Thơ Xuân Quỳnh
03.08.2009 00:17
“ Sự chết là con lạc đà đen quỳ đợi ngay trước cổng nhà của tất cả mọi người ” (Abe-el-Kader). Không ai tránh khỏi cái chết, không ai không nghĩ đến nó nhưng vấn đề là nghĩ nhiều hay ít và bộc lộ ra dưới hình thức nào? Với Xuân Quỳnh (1942-1988) và Lưu Quang Vũ (1948-1988), cái chết của hai người dường như đã được báo trước trong những tác phẩm của họ
Đa số thơ của Xuân Quỳnh đều mang nặng nỗi ám ảnh về cái chết, sự chia lìa, tàn tạ. Ở sáu tập thơ mà chị công bố lúc sinh thời, số lượng và tỉ lệ bài đề cập nội dung này chiếm áp đảo, bình quân: Chồi biếc (in năm 1963): 9 bài (50%), Hoa dọc chiến hào (1968): 21 bài (75%), Gió Lào cát trắng (1974): 31 bài (86%), Lời ru trên mặt đất (1978): 24 bài (75%), Sân ga chiều em đi (1983): 44 bài (71%), Tự hát (1984): 31 bài (89%). Tỉ lệ chung là 76%. Đó là hiện tượng hi hữu trong thơ ca cách mạng Việt Nam. Và đó cũng là bản lĩnh của Xuân Quỳnh vì trong bối cảnh thời đó đề tài về nỗi buồn và cái chết ít được khuyến khích, bởi tình cảm uỷ mị có thể ảnh hưởng đến lòng tin và sức chiến đấu của mọi người.
Nhưng vốn là người đa cảm, Xuân Quỳnh không thể thờ ơ trước cái chết của đồng bào mình sau Mười hai ngày gánh chịu những trận mưa bom B.52 của giặc Mỹ: “ Mười hai ngày cùng tận của lòng đau/Cô Ngọc Tường chết ở Bạch Mai/Chiếc áo cưới thay cho vải liệm/Gió đông bắc thổi qua nền gạch vụn/Trên máu người bị giết ở Khâm Thiên ”. Những câu thơ đó gợi lên lòng căm thù giặc hơn là bi luỵ.
Riêng Vết đạn trên tường cứ ám ảnh chị, bởi nó hiện thân cho sự chết chóc: “Nhiều việc quá, khó ai mà nhớ hết. Riêng vết đạn trên tường không dễ nào quên”. Trong “ngàn cái chết” mà Xuân Quỳnh gặp, có nhiều đồng đội vừa mới kề vai sát cánh với chị: “ Các anh nằm bên những ngã ba/Nơi bom giội không còn ngọn cỏ ”, “ Dòng nước lợ mang máu anh về bể ”, “ Máu của cô nhuộm đỏ bờ lau ”...
Xuân Quỳnh không hề dùng thủ pháp nhã ngữ để giảm bớt tính khốc liệt của cuộc chiến. Chị cứ nói thật những nỗi đau mà chính chị cũng từng trải: “ Máu đồng đội và máu tôi đã đổ/Trên cát này mà gió quạt vừa se ” ( Gió Lào cát trắng ); “ Máu của em, máu của anh/Thấm bên góc phố, chân thành ngày xưa ” ( Lai lịch một tình yêu ).
Thơ Xuân Quỳnh đề cập quá nhiều đến cái chết, mặc dù chị vẫn biết rằng “ Người chết sẽ chẳng bằng lòng nếu chúng tôi quá đau thương ”. Bởi vậy, chị cũng biết Hát với con tàu nhưng tiếng hát ấy không xua tan được nỗi ám ảnh về cái chết vì chính chị cũng đang xông xáo lao vào cái chết: “ Tôi sẵn sàng đem hiến cả đời tôi/Cho cát trắng và gió Lào quạt lửa”, “Sống đất này, chết cũng đất này thôi ”... Mặc dù sống trong bom đạn suốt 30 năm, nhưng may thay chị đã không chết vì bom đạn.
Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ có nhiều điểm tương đồng: từng một lần hôn nhân dang dở và mỗi người có một con riêng. Từng đứng trên trận tuyến chiến tranh và đối diện thường xuyên với cái chết. Thơ của hai người đều thể hiện sự ám ảnh về cái chết và mang âm hưởng buồn.
Từ khi hai người đến với nhau, hai nỗi buồn được cộng lại tạo ra nỗi buồn lớn hơn, và cũng từ đây sự nghiệp của họ đạt tới đỉnh cao. Nói như thi sĩ Pháp Afred Musset: “Không có gì làm ta lớn bằng một nỗi đau lớn. Tiếng hát tuyệt vọng là tiếng hát tuyệt vời nhất”.
Chiến tranh không phải là nguyên nhân duy nhất làm Xuân Quỳnh luôn bị ám ảnh về cái chết. Thơ Xuân Quỳnh tràn ngập những suy tư, trăn trở về việc sống - chết. Vì sao hình thành một cái tôi Xuân Quỳnh mang nhiều ám ảnh về cái chết như vậy? Hãy ngược dòng thời gian tìm về thời thơ ấu của chị.
Mẹ mất khi chị còn quá nhỏ, cha liền lấy vợ khác rồi vào Nam sinh sống. Suốt đời Xuân Quỳnh thiếu thốn tình cảm của cha mẹ, vì thế ở chị đã sớm hình thành nỗi đau của một đứa trẻ bơ vơ côi cút giữa dòng đời: “ Tuổi thơ tôi lạc lõng giữa đời/Như một cánh chim bơ vơ mất tổ ” ( Tiếng mẹ ). Mới Mười bảy tuổi, Xuân Quỳnh đã sớm lo âu trăn trở về lẽ sinh - diệt của vạn vật. Trong bài Chồi biếc , cô thiếu nữ Xuân Quỳnh đã dự cảm về cái chết: “ Này anh, em biết/Rồi sẽ có ngày/Dưới hàng cây đây/Ta không còn bước/Như người lính gác/ Đã hết phiên mình/ Như lá vàng rụng/ Cho trời thêm xanh ”.
Tiêu biểu cho nỗi ám ảnh tàn phai trong thơ Xuân Quỳnh là bài Thơ tình cuối mùa thu . Bài thơ được phổ nhạc và giới trẻ yêu thích: “ Cuối trời mây trắng bay/ Lá vàng thưa thớt quá/ Phải chăng lá về rừng/ Mùa thu đi cùng lá ”...
Trong số bảy tập thơ của chị đã công bố, nỗi buồn thể hiện rõ nhất ở hai tập cuối: Tự hát (1984) và Hoa cỏ may (1989). Trong tập Hoa cỏ may (Giải thưởng văn học 1990 của Hội Nhà văn), trái sầu đã đạt đến độ chín muồi, khi nỗi “nhức nhối đắng cay” đã “đến tận cùng đau đớn”. Ở ngoài đời chị càng lặng lẽ thì trong thơ chị “bão táp ở từng trang”. Chị như con “Chuồn chuồn báo bão” sắp ập đến, và nạn nhân sẽ là nó nhưng cánh chuồn yếu ớt, bơ vơ làm sao chạy trốn khỏi định mệnh.
Thần chết thường là bạn đồng hành với thời gian. Những người đa tình, ham sống thường rất ghét thời gian. Nữ sĩ Xuân Hương than thở “ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại”, Xuân Diệu cũng chua chát thốt lên: “ Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất ”. Vốn cũng mang trong mình chữ “Xuân” nên Xuân Quỳnh cũng không khỏi lo âu và tự hỏi: “ Mùa xuân sẽ về đâu/Khi nơi này xuân hết?” (Mười bảy tuổi).
Lo lắng và ám ảnh quá nhiều đã làm trái tim Xuân Quỳnh mệt mỏi. Trong bài Tự hát (“Em lo âu trước xa tắp đường mình/Trái tim đập những điều không thể nói/Trái tim đập cồn cào cơn đói/Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn ”) chị đã biết trước đời mình như một ngọn đèn le lói sắp tắt. Tháng 6-1988, Xuân Quỳnh bị đau tim nặng phải vào bệnh viện.
Trên giường bệnh, chị làm bài thơ Thời gian trắng (“Em ở đây không sớm không chiều/Thời gian trắng, không gian toàn màu trắng/Trái tim đập sau làn áo mỏng/Từng đập vì anh, vì những trang thơ/Trái tim nay mỗi phút mỗi giờ/Chỉ có đập cho mình em đau đớn/ Trái tim này chẳng còn có ích/Cho anh yêu, cho công việc, bạn bè ”). Dự báo rõ ràng thần chết đang đợi mình nhưng chị đã không chết vì bệnh tim.
Lưu Quang Vũ cũng giống Xuân Quỳnh ở chỗ có một giọng thơ buồn ám ảnh và nhìn chung là lạc điệu giữa môi trường văn học thời ấy. Trong cảnh chiến tranh, mối quan tâm hàng đầu của anh vẫn là cái chết. Trong Nói với con cuối năm anh viết: “ Thành phố vừa trải qua/Những trận bom huỷ diệt/Lòng cha giờ giập nát/Những xác người máu loang ”. Bên cạnh nỗi đau chung của thời đại, anh cũng có nỗi buồn cá nhân: “ Anh là con ong bay giữa trời lận đận”, “Đã chết rồi ơi chú ong nâu” (Bầy ong trong đêm sâu).
Vào những năm 1980, Lưu Quang Vũ là ngôi sao sáng trên sân khấu kịch trường Việt Nam. Anh đã thổi một luồng gió mới vào đời sống nghệ thuật nước nhà và nhiều vở kịch của anh có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Việt Nam lúc đó. Nổi tiếng như vậy lẽ anh phải vui nhưng: “Hầu như ít vở kịch nào của Lưu Quang Vũ cái chết không được nhắc đến” - nhà phê bình Phan Trọng Thưởng nhận xét. Tác phẩm cuối cùng mà anh đang viết dở dang cũng nói về cái chết ( Chim sâm cầm đã chết ).
Theo Lưu Quang Định, thời còn học phổ thông Lưu Quang Vũ đã ghi nhật ký (ngày 8-11-1964) như sau: “ Thần chết ơi, ta chẳng cần nhiều đâu. Độ 20 năm nữa, khi ta đã trả nợ xong, khi có thể coi là đã làm được chút gì đó cho đời, ta sẽ chẳng ân hận gì khi nhắm mắt. Đấy, chỉ tiêu của ta có ngắn ngủi không ?”.
Sự ra đi đột ngột của một nhà thơ và một nhà soạn kịch nổi tiếng đã gây chấn động cả nước. Hoạ sĩ Doãn Châu, người chứng kiến cái chết của họ, kể lại như sau: Hôm ấy là ngày 29-8-1988, tức tháng bảy âm lịch, sau ngày rằm xá tội vong nhân mấy hôm. Chiếc Commăngca chở sáu người: Vũ, Quỳnh và cháu Lưu Quỳnh Thơ (13 tuổi), Doãn Châu cùng vợ và con nhỏ. Xe đang đi từ Hải Phòng về Hà Nội, ngang qua địa phận Hải Dương thì bị ôtô chở than phóng với tốc độ lớn đâm vào phía sau. Điều lạ thường là gia đình hoạ sĩ Doãn Châu đều bình yên vô sự, còn Vũ, Quỳnh và cháu Mí thì vĩnh viễn ra đi
Nguyễn Văn Hoàn, công an thuộc Tổng Cục 2 đã xác nhận với nhà văn Nguyễn Xuân Nghiã như sau "Anh có biết vụ tai nạn giao thông của Lưu quang Vũ không? So với Lưu quang Vũ, anh thuộc loại vô danh tiểu tốt. Vụ tai nạn ấy cũng chìm đi. Còn anh chỉ là vô danh tiểu tốt thôi! " Chúng tôi trích lại bài tường thuật cái chết của Lưu Quang Vũ, vợ và con năm 1988 để rộng đường dư luận.
Cái chết của vợ chồng Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh và đứa con nhỏ đã trở thành nỗi ám ảnh không thể nào nguôi đối với thân nhân của họ và nhiều người khác. Riêng đối với gia đình hoạ sĩ Doãn Châu - những người cùng ngồi trên chiếc xe bị nạn - thì cái ngày kinh hoàng đó lúc nào cũng như chỉ mới hôm qua. (Nguồn: Lê Bảo Trung - Dân Trí) Tường thuật của những nhân chứng sống
Chúng tôi tìm tới hoạ sĩ Doãn Châu ở khu tập thể nhà hát Kịch Việt Nam. Ông Châu (hiện đã 64 tuổi) cùng vợ sống trong một căn hộ chật hẹp phía sau Nhà hát Lớn. Riêng ông Châu thì có một xưởng vẽ nhỏ. Đã mấy năm nay, ông thường sống khép mình trong xưởng, hàng ngày chỉ chuyên tâm sáng tác. Đã 18 năm trôi qua, kể từ ngày vợ chồng Lưu Quang Vũ ra đi, trong ký ức của đôi vợ chồng nghệ sĩ Doãn Châu - Bích Thu (nguyên diễn viên Nhà hát Kịch Việt Nam), những hình ảnh về chuyến xe định mệnh vẫn không hề phai nhòa ngay cả từng chi tiết nhỏ. Nghệ sĩ Doãn Châu là người bạn thân (hai người kết giao với nhau từ năm 1976) và cũng là người cộng tác trong hầu hết các vở kịch nói do Lưu Quang Vũ viết. "Trong số hơn 50 tác phẩm kịch Lưu Quang Vũ viết thì tôi làm sân khấu tới hơn 30 vở, như Hồn Trương Ba da hàng thịt, Sống mãi tuổi 17, Ông không phải là bố tôi, Chết cho điều chưa có... Phải 2 - 3 năm nau khi Vũ mất, tôi mới làm việc trở lại", ông Doãn Châu nói. Với ông Châu, vụ tai nạn là một kỷ niệm buồn, không muốn nhắc tới. Nhưng rồi một hồi lâu, sau khi dồn nén những xúc động vào lòng, ông kể: "Mùa hè năm 1988, tôi và Vũ bàn nhau kế hoạch đưa cả hai gia đình đi nghỉ. Nhưng mãi đến tận đầu tháng 8 vẫn chưa thực hiện được dự định. Nhân chuyện tôi và Vũ làm vở Hai nghìn ngày oan trái với Đoàn kịch Hải Phòng, đoàn mời cả hai gia đình chúng tôi về Đồ Sơn tắm biển và kết hợp đọc vở. Chúng tôi dự định ngày 16/7 âm lịch sẽ khởi hành". Tuy nhiên, khi đưa ý định đó ra thì bà Bích Thu đã ngăn cản. Bà Thu nhớ lại: "Không hiểu sao lúc đầu, tôi ngăn cản chuyến đi rất kịch liệt, nhưng sau cùng lại đồng ý, cũng là chiều lòng mọi người. Tôi bảo: Nếu đi thì để sau rằm". Trước đó một ngày, rằm tháng bảy - ngày xá tội vong nhân, gia đình Doãn Châu làm cơm mời cả nhà Lưu Quang Vũ sang ăn. Bữa cơm rất vui. Sau bữa ăn, cả nhà rôm rả bàn bạc về chuyến đi ngày hôm sau. Xuân Quỳnh vốn tính chu đáo, cẩn thận, lo mang theo cả bếp điện, nồi, phin cà phê, đồ ăn thức uống... Chiều 27/8, hai gia đình về đến Đồ Sơn, đi bằng chiếc com-măng-ca thuê từ Hà Nội. "Nói là đi nghỉ nhưng thật ra chỉ có nhà tôi, chị Quỳnh và hai cháu được thảnh thơi, còn tôi và Vũ vẫn phải bận bịu vì công việc. Ngay đêm đó, khi mọi người đi nghỉ, tôi và Vũ kéo nhau ra hành lang uống nước chè, hút thuốc lào và trao đổi công việc ngày hôm sau. Sáng 28/8, Vũ đọc kịch bản Hai nghìn ngày oan trái cho Đoàn kịch Hải Phòng, công việc diễn ra hết sức suôn sẻ. Sau bữa cơm chiều, cả hai gia đình kéo nhau ra bờ biển. Đã lâu lắm chúng tôi mới có một đêm thư giãn như thế này. Vũ kể rất cởi mở với tôi quãng đời đã qua của mình. Cả một quá khứ bị đánh thức. Có những chuyện mãi mãi là của Vũ, tôi không đủ đồng cảm để sẻ chia. Với những chuyện ấy, tôi chỉ biết thương Vũ, dành cho Vũ những lời an ủi, lời khuyên của một người bạn" - Ông Châu trầm tư bên làn khói thuốc. "Hai nghìn ngày oan nghiệt" hay chuyến đi oan nghiệt Rất tình cờ, ông Doãn Châu thoát chết trong thảm kịch ấy. "Ở Đồ Sơn đến ngày thứ ba thì Vũ nhớ hẹn với anh Hoàng Quân Tạo ở Đoàn kịch Hà Nội. Ăn trưa xong, Vũ cứ bồn chồn, đứng ngồi không yên. Vũ giục về luôn, nhưng đã hẹn chờ anh Lân ở Đoàn Hải Phòng để cùng về Hà Nội nên cứ nấn ná mãi", ông Châu kể. Chiều 29/8, chiếc xe chở hai gia đình về Hà Nội. Dọc đường đến cầu Lai Vu, xe đỗ, mấy phụ nữ xuống mua một rổ ổi. Lúc đó Mí và Vinh ngồi đánh cờ phía băng ghế bên phải. Ông Châu và Lưu Quang Vũ kẻ nằm người ngồi dưới sàn xe còn Xuân Quỳnh và bà Bích Thu ngồi phía băng ghế đối diện. Khoảnh khắc xảy ra tai nạn nhanh đến khó tả. Đến gần cầu Phú Lương, Vinh và Mí buồn ngủ. Xuân Quỳnh đổi chỗ cho Vinh để giữ Mí. Vinh chuyển sang băng ghế bên trái nằm gối đầu lên bà Thu. Ông Châu đang nằm dưới sàn xe cũng chuyển lên ngồi băng ghế bên trái, giữ chân con trai. Lúc này Lưu Quang Vũ nói tếu: "Thôi, tôi về chỗ tôi đây", và ông chuyển về ngồi ghế "thủ trưởng" bên cạnh lái xe. Xe qua cầu Phú Lương, đi trên đường vừa hẹp vừa xuống dốc. Trước mặt có chiếc xe Kamaz đang đi chầm chậm. Đường dốc nên xe nào qua đây cũng phải thận trọng. Bất chợt, có hai phụ nữ đội nón đèo nhau trên xe đạp, lao từ đê xuống đường, cắt qua mặt xe Kamaz, chiếc xe này phanh khựng lại. Người lái chiếc xe com-măng-ca đang bám sau định đánh tay lái vượt lên. Và chỉ trong tích tắc ấy, một chiếc xe ben phía sau đã mất phanh đâm sầm vào đuôi chiếc com-măng-ca, đẩy xe này vào gầm xe Kamaz phía trước. Cả gia đình Lưu Quang Vũ ngồi phía bên phải bị văng xuống đường. Ông Châu xác nhận đó là khoảng 14h40 phút ngày 29/8/1988 (trước đây nhiều nguồn tin nói là 15h30 phút). "Hoa vàng ở lại"... mây trắng về trời Cho tới tận bây giờ, bà Bích Thu vẫn không thôi bị ám ảm mỗi khi ngồi sau xe bất cứ ai. Bà sợ cảm giác sẽ bị ai đó đâm lên từ đằng sau giống như vụ tai nạn cách đây 18 năm: "Tôi đang ngồi thì bỗng rầm một tiếng, rồi tôi thấy một cơn mưa trắng xoá ở đâu quất đầy lên mặt". Cái mà bà Thu miêu tả - cơn mưa trắng - chính là kính xe bị vỡ vụn. Ông Châu lúc đó đang ngồi gà gật thì chỉ nghe thấy một tiếng "rầm", cả chiếc xe nẩy tung: "Khi tôi mở mắt ra thì cảnh tượng thật hãi hùng. Quỳnh và cháu Mí nằm im không nhúc nhích. Vũ chỉ còn khe khẽ thở. Tôi cởi áo may ô gối lên đầu cho Vũ. Vũ thều thào: "Thằng Mí đâu rồi?". Đó là câu cuối cùng Lưu Quang Vũ còn nói được. Xuân Quỳnh và Mí thì đã chết ngay sau cú đâm xe. Bà Thu dập tay phải, ông Doãn Châu gãy xương sườn số 11, rách trán. Duy nhất một người không hề xây xát là Doãn Vinh - con trai ông Châu. Sau một hồi van vỉ các xe qua đường nhờ đưa người đi cấp cứu, cuối cùng ông Châu cõng Lưu Quang Vũ lên một chiếc xe tải đến bệnh viện: "Cách thị xã Hải Dương 3km thì cảnh sát giao thông chặn lại không cho đi tiếp. Tôi nói: Đây là Lưu Quang Vũ, nhân tài của đất nước. Cảnh sát nói: "Tôi biết nhưng chiếc xe đã gãy nhíp, đi tiếp rất nguy hiểm". Tôi đành bế Vũ xuống, vẫy xe khác. Đến bệnh viện Hải Dương, đầu Vũ ngoẹo sang một bên. Mấy cô y tá, hộ lý nhìn thấy tôi cõng Vũ thì hỏi luôn: "Đánh nhau hả?". "Không, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ bị tai nạn xe". Các bác sĩ nghe thế thì nhiệt tình cứu chữa, nhưng không kịp... Vũ trút hơi thở cuối cùng lúc 15h20 phút. Cho đến giờ, mỗi khi nhớ lại khoảnh khắc ác nghiệt ấy, tôi vẫn cứ nghĩ: nếu hôm đó xe xuất phát sớm hơn hoặc muộn hơn một chút liệu tai nạn có xảy ra không?... Sau khi xảy ra tai nạn, dư luận xôn xao, rằng liệu đó có phải là một vụ mưu sát. Nhưng những diễn biến trước khi vụ tai nạn xảy ra cho thấy: Nếu có một bàn tay nào đó sắp đặt thì đó chính là số mệnh. Vụ án sau đó được xử tại toà án Hải Dương. Lái xe gây tai nạn bị xét xử tù giam 10 năm. Nhiều năm đi qua, kể từ ngày xảy ra vụ tai nạn, song nhắc đến Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ, không ai cầm nổi nỗi xót thương. Với họ, Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ chỉ như đang đi xa, một chuyến công tác dài...
Hoa cúc
|
|
| Có thay đổi gì không cái màu hoa ấy Mùa hạ qua rồi lại đến mùa thu Thời gian đi màu hoa cũ về đâu Nay trở lại vẫn còn như mới mẻ
Bao mùa thu hoa vẫn vàng như thế Chỉ em là đã khác với em xưa Nắng nhạt vàng, ngày đã quá trưa Nào đâu những biển chờ nơi cuối đất
Bao ngày tháng đi về trên mái tóc Chỉ em là đã khác với em thôi Nhưng màu hoa đâu dễ quên nguôi Thành phố ngợp ngày nao chiều gió dậy Gương mặt ấy lời yêu thuở ấy Màu hoa vàng vẫn cháy ở trong em.
|
Tự hát |
|
| Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng Trái tim em anh đã từng biết đấy Anh là người coi thường của cải Nếu cần anh bán nó đi ngay
Em cũng không mong nó giống mặt trời Vì sẽ tắt khi bóng chiều đổ xuống Lại mình anh đi với đêm dài câm lặng Mà lòng anh xa cách với lòng em
Em trở về đúng nghĩa với trái tim Biết làm sống những hồng cầu đã chết Biết lấy lại những gì đã mất Biết rút gần khoảng cách của yêu tin
Em trở về đúng nghĩa trái tim em Biết khao khát những điều anh mơ ước Biết xúc động qua nhiều nhận thức Biết yêu anh và biết được anh yêu.
Mùa thu nay sao bão mưa nhiều Những cửa sổ con tàu chẳng đóng Dải đồng hoang và đại ngàn tối sẫm Em lạc loài giữa sâu thẳm rừng anh
Em lo âu trước xa tắp đường mình Trái tim đập những điều không thể nói Trái tim đập cồn cào cơn đói Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn
Em trở về đúng nghĩa trái tim em Là máu thịt, đời thường ai chẳng có Vẫn ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi.
Nói cùng anh |
|
| Em vẫn biết đấy là điều đã cũ Chuyện tình yêu, quan trọng gì đâu Sự gắn bó giữa hai người xa lạ Nỗi vui buồn đêm chia sẻ cùng nhau.
Em đâu dám nghĩ là vĩnh viễn Hôm nay yêu, mai có thể xa rồi Niềm đau đớn tưởng như vô tận Bỗng có ngày thay thế một niềm vui
Điều hôm nay ta nói, ngày mai Người khác lại nói lời yêu thuở trước Đời sống chẳng vô cùng, em biết Và câu thơ đâu còn mãi ngày sau
Chẳng có gì quan trọng lắm đâu Như không khí, như màu xanh lá cỏ Nhiều đến mức tưởng như chẳng có Trước cuộc đời rộng lớn mênh mang
Nhưng lúc này anh ở bên em Niềm vui sướng trong ta là có thật Như chiếc áo trên tường, như trang sách Như chùm hoa mở cánh trước hiên nhà
Em hiểu rằng mỗi lúc đi xa Tình anh đối với em là xứ sở Là bóng rợp trên con đường nắng lửa Trái cây thơm trên miền đất khô cằn
Đó tình yêu em muốn nói cùng anh Nguồn gốc của muôn ngàn khát vọng Lòng tốt để duy trì sự sống Cho con người thực sự người hơn.
|
| Thơ tình cuối mùa thu |
|
| Cuối trời mây trắng bay Lá vàng thưa thớt quá Phải chăng lá về rừng Mùa thu đi cùng lá Mùa thu ra biển cả Theo dòng nước mênh mang Mùa thu và hoa cúc Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em Là của mùa thu cũ Chợt làn gió heo may Thổi về xao động cả: Lối đi quen bỗng lạ Cỏ lật theo chiều mây Đêm về sương ướt má
Hơi lạnh qua bàn tay Tình ta như hàng cây Đã bao mùa gió bão Tình ta như dòng sông Đã yên ngày thác lũ.
Thời gian như là gió Mùa đi cùng tháng năm Tuổi theo mùa đi mãi Chỉ còn anh và em
Chỉ còn anh và em Cùng tình yêu ở lại... - Kìa bao người yêu mới Đi qua cùng heo may. |
Dẫu em biết chắc rằng anh trở lại |
|
| Thị trấn nào anh đấn chiều nay Mảnh tường vắng, mùa đông giá rét Dẫu em biết không phải là vĩnh biệt Vẫn thấy lòng da diết lúc chia xa
Xóm nào anh sẽ đi qua Những đồng lúa, vườn cây, bờ bãi... Dẫu em biết rằng anh trở lại Ngọn gió buồn vẫn thổi phía không anh.
Thời gian trôi theo cánh cửa một mình Hạt mưa bụi rơi thầm trên mái ngói Tờ lịch mỏng bay theo lòng ngóng đợi Một con đường vời vợi núi cùng sông
Gọi ngàn lần tên anh vẫn là không Chỉ lá rụng dạt dào lối phố Dẫu em biết rằng anh, anh cũng nhớ. Nhưng lòng em nào có lúc nguôi quên.
---------------------
6-3-1985 |
| Đêm cuối năm |
|
| Đã mùa hoa cúc vàng Lại một năm sắp hết Thời gian sao trôi nhanh Ngổn ngang nhiều công việc
Thế là ba cái tết Hai chúng mình có nhau Dù chưa phải là lâu Nhưng cũng không ngắn ngủi Hạnh phúc tính bằng năm Cây tính bằng mùa trái
Dẫu lòng em không quên Con đường ga cát bụi Bóng anh đi lầm lụi Sông đôi bờ cách xa
Dẫu lòng em chưa qua Những hồi còi báo động Những căn hầm nước ngập Con chúng ta còn thơ...
Em đâu nhắc chuyện qua Để cho lòng tủi cực Em nhớ lại ngày xa Thấy mình thêm hạnh phúc
Qua bao ngày lửa đạn Đất về với mùa xuân Như em về với anh Qua những ngày sóng gió
Ở ngoài kia đường phố Màu áo chen màu hoa Anh có nghe: ngoài ga Tiếng con tàu đang gọi
---------------------
Mùa xuân 1976. |
| Hát ru chồng những đêm khó ngủ |
|
| Anh không ngủ được ư anh? Để em mở quạt quấn mành lên cho Lặng sao cái gió mặt hồ Ghét sao cái nóng đầu mùa đã ghê! Đoàn thương binh mới trở về Đánh nhau trước cửa hàng bia lúc chiều
Anh không ngủ được anh yêu? Nghe chi con lũ đang chiều nước dâng Ngày mai cây lúa lên đòng Lại xanh như đã từng không mất mùa Con sông bạn với con đò Con người bạn với câu hò trên sông.
Ngủ đi, em khép cửa phòng Để em lên gác em trông xem nào Ai đồn rằng cọ cháy cao Người dân Vĩnh Phú đốt bao nhiêu đồi Hình như lửa đã tắt rồi Gió không thổi nữa anh ơi yên lòng
Thương gì người đói lang thang Xin ăn trên khắp phố phường ngoài kia Ngủ đi anh hãy ngủ yên Rồi mai họ sẽ trở về quê thôi Lòng thương chỉ nói bằng lời Lấy đâu ra gạo cho người được no
Khuya rồi anh hãy ngủ đi Để em trở dậy em che bớt đèn Đứa nào nó nói cùng anh Cái tin chết của bạn mình vừa xong Chắc là đường đất khó khăn Nên thư từ chẳng thể năng gửi về Anh ơi anh hãy ngủ đi Thằng con ta nó nằm mê đó mà Ngày chơi súng giả ba lô Làm anh giải phóng hét hò suốt thôi Mười năm sau lớn lên rồi Sẽ quên đi những trò chơi bây giờ
Ngủ đi anh, hãy ngủ đi...
-----------------
1974 |
| Sân ga chiều em đi |
|
| Sân ga chiều em đi Mênh mang màu nắng nhạt Bụi bay đầy ba lô Bụi cay xè con mắt
Sân ga chiều em đi Gạch dưới chân im lặng Bóng anh in thành tàu Tóc anh xoà ngang trán
Sân ga chiều em đi Bàn tay da diết nắm Vừa thoáng tiếng còi tàu Lòng đã Nam đã Bắc.
Anh thương nơi em qua Những phố phường nhộn nhịp Bỡ ngỡ trong ánh đèn Còn lạ người lạ tiếng.
Anh thương nơi em qua Những phố phường nhộn nhịp Bỡ ngỡ trong ánh đèn Còn là người lạ tiếng
Anh thương nơi em qua Những sương chiều mưa tối Dặm đường xa nắng dãi Chuyến phà con nước dâng
Em xao xuyến trong lòng Nhớ về nơi ta ở Mùa thu vàng đường phố Lá bay đầy lối qua.
Ngọn đèn và trang thơ Tiếng thở đều con nhỏ Màu hoa trên cửa sổ Quán nước chè mùa đông Con tài với dòng sông Ra đi và trở lại
Hà Nội ơi Hà Nội Sân ga chiều em đi
----------------
1976 |
|
|
| http://www.thica.net/category/tat-ca/xuan-quynh/
| Thuyền và biển |
|
| Em sẽ kể anh nghe Chuyện con thuyền và biển
"Từ ngày nào chẳng biết Thuyền nghe lời biển khơi Cánh hải âu, sóng biếc Đưa thuyền đi muôn nơi
Lòng thuyền nhiều khát vọng Và tình biển bao la Thuyền đi hoài không mỏi Biển vẫn xa... vẫn xa
Những đêm trăng hiền từ Biển như cô gái nhỏ Thầm thì gửi tâm tư Quanh mạn thuyền sóng vỗ
Cũng có khi vô cớ Biển ào ạt xô thuyền (Vì tình yêu muôn thuở Có bao giờ đứng yên?)
Chỉ có thuyền mới hiểu Biển mênh mông nhường nào Chỉ có biển mới biết Thuyền đi đâu, về đâu
Những ngày không gặp nhau Biển bạc đầu thương nhớ Những ngày không gặp nhau Lòng thuyền đau - rạn vỡ Nếu từ giã thuyền rồi Biển chỉ còn sóng gió"
Nếu phải cách xa anh Em chỉ còn bão tố. |
Thơ viết tặng anh |
|
| Tháng mười trời trải nắng hanh Có cô hàng phố phơi chăn trước thềm Gió qua lay động bức rèm Tấm gương trong suốt ánh đèn nê-ông.
Tôi không có một căn phòng Lang thang suốt những năm ròng tuổi thơ Gia tài là mấy vần thơ Dẫu bao người đọc vẫn chờ đợi ai Núi cao biển rộng sông dài Tôi đi khắp chốn tìm người tôi yêu
Tấm khăn và những đường thêu Nghe trong điệu hát những điều say mê. "Có anh dũng sĩ trở về Tấm huân chương dưới nắng hè chói chang"
Đêm dài thức nhớ lang thang Người yêu tôi với con đường mùa đông Anh là của những dòng sông Của miền gió cát, của vùng bão mưa Anh là của những vần thơ Còn phần nào để bây giờ của em.
Ở bên hàng phố trước thềm Hoa phong lan, điệu nhạc êm buổi chiều Vị chua là bát canh riêu Vị cay là trái hạt tiêu đất mình Em không có đến bức mành Để che nắng gió cho anh tháng ngày Gia tài chỉ có bàn tay Đường gân xanh, vết chai dày từ xưa Gia tài chỉ có bài thơ Bao năm viết để bây giờ tặng anh. |
| Hát ru |
|
| Bình hoa đã ngủ trên bàn Kìa trang sách gấp ngọn đèn thiu thiu Ngủ đi, người của em yêu Này, con tàu lạ vừa neo bến chờ Trời đêm nghiêng xuống mái nhà Biển xanh kia cũng đã mơ đất liền.
Anh mơ anh có thấy em Thấy bông cúc nhỏ nơi triền đất quê Chiếc mo rơi ở bờ tre Con sông thăm biển đã về rừng xưa Đám mây về với cơn mưa Con đường đi tới miền chưa có đường.
Ngủ đi vầng trán yêu thương Bức tranh đã ngủ mặt tường lặng im Ngủ đi, hòn đá thì mềm Bàn chân thì cứng ngọn đèn thì xa Thời gian như gió thoảng qua Tình yêu là cánh đồng hoa giữa trời Tay ta nắm lấy tay người Dẫu qua trăm suối ngàn đồi cũng qua . |
| Chỉ có sóng và em |
|
| Đã xa rồi căn phòng nhỏ của em Nơi che chở những người thương mến nhất Con đường nắng, dòng sông trước mặt Chuyến phà đông. Nỗi nhớ cứ quay về
Đêm tháng năm hoa phượng nở bên hè Trang giấy trắng bộn bè bao ký ức Ngọn đèn khuya một mình anh thức Nghe tin đài báo nóng, lại thương con
Anh yêu ơi, hãy tha lỗi cho em Nếu đôi lúc giận hờn anh vô cớ Những bực dọc trong ngày vất vả Làm anh buòn mà em có vui đâu
Chỉ riêng điều được sống cùng nhau Niềm sung sướng với em là lớn nhất Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực Giấy phút nào tim đập chẳng vì anh.
Một trời xanh, một biển tận cùng xanh Và gió thổi và mây bay về núi Lời thương nhớ ngàn lần em muốn nói Nhưng bây giờ chỉ có sóng và em...
---------------------
Quảng Ninh 5-1983 |
|
Anh |
|
| Cây bút gẫy trong tay Cặn mực khô đáy lọ Ánh điện tắt trong phòng Anh về từ đường phố Anh về từ trận gió Anh về từ cơn mưa Từ những ngày đã qua Từ những ngày chưa tới Từ lòng em nhức nhối...
Thôi đừng buồn nữa anh Tấm rèm cửa màu xanh Trang thơ còn viết dở Tách nước nóng trên bàn Và lòng em thương nhớ...
Ở ngoài kia trời gió Ở ngoài kia trời mưa Cây bàng đêm ngẩn ngơ Nước qua đường chảy xiết Tóc anh thì ướt đẫm Lòng anh thì cô đơn Anh cần chi nơi em Sao mà anh chẳng nói
Anh, con đường xa ngái Anh, bức vẽ không màu Anh, nghìn nỗi lo âu Anh, dòng thơ nổi gió... Mà em người đời thường Biết là anh có ở !
-----------------
19-7-1973. |
| Mùa hoa gioi |
|
| Bây giờ mùa hoa gioi Trắng một vùng Quảng Bá Sóng ven hồ cứ vỗ Anh một vùng cây tre
Ta đến rồi ta đi Bao lần anh có nhớ Dưới vòm cây lặng lẽ Dưới vòm cây chờ mong
Cánh buồm trôi ngoài sông Bò tập cày trên bãi Nâu một vùng đất mới Đợi tay người gieo trồng...
Anh có đi cùng em Đến những miền đất lạ Đến những mùa hái quả Đến những ngày thương yêu
Qua nắng sớm mưa chiều Qua chặng đường tàn phá Qua rất nhiều nỗi khổ Qua rất nhiều niềm vui ...
Anh có nghe hoa rơi Quanh chỗ mình đứng đó Hoa ơi sao chẳng nói Anh ơi sao lặng thinh Đốt lòng em câu hỏi: "Yêu em nhiều không anh?" | Thơ vui về phái yếu
(Xuân Quỳnh)
Những người đàn ông các anh có bao nhiêu điều to lớn Vượt qua ô cửa cỏn con, văn phòng hẹp hàng ngày Các anh nghĩ ra tàu ngầm, tên lửa, máy bay Tới thăm dò những hành tinh mới lạ Tài sản của các anh là những tinh cầu, là vũ trụ Các anh biết mỏ dầu, mỏ bạc ở nơi đâu Chính phục đại dương bằng các con tàu Đi tới tương lai trên con đường ngắn nhất Mỗi các anh là một nhà chính khách Các anh quan tâm đến chuyện mất còn của các quốc gia.
Biết bao điều quan trọng được đề ra Những hiệp ước xoay vần thế giới
Chúng tôi chỉ là những người đàn bà bình thường không tên tuổi Quen việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày Cuộc sống ngặt nghèo phải tính sao đây Gạo, bánh, củi dầu chia thế nào cho đủ Đầu óc linh tinh toàn nghĩ về chợ búa Những quả cà, mớ tép, rau dưa Đối với Nít và Kăng, những siêu nhân nay và xưa Xin thú thực: chúng tôi thờ ơ hạng nhất
Chúng tôi còn phải xếp hàng mua thịt Sắm cho con đôi dép tới trường Chúng tôi quan tâm đến xà phòng, đến thuốc đánh răng Lo đan áo cho chồng con khỏi rét...
Chúng tôi là những người đàn bà bình thường trên trái đất. Quen với việc nhỏ nhoi bếp núc hàng ngày Chúng tôi chẳng có tàu ngầm, tên lửa, máy bay Càng không có hạt nhân nguyên tử Chúng tôi chỉ có chậu có nồi có lửa Có tình yêu và có lời ru Những con cò con vạc từ xưa Vẫn lặn lội bờ sông bắt tép Cuộc sống vẫn ngàn đời nối tiếp Như trăng lên, như hoa nở mỗi ngày...
Nếu không có ví dụ chúng tôi đây Liệu cuộc sống có còn là cuộc sống Ai sẽ mang lại cho các anh vui buồn hạnh phúc Mở lòng đón các anh sau thất bại nhọc nhằn Thử nghĩ xem thế giới chỉ đàn ông Các anh sẽ không còn biết yêu biết ghét Các anh không đánh nhau nhưng cũng chẳng làm nên gì hết Thế giới sẽ già nua và sẽ lụi tàn Ai sẽ là người sinh ra những đứa con Để tiếp tục giống nòi và dạy chúng biết yêu, biết hát.
Buổi sớm mai ướm bước chân mình lên vết chân trên cát Bà mẹ đã cho ra đời những Phù Đổng Thiên Vương Dẫu là nguyên thủ quốc gia hay là những anh hùng Là bác học... hay là ai đi nữa Vẫn là con của một người phụ nữ Một người đàn bà bình thường, không ai biết tuổi tên
Anh thân yêu, người vĩ đại của em Anh là mặt trời, em chỉ là hạt muối Một chút mặn giữa đại dương vời vợi, Lòai rong rêu ai biết đến bao giờ Em chỉ là ngọn cỏ dưới chân qua Là hạt bụi vô tình trên áo Nhưng nếu sáng nay em chẳng đong được gạo Thì đến chiều anh chẳng có...cơm ăn.
Vài đoạn thơ vui nhân dịp ngày xuân Đùa một chút xin các anh đừng giận Thú thực là chúng tôi cũng không sống được Nếu không có các anh, thế giới chỉ đàn bà.
|
|