Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Hai 2026
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 4
 Lượt truy cập: 28527349

 
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP 02.02.2026 03:14
Hồi ký của Hữu Loan về mối tình đầu và bài thơ Màu Tím Hoa SIm
12.03.2010 14:27

 

Phần 2: Mà chết người gái nhỏ hậu phương…

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ, bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi Tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi Tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và… tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh Tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, Tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu Quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi – mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chỗ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt…

Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu”. Em không chịu, nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi…

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không?Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ… Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: – Ngọt quá!

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!Cứ thế, chúng tôi ăn hết quả này đến quả khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì… tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi… Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó… Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đến ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ…

Chín năm sau, tôi trở lại nhà… Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp…

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “soạn kịch bản”.Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: “Yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, làm thơ hay… lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo Sư đoàn 304, làm Chủ bút tờ Chiến sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại… Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi nỗi đau không gì bù đắp nổi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

 

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn… Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:Nhà nàng có ba người anh đi bộ độiNhững em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh … [...] …Tôi về không gặp nàng…”.

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và chuyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu tím hoa sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi mới viết nổi những câu:“Chiều hành quân, qua những đồi sim / Những đồi sim, những đồi hoa sim /Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết /Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt /Và chiều hoang tím có chiều hoang biết /Chiều hoang tim tím thêm màu da diết…”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạnh họe đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đến vụ Nhân văn Giai phẩm

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân văn Giai phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đam tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cặn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng… Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông… Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình [Ninh Bình?] quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch Cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.

Lúc đó tôi còn là Chính trị viên của Tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong tay gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội Sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là Trưởng phòng tuyên huấn và Chính trị viên của Tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên Sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

 

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no… Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do Hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự.Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, Công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

 Hữu Loan

Những Đồi Hoa Sim

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
  
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...

Hữu Loan


(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

Nhạc phổ:

Những Đồi Hoa Sim, Dzũng Chinh phổ nhạc

Phương Dung trình bày

< object id=p_avreloaded0 class=allvideos classid=clsid:D27CDB6E-AE6D-11cf-96B8-444553540000 width=400 height=320>< /object>

< script type=text/javascript>swfobject.embedSWF('http://www.youtube.com/v/k4b2UglfrWw','avreloaded0','400','320','9.0.28','/plugins/content/avreloaded/expressinstall.swf', {autoplay:'0',color1:'0xFFFFFF',color2:'0x000000',rel:'0',egm:'0',border:'0',loop:'0'},{wmode:'window',bgcolor:'#FFFFFF',menu:'true'},{id:'p_avreloaded0',styleclass:'allvideos'}); < /script> < script type=text/javascript>window.addEvent("domready",function(){var s = "warnflashavreloaded0"; if ($(s)){$(s).setOpacity(1);}});< /script>

Áo Anh Sứt chỉ Đường Tà, Pham Duy phổ nhạc

Trần Thái Hòa trình bày

< object id=p_avreloaded1 class=allvideos classid=clsid:D27CDB6E-AE6D-11cf-96B8-444553540000 width=400 height=320>< /object>



Nhà thơ Trần Tiến Dũng và “Tiếng ho của một người đi về phía bức tường”

2009-12-19

Nhà thơ Trần Tiến Dũng sinh năm 1958 tại Gò Công và hiện sống tại Saigon. Tác phẩm đã xuất bản: Khối Động năm 1997, Hiện năm 2000, Bầu Trời Lông Gà Lông Vịt dưới hình thức eBook do trang mạng Tiền Vệ thực hiện tại Australia năm 2003 và Hai Đóa Hoa Trên Trán Cho Công Dân Hạng Hai phát hành dưới hình thức photocopy xuất bản tại Sài Gòn năm 2006.
Ngoài phần sáng tác thơ, Trần Tiến Dũng còn là một nhà báo. Anh cộng tác cho nhiều tờ báo trong nước và cả hải ngoại. Với những bài ký, phóng sự sống động Trần Tiến Dũng đã tạo được cho mình một chỗ đứng, một tiếng thơm trong lòng độc giả trong và ngoài nước.

Bài thơ mới, lạ

Thơ của Trần Tiến Dũng lạ, đôi khi khó đọc nhưng độc giả vẫn theo dõi những bài thơ của anh thường xuyên xuất hiện trên các trang mạng văn học. Theo dõi trong tư thế tò mò và chờ đợi hơn là thưởng thức, chia sẻ. Trần Tiến Dũng sáng tác không nhiều nhưng các tác phẩm của anh ra đời trong sự chuẩn mực cần thiết của một tác giả luôn cẩn trọng tác phẩm của mình. Bài thơ xuất hiện mới nhất của anh mang tên “Tiếng ho của một người đi về phía bức tường” được chúng tôi chọn là bài thơ mới và hay nhất của Trần Tiến Dũng để giới thiệu đến quý thính giả trong chương trình VHNT hôm nay.

Trước tiên phải nói ngay rằng sự chọn lựa này hoàn toàn mang tính chủ quan. Chọn lựa một vật thể để nói rằng vật này đẹp hoặc hay hơn vật kia thì tính chủ quan rất rõ ràng. Chọn một bài thơ trong một nhóm thơ của cùng một tác giả thì sự chủ quan lại càng lớn hơn. Chúng tôi xin thưa như vậy để quý vị biết trước rằng chương trình hôm nay không phải để phê bình hay chỉ ngợi khen một bài thơ mà chúng tôi muốn chia sẻ cách đọc, cách cảm nhận thơ của riêng mình tới với quý vị mà không chịu một chi phối nào khác. Cố gắng phân tích tính thẩm mỹ trong thi ca, đơn giản hóa cách cảm nhận và trình bày những yếu tố ẩn dấu phía sau bài thơ cũng như diễn giải bằng cách riêng để nhìn bài thơ đa chiều hơn…chúng tôi mong sẽ được sự đồng cảm của quý vị để bình thản nghe bài thơ trong tinh thần thưởng thức một tách trà hơn là cố gắng một cách không cần thiết để hiểu cặn kẻ từng lời từng chữ của bài thơ…và bây giờ mời quý vị, chúng ta cùng bước chân vào thế giới của Trần Tiến Dũng qua cánh cửa bài thơ mang tên “Tiếng ho của một người đi về phía bức tường” …

Giọng nói, viên thuốc ho

Cái tựa “Tiếng ho của một người đi về phía bức tường” của Trần Tiến Dũng ngay trước khi chưa bước vào sân nhà của bài thơ người tò mò đã thấy ngay một trò chơi đuổi bắt. Tác giả đặt tình trạng vận động của “Tiếng ho” từ khi khởi động và tiếng ho này dẫn dắt người nghe, hay người đọc theo suốt đoạn đường không biết dài hay ngắn tới bức tường. Và bức tường này cuối cùng rất mông lung, rất khó đoán định.

Tôi trở về chỉ để nghe giọng của em

giọng một người đàn bà khàn đục

và có lúc hóa thành viên thuốc ho

Ba câu đầu của bài thơ giải thích sự tiếp cận chủ thể của tác giả. “Trở về để nghe giọng của em” là hiện thực, là câu chuyện bình thường giữa hai con người. Nhưng chỉ để nghe giọng của em là bắt đầu xuất hiện một chút nghi vấn. Nghe tiếng của em, giọng khàn đục thì không có gì lạ, nhưng cái chất giọng khàn đục ấy dưng không trở thành viên thuốc ho thì Trần Tiến Dũng ngay lập tức đánh đố chính mình. Chuyển trạng từ “khàn đục” thành “viên thuốc ho” một cách bất ngờ đã gây được hiệu ứng phản xạ nơi người đọc. Bây giờ thì viên thuốc ho mới là yếu tố chính gây men cho câu chuyện và sự trở về thăm giọng khàn đục của tác giả không được người đọc nhớ như yếu tố đầu tiên nữa.

Viên thuốc ho nhỏ bé bắt đầu trôi tự do trong trí nhớ bài thơ. Nó đã được xác định từ cái tựa, và từ đây như thôi miên nó trở thành ánh sáng le lói bay trước mặt của người đi trong đêm tối. Viên thuốc ho trở thành chủ đề ít ra trong một đoạn ngắn của bài thơ.

viên thuốc ho gói trong miếng giấy báo

đó là giọng em

đó là lỗ tai tôi

thật bình thường khi lỗ tai cần uống thuốc

cùng thất lạc vào bóng tối cái ngăn kéo kỷ niệm

Cũng nhanh và bất ngờ như khi đưa viên thuốc vào bài thơ, “lỗ tai” mà Trần Tiến Dũng giới thiệu đang có chức năng của một cái miệng khi nó cần uống thuốc làm người đọc không thấy bất ngờ nhờ đã quen từ lúc đầu. Chuyển tiếp hai hình tượng đột ngột mà không gây bất ngờ mặc dù hình thái của đối tượng rất lạ và khó hiểu là thành công đầu tiên của Trần Tiến Dũng. Thật ra lỗ tai không uống thuốc mà chính Trần phải uống thuốc để chữa bệnh ho, hay đúng hơn là bệnh làm cho giọng “khàn đục” khi anh từ xa trở về. Mông lung nhưng có vẻ gợi mở, gợi mở thôi vì cho tới phút này chúng ta chưa biết nhà thơ muốn đưa mình về đâu…

 

thật bình thường khi lỗ tai cần uống thuốc

cùng thất lạc vào bóng tối cái ngăn kéo kỷ niệm

“lỗ tai” và “thuốc” đang tự thất lạc vào bóng tối của ngăn kéo là thế nào? Ai đó có thể nghĩ ừ, thì ngăn kéo dùng để cất đồ vớ vẩn của những anh chàng nghệ sĩ gàn dỡ. Ngăn kéo cũng là nơi dùng để buồn buồn không biết làm gì thì mở ra xem có gì cất trong ấy quá lâu không tìm thấy hay không, Ngăn kéo cũng có thể dùng cất dấu những quà tặng tinh thần trong đó có kỷ niệm. Trần Tiến Dũng cho biết lỗ tai và viên thuốc ấy đang tự mình rơi vào ngăn kéo. Thế là xong. Viên thuốc, lỗ tai cùng những vật lỉnh kỉnh khác mất tích trong ngăn kéo.

Thử ngưng ở đây để thư giãn đầu óc một chút. Ta sẽ có vật thể gì bay lởn vởn trong đầu? Riêng tôi thì thưa quý vị, cảm nhận viên thuốc ho đang bay, lỗ tai rượt theo và cả hai rơi vào ngăn kéo. Tất cả cái diễn biến ấy như một khúc phim thần thoại có thể xuất hiện đâu đó trong quá khứ của chúng ta. Câu chuyện không rõ ràng, giống như một bức tranh trừu tượng nhiều màu sắc. Nếu bài thơ chấm dứt ở đây, tôi nghĩ không đến nỗi dở và khó hiểu.

Chia tay, bức tường

Nhưng bài thơ còn tiếp nhiều câu nữa.

tôi trở về nguyên vẹn với người tình

cùng ho, cùng hát và

ước muốn chúng ta sẽ điếc để không nghe bất kỳ ai khác

 

tôi nghe tiếng em không cần sự sắp xếp

cách nghe của một tổ chim trong bóng tối

mỗi trái tim chỉ còn lại lời độc thoại

hối tiếc bởi những gì đã nói dối với nhau

Với cung cách chuyển ý tưởng nhanh và bất ngờ, tác giả kéo người đọc bước sang một miếng ván khác lót bên dưới lối đi. Lần này thì con chữ ngày một hoàng hôn hơn. Tối dần và ngữ nghĩa mông lung nhảy múa…

tôi nghe tiếng em không cần sự sắp xếp

cách nghe của một tổ chim trong bóng tối

Hai câu này tuy chồng chéo và đan xen vào nhau nhưng người đọc có thể nghe được âm thanh của tiếng ho văng vẳng đâu đó phía sau bối cảnh chính bây giờ đã trở thành tổ chim. Khi hình dung từ “Tổ chim” xuất hiện, lập tức một hình ảnh khác mở ra, đó là hạnh phúc. Khái niệm hạnh phúc dần dần rõ nét khi hình ảnh tổ chim, cũng là mái ấm, mở ra trong bóng tối khiến câu thơ sâu hơn và hình như cũng dễ chia sẻ hơn. Trong cái tổ chim ấy hai người tự ăn năn những gì mình đã làm cho nhau.

mỗi trái tim chỉ còn lại lời độc thoại

hối tiếc bởi những gì đã nói dối với nhau

Tới đây thì nên chăng chúng ta cùng nghe một chút nhạc?

mọi cuộc chia tay là chuyến đi tàn tật của một cá nhân

và đây một điều thật nhất

khi không còn ngôi nhà ở sau bức tường

tiếng chim vẫn treo bên tai, gió đập vào cửa

và em biết tôi sinh ra chỉ để nghe giọng của em

ngăn kéo ký ức mở ra đưa tới bức tường

Ở đoạn đầu chúng ta đã được tác giả chiếu qua vài hình ảnh trong đó có sự xuất hiện lờ mờ của bức tường. Riêng trong đoạn này thì bức tường xuất hiện trở lại mặc dù chưa rõ nét lắm. Bức tường như một vật chắn những ước muốn cần phải thực hiện. Tính chất hữu cơ mà bức tường vốn có không thể ngăn được âm thanh. Và âm thanh tác giả mang vào đoạn này ngày càng mở ra nhiều diễn giải khác nhau. Tiếng gió, tiếng chim, cùng giọng nói khàn của em vẫn bay qua được phía bên này, nơi anh đang sắp làm một hành trình tạm mang tên là “chia tay!” Anh bên này vẫn cảm nhận được mọi thứ âm thanh, như cách cảm nhận vẫn nằm trong ký ức trước một sự cố. Giọng của em đeo đuổi tôi như một ám ảnh từ khi vào đời. Số phận của tôi dính liền với em như thế và bây giờ thì tôi muốn nói với em rằng mọi cuộc chia tay đều đau đớn.

Nếu chỉ để nói cái câu bình thường “mọi cuộc chia tay đều đau đớn” mà phải tận dụng biết bao trúc trắc như vậy để hình thành thì có thể gọi là thơ được không? Trước khi trả lời câu hỏi này, nên chăng chúng ta tiếp tục nghe đoạn cuối của bài thơ….

tiếng ho của tôi đi về phía bức tường

lời lẽ của đám đông làm chúng ta rùng mình

những điều cũ đang nghe đã rỉ sét

đã biết một thứ dư luận ngớ ngẩn nhất

kẻ nói về tự do và đạo đức kiểu cộng sản

Lạc lỏng, tội nghiệp

Tới đây thì bài thơ dẫn người nghe rẽ sang một hướng khác. Không còn cô đơn, không còn yêu thương, chia ly hay lãng mạn gì nữa. Tiếng ho thay vì dẫn dụ người yêu về hướng của mình bây giờ trở thành ngơ ngẩn, lạc lỏng và tội nghiệp. Đám đông xuất hiện đột ngột như một căn bệnh thời đại. Xuất hiện cùng với tiếng ồn và trong cái tiếng ồn ấy loáng thoáng những giáo điều. Giáo điều đã rỉ sét làm cho tiếng ho rùng mình. Cũ kỹ và lợm giọng khiến tiếng ho-người bệnh trở nên bất thường. Phản ứng lại một cách mạnh mẽ phải chăng là phản ứng tự nhiên như của một đứa bé mất đi phần quà mà nó mơ ước nhất. Đối với đứa bé thì chắc nó chỉ biết khóc nhưng đối với người lớn, người đã biết yêu, biết ghét, biết giận dữ thì thái độ sẽ ra sao? Chúng ta hãy nghe Trần Tiến Dũng phản ứng:

không còn em để thấy anh mất dạy

ho một tràng dài vào bức tường để hy vọng gặp em

không còn em để biết anh cà chớn

ráp lại một câu nói bằng kẹo sing-gum và đứng đó chờ em

 

chẳng có sự câm lặng nào có thể tìm lại em

chỉ có tiếng hét của một người lúc nào cũng ho là có thể

tiếng ho

cơn sốt

phản ứng này chống chọi bệnh khỏe mạnh nói dối

chưởi thề

cơn điên

tự vệ này chạy trốn đám đông đã mất cảm xúc tổn thương

Và cuối cùng bài thơ đóng lại cánh cửa thơ bằng tiếng thở dài bất lực. Muốn tự mình kết liễu những săn đuổi lòng vòng đầy nguy nan. Chính hai từ “cách mạng” ở cuối câu đã làm bài thơ bốc cháy.

này em

anh ước muốn điếc để không nghe bất kỳ ai khác

trước khi gã hớt tóc nhân danh cách mạng làm chảy máu tiếng em từ lỗ tai anh

Trở lại với câu hỏi, có cần phải rắc rối dẫn người đọc đi quá xa để rồi kết thúc bài thơ một cách rõ ràng như vậy hay không? Đây có phải là cách làm dáng thường thấy của các nhà thơ hôm nay?

Trong bài thơ này, riêng chúng tôi không chia sẻ như vậy. Như chúng ta cảm nhận trước đó, mỗi hình ảnh trong bài thơ mở ra một khái niệm và từ đó ý nghĩa dần dần sáng tỏ theo từng bước. Trong cách trình bày ý tưởng tác giả có thể sắp xếp theo trình tự để người đọc dễ thâm nhập vào căn nhà thơ của mình. Thể loại này đã xuất hiện từ rất lâu, rất nhiều và hứa hẹn vẫn còn như thế. Riêng với những bài thơ thoạt đầu mới nhìn vào đã cảm thấy lo sợ, lo sợ tác giả sẽ dẫn chúng ta đi đâu đây? Và sự lo sợ này ngăn cản sự chia sẻ. Nếu người đọc thích chia sẻ cộng với một chút sáng tạo của riêng mình khi đọc bài thơ thì đó là cách cộng tác với tác giả để cho ra đời một sản phẩm khác. Tuy sản phẩm này chỉ dựa trên cái nền của bài thơ nhưng việc sáng tác lại có khả năng làm tác phẩm tươi hơn, lạ hơn và nhất là cho người xem cơ hội lái tác phẩm theo hướng của mình.

Thử đọc lại

Bây giờ chúng ta thử nghe lại một mạch nguyên cả bài thơ để thấy cảm nhận của mình khác như thế nào khi nghe từng đoạn.

 

Tôi trở về chỉ để nghe giọng của em

giọng một người đàn bà khàn đục

và có lúc hóa thành viên thuốc ho

 

viên thuốc ho gói trong miếng giấy báo

đó là giọng em

đó là lỗ tai tôi

thật bình thường khi lỗ tai cần uống thuốc

cùng thất lạc vào bóng tối cái ngăn kéo kỷ niệm

 

tôi trở về nguyên vẹn với người tình

cùng ho, cùng hát và

ước muốn chúng ta sẽ điếc để không nghe bất kỳ ai khác

 

tôi nghe tiếng em không cần sự sắp xếp

cách nghe của một tổ chim trong bóng tối

mỗi trái tim chỉ còn lại lời độc thoại

hối tiếc bởi những gì đã nói dối với nhau

 

mọi cuộc chia tay là chuyến đi tàn tật của một cá nhân

và đây một điều thật nhất

khi không còn ngôi nhà ở sau bức tường

tiếng chim vẫn treo bên tai, gió đập vào cửa

và em biết tôi sinh ra chỉ để nghe giọng của em

ngăn kéo ký ức mở ra đưa tới bức tường

 

tiếng ho của tôi đi về phía bức tường

lời lẽ của đám đông làm chúng ta rùng mình

những điều cũ đang nghe đã rỉ sét

đã biết một thứ dư luận ngớ ngẩn nhất

kẻ nói về tự do và đạo đức kiểu cộng sản

 

không còn em để thấy anh mất dạy

ho một tràng dài vào bức tường để hy vọng gặp em

không còn em để biết anh cà chớn

ráp lại một câu nói bằng kẹo sing-gum và đứng đó chờ em

 

chẳng có sự câm lặng nào có thể tìm lại em

chỉ có tiếng hét của một người lúc nào cũng ho là có thể

tiếng ho

cơn sốt

phản ứng này chống chọi bệnh khỏe mạnh nói dối

chưởi thề

cơn điên

tự vệ này chạy trốn đám đông đã mất cảm xúc tổn thương

 

này em

anh ước muốn điếc để không nghe bất kỳ ai khác

trước khi gã hớt tóc nhân danh cách mạng làm chảy máu tiếng em từ lỗ tai anh

 

Chúng tôi hy vọng rằng buổi nói chuyện thơ hôm nay sẽ gây cho quý vị ít nhiều thích thú và cũng mong rằng từ bây giờ mỗi chúng ta tự tin hơn khi bước vào vườn thơ của các tác giả đương đại để phát hiện những điều mà nếu không kiên nhẫn khó mà đạt được trong cách đọc hờ hững như từ xưa tới nay chúng ta vẫn thường làm.



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
💔 Tố Hữu và Mối Tình Đầu Định Mệnh: Lời Tố Cáo Đau Thương trở thành mối thù giai cấp muôn đời! [Đã đọc: 486 lần]
💔 Lời Nguyền Hận Thù: Phế Phẩm Độc Hại Trong Văn Hóa Giao Tiếp Việt thời đại HCM CSVN [Đã đọc: 446 lần]
Mức lương cụ thể và thủ tục nhập cư để các bạn VN được thuê làm chồng [Đã đọc: 385 lần]
CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN ĐỐI PHÓ VỚI BIÊN GIỚI – AN NINH KHU VỰC CAMPUCHIA 2025 [Đã đọc: 371 lần]
Sự im lặng đồng lõa – khi lãnh đạo miền Bắc đứng nhìn Trung Quốc nuốt Hoàng Sa [Đã đọc: 367 lần]
Đạo Đức và Cái Bẫy Tự Tôn của dân tộc VN- Mẹ Thứ Anh Hùng - Bi kịch của Thuyền nhân Việt Nam [Đã đọc: 350 lần]
Giữa Mạc Tư Khoa Nghe Câu Hò Ví Dặm [Đã đọc: 307 lần]
Bẫy thu nhập trung bình của VN [Đã đọc: 283 lần]
Constitution of the Federal Republic of VCL [Đã đọc: 266 lần]
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [Đã đọc: 264 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.