do Mỹ làm chủ "trong đó các quy định luật pháp thay thế luật rừng".

Hai thập kỷ sau, "trật tự thế giới mới mới hơn" mà chúng ta đang chứng kiến hầu như không giống những gì ông Bush và hầu hết người Mỹ từng tưởng tượng và hy vọng.

Tất nhiên, Mỹ vẫn là cường quốc quân sự mạnh nhất thế giới, nhưng tác dụng của nó đang giảm dần khi khả năng răn đe và chống trả suy giảm. Chỉ cần nhìn vào Iraq và Afghanistan. Sức mạnh quân sự và tầm ảnh hưởng chính trị không còn đi đôi với nhau nữa, và có khi, quá nhiều sức mạnh quân sự còn hủy hoại ảnh hưởng chính trị.

Về cơ bản, thế giới đã nhanh chóng trở nên đa cực, với việc Liên minh châu Âu trở thành một tác nhân kinh tế lớn mạnh hơn Mỹ trong khi Trung Quốc nổi lên nhanh chóng về mọi mặt cả quyền lực cứng và quyền lực mềm. Ngày nay Obama không thể phát biểu về "trật tự thế giới mới"; ông phải thương lượng về trật tự này với những người đồng cấp ở Brussels và Bắc Kinh. Và về khía cạnh dân chủ: làm quen với chủ nghĩa tư bản nhà nước đã trở thành một mục từ mới trong kho từ vựng gồm các lựa chọn ngoài phương Tây mà mọi quốc gia ngày nay. Không ai còn nhắc tới sự Đồng thuận Washington nữa, mà thay vào đó là sự Đồng thuận Bắc Kinh, Đồng thuận Mumbai, và thậm chí một cái gì đó hơi bông đùa được gọi là sự Đồng thuận Canuck cũng đang nằm trong trái tim và trí óc giới ưu tú toàn cầu.

Thế chỗ một thế giới của các đồng minh là một thế giới của liên kết đa phương. Toàn cầu hóa không bao giờ có nghĩa là phải chọn bên nào. Hãy nhìn vào các nước vùng Vịnh Persic. Họ đã đạt các thỏa thuận vũ khí trị giá lớn với Washington, mua vũ khí để tái đầu tư những đồng đôla dầu lửa của mình và răn đe Iran; ký các hợp đồng thương mại khổng lồ với Trung Quốc; và thương thảo các thỏa thuận về tiền tệ với Liên minh châu Âu.

Nếu còn chút nghi ngờ nào thì chỉ cần xem cách Mỹ đã dừng một số dự án sản xuất vũ khí chung với Israel để chừng phạt việc nước này bán công nghệ nhạy cảm cho Trung Quốc, nước đến lượt mình lại bán công nghệ tên lửa cho Iran - quốc gia có giới lãnh đạo muốn xóa tên Isarel trên bản đồ thế giới. Mọi người đều đang chơi người khác như trong trò tiến thoái lưỡng nan của tù nhân, luẩn quẩn không có hồi kết.

Bush - cha đã chọn cách tuyên bố trước LHQ một lý do: Mỹ là siêu cường bá chủ, nhưng ông ta lại là một người theo chủ nghĩa đa phương. Bị tê liệt trong thời Chiến tranh Lạnh, LHQ hiện có một cơ hội để đóng vai trò trung tâm như một vị trọng tài về quản lý toàn cầu mà tổ chức này từng hình dung. Nhưng thay vì là hiện thân của chủ nghĩa đa phương, LHQ lại tỏ ra chỉ là một biểu hiện của chủ nghĩa này.

Các cơ quan độc lập như Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) - vừa trở nên quan trọng hơn sau cuộc khủng hoảng tài chính - lại đang là những thể chế toàn cầu duy nhất hoạt động hiệu quả, nhưng chỉ mang bản chất thuần túy kinh tế. Còn nhóm G-20 thì khó nhọc theo đuổi sự quảng bá của mình là "ban lãnh đạo mới của thế giới".

Trước hội nghị gần đây nhất tại Seoul (Hàn Quốc), các lãnh đạo thế giới đã mô tả các đề nghị của Mỹ về việc cân đối thặng dư cán cân thanh toán và thâm hụt là "chẳng dẫn tới đâu".

Hội đồng Bảo an từ lâu đã không còn hợp pháp và hiệu quả, với triển vọng mong manh về cải tổ từ bên trong. Như chúng ta đã rút ra bài học đau đớn trong năm nay, LHQ không thể thúc đẩy một thỏa thuận chống biến đổi khí hậu toàn cầu và không thể khiến thế giới đạt các Mục tiêu thiên niên kỷ. Trong mọi vấn đề, đều có vài cơ quan đặc biệt, như Chương trình Lương thực Thế giới và Cao ủy LHQ về người tị nạn, nhưng các cơ quan này chủ yếu bảo vệ những người góp quỹ và chỉ can thiệp trong lĩnh vực của mình.

Cái sát sườn nhất mà chúng ta phải quản lý một cách đa phương đang diễn ra ở cấp độ khu vực, và đầy hứa hẹn, dù đó là Liên minh châu Âu siêu quốc gia, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á non trẻ, hay Liên minh châu Phi mới sinh. Mỗi tổ chức này đang tạo ra một trật tự khu vực, được thêu dệt từ các ưu tiên và mức độ phát triển của mỗi thành viên. Tại Sudan và Somalia, chính Uganda đang cầm đầu các nỗ lực ngoại giao và gìn giữ hòa bình. Đối với trường hợp Palestine, Liên đoàn Arập đang cân nhắc thành lập một lực lượng gìn giữ hòa bình. Và trong vấn đề Iran, Thổ Nhĩ Kỳ đang giữ vai trò hàng đầu.

Thế giới của năm 1990 đã kỳ vọng về cơ bản tiếp tục mang tính quốc tế. Nhưng thay vì thế, cấu trúc của nó đã thay đổi vì quá trình toàn cầu hóa đã trao quyền vào tay hàng loạt các tác nhân phi nhà nước xuyên quốc gia, từ các tập đoàn tới những tổ chức phi chính phủ và các nhóm khu vực. Kết quả là các tác nhân làm nên thế giới ngày nay chồng chéo nhau và tranh giành nhau quyền hợp pháp. Quỹ Gates tung ra nhiều tiền mỗi năm hơn bất kỳ quốc gia châu Âu nào. Các ngôi làng ở Nigeria trông đợi hãng dầu khí Shell chuyển hàng hóa cho mình chứ không mong chờ từ chính phủ nước này. Và tổ chức Oxfam xác định các ưu tiên của cơ quan phát triển Anh này, thay vì điều ngược lại.

Cả Mỹ và Liên hợp quốc đều không thể làm gì. Mỗi năm qua đi, các thỏa thuận tại Davos và Sáng kiến toàn cầu Clinton càng trở nên quan trọng hơn những tuyên bố sáo rỗng tại các hội nghị thượng đỉnh quốc tế. Những địa điểm gặp gỡ này chính là những nơi mà "trật tự thế giới mới mới hơn" đang hình thành. Và nó diễn ra từ dưới lên, chứ không phải từ trên xuống./.

Quốc Thái theo foreignpolicy



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
💔 Tố Hữu và Mối Tình Đầu Định Mệnh: Lời Tố Cáo Đau Thương trở thành mối thù giai cấp muôn đời! [Đã đọc: 498 lần]
💔 Lời Nguyền Hận Thù: Phế Phẩm Độc Hại Trong Văn Hóa Giao Tiếp Việt thời đại HCM CSVN [Đã đọc: 449 lần]
Mức lương cụ thể và thủ tục nhập cư để các bạn VN được thuê làm chồng [Đã đọc: 394 lần]
CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN ĐỐI PHÓ VỚI BIÊN GIỚI – AN NINH KHU VỰC CAMPUCHIA 2025 [Đã đọc: 375 lần]
Sự im lặng đồng lõa – khi lãnh đạo miền Bắc đứng nhìn Trung Quốc nuốt Hoàng Sa [Đã đọc: 374 lần]
Đạo Đức và Cái Bẫy Tự Tôn của dân tộc VN- Mẹ Thứ Anh Hùng - Bi kịch của Thuyền nhân Việt Nam [Đã đọc: 355 lần]
Giữa Mạc Tư Khoa Nghe Câu Hò Ví Dặm [Đã đọc: 311 lần]
Bẫy thu nhập trung bình của VN [Đã đọc: 288 lần]
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [Đã đọc: 271 lần]
Constitution of the Federal Republic of VCL [Đã đọc: 271 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.