Chế độ độc tài chắc chắn sụp đổ
07.07.2018 08:17
Áp lực đám đôngNguyễn Minh Tâm (Danlambao)- Để lật đổ chế độ độc tài dễ hay khó? Trên nguyên lý, rất dễ. Chỉ cần người dân đồng lòng xuống đường cùng lúc, cùng địa điểm chiến lược thì chế độ độc tài nào cũng sụp đổ. Chúng ta thử đi ngược lại quy luật lịch sử để tìm hiểu vấn đề này.

Lật đổ độc tài không có nghĩa là chúng ta phải giết hết quân đội hay CA, hay chính quyền. Chuyện này sẽ không bao giờ làm được, nếu có làm cũng chỉ là trứng chọi đá, vì chính quyền được trang bị những vũ khí hiện đại nhất, còn người dân chỉ có gạch đá bom xăng v.v... Do đó phải hiểu rằng để lật đổ chế độ độc tài là khi và chỉ khi người dân có đủ sức mạnh để tạo áp lực, buộc chính quyền phải ngồi vào đối thoại. Họ phải chọn lựa giữa đối thoại hay bị truất phế.
Vậy áp lực đó đến từ đâu? Từ những cuộc biểu tình của quần chúng trên khắp cả nước làm rung chuyển xã hội, làm kiệt quệ dần dần, chính quyền thất thu về thuế, không có đủ tiền để trả lương bộ máy công quyền, không giải quyết được lạm phát. Nếu chính quyền không chịu lùi bước để đối thoại, thì người dân tiếp tục biểu tình chiếm cứ các vị trí quan trọng như đài truyền hình, ngân hàng, sân bay, kho xăng dầu... và công nhân đình công, tài xế chận quốc lộ, học sinh bải khóa, tiểu thương bải thị trên toàn quốc thì xã hội tê liệt hoàn toàn. Khi đó buộc chính quyền phải đàn áp mạnh tay, nhưng nếu quân đội hoặc CA đứng về phía nhân dân thì chính quyền sụp đổ không gì cản nỗi.
Nghĩa là áp lực sức mạnh luôn đến từ 2 nguồn.
1/ Từ những cuộc biểu tình rộng khắp của người dân với tất cả các thành phần.
2/ Từ bộ máy chính quyền bất tuân, quân đội sẽ đứng dậy, hoặc phối hợp cả 2 có thêm chút tình hình quốc tế.
Ở đây chúng ta không bàn về vai trò của quân đội, vì nằm ngoài khả năng. Chúng ta chỉ bàn đến vấn đề, làm sao để những cuộc biểu tình của quần chúng có áp lực?. Đâu phải cuộc biểu tình nào cũng có áp lực? Trước mắt, rõ ràng số lượng người là một dạng áp lực. Càng nhiều, càng đông, bất cứ chế độ tàn bạo nào cũng run sợ. Nhưng đông mà thiếu đi tính quyết liệt, dứt khoát, thì đám đông đó lại dễ bị phân tán, đàn áp, phân chia cắt khúc. Do đó, sự quyết tâm cùng một ý nghĩ, sự thống nhất cùng một mục đích lại là bản chất sức mạnh của đám đông. Gọi là ý chí đám đông.
Khi ý chí đám đông không rõ ràng, lạc hậu so với thực tiển, không có tính hình tượng dễ lôi cuốn, đám đông đó thiếu đi một sức mạnh, nên không tạo ra một áp lực chung. Điển hình các cuộc biểu tình ở VN, hầu như không có ý chí, chỉ là phản đối mang tính số lượng nên bị đàn áp một cách dễ dàng mà chưa cần đến những trang bị chuyên dụng như vòi rồng, chó nghiệp vụ… Những cuộc biểu tình của phong trào Otpor Serbia 2011 với khẩu hiệu quyết tâm rất rõ ràng "Nó độc tài nó phải đổ", tạo nên cả sức mạnh cho đám đông. Cuộc biểu tình Hong Kong có quyết tâm có ý chí, nhưng ý chí chưa tới, chỉ dừng lại mức yêu cầu được đề cử Đặc khu trưởng, một hình tượng mơ hồ, nên làm yếu đi sức mạnh của đám đông, chỉ chống lại chính quyền chứ không tạo nên áp lực nền tảng.
Như vậy ý chí đám đông quyết định sức mạnh đám đông. Ý chí càng cao áp lực càng mạnh.
Nghĩa là, số lượng và quyết chí cùng một mục đích tối thượng là sức mạnh lớn nhất của đám đông. Nó sẽ tạo ra áp lực và lan tỏa rất nhanh bao trùm lên các nhóm khác nhau. Ở giai đoạn đầu để dễ lôi cuốn quần chúng vừa bước ra khỏi sợ hãi, chúng ta biểu tình ở mức độ phản đối (vẫn còn mang tâm thức nô lệ), thì áp lực đó chưa đủ mạnh, chắc chắn qua một quá trình dài nó phải đi đến đích cuối cùng: yêu cầu, rồi lật đổ. Đó mới là áp lực thật sự của đám đông. Đích cuối cùng của đám đông phải là đích có hình tượng, bởi vì bản chất của đám đông là mơ hồ, lan tỏa và triệt tiêu cá nhân tính, họ chỉ làm theo hình ảnh. Ngược lại ý chí đám đông cũng trao cho mỗi cá nhân một sức mạnh và giúp họ vượt qua nỗi sợ hãi.
Do đó, để cho các cuộc biểu tình có áp lực, chúng ta phải làm sao để đưa người dân về một ý nghĩ cuối cùng có hình tượng: lật đổ chế độ độc tài. Ý nghĩ phản đối, yêu cầu chỉ là quá trình chuyển tiếp, nếu chúng ta sợ sệt đàn áp, lèo lái ý chí đám đông sang một hướng nhẹ nhàng hơn thì sức mạnh của đám đông cũng mềm yếu hơn. Thí dụ, cương lĩnh đợt biểu tình là: “Phản đối Luật Đặc khu, Luật ANM”, làm sao áp lực bằng “Không Đặc khu, Không ANM”. Hoặc mạnh hơn: “Phải Trưng cầu dân ý Luật Đặc khu luật ANM”. Hoặc áp lực hơn: “Không Đặc khu Không ANM yêu cầu Quốc hội từ chức”, nhưng áp lực mạnh nhất là: Không Đặc khu, Không ANM, Không Đảng CSVN!
Kết luận: Chúng ta phải làm sao để người dân trên khắp cả nước có cùng một ý nghĩ : lật đổ chế độ độc tài, đó mới là căn nguyên tạo ra áp lực lật đổ chế độ độc tài. Còn mọi cương lĩnh khác chỉ là gián tiếp, lèo lái, sẽ làm suy yếu ý chí đám đông. Đây mới là vấn đề khó nhất, nền tảng nhất mà mọi cuộc CM phải tìm ra.
Như vậy, với xã hội VN, để lật đổ CS, cuối cùng là làm sao để người dân trên khắp cả nước phải có cùng ý nghĩ lật đổ CS, mọi ý nghĩ phản đối, đòi tăng lương, dân oan đất đai… chỉ là ý nghĩ ban đầu chuyển tiếp để dẫn đến ý nghĩ này, khi đó mới đủ áp lực để lật đổ CS.
Vậy cái gì để dân Việt chấp nhận xuống đường đòi quyền lợi cho mình?
Các cuộc biểu tình lớn xảy ra ở VN gần đây: Biểu tình ngày 11/5/2014 phản đối Dàn khoan HD981, Biểu tình ngày 5/11/2015 phản đối Tập Cận Bình sang thăm nước ta, Biểu tình ngày 5/3/2017 phản đối thảm họa Formosa, Biểu tình ngày 10/6/2018 phản đối luật Đặc khu và ANM. Còn lại im re, bị đàn áp thô bạo và kiểu như không quan tâm.
Đặc điểm gì qua những cuộc biểu tình này: 1/ Có yếu tố Trung Cộng, 2/ Chủ quyền lãnh thổ quốc gia, 3/ Đe dọa đến sự sống còn của người dân.
Từ đó suy nghĩ, người Việt chỉ xuống đường khi họ nhìn thấy hiểm họa xâm lăng từ TC, họ yêu nước, yêu quê hương thật sự và khi và chỉ khi cảm thấy sự sống của họ bị đe dọa, còn lại họ gần như dửng dưng chí thú làm ăn, không quan tâm. Đặc biệt người Việt không xuống đường vì miếng cơm manh áo, quyền lợi sát sườn, đói mấy, khổ cực mấy họ cũng chịu được. Đập nửa căn nhà thì vun xén, sống chui rút trong nửa căn còn lại. Đất đai bị cướp bóc sành sạch, nhưng lực lượng dân oan không phải là nhiều và họ xuống đường để đòi đất chứ không phải đòi thay đổi chế độ. Bởi vì người Việt vẫn còn tư tưởng thần dân, quy phục chính quyền và sẵn sàng cạp đất mà ăn. Công nhân bải công để phản đối tiền lương, quỹ BHXH chứ không phải mục đích lật đổ chính quyền. Cho nên cả nước sẽ không hình thành những cuộc biểu tình rầm rộ, cùng mục đích.
Vậy hỏi làm sao đủ để tạo nên áp lực thay đổi chế độ. Cả nước chưa thống nhất một luồng suy nghĩ nên chưa có sức mạnh. Không cùng một ý chí đám đông, nên biểu tình rời rạc, phản đối theo thời vụ.
Tuy nhiên, sâu trong tâm thức, chúng ta thấy, người Việt xuống đường bằng ý chí quật khởi, chứ không phải cơm áo gạo tiền. Thật sai lầm nếu chúng ta không vinh danh đúng tâm thức của họ!
Người Việt rất yêu nước, yêu quê hương, có lẽ dân Việt không chấp nhận mất đi hình ảnh lũy tre làng, ao ruộng, ao cá, cùng ngọn chuối ngọn tre, cùng với tình làng nghĩa xóm mà đã ăn sâu vào tiềm thức của họ từ tiếng ru của mẹ, tiếng hát quê hương. Những hính ảnh này đẹp xiết bao, đẹp đến nỗi Việt kiều xa quê hương đến 43 năm mà vẫn còn lưu luyến.
Do đó, để tạo đủ áp lực lật đổ CS, chúng ta phải đưa người Việt về cùng một ý chí đám đông. Trải qua lịch sử đất nước, Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm, học tập cải tạo 1975, đàn áp dân oan, cướp đất, tàn sát nhân quyền… CS đã hiện nguyên hình là con thú dữ chống lại nhân dân, bán nước bán dân tộc, cần phải loại bỏ. Cho nên tiêu chí LẬT ĐỔ CỘNG SẢN là mục đích đúng nguyện vọng nhất của ý chí đám đông Việt. Bất cứ cuộc biểu tình nào cũng nằm trong mục đích đó. Phản đối Formosa, nhưng trong thâm tâm phải hiểu rằng lật đổ CS. Phản đối Nhiệt điện Vĩnh Tân, nhưng mục đích nhắm tới cũng là lật đổ CS. Phản đối luật ANM, nhưng phải tiến thêm một bước nữa là lật đổ CS. Khi đó những hành động của người dân mới đồng loạt, đầy sáng tạo, rộng khắp, bổ sung cho nhau, và cùng tạo nên áp lực lật đổ CS..
Hành động của chúng ta
Từ những phân tích ở trên, trước nhất, theo chúng tôi, Facebooker nên dẫn đầu để tạo nên cuộc CM Việt. Có thể nói hiện tại Facebook là nơi hội tụ tất cả những nười đấu tranh trong nước, anh dũng dám công khai đối đầu với bạo quyền CS. Nếu các bạn không tạo được áp lực với CS thì người dân sẽ không bao giờ. Nếu các bạn không quy về một luồng suy nghĩ lật đổ CS thì người dân cũng sẽ hoang mang chờ đợi. Nếu các bạn không vinh danh lòng yêu nước thì người dân cũng thờ ơ với xã hội…
Đừng suy nghĩ rằng kêu gọi lật đổ CS thì các bạn dễ bị bắt hơn. Không? Với Facebook, CS muốn bắt các bạn bất cứ lúc nào cũng được, không cần 258, không cần luật ANM, không cần đến Baidu, Weibo… chúng định vị và xác đinh IP của các bạn thật dễ dàng. Nhưng lâu nay tại sao chúng không bắt. Những người bị bắt là những người có dính tới một tổ chức nào đó hoặc có yếu tố nước ngoài, nếu các bạn hoạt động độc lập, không lo gì cả. Hơn nửa, số lượng người lên tiếng nhiều quá rồi, CS không thể bắt hết, chúng chỉ nhắm vào những người dám hành động có sức ảnh hưởng lớn mà thôi. Tiếng nói yêu nước sẽ giúp các bạn đứng lên, các bạn đã phản đối chặc cây xanh, phản đối Formosa, phản đối luật đặc khu ANM... các bạn cần phải nâng lên một cấp độ nữa, mà CS cũng sẽ bó tay, không thể làm gì được, bởi họ biết dù có cầm tù các bạn cũng vô ích, bắt thì dễ nhưng thả rất khó, còn nhiều mối quan hệ đối với các nước và chỉ làm cho các bạn nổi tiếng thêm. Như vậy tại sao các bạn không nhìn thẳng trực diện vấn đề, đó mới chính là áp lực của đám đông? Tại sao các bạn không hô hào thẳng vấn đề: Quốc hội phải giải thể, Thủ tướng phải từ chức, giải thể chế độ độc tài, lật đổ kẻ bán nước, đảng phải loại bỏ, phải thay đổi cơ chế, trả quyền tự quyết về cho nhân dân… Tôi ủng hộ anh Đinh Quang Tuyến, những buổi livestream của anh hừng hực tinh thần yêu nước, kêu gọi lật đổ CS. Tại sao chúng ta không làm như anh mà lại ngồi cãi nhau Facebook hay Minds?
Chúng ta đã chấp nhận công khai phản đối chế độ độc tài, thì chúng ta cũng nên tiến lên đòi giải thế chế độ độc tài, còn không họ sẽ nghiền nát bạn. Mọi hình thức gián tiếp, chệch hướng, ngụy trang sẽ làm cho mục đích của chúng ta mờ nhạt, yếu thế, đấu tranh lung tung, không biết đấu tranh cái gì, và như vậy sức mạnh áp lực sẽ không có, chúng ta lại chạy lòng vòng do đảng dẫn dắt như những con cừu.
Chỉ khi nào các bạn Facebooker công khai kêu gọi lật đổ CS, khi đó chúng ta mới loại trừ những định hướng viên mà đảng cài cắm muôn màu trên web, để người dân thật sự thấy được sức mạnh của mình mà tham gia phong trào.
Nhưng, cũng đừng nên suy nghĩ rằng, chỉ facebook mới là sức mạnh để lật đổ CS. Chúng tôi đã đi theo suốt ngày cùng với nhân dân trong đợt biểu tình ngày 10/6 để hỏi quần chúng rằng: “Làm sao các anh chị em biết cuộc biểu tình này mà tham gia.” 100% câu trả lời: “Trên mạng đó anh - Ace có chơi face không? Bọn em không chơi face, coi trên web và youtube đó”.
Nghĩa là, không những facebooker, mà tất cả các website, youtube, blogger…, cũng phải cùng trên guồng máy áp lực này. Tất cả phải cùng trên ý chí đám đông là: LẬT ĐỔ CỘNG SẢN hoặc những hình tượng tương đương. Mọi hình thức gián tiếp, đấu tranh lung tung chỉ làm giảm đi áp lực của sức mạnh mà thôi.
Cũng từ những nhận thức trên, trở lại chương trình BIỂU TÌNH KẸT XE LẬT ĐỔ CỘNG SẢN chúng tôi xin phép được gia cố thêm một số vấn đề như sau:
1/ Chúng ta vẫn tiếp tục thực hiện chương trình này vào sáng thứ 7 và chủ nhật hằng tuần từ 9g- 11g. Đây là chương trình biểu tình AN TOÀN kiên trì lâu dài để tập trung phát triển lực lượng mà CS không cách nào cản trở được. Nó giúp người dân vượt qua sợ hải và dần định hình ý tưởng LẬT ĐỔ CỘNG SẢN. Khi lực lượng đã đủ đông, truyền miệng khắp nơi và hiểu cương lĩnh chương trình này thì CS bó tay, không chống đở nỗi. Người dân Đông Đức đã tuần hành IM LẶNG hàng tháng trời trong đêm khắp cả thành phố Leipzeig, để đến khi nó lan tỏa ra cả ngàn người ở các thành phố khác thì Stasi không thể đàn áp nỗi, đã hình thành nên Bức tường Berlin sụp đổ. Cho nên chúng ta hãy kiên nhẫn thực hiện chương trình này, không có chiến lược nào “mì ăn liền” mà chiến thắng bạo quyền cả. Chúng tôi vẫn cảm nhận được dòng người lưu thông nhiều hơn ở khu vực đường Trường sơn vào sáng thứ 7 và chủ nhật khoảng từ 10g30 đến 11g. Các bạn hãy đi để cảm nhận cùng chúng tôi và điều thích thú nhất vẫn là: nhìn bọn đầu trâu mặt ngựa chạy ngược chạy xuôi lo toan kẹt xe, ăn cơm hộp, ló thụt ở gốc cây mái hiên nhà mà tội nghiệp. Chúng nó phải làm việc cả ngày đến đêm, không còn vẻ sát khí như trước, ngược lại thằng nào cũng mệt mõi rệu rã, chán chường.
2/ Khi tham gia chương trình này, BÓP CÒI là hiệu lệnh biểu tình. Hãy bóp còi thường xuyên, bóp còi là tiếng nói của những người tham gia, bóp còi là hiệu lệnh để tiến lên vượt mọi vật cản. BÓP CÒI- BIỂU TÌNH- LẬT ĐỔ CỘNG SẢN.
3/ Hãy chọn 1 chi tiết màu vàng khi tham gia biểu tình. Hãy mặc chiếc áo màu vàng, hay đội cái mũ màu vàng, hoặc đôi giày màu vàng, hoặc bửng xe màu vàng, hay một miếng decal nhỏ dán trên xe màu vàng, hoặc bao tay màu vàng v.v... để thêm màu sắc cho vui tạo thêm áp lực khi tham gia, và nhớ rằng luôn luôn bóp còi.
4/ ĐÚNG GIỜ. Đúng giờ là yêu cầu rất quan trọng để thực hiện chương trình này. Cùng một dung lượng nước nhưng xả lũ trong 1 ngày là lũ quét, nhưng kéo dài trong 1 tuần là tưới cây.
5/ Nhớ rằng, không ai có thể bắt bạn ngừng xe ngoài CSGT, cho nên CSCĐ, ATTT, ANĐT, CA phường quận, chỉ đứng nhìn bạn di chuyển mà thôi.
ĐẢNG BÁN NƯỚC, BÁN DÂN TỘC PHẢI SỤP ĐỔ
Sài Gòn 6/7/2018

Thà chịu nhục chứ không chịu sụp!Nguyên Thạch (Danlambao) - Dẫu biết rằng đảng là tập hợp của khối tên đểu cáng nhưng thật ít có ai ngờ rằng ĐCSVN lại thiếu tự trọng đến thế, lại hèn hạ, bệ rạc đến thế!. Chúng dâng đất, dâng biển đảo, dâng các đặc khu, các trọng điểm chiến lược của đất nước cho giặc Tàu trong thái độ tuân lịnh, quì lạy ngoại bang nhưng lại rất ác độc với chính dân mình. Căn cứ vào những hành động của ĐCSVN, hầu hết người Việt Nam cả nội lẫn ngoại giờ đây tự hỏi rằng ĐCSVN có còn mang dòng máu Việt tộc hay đã bị thiên triều đổi thành dòng máu Tàu phù?. Chỉ có loài dã thú mới tự ăn thịt lẫn nhau để sinh tồn, chúng không hề có khái niệm về sự đau đớn, sự nhục nhã, mà chỉ biết thể hiện tức giận như những phản ứng tự nhiên của loài hoang dã...
*
ĐCSVN giờ đây hư khúc gỗ mục rệu, sẵn sàng sụp đổ bất cứ lúc nào. Một chế độ mà coi dân chúng là thù nghịch, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù thì đó là ngày tàn của chúng cũng đến cận kề.
Một bài ca mà không còn ai hát nữa là một bài ca chết. Bây giờ nếu có ai đứng giữa công chúng mà ca bài "Bác cùng chúng cháu hành quân" thì quần chúng sẽ nghĩ ngay đó là một tên khùng, hay chí ít cũng là một tên mà đầu óc có vấn đề. Người dân giờ đây ngán đảng, ngán bác, ngán chủ nghĩa Mác Lê còn hơn ngán chè đậu.
Người ta không những sẽ tỏ thái độ thản nhiên một cách trường giang mà không hề sợ mật vụ cho là vô cảm giác với đảng khi thấy CSGT hay côn an khu vực bị xe cán chết đứt làm 2, mà họ còn mừng thầm trong bụng nữa là đàng khác.
Quan chức tham nhũng, cán bộ ác ôn vào tù càng nhiều thì dân chúng càng như mừnng. Nếu giờ này Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc, Tô Lâm...tự nhiên trúng gió chết hàng loạt như gà bị H5N1 chết rụi thì dân chúng sẽ vui như mở cờ trong bụng. Người dân Việt sẽ thương tiếc cụ Riệm (Diệm), cụ Nhu nhưng sẽ hỉ hả khi biết cái đám phản dân hại nước như lũ ác đảng này chết tiệt.
Cây kim trong bọc lâu ngày cũng lòi, ngày xưa khi còn ngây ngô khi thông tin bị bưng bít một chiều của độc đảng, người dân còn nửa tin nửa ngờ nhưng gần đây tiện ích của nền tin học hiện đại đã lột mặt nạ bầy đàn gian manh xảo trá, cộng thêm càng ngày ĐCS càng lộ nguyên hình là loài phản trắc, lưu manh đểu cáng...nên dân chúng đã nhìn ra được sự thật.
Nhiều người thắc mắc rằng liệu ĐCSVN có thất vọng và cảm thấy nhục nhã không khi biết được đa số dân chúng giờ đây rất khinh miệt chúng? Còn đa số người dân bình thường thì suy nghĩ theo lối dân dã rằng chẳng biết cái bọn mặt dầy đảng có "huê lồng" không?.
Dẫu biết rằng đảng là tập hợp của khối tên đểu cáng nhưng thật ít có ai ngờ rằng ĐCSVN lại thiếu tự trọng đến thế, lại hèn hạ, bệ rạc đến thế!. Chúng dâng đất, dâng biển đảo, dâng các đặc khu, các trọng điểm chiến lược của đất nước cho giặc Tàu trong thái độ tuân lịnh, quì lạy ngoại bang nhưng lại rất ác độc với chính dân mình. Căn cứ vào những hành động của ĐCSVN, hầu hết người Việt Nam cả nội lẫn ngoại giờ đây tự hỏi rằng ĐCSVN có còn mang dòng máu Việt tộc hay đã bị thiên triều đổi thành dòng máu Tàu phù?. Chỉ có loài dã thú mới tự ăn thịt lẫn nhau để sinh tồn, chúng không hề có khái niệm về sự đau đớn, sự nhục nhã, mà chỉ biết thể hiện tức giận như những phản ứng tự nhiên của loài hoang dã.
ĐCSVN sẵn sàng bán tất cả. Bán tư cách, bán lương tâm, bán đất, bán vịnh biển đảo và bán cả dân để được tồn tại quyền cai trị. Như những khúc gỗ mục, chúng thà chịu nhục, chớ không chịu sụp. Dọc theo chiều dài của lịch sử, các hôn quân có thể quên đi bổn phận cùng trách nhiệm của mình để lo cho dân cho nước mà chơi bời trác táng, ham mê tửu dục rồi sao lãng chức năng lãnh đạo nhưng có mấy ai nối giáo cho giặc, rước voi về giày mả tổ như Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc và bán nước như Hồ Chí Minh cùng ĐCSVN.
22.07.2018
Ba dân tộc, ba thảm họa và ba chính quyềnLuật sư Đào Tăng Dực (Danlambao) - Gần đây không những dân Việt mà hầu như toàn thế giới đều quan ngại đến 3 thảm họa xảy ra cho người dân tại 3 quốc gia Á Châu với 3 thể chế chính trị tiêu biểu của thời đại.
Đó là: sự thất lạc 12 trẻ em và huấn luyện viên trong đội bóng đá tại Thái Lan tại một hang động thiên nhiên Tham Luang sâu cả ngàn thước dưới lòng đất và thiên tai lụt lội tại miền Tây Nhật Bản đưa đến sự tàn phá nhà cữa tài sản, nhân mạng dân Nhật lên đến nhiều trăm người.
Hai hiện tượng này làm chúng ta liên tưởng đến các nhân tai tại Việt Nam do nhà cầm quyền xả lũ vô trách nhiệm vào năm 2017, cũng như thảm họa tàn phá môi trường Nhà máy Thép Formosa năm 2016, đưa đến thiệt hại tài sản và nhân mạng của người dân, nhưng bị nhà cầm quyền CSVN dấu nhẹm vì sự kiểm soát thông tin của CSVN.
Trước hết, chúng ta đều biết Nhật Bản là quốc gia Á Châu đầu tiên canh tân và cải cách kinh tế lẫn chính trị. Bây giờ nghiễm nhiên là một quốc gia phát triển bật nhất thế giới song hành với một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên.
Tiếp theo đó, Thái Lan phát xuất là một chế độ quân chủ chuyên chính thiên về quân phiệt. Tuy nhiên có một thời gian khá dài trải qua một giai đoạn dân chủ đa đảng. Gần đây, giới quân đội liên kết với Hoàng Gia và cướp chính quyền, thay thế bằng một hiến pháp dân chủ giới hạn, hiến định hóa quyền lực của quân đội và hoàng gia. Chúng ta có thể kết luận rằng, Thái Lan là một nền dân chủ trong giai đoạn chuyển tiếp, nhưng với một hệ thống chính trị đa đảng.
Trong khi đó, Việt Nam là một chế độ độc tài toàn trị theo truyền thống Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Theo điều 4 hiến pháp hiện hành, đảng CSVN lãnh đạo độc nhất và toàn diện, không những chính quyền mà cả xã hội dân sự qua ngoại vi là Mặt Trận Tổ Quốc. Các cuộc bầu cử là bầu cử cuội qua sự chọn lọc ứng cử viên của Mặt Trận Tổ Quốc. Kết quả là 95% dân biểu quốc hội là đảng viên và 5% còn lại đa số là tay sai của đảng.
Nguyên nhân của các thảm họa trên phát xuất từ đâu?
Tại Thái Lan thì do sự kết hợp giữa 2 yếu tố. Một là thiên nhiên do mưa lũ, lụt lội làm ngập động thiên nhiên. Tuy chưa có kết quả điều tra chi tiết, nhưng yếu tố sai lầm của con người có lẽ không thể loại bỏ.
Tại Nhật Bản thì hầu như thảm họa lụt lội và sập đất tại miền Đông là phát xuất từ thiên nhiên. Sức mưa vào tháng 7 này có mức độ lịch sử và chính phủ phải di tản hằng triệu gia đình lánh nạn.
Tại Việt Nam thì động thái xã lũ các đập thủy điện miền Trung tính đến 19 tháng 11, 2017 là 41 người chết, 5 người mất tích và 74 người bị thương. Riêng tai họa ô nhiễm môi trường do Formosa bắt đầu từ tháng 4, 2016 đã gây hiện tượng cá chết khôn tiền khoán hậu trong lịch sử đất nước, vô cùng nặng nề trên 4 tỉnh miền Trung kể cả thiệt hại tính mạng người dân, mà CSVN hoàn toàn dấu nhẹm. Cả hai tai họa này đều phát xuất từ sự ngu dốt và tham nhũng tận răng của các cán bộ đảng CSVN.
Hậu quả như thế nào từ 3 thể chế chính trị khác nhau đối với nhân dân?
Tại Nhật Bản là một nước dân chủ chân chính thì Thủ Tướng Abe đình hoãn chuyến tham dự Hội Nghị Thượng Đỉnh của NATO (tức Liên Minh Bắc Đại Tây Dương) hầu tập chú vào công tác giúp đỡ các nạn nhân lũ lụt. Chính phủ Nhật Bản cũng huy động toàn bộ quân đội ra sức giúp đỡ người dân. Nền báo chí tư nhân tự do thực sự cũng tham gia công tác cứu trợ lẫn giám sát chính quyền chặt chẽ trong công tác này.
Tại Thái Lan, chính quyền huy động không những quan đội, mà ngay cả những chuyên gia quốc tế giúp đỡ các trẻ em bị lâm nạn. Báo chí Thái Lan và báo chí quốc tế lôi kéo sự chú ý và giúp đỡ của toàn thế giới. Thủ tướng Thái Lan còn đích thân tham gia vào công tác cứu trợ này. Một quân nhân người nhái Thái Lan đã hy sinh tính mạng để cứu chính con dân của quốc gia mình. Khi công tác cứu các trẻ em hoàn mãn vào ngày 11 tháng 7, toàn thế giới cảm thấy hãnh diện và vui mừng.
Trong khi đó, tại Việt Nam, báo chí chỉ dám đăng các tin đảng CSVN cho phép. Mãi đến ngày hôm nay, con số chính thức các nạn nhân bị chết vì 2 thảm họa do đảng gây ra vẫn bị dấu nhẹm. Các quan chức trốn biệt. Một số tuyên bố những câu vô lý, vô tình và vô trách nhiệm như “xả lũ là đúng quy trình”, hoăc “cá chết là vì bị quá nhiều dưỡng khí” hoặc “cá chết là vì tiếng động tầng số quá cao”... Riêng ông TBT Nguyễn Phú Trọng thì vào thời điểm Formosa xả chất độc ô nhiễm trái luật pháp và bị phanh phui, thay vì thăm ngư dân bị nạn, ông lại đi thăm cơ sở của Formosa xem thử có bị sứt mẻ gì hay không. Khi xả lũ và gây thiệt hại về tài sản cũng như nhân mạng đồng bào thì các viên chức cao cấp của đảng không thăm dân mà chỉ thăm viếng các cơ sở thủy điện, hầu bảo vệ vốn đầu tư cho an toàn.
TBT Nguyễn Phú Trọng còn vô cùng nổi tiếng về câu bình phẩm của ông, trong cuộc gặp gỡ với Tập Cận Bình rằng theo khẩu vị của TBT, trà Tàu ngon hơn trà Việt Nam nữa.
Trước tình cảnh đất nước oái ăm như thế, chúng ta phải làm gì?
Như một người Việt Nam còn quan tâm đến vận mệnh đất nước, chúng ta phải sát cánh với toàn dân, quyết tâm giải thể độc tài đảng trị CSVN, xây dựng cho đất nước một nền dân chủ hiến định, pháp trị và đa nguyên chân chính, hầu dân tộc chúng ta có thể tiến lên, vươn vai cùng nhân loại văn minh.
Trong một nước Việt Nam dân chủ thật sự, mỗi người quân nhân Việt Nam sẽ có quyền hy sinh cho dân tộc, được vinh danh trong sự hy sinh vô vị lợi đó, như người quân quân Thái Lan nêu trên, mà không cần biết ơn "bác" hay đảng hoặc xưng hô “đồng chí” một cách ngu xuẩn với bất cứ ai.
Cũng như những người Nhật Bản, Thái Lan bình thường khác, họ chỉ cần một tấm lòng hy sinh cho dân tộc, trong sáng, vô vị lợi, không hề hoen ố bởi một ý thức hệ tào lao nào.
21.07.2018
Các chế độ độc tài sụp đổ là một trào lưu đã diễn ra khắp thế giới liên tục trong 40 năm qua. Từ thập niên 1970 đến nay, gần 100 quốc gia đã chuyển từ độc tài sang các thể chế dân chủ dưới nhiều hình thức, và với mức độ tự do nhiều hay ít khác nhau.
Có một kinh nghiệm lịch sử, là các chế độ độc tài thường chấm dứt sau khoảng thời gian khoảng 70 năm cầm quyền, dù không bị sụp đổ do một biến cố bên ngoài, như Ðức Quốc Xã, Phát Xít Ý, hay Quân Phiệt Nhật thua trận. Cộng sản Liên Xô nắm quyền lâu nhất, được 74 năm. Quốc Dân Ðảng Trung Hoa được 73 năm, bắt đầu ở lục địa, chấm dứt ở Ðài Loan. Ðảng Dân chủ Ðịnh chế (Partido Revolucionario Institucional, PRI) ở Mexico cai trị 71 năm. Cả hai đảng ở Ðài Loan và Mexico sau còn được dân bầu trở lại cầm quyền vì họ chấp nhận, khởi xướng quá trình dân chủ hóa. Ðảng Cộng sản Nga thì không. So với thời hạn 70 năm thì hiện nay chế độ Cộng sản Trung Quốc đã thọ được 65 tuổi tính từ năm 1949, Cộng sản Việt Nam đã cầm quyền 69 năm kể từ năm 1945. Không biết hai đảng này sẽ phá được kỷ lục của Liên Xô hay không, nhưng chắc chắn họ sẽ theo chung một số phận. Cảnh tan rã thường được báo hiệu từ hàng chục năm trước, cường độ tăng lên dần dần. Có hai lý do khiến cho các chế độ độc tài phải tan rã, dù ở Liên Xô, Mexico, Việt Nam hay ở Trung Quốc. Thứ nhất là hiện tượng suy đồi từ bên trong guồng máy thống trị. Thứ hai là loài người tiến bộ, với những thay đổi trong đời sống kinh tế, xã hội, nhất là trong kỹ thuật thông tin. Hai hiện tượng đó diễn ra song hành, thúc đẩy lẫn nhau, đưa tới tình trạng “Ðảng Tan Rã” không thể tránh được. Về hiện tượng tự suy đồi, các chế độ độc tài nuôi sẵn những mầm mống tự diệt, ngôn ngữ Mác xít gọi là những mâu thuẫn nội tại. Mâu thuẫn là điều Karl Marx coi là không thể tránh được, dù ông chỉ lo phân tích những mâu thuẫn nội tại của kinh tế tư bản. Sau khi phân tích, ông Marx tiên đoán các mâu thuẫn từ bên trong sẽ khiến hệ thống kinh tế tư bản giẫy chết. Kết luận này sai lầm, không phải vì kinh tế tư bản không có những mâu thuẫn nội tại. Nhưng nhờ được bổ túc bằng thể chế dân chủ nên các mâu thuẫn được biểu hiện tự do, nhờ thế tự thay đổi. Một “hệ thống mở” có khả năng tự chuyển hóa để thoát chết. Một hệ thống khép kín như các chế độ độc tài cũng cần đáp ứng các mâu thuẫn nội tại. Nếu nó cứ tiếp tục khép kín thì sẽ đi tới sụp đổ. Ngược lại, nếu nó bắt đầu cởi mở thì xã hội sẽ tự đổi, dần dần tới lúc không còn độc tài nữa. Ðây là một thế lưỡng nan khó thoát ra được. Ðảng có thể tan rã qua hai con đường, hoặc sụp đổ nhanh chóng hoặc qua những “diễn biến hòa bình.” Ngoài ảnh hưởng các mâu thuẫn trong xã hội, một hệ thống khép kín tự nó đã chứa những mâu thuẫn, giữa thực tế và lý tưởng. Ðầu thế kỷ 20, nhà phân tích xã hội Robert Michels người Ðức đã phân tích mối mâu thuẫn nội tại trong các đảng xã hội, một bên là lý tưởng tự do và bình đẳng, một bên là thực tế quyền hành được tập trung vào trong tay một nhóm nhỏ các lãnh tụ. Tập trung quyền kiểm soát các đảng viên, quyền sử dụng các tài nguyên của đảng, sẽ đưa tới chế độ quả đầu (oligarchy). Hiện tượng này thấy rõ trong các chế độ độc đảng, đưa tới cảnh suy đồi ngay từ bên trong.
Không thể nào có dân chủ ở bên trong một đảng nếu đảng này chủ trương cai trị cả xã hội bằng phương pháp chuyên chế. Khi một đảng chiếm độc quyền lãnh đạo, qua một, hai thế hệ, các lãnh tụ sẽ thấy cơ hội “thu lợi nhuận,” vì họ đã “đầu tư” cả cuộc đời vào đảng. Với độc quyền lãnh đạo, xã hội không có cơ chế nào để kiềm chế họ. Giữa đám lãnh tụ, các mâu thuẫn sẽ nảy sinh, họ tranh giành nhau, khi cần thì thay đổi “luật chơi” trong nội bộ để chiếm thêm nhiều quyền và nhiều lợi lộc hơn. Bên ngoài, những người lanh lẹ, khôn ngoan nhìn thấy việc vào đảng như một cơ hội đầu tư. Những đảng viên bên dưới có thể “phấn đấu” leo dần lên các nấc thang, chờ tới ngày sẽ trở thành lãnh tụ và bắt đầu thu lợi nhuận. Nhưng tất nhiên họ cũng thấy có thể thu lợi nhuận sớm hơn, vì ở mỗi cấp quyền hành đều tập trung và không cơ chế bên ngoài nào để kiểm soát và kiềm chế. Ðộc quyền lãnh đạo thi hành từ trên xuống dưới tạo ra môi trường thuận lợi cho họ. Ðó là nguyên nhân gây nên cảnh lạm quyền, tham nhũng, các đảng cộng sản ở Trung Quốc cũng như Việt Nam đều đã thú nhận. Họ không thể giảm bớt được tệ nạn này nếu vẫn tiếp tục giữ độc quyền lãnh đạo. Nhưng mối mâu thuẫn nội tại này không đủ làm cho đảng tan rã nhanh nếu không có những mâu thuẫn lớn trong sự vận hành của toàn thể hệ thống. Trong một xã hội sống dưới chế độ độc tài, mối mâu thuẫn thứ nhất phát khởi vì nhu cầu của đảng phải kiểm soát đám dân bị trị. Càng kiểm soát chặt chẽ thì càng làm cho xã hội chậm tiến, từ kinh tế đến văn hóa. Người dân so sánh chế độ mình đang sống với các nước chung quanh, thấy họ đang thua kém về mọi mặt, thấy cần thay đổi chế độ. Muốn xoa dịu lòng dân thì phải nới lỏng guồng máy kiểm soát, phải “đổi mới” để đáp ứng nhu cầu, từng bước một. Ðài Loan, Ba Lan, Hungary đã đi từng bước như vậy trong hàng chục năm, trước khi thay đổi hẳn.Con đường này trước sau cũng trở thành “diễn biến hòa bình” đòi thay đổi toàn diện. Nếu cố cưỡng lại khát vọng của người dân thì mâu thuẫn ngày càng nặng hơn, diễn biến sẽ không còn hòa bình nữa, như đã xảy ra ở Phi Luật Tân thời Marcos, ở Nga, và đặc biệt ở Rumania. Ðây là một thế lưỡng nan (dilemma), chọn đi theo con đường nào cũng dẫn tới tình trạng chế độ tan rã. Mâu thuẫn thứ hai nằm ngay trên con đường đổi mới chậm từng bước. Nới rộng guồng máy kiểm soát thì người dân sẽ được no ấm hơn. Nhưng sau khi đủ ăn, đủ mặc rồi, kỳ vọng của dân chúng sẽ lên mức cao hơn. Uy tín của chính quyền được đo lường bằng những bước tiến trên đường phát triển kinh tế nó cho biết nền cai trị bền vững hay không. Nhưng các nhu cầu kinh tế sẽ gia tăng, người dân vẫn tự so sánh đời sống của họ với các nước chung quanh mà họ nhìn thấy trên ti vi, hay qua đám du khách. Chính quyền độc tài bị đặt vào một thế lưỡng nan mới. Nếu kinh tế phát triển chậm, dân bất mãn, có thể đưa tới diễn biến không hòa bình. Nếu kinh tế tiến bộ, xã hội thay đổi, tâm lý và thái độ của người dân sẽ thay đổi, người ta không thể chấp nhận sống dưới ách độc tài mãi được. Vì kinh tế phát triển tạo ra một tầng lớp trung lưu, lợi tức và học vấn cao hơn. Họ sẽ nuôi những khát vọng bình thường của giới trung lưu khắp nơi. Họ ý thức về quyền công dân của mình, họ biết tập họp thành tổ chức, một xã hội công dân ra đời là mầm mống tạo thêm nhu cầu sống tự do dân chủ. Ðảng PRI đã thành công phần nào trong việc nâng cao đời sống của dân Mexico trong hơn nửa thế kỷ; nhưng chính vì thế mà dân muốn thay đổi. Các chế độ độc tài thường ra đời sau các cuộc chiến tranh hay cách mạng, với những lãnh tụ đầu tiên được tô điểm bằng hình ảnh hấp dẫn quần chúng, Max Weber gọi là “charisma.” Sau đó, phải đi qua một quá trình mà Max Weber gọi là “bình thường hóa” (routinization). Mâu thuẫn nằm trong quá trình này, vì không đáp ứng được những thay đổi trong xã hội. Các chế độ độc tài thất bại vì không thể bình thường hóa một nền nếp xã hội mà giới trung lưu nhìn thấy là không bình thường. Giới trung lưu thành hình khi kinh tế phát triển. Lợi tức lên cao khiến người ta muốn tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ mà người nước khác được hưởng. Sau khi thỏa mãn những nhu cầu sơ đẳng (cơm ăn, áo mặc, nhà ở) sẽ nẩy sinh những nhu cầu ở cấp cao hơn, như con cái được hưởng một nền giáo dục tử tế, mình được an toàn nhờ pháp luật bảo vệ, được thỏa mãn các nhu cầu tinh thần, như quyền được đóng góp ý kiến về những quyết định chung liên can đến mình. Nhu cầu cao nhất là quyền được lựa chọn, được quyết định, do đó cần được cởi trói khỏi chế độ độc tài. Người ta tin vào một số giá trị giống giới trung lưu ở các nước tiến bộ, vì trình độ học vấn tương tự. Với hiểu biết rộng hơn, họ cũng bớt bảo thủ, sẵn sàng chấp nhận những bất đồng về tư tưởng, ý kiến. Họ tự ý thức các quyền lợi của mình và quyền lợi chung của xã hội mình đang sống; và họ sẵn sàng lên tiếng đòi hỏi, nếu cần thì hành động để phản kháng.
Một xã hội không thể tạo ra một tầng lớp trung lưu trong khi vẫn duy trì một guồng máy kiểm soát đè nén không cho những khát vọng của giới trung lưu được thể hiện, qua xã hội công dân với những tổ chức mà giới trung lưu tự lập để thể hiện những giá trị bình thường của giới trung lưu khắp mọi nơi. Diễn biến tất sẽ xảy ra, hòa bình hay không hòa bình. Chế độ độc tài phải tan rã. Đăng lại từ The Pacific Chronile Điểm giới hạn khiến những kẻ độc tài sụp đổGaddafi từng khốn khổ vật lộn hơn 6 tháng, có không ít người vẫn tin ông ta có thể vực dậy được, nhưng chỉ trong một đêm khi thủ đô Tripoli bị phe phản đối đánh chiếm, vậy là Gaddafi bốc hơi khỏi thế gian, chính quyền của ông ta tan rã. Sự việc khiến các chuyên gia phân tích chính trị phải kinh ngạc: Tại sao không thể có một cuộc chiến kéo dài? Tại sao không thể có trận chiến oanh liệt trên đường phố? Tại sao không thấy sử dụng vũ khí bí mật? Các đội quân tinh nhuệ đâu rồi? Đám lính đánh thuê mỗi ngày lĩnh hơn 1000 đô la và những nữ vệ sĩ xinh đẹp võ nghệ cao cường tại sao không thấy? Cuộc chiến tại Iraq vào 8 năm trước, người ta cũng bàng hoàng như không dám tin vào việc chính quyền Saddam sụp đổ quá nhanh. Một số những chuyên gia chính trị xưa nay quen đồng tình và ngưỡng mộ kẻ độc tài, vì thế mà hụt hẫng vì dự đoán sai lầm liên tục của họ. Nguyên do vì họ không hiểu rằng sự thống trị độc tài thường có vẻ bề ngoài gợi cảm giác mạnh mẽ, nhưng nó có điểm giới hạn của nó, khi điểm giới hạn này đến thì hệ thống sẽ tự tan rã mà không gì có thể cứu vãn được, có khi chỉ trong một đêm ngắn ngủi. Như vậy, điểm giới hạn để chế độ độc tài tan rã là gì? Làm rõ vấn đề này chúng ta sẽ hiểu thủ đoạn mà độc tài duy trì thống trị là gì? Thực ra điều này rất đơn giản. Từ cổ chí kim, những kẻ độc tài có thể duy trì được quyền lực đều nhờ vào hai cách: một là khủng bố, hai là dối trá. Khi người dân không còn sợ hãi và không còn tin vào những lời dối trá, đó chính là điểm giới hạn báo hiệu chế độ độc tài chuẩn bị tan rã. Từ sự tan rã của Liên Xô cũ hùng mạnh cho đến Ben Ali, Mubarak hay Gaddafi đều chung kết cục như thế. Saddam tàn bạo của Iraq 8 năm trước cũng khiến vô số người dân Iraq run rẩy, nhưng khi mọi người không còn khiếp sợ, họ lập tức ra phố kéo đổ tượng của ông ta. Các nơi khác như Tunisia, Ai Cập, Libya, Syria cũng tương tự. Tuy người dân những quốc gia này biết sự tàn nhẫn của chế độ độc tài, tuy hiểu rõ việc lật đổ những ‘bạo chúa’ này phải đổ nhiều máu, nhưng trước khát vọng tự do họ quên hết sợ hãi, khi hiểu được sự thật và nhận rõ bộ mặt của kẻ độc tài, đó chính là lúc điểm giới hạn của độc tài và ngày tàn của ‘bạo chúa’ đang đến gần. Thế nhưng, cho dù điểm giới hạn đến thì cũng không có nghĩa thống trị của kẻ độc tài sẽ ngay lập tức kết thúc, điều này còn phụ thuộc vào các yếu tố chủ và khách quan như: mức tàn nhẫn của kẻ độc tài, độ giác ngộ của nhân dân, độ mạnh yếu của lực lượng. Ví dụ Tunisia, sau 30 ngày nhân dân ra đường thì Ben Ali phải bỏ trốn; còn Ai Cập thì sau 18 ngày, ông Mubarak phải từ chức; Gaddafi chống chọi được hơn 6 tháng khiến nhiều người bất ngờ. Vì mọi người đánh giá không đúng mức độ tàn bạo của Gaddafi, không nghĩ đến ông ta lại gian ác như thế, vì bảo vệ quyền lực mà không ngần ngại bắt tổ quốc phải hủy diệt cùng ông ta. Về điểm này ông ta không thua gì Hitler. Khi Hitler sắp chết đã bắt cả những đứa trẻ mới hơn mười tuổi lên tiền tuyến; còn Gaddafi bắt tất cả phụ nữ phải cầm vũ khí bảo vệ cho ông ta. Những kẻ bệnh hoạn và ác quỷ này đã mất hoàn toàn nhân tính, dù cho chống đỡ được một thời gian, nhưng số phận của họ còn ô nhục và thê thảm hơn nhiều so với những tên độc tài đầu hàng sớm.
Nhưng cho dù kẻ độc tài tàn nhẫn thế nào, vùng vẫy thế nào, chỉ cần điểm giới hạn sụp đổ đến gần: lúc mọi người không còn sợ hãi, không còn tin vào những lời dối trá, đó là lúc ấn định sự sụp đổ của kẻ độc tài. Điều khác nhau chỉ là những tháng ngày sống lây lất với chút hơi tàn của họ dài hay ngắn mà thôi. Một số chuyên gia của chúng ta luôn dự đoán sai lầm, không phải vì họ thiếu tri thức chuyên môn chuyên nghiệp mà là thiếu lương tri, họ bị mê tín vào sức mạnh của kẻ độc tài, xem nhẹ sức mạnh của chính nghĩa và nhân dân. Và có thể trong khi dự đoán, về cơ bản họ không chú ý đoán kết quả. Kỳ thực, vận mệnh sụp đổ của những kẻ độc tài này, như một hệ quả tất yếu, đã được an bài, cho dù có xảy ra chiến sự ác liệt trên đường phố cũng chỉ là sự vật vã hấp hối trước lúc chết mà thôi. Khi có một tên độc tài nối gót sụp đổ, có người lại hỏi: Tại sao những tên độc tài này không giác ngộ từ sớm? Nếu biết buông đao đồ tể sớm một chút, trả lại quyền cho dân, số phận của chúng đâu đến nỗi thê thảm như thế? Phải hiểu rằng, tất cả những tên độc tài đều có một điểm chung, đó là xem quyền lực như tính mạng của mình. Đối với họ thì quyền lực là tất cả, mất quyền lực tức là mất tất cả. Đặc biệt, vì những tên độc tài phạm tội ác nghiêm trọng với nhân dân, nếu họ để mất quyền lực là lập tức sẽ bị xét xử, bị tính sổ, vì thế để giữ quyền lực họ sẽ không từ thủ đoạn, chuyện tày đình nào chúng cũng có thể nghĩ ra. Gaddafi thề sống chết với quyền lực, cho dù phải biến tổ quốc thành biển lửa ông ta cũng bất chấp. Thực tế chỉ ra rằng, không thể hy vọng những kẻ độc tài của các quốc gia này vì trông thấy tình cảnh thê thảm của những tên độc tài kia mà chủ động thuận theo xu thế thời đại, chấm dứt nền thống trị độc tài. Ngược lại, chúng luôn rút ra bài học từ những thất bại của kẻ độc tài trước: Chẳng phải vì nhân dân không còn sợ hãi kẻ độc tài nên nổi dậy chống lại hay sao? Chẳng phải vì nhân dân hiểu sự thật nên không còn tin vào những lời dối trá hay sao? Được thôi, vậy ta sẽ làm cho nhân dân phải khiếp sợ hơn nữa, sẽ làm cho nhân dân mãi mãi ngu muội vô tri. Biện pháp là phải dùng công cụ bạo lực mạnh hơn nữa, một là phải khống chế quân đội, hai là phải kiểm soát thông tin dư luận, tăng cường độ tẩy não nhân dân để những lời dối trá mãi mãi không bị vạch ra. Nhưng chúng không biết rằng, mất lòng dân tức là mất lòng quân, lòng dân ủng hộ hay phản đối sẽ quyết định lòng quân như thế. Khi kẻ thống trị mất hết lòng dân thì liệu có tồn tại một quân đội mãi mãi trung thành với chúng không? Quân đội mà không được nhân dân ủng hộ thì có thể đánh thắng trận được không? Mubarak từng trông chờ quân đội của ông ta sẽ giúp ông ta trấn áp nhân dân, thế nhưng tại quảng trường quân đội không những không nổ súng mà còn tung hô khẩu hiệu hòa cùng quần chúng nhân dân. Đội cảnh vệ nước Cộng hòa từng nhất mực trung thành với Saddam, nhưng rồi cũng lột quân trang, ném vũ khí và bỏ đi mất tích trước khi quân Mỹ đánh vào Baghdad. Khi Saddam bị lôi từ dưới hầm lên, không một binh sĩ nào ở bên cạnh bảo vệ cho ông ta. Ông Gaddafi dùng đô la Mỹ, vàng thỏi để chiêu mộ lính đánh thuê, nhưng khi Gaddafi không còn khả năng cung cấp tiền và vàng cho chúng, chỉ trong một đêm là chúng bay đi mất. Vì thế, nhìn vào lịch sử xưa nay, một chính quyền dựa vào quân đội và bạo lực để tồn tại thì không thể nào lâu dài, vì thiên chức của quân đội không phải để bảo vệ ‘bạo chúa’ mà là để bảo vệ nhân dân, khi một ‘bạo chúa’ muốn dùng quân đội để trấn áp nhân dân của mình, nghĩa là tên ‘bạo chúa’ này đang muốn tiến gần đến sự diệt vong. Còn dựa vào dối trá lừa gạt để duy trì thống trị thì càng không thể tồn tại được lâu, vì khoảng cách giữa dối trá và sự thật là rất mỏng manh, cây kim trong bọc lâu ngày sẽ lộ ra, bất kỳ lời dối trá nào cũng sẽ đến lúc bị lột trần. Thế nhưng kẻ độc tài lại mê muội với sự dối trá và bạo lực. Thực tế, dường như một tên độc tài không chỉ bản thân hắn là cao thủ dối trá mà còn đào tạo thêm hàng loạt chuyên gia dối trá. Ví dụ như Đức Quốc xã có Goebbels, Iraq có Al-Sahaf, Libya có Ibrahim, còn loại tướng quân như “Trương Cáp Phu” ở Trung Quốc thì rất nhiều. Những tên độc tài và chuyên gia dối trá của họ ngoài có da mặt dày ra thì còn có đặc điểm chung là đã đạt đến cảnh giới là chính bản thân họ cũng bị mình lừa dối: như Goebbels cùng với giấc mộng hão huyền được dệt bằng sự dối trá của lãnh tụ bị thất bại khiến ông ta phải tự sát mà chết. Cho đến chết ông ta vẫn không tin một người được thần linh bảo vệ như Hitler tại sao có thể thất bại? Gaddafi thì dùng Sách xanh để lừa bịp nhân dân, nhưng quyển sách này cũng lừa chính bản thân ông ta, cho đến khi phải sống lưu vong nhưng ông ta vẫn tin người dân Libya vô cùng yêu quý mình. Còn chuyên gia của Trung Quốc khi không được chứng kiến cuộc trường kỳ kháng chiến trên đường phố, họ vẫn tin Libya đang áp dụng chiến tranh du kích, sẽ có cuộc chiến lâu dài. Sau khi quen với nói lời dối trá thì chính bản thân kẻ nói dối không chỉ mất năng lực tư duy mà còn vô cùng khó khăn trong nhận diện sự thật.
Nhưng trong thời đại công nghệ thông tin và thế giới mạng ngày nay, kẻ thống trị ngày càng khó nói dối. Chúng có thể lừa chính bản thân mình và một thiểu số người ngây ngô, nhưng muốn lừa tất cả mọi người trong một thời gian dài thì không thể làm được. Nếu vào thập niên 50 hoặc cách đây 10 năm, Gaddafi làm do người dân Libya xem ông ta như thần thánh, như cha mẹ, làm cho tất cả mọi người tin sự thống trị của ông Thiếu tá này quả vô cùng từ bi, chỉ cần ông ta còn sống thì việc thống trị thêm tám hay mười năm nữa cũng không thành vấn đề. Nhưng thời thế đã khác, thời đại dựa vào một cuốn Sách xanh để lừa nhân dân trong hơn cả thập niên một đi không trở lại. Vì thế dù ông ta cố gắng kêu gọi người dân Libya ra phố nhưng không ai còn tin, mọi người chỉ ra phố để phá hủy tượng của ông ta, họ lùng bắt ông ta giống như lùng bắt một con chuột. Khi ông Gaddafi về với đất, nhân dân toàn thế giới có thể hỏi: Kẻ xui xẻo tiếp theo sẽ là ai? Trong lịch sử phát triển nhân loại cho đến ngày nay, tất cả những kẻ độc tài đều nhanh chóng đi đến bờ vực của sự sụp đổ, những kẻ càng độc tài tàn bạo, càng đi đến bờ vực này với tốc độ nhanh hơn, không ai có thể thoát khỏi. Theo secretchina Tinh Vệ biên dịch Bao giờ chế độ độc tài tại Việt Nam sụp đổ?…
Một câu hỏi mà tôi thường nghe đi nghe lại không biết bao nhiêu lần, là: Bao giờ chế độ độc tài tại Việt Nam sụp đổ?
Nếu câu hỏi ấy trực tiếp đặt ra với tôi, câu trả lời của tôi bao giờ cũng là: Không biết. Không thể biết. Hơn nữa, không ai có thể biết.
Trong câu trả lời trên, hai yếu tố đầu, không biết và không thể biết, tương đối dễ hiểu. Đó là câu trả lời rất chủ quan, dựa trên kinh nghiệm và hiểu biết cá nhân. Tôi, cũng giống bao nhiêu người Việt Nam khác, chỉ có tấm lòng chứ không có bất cứ điều kiện nào để theo dõi và đánh giá tình hình cho chính xác. Bởi vậy, câu trả lời, dù tích cực hay tiêu cực, dù để khẳng định hay để phủ định, đều là những cách đoán mò. Nó vừa không có cơ sở vừa không đáng tin.
Tôi chỉ muốn giải thích thêm mệnh đề thứ ba trong câu trả lời trên: Không ai có thể biết.
Ngày 25 tháng 1 năm 2011, hai tuần trước khi chế độ Hosni Mubarak ở Ai Cập sụp đổ, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ lúc ấy là bà Hillary Clinton khẳng định một cách chắc chắn: “Chính quyền Ai Cập vẫn vững mạnh”. Mà không phải chỉ có bà Clinton, lúc ấy, tất cả các nhà lãnh đạo tại châu Âu, kể cả Pháp và Đức, đều tiên đoán như vậy. Mười mấy ngày sau, lịch sử chứng minh là họ hoàn toàn sai.
Mấy tháng sau, người kế nhiệm bà Clinton ở cương vị Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ, ông John F. Kerry tuyên bố chế độ độc tài của Bashar al-Assad ở Syria sẽ sụp đổ sớm. Lời tiên đoán ấy cũng sai nốt. Cho đến nay, mấy năm trôi qua, cuộc nội chiến tại Syria vẫn khốc liệt, càng ngày càng khốc liệt, nhưng chiếc ghế của al-Assad vẫn vững vàng.
Cần nhớ là đằng sau bà Clinton và ông Kerry cũng như các nhà lãnh đạo ở châu Âu là những bộ máy tình báo khổng lồ, đầy phương tiện, kinh nghiệm và năng lực. Vậy mà tất cả các bộ máy ấy đều bất lực.
Những sự bất lực ấy rất phổ biến. Trước năm 1989, ở khắp thế giới, không có ai tiên đoán là chế độ cộng sản tại Nga và Đông Âu sẽ sụp đổ. Vậy mà, một năm sau, tất cả các chế độ ấy đều lần lượt sụp đổ một cách ào ạt và vô cùng nhanh chóng. Một sự sụp đổ ngoài tưởng tượng của mọi nhà chính trị hay tình báo ở Tây phương. Sau sự sụp đổ ấy, hầu hết các nhà bình luận chính trị cũng lại sai nữa khi tiên đoán chủ nghĩa cộng sản ở các nước còn lại, từ Trung Quốc đến Việt Nam cũng sẽ bị sụp đổ theo. Cho đến bây giờ, 25 năm trôi qua, chế độ cộng sản ở các quốc gia ấy vẫn còn vững vàng.
Những kinh nghiệm ở trên cho thấy, dù có nhiều thông tin đến mấy, những sự tiên đoán về chính trị rất dễ sai lầm. Tuy nhiên, không nên vì thế mà tuyệt vọng. Trên thực tế vẫn có một số người tiên đoán đúng. Trong một bài báo đăng trên The Washington Post mới đây, Natan Sharansky và David Keyes cho, liên quan đến các cuộc cách mạng dân chủ, “hãy tin vào những người bất đồng chính kiến thay vì các nhà ngoại giao” (Trust the dissidents, not the diplomats).
Hai tác giả của bài báo, một người là cựu tù nhân dưới chế độ Xô Viết và một người là giám đốc điều hành một tổ chức nhân quyền, nhận định: Trong lúc tất cả các nhà ngoại giao Tây phương đều mù tịt trước những đợt sóng ngầm dữ dội bên dưới các chế độ độc tài, nhiều người bất đồng chính kiến, trong đó, có nhiều người bị nhốt trong nhà tù, tin tưởng một cách mãnh liệt là các chế độ độc tài tại Tunisia, Libya, Syria và Ai Cập nhất định sẽ sụp đổ. Họ không biết thời điểm chính xác nhưng họ biết điều đó nhất định sẽ xảy ra. Với chế độ cộng sản tại Nga trước đây cũng vậy. Cho đến đầu năm 1989, mọi nhà chính trị và ngoại giao đều cho chế độ Xô Viết vẫn vững mạnh. Tuy nhiên, trước đó khá lâu, ngay từ năm 1967, một người bất đồng chính kiến tại Liên Xô, Amalrik, đã đặt vấn đề “Liệu chế độ Xô Viết sẽ tồn tại đến năm 1984?” Cuối cùng, Sharansky và Keyes kết luận: “Nếu lịch sử là một quan toà, thế giới nên đánh cá vào những người bất đồng chính kiến hơn là các nhà ngoại giao”.
Sharansky và Keyes muốn áp dụng các bài học ấy vào tình hình của Saudi Arabia. Theo hai ông, nhân ngày vua Abdullah qua đời, rất nhiều nhà lãnh đạo từ khắp nơi trên thế giới đến dự đám tang đồng thời dự lễ đăng quang của tân vương Salman. Mọi người đều chúc mừng và tin tưởng chế độ quân chủ tại Saudi Arabia sẽ vững mạnh. Trong khi đó các nhà bất đồng chính kiến lại nghĩ khác: “Saudi Arabia không ổn định. Sâu phía dưới, dân chúng không thấy hạnh phúc. Sớm hay muộn ngọn gió thay đổi sẽ tràn qua Saudi Arabia. Và chế độ sẽ sụp đổ.”
Ứng dụng vào trường hợp của Việt Nam, tôi cũng tin, một mặt, không có ai có thể tiên đoán chính xác những gì sắp xảy ra cho Việt Nam ở tương lai gần, hay nói một cách đơn giản hơn, không ai có thể biết được khi nào chế độ độc tài tại Việt Nam sụp đổ cả; mặt khác, một chế độ độc tài tham nhũng và bất lực như thế nhất định sẽ sụp đổ: dấu hiệu của sự sụp đổ ấy nằm trong sự bất mãn của dân chúng và sự can đảm của những người bất đồng chính kiến.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
16x9 Image Nguyễn Hưng Quốc Nhà phê bình văn học, nguyên chủ bút tạp chí Việt (1998-2001) và đồng chủ bút tờ báo mạng Tiền Vệ (http://tienve.org). Hiện là chủ nhiệm Ban Việt Học tại trường Đại Học Victoria, Úc. Đã xuất bản trên mười cuốn sách về văn học Việt Nam.
Tại sao Trung Quốc rất sợ chế độ độc tài ở Việt Nam sụp đổ ? – Lê Hoàng Như chúng ta đều biết, Trung Quốc rất sợ chế độ độc tài ở Việt Nam sụp đổ, bởi khi CSVN sụp đổ thì người dân sẽ thiết lập chế độ Dân chủ. Và TQ biết chắc rằng nhân dân Việt Nam khi ấy sẽ tẩy chay chúng mà liên minh quân sự với Hoa Kỳ, khi đó tham vọng bành trướng khu vực Đông Nam Á bị đổ bể và chúng sẽ bị bao vây bởi các nước Dân chủ xung quanh, dẫn đến chế độ Cộng sản ở TQ cũng sẽ sớm sụp đổ. Chính vì vậy, chúng sẽ giữ chế độ độc tài CSVN mọi giá; bằng cách bơm tiền rất mạnh cho ngành CA, quân đội Việt Nam để bảo vệ chế độ; từ đó quan hệ giữa công an và dân dần dần trở thành kẻ thù. Chúng tiếp tục dùng chiêu người Việt giết người Việt như đã áp dụng trước đây mấy chục năm là lập ra cái đảng CS ở VN rồi đứng đằng sau kích động để nhân dân miền Bắc và miền Nam giết lẫn nhau, chết hàng triệu người vô tội. Sau khi VN thống nhất thì Trung cộng mới bắt đầu nghĩ ra nhiều âm mưu thâm độc khác để triệt tiêu dân tộc Việt nhằm thôn tín mảnh đất màu mỡ – giàu tài nguyên còn lại ở phía Nam. Bọn Hán tộc biết rõ 1 điều: Nếu đánh “tay đôi” với dân tộc Việt Nam thì rất khó thắng, do đó chúng rút kinh nghiệm tìm kẻ nội ứng, làm tay sai nhằm để chúng dễ dàng thôn tính hơn. Chúng phải dùng kế LY GIÁN (mua chuộc quan chức) để “dùng người Việt CAI TRỊ người Việt” cốt đầu độc nhằm làm suy yếu nòi giống VN ta. Người Việt mình tuy dũng cảm – gan dạ nhưng tâm lý lại thần phục chính quyền rất mù quáng. Đây là hậu quả nặng nề của tàn dư phong kiến để lại và chế độ CSVN đang khai thác tốt về nhược điểm này, cũng như Tàu cộng đã nắm bắt tâm lý người VN rất rõ khi dùng kế ly gián để CHIA RẼ dân tộc. Vì đồng tiền mà những thành phần phục vụ cho đảng CSVN đang mù quáng ra sức để bảo vệ cho chế độ độc tài tham nhũng – hút máu nhân dân. Đó chính là những CA chìm, an ninh mạng và đám dư luận viên (DLV). Họ cũng là những người Việt Nam “da vàng máu đỏ” nhưng vì miếng cơm manh áo nên đã cam tâm chấp nhận làm thân trâu ngựa và trở thành công cụ – tay sai đắc lực để tiếp tay cho Tàu cộng góp phần cho phe nhóm độc tài cai trị toàn cõi VN. Thậm chí đám dân phòng và TNXP ít học – thiếu hiểu biết cũng phí sức để hùa nhau trấn áp, đáp đập những người biểu tình kêu gọi tẩy chay nhà máy Formosa đang đầu độc môi trường biển. Họ hết sức ngu muội và mù quáng khi tuân lệnh chính quyền để làm những việc trái với đạo lý – lương tâm… Đồng lương mà họ đang xài là từ tiền thuế của nhân dân! Người ta đổ mồ hôi – công sức để đóng số tiền đó đúng ra nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển đất nước nhưng xui khiến thay nó lại được trả phí để cho lực lượng này hô hào CHỐNG LẠI NHÂN DÂN. Như vậy là họ có tội rất lớn với đất nước và công sức phục vụ chế độ sau này cũng chỉ là “vắt chanh bỏ vỏ”. Coi như những gì họ đang làm hôm nay đã vô tình góp phần hãm hại sự tồn vong của cả 1 dân tộc. Ngay cả đám dân thường VÔ CẢM – HÈN NHÁT cũng vậy… Họ im lặng và cố lảng tránh thời cuộc mà trước sau gì, những người thân của họ cũng sẽ gánh hậu họa. Họ coi trọng đồng tiền và chỉ nghĩ đến bản thân mà không nghĩ đến LỢI ÍCH CHUNG của cả dân tộc. Và nếu nước Việt Nam bị lệ thuộc vào sự cai trị của Tàu cộng thì cả dòng họ các bạn và dân tộc VN chúng ta đều cùng chung số phận: Trở thành dân tộc thiểu số! Người Việt chúng ta vẫn luôn tự hào có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”. Tinh thần ấy đã được hun đúc, xây dựng qua biết bao thời kỳ lịch sử. Thế nhưng trong giai đoạn hiện nay, có vẻ như tinh thần ấy đang bị mai một, thậm chí một bộ phận người Việt chúng ta đang tự hãm hại lẫn nhau. Muốn thoát khỏi hoạ xâm lăng của Hán cộng, ngay từ bây giờ hãy thoát hoạ cộng sản độc tài trước, trước tiên toàn dân Việt hãy cùng xiết chặt tay nhau một lòng BẤT TUÂN NHÂN SỰ (không đút lót, không chạy chọt hối lộ, cùng nhau mạnh dạn vạch trần những tham quan tham nhũng cửa quyền hách dịch cường hào ác bá…) Kiên quyết không nghe, không thi hành những điều phi lý (trái với hiến pháp hiện hành) do nhà cầm quyền nói nữa, đòi hỏi họ phải thực thi hay làm gương trước. (Lê Hoàng) Nhồi sọ và định hướng
1/ Không ai thắng nổi CS, chỉ có bọn chúng tiêu diệt lẫn nhau.
Xin thưa các bạn! Đế quốc La Mã cổ đại, hùng mạnh tới cỡ nào, chiếm gần hết Châu Âu vẫn bị diệt vong. Liên Xô cường quốc, cái nôi của chủ nghĩa CS vẫn sụp đổ. Đông Đức với sự tàn ác của Stasi nổi tiếng thế giới cũng phải cáo chung, vậy CSVN là cái gì?. Để tồn tại, bất cứ chế độ độc tài CS nào cũng phải dối trá, bịp bợm, nhồi sọ người dân rằng chúng nó là vô địch, bách chiến bách thắng, vĩ đại, không thể nào chống lại. Và kèm theo đó là chế độ họng súng nhà tù làm cho người dân nhụt chí sợ hãi mà quên đi sức mạnh thật sự của mình.
Nhiều người đã hiểu lầm về lịch sử sụp đổ của Liên xô, cứ tưởng rằng một mình Gorbachev đã làm nên ký tích tan rã Xô viết, nên càng tưởng rằng ý tưởng trên là đúng. Thật sự, năm 1989 nước CS đầu tiên sụp đổ là Balan thông qua Công đoàn đoàn kết của công nhân, hoàn toàn không phải chỉ CS mới tiêu diệt được CS, mà giới công nhân tiêu diệt CS. Tiếp theo là Hungary, Tiệp khắc, Đông đức, Bungary, Rumani... làm nên sự sụp đổ của chủ nghĩa CS từ những cuộc biểu tình liên tục của quần chúng, trong đó Rumani có dự tham gia của quân đội vào phút cuối. Đến cuối năm 1991, phải 2 năm sau, ảnh hưởng từ những chương trình cải cách mở cửa Perestroika (1989) của Gorbachev và sau những cuộc biểu tình rầm rộ của quần chúng, sự ảnh hưởng lây lan từ các quốc gia Đông âu và những cuộc biểu tình đòi ly khai độc lập như Litva, Estonia, Latvia, Gruzia mới làm hệ thống chính quyền Liên xô rệu rã, không còn kiểm soát được, Gorbachev mới từ chức và đưa Boris Yeltsin lên làm tổng thống. Tất cả đều phải bắt đầu từ sự phản kháng, chống đối của người dân, rồi quân đội mới tiếp tay, và chính quyền phải mở cửa, chứ không có thằng CS nào diệt CS cả.
Trong chế độ CS chưa bao giờ có đảo chính, thì đừng bao giờ nghĩ rằng chỉ có CS mới diệt CS. Bọn nó có thể tiêu diệt lẫn nhau, nhưng mà để dành ăn, chia phần lãnh chúa, vẫn giữ độc đảng, chứ không phải vì thay đổi đất nước. Chính người dân mới là tiêu diệt CS.
Tại sao các nước Đông Âu, Serbia, Ai cập làm được và họ làm bằng cách nào? Một phương cách duy nhất: Biểu tình. Trước khi thành công, người dân các nước này cũng vậy, vô cảm, thờ ơ, lạnh nhạt với xã hội. Tất cả các chế độ độc tài đều giống nhau, nó phá hủy hệ suy nghĩ của con người, nó gieo vào đó mầm sợ hãi bằng những cuộc đàn áp đẫm máu của súng đạn và bạo lực. Vì vậy mỗi chúng ta cần phải gieo mầm ý thức trở lại. Những hạt mầm tự do, bất khuất, lý tưởng, phải khởi sắc. CS nó làm cho con người bạc nhược hèn nhác ham sống, sợ chết. Nó xóa bỏ 2 từ danh dự trong xã hội, cho nên con người không còn khí phách nữa, sẵn sàng luồn cúi để được sống, sống để làm gì không biết, nhưng chấp nhận thờ ơ, hèn nhác, cứ muốn sống sợ chết.
Vì vậy chúng ta cần phải nhìn đúng vấn đề. Không phải CS mạnh mà người dân quá yếu, họ bị nhồi sọ làm cho bạc nhược, mất đi phẩm giá, tính chất người của mình, từ đó nhận thức sai về sức mạnh của bản thân, rồi huyễn hoặc chỉ có CS mới tự tiêu diệt lẫn nhau. Chính người dân mới là tác nhân tiêu diệt CS.
2/ Đừng tham gia biểu tình, chờ đến khi cả ngàn người rồi hãy tham gia, hoặc khi thấy có quân đội đảo chánh hãy tham gia.
Rất nhiều người tri thức VN đang sống trong tư duy này. Họ cảm thấy họ khôn hơn người khác. Thật sự đây cũng là kết quả tư duy nhồi sọ của CS. Kết quả của tính hèn nhác, ham sống sợ chết, chưa vượt qua sợ hãi, chưa thấy sức mạnh của biểu tình. Không có cuộc biểu tình 100 người thì làm sao có cuộc biểu tình 200, rồi 500 người? Họ đang sống trên máu của người khác. Không có quần chúng biểu tình thì làm sao có quân đội yểm trợ. Không có VN biểu tình thì làm sao có quốc tế ủng hộ… Bạn không làm thì ai làm thế cho bạn? Họ ngồi chờ sung rụng từ đảo chính của quân đội.
Quân đội nó cũng hèn như người Việt thôi, vì tất cả cùng sống trong một tương quan xã hội, nhưng mối ràng buộc của họ còn ghê gớm hơn người dân bình thường, chính người dân là lực lượng tự do và mạnh mẽ nhất để tạo nên những cuộc biểu tình đa dạng. Một xã hội băng hoại đạo đức, thì đừng hy vọng thành phần chóp bu, hay “tinh hoa” có lý tưởng. Ngược lại đó chính là thành phần tồi tệ nhất của xã hội, khi thấy gió chiều nào nó sẽ ngã theo chiều đó. Quốc hội hôm nay họ biểu quyết 100% thuận, hôm sau cũng bao nhiêu người đó, biểu quyết 100% chống mà các bạn nghĩ rằng quân đội tốt hơn hay sao? Phe Nguyễn tấn Dũng cũng đã từng lật kèo 3X khi thấy tình hình bất lợi cho mình ở Đại Hội 12, mà các bạn nghĩ rằng quần đội tin tưởng được à? Trong cái xã hội bạc nhược thì tất cả đều bạc nhược.
Thái Lan đất nước dân chủ đa đảng, quân đội sát cánh và nhận nhiệm vụ từ Hoàng gia Thái, lạm quyền nhân danh tình hình bất ổn xã hội đảo chánh liên tục, 18 lần từ 1932 đến nay, Tướng lãnh quân đội và các đảng phái của họ là những tinh hoa đất nước chống lại sự tham nhũng và đầu cơ chính trị của các phe nhóm lẫn nhau, còn quân đội VN xuất phát từ đâu? Từ bần cố nông, từ những người thi rớt ĐH phải đi quân dịch thì trí thức đâu mà bảo họ đảo chính. Hơn nữa, Trung Cộng đã thọc sâu vào chính trường VN, từ BCT đến CA, QĐ, bọn chúng phải cài những thành phần lú nhất, niểng nhất, ngu dốt nhất để dễ bề giựt dây cai trị. Lấy đâu ra thành phần tinh hoa dám nghĩ dám làm, để đảo chính. Nguyễn tấn Dũng khi đang tại vị đó, sao không làm đi?
Do đó, đảo chánh chỉ xảy ra trong chế độ đa đảng, không bao giờ xảy ra trong chế độ độc tài. VN là chế độ CS, độc tài tập thể, từ trên xuống dưới cùng một luồng suy nghĩ thì làm sao có đảo chính. Làm gì có cá nhân tính, tin tưởng, đoàn kết trong guồng máy này mà có đảo chính. Thằng nào cũng tư lợi, đè đầu đè cổ người khác kiếm ăn thì đảo chính để làm cái gì? Nếu có xảy ra thì cũng tạo ra một chế độ độc tài khác mà thôi? Đối với CS chỉ có lật đổ, Boris Yeltsin đã nói rõ điều đó.
Mới đây VNExpress cho đăng bài Lệnh giới nghiêm, càng chứng minh cho vấn đề trên:
1/ Nhiều người nghĩ rằng, sẽ có đảo chính nên mới có bài báo này. Thưa không, ngược lại, vì không sợ âm mưu đảo chính nên đảng mới cho đăng bài báo này. Bởi, nếu có âm mưu, đảng phải diệt nó từ trong trứng nước và ém nhẹm mọi thông tin rò rỉ, để bảo vệ thanh danh của đảng. Nói ra để người dân bấn loạn à!! Mặt khác, giả sử có chuyện đảo chánh xảy ra, thì khi đó quyền lực sẽ thuộc về bên nào mạnh hơn, tất cả đều có súng đạn chơi ngang cơ với nhau, thì lệnh giới nghiêm có nghĩa lý gì. Lệnh giới nghiêm chỉ có giá trị giữa chính quyền và người dân. Do đó, bài báo này mục đích để khè dư luận, dọn đường để bán nước (có hiệu lực từ 1/1/2019), răng đe sự bạo loạn trong tương lai của quần chúng.
2/ Trọng lú, đã đưa vào lò tất cả những thanh củi nào chống đối bất lợi cho đảng từ 2 năm nay, những tướng tá nào có trình độ, có khả năng sẽ chuyển đi làm những công việc vô tích sự khác như PCCC, cục hậu cần, sinh đẻ có kế hoạch... thì còn ai nữa để mà đảo chánh.
3/ Tuy nhiên, điều đó cũng cho thấy đảng đang rất sợ. Sợ bạo lực sẽ xảy ra trong thời gian tới. Sợ lực lượng cựu chiến binh và đảng viên về hưu sẽ nổi dậy. Chuyện bán nước của đảng sẽ gặp nhiều khó khăn. Cho nên đảng cần phải răn đe trước.
Thâm hiểm hơn, đây cũng là chiêu ru ngủ của đảng, đánh lừa dư luận, định hướng quần chúng, ngồi chờ sung rụng: “Đừng đi biểu tình, đừng đấu tranh làm gì, sắp có đảo chính rồi, sắp có tự do rồi, chờ đi, chờ đi…" Đó là chiêu bài quen thuộc của đảng từ khai thiên lập địa đến giờ mà người dân Việt vẫn bị cả tin.
Do đó, chúng ta chỉ hy vọng quân đội vẫn còn lòng yêu nước, thi hành lấy lệ, giảm thiểu sự đàn áp, “bất tuân quân sự”, quay về với nhân dân, chứ đừng bao giờ nghĩ họ sẽ làm chủ cuộc chiến ngay từ đầu. Họ sẽ giúp chúng ta vào phút cuối, bởi vì họ cũng là người Việt yêu nước như nhau. Các bạn đừng có mơ mà ngồi đó chờ sung rụng, lọt vào bẩy tuyên truyền của CS, sức mạnh là ở mỗi chúng ta, chính ta tự cứu lấy ta, chính tình yêu quê hương đất nước, căm thù độc tài mà mỗi người dân đứng dậy. Và đó cũng chính là tư duy đúng nhất, sức mạnh nhất mà chúng ta đã quên, CS đã nhồi sọ làm cho triệt tiêu.
3/ Định hướng viên.
Từ đó đảng tung ra một lực lượng định hướng viên thật lớn, đấu tranh cùng quần chúng, len lỏi trong quần chúng, đến khi tạo được niềm tin, có tiếng tăm, thì dẫn đắt quần chúng đi lung tung, đấu tranh nhưng không biết đấu tranh cái gì. Chiêu thức lớn nhất của bọn chúng là hạ nhiệt biểu tình. Rốt cuộc đấu tranh thì đấu tranh hoài, nhưng hiệu quả thì không có gì. Chống đảng, nhưng không lật đổ đảng. Chống Trung quốc nhưng hiệp lực cùng đảng chống Trung quốc. Nghĩa là không thay đổi cái gì luôn. Cách mạng là thay cũ đổi mới, còn đây không thay đổi đảng, đứng bên đảng, chẳng khác gì bảo vệ cho đảng. Đấu tranh lãnh lương. Bản chất cuộc chiến VN vẫn còn đó.
Mục đích của họ là làm cho người dân quên đi đảng CSVN là nguyên nhân của tất cả mọi thảm trạng của đất nước. Người dân quên đi ý nghĩ lật đổ ĐCS để cứu dân tộc. Đến bây giờ luật ANM đã thông qua, và đặc khu sẽ thông qua, bọn dư luận viên này cũng sẽ trở thành nô lệ, đảng cũng bán bọn chúng luôn, dù đứng bên đảng lâu nay đảng vẫn bán, đã sáng mắt ra chưa!!! Các bạn phải hiểu rằng chỉ có 1 cách duy nhất để cứu đất nước này là LẬT ĐỔ CỘNG SẢN, còn mọi chiêu thức khác chỉ là trá hình định hướng của đảng, hoặc non kém chưa đủ nhận thức và trước sau gì đảng cũng càn quét, bán đứng.
4/ Biểu tình ôn hòa, đừng manh động, bạo lực sẽ bị đàn áp.
Ngày chủ nhật nào đó, bạn xuống đường Trường sơn giơ biểu ngữ: “Bác Hồ kính yêu”. Việc gì sẽ đến với bạn!!. Đừng bao giờ nghĩ rằng ôn hòa sẽ tránh đàn áp. CS không sợ đàn áp dù lớn hay nhỏ, nhưng chúng sợ phát triển bạo lực. Một mặt chúng dùng bạo lực để khủng bố người dân, nhưng mặt khác chúng cũng sợ bạo lực phát triển sẽ không kiểm soát được, mất đi hình ảnh quốc tế, mất đi tính chính danh. Bạo lực sẽ lật đổ chế độ. Có thể CS thắng về mặt đàn áp, nhưng thua về mặt xã hội. Biểu tình mà phải ôn hòa đừng manh động, nghĩa là đấu tranh trong khuôn khổ của đảng cho phép?
Mấy năm qua đã thể hiện điều đó, chúng ta rơi vào cuộc đấu tranh định hướng của CS nhiều hơn, gần như chúng định hướng tất cả: đấu tranh thì có hiệu quả, nhưng CS vẫn làm chủ tình hình, không sứt mẻ chút nào.
Facebook cũng định hướng, biểu tình cũng định hướng, thì còn ngõ nào để Cách Mạng VN cựa quậy. Vì vậy, để thắng trong cuộc chiến này, hãy biểu tình ôn hòa, nhưng có bạo lực sẽ đáp trả, đừng lọt vào ổ phục kích của CS mà ngồi im để cho chúng đánh. Biểu tình ôn hòa đâu có nghĩa là không có tàn sát đánh đập đổ máu? Lâu nay chúng ta không chống trả nên bọn AN, CA không sợ, thẳng tay đàn áp. Thử hỏi các bạn cho vài thằng chúng nó ngất ngư nằm bẹp trên đường xem sao? Chính bọn CA, CSCĐ, mật vụ, dân phòng sẽ là bọn bỏ chạy trước nhất đấy, để các bạn xem? Bọn đầu trâu mặt ngựa này là một lũ khốn nạn hèn nhát, vào đảng để kiếm ăn chứ đâu phải bảo vệ đảng? Không có thằng nào trong chế độ này bảo vệ đảng cả, tất cả chỉ là lưu manh láo toét hô khẩu hiệu và nhiệm vụ phải làm. Tất cả chỉ là bảo vệ cho miếng ăn của chúng mà thôi. Làm gì có lý tưởng, có trung thành vua tôi trong chế độ này. Xem những trận chống trả của nhân dân Bình Thuận hoặc công nhân Puoyuen sẽ thấy rõ. Chỉ vài chục em thanh niên công nhân ném đá là có thể làm cho cả đám CSCĐ dùi cui, khiêng chảo cồng kềnh lùi bước, bỏ chạy. Do đó, khi có số lượng người đông lên, việc đáp trả là cần thiết và cũng là một lợi thế của người dân, vì chính việc đáp trả càng làm tính đoàn kết và sức mạnh của đám đông mạnh mẽ hơn. Khi thấy đám đông ùn ùn, rần rần là bọn CA đã run sợ rồi?
5/ Hành động
Hãy xuống đường >> Nếu người Việt không ý thức xuống đường chúng ta sẽ bị diệt vong. Các bạn không diệt CS thì CS sẽ diệt các bạn. Và thực tế CS đã bán đất nước này, bán dân tộc này, chúng ta đang bước vào con đường nô lệ 100%, vậy sao các bạn còn chần chừ.
Tuy nhiên, xuống đường để làm cái gì? Chúng ta phải thấy rõ, cần chuyển hướng mục tiêu đấu tranh. Không bao giờ chúng ta thắng nỗi CS, khi đối đầu trực diện, chống lại chính quyền. Vì vậy hãy làm tê liệt xã hội, chứ không chống lại chính quyền. Đó cũng là cách đấu tranh an toàn nhất, mà người dân luôn làm chủ cuộc chơi, đưa CS vào thế bị động. BIỂU TÌNH KẸT XE LẬT ĐỔ CỘNG SẢN, dân trị, bom xăng du kích, cả ngàn cây xăng trên toàn quốc đang chờ các bạn đó. Chỉ có bất ổn xã hội mới đẩy mạnh nhận thức của người dân lên cao nhất, đừng sập những bẩy định hướng của CS mà ngồi chờ sung rụng.
Tổng thống Donal Trump diệt TC chưa cần súng đạn, chỉ cần đánh thuế nhập khẩu, vậy chúng ta cũng diệt CS bằng tê liệt xã hội chứ không đối đầu. Do đó, chúng ta phải ý thức lại sức mạnh của mình, gieo lại hạt mầm tự do, không có chế độ độc tài nào tồn tại được, khi tất cả người dân cùng đổ xuống đường làm tê liệt xã hội.
ĐẢNG BÁN NƯỚC, BÁN DÂN TỘC PHẢI SỤP ĐỔ
Sài Gòn, 14/7/2018

KHIẾP NHƯỢC: NHỤC VÀ HÈNNguyễn Phúc Bảo Ân
Vào thượng tuần tháng 11 vừa qua, Cộng Hòa Liên Bang Đức cùng các quốc gia Đông Âu thuộc phe Xã Hội Chủ Nghĩa trước đây và nhiều nước thuộc thế giới tự do khác đã tưng bừng kỷ niệm tròn 20 năm ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, tạo ra hiệu ứng DOMINO đã kéo theo sự sụp đổ hoàn toàn của hệ thống XHCN, giải phóng hoàn toàn nhân dân các nước Cộng Hòa thuộc Liên Bang Xô Viết Cũ và nhân dân cả khối Đông Âu khỏi ách cộng sản do Lê Nin, Stalin và các lãnh tụ của quốc tế cộng sản áp đặt lên trên các dân tộc bị trị này kể từ sau cuộc cách mạng tháng 10 -1917, và nền độc tài cộng sản trị được áp đặt lên thêm nhiều hơn các dân tộc Đông Âu kể từ sau Thế Chiến Thứ hai kết thúc năm 1945.
Trong lịch sử của nhân loại, chưa bao giờ nhân dân các nước Đông Âu và Liên Xô cũ cảm nhận được niềm hạnh phúc lớn lao đến vậy: Sau hơn ba thế hệ con người sống trong sự kìm kẹp vô hình của đế quốc ma quái - evil empire – của Liên Xô. Sau gần 3 phần 4 thế kỷ đối với nhân dân các nước Cộng Hòa thuộc Liên Bang Xô Viết và sau non nữa thế kỷ đối với các quốc gia khác thuộc Đông Âu con người ta sống trong một bầu không khí ngột ngạt, đè nén bởi nền chuyên chế được áp đặt lên trên mọi sinh hoạt của đời sống họ, kể cả trên tư tưởng của họ. Rồi người Đức trên khắp lãnh thổ phía Đông bổng vở òa trong niềm hạnh phúc bất tận khi lúng túng trả lời câu hỏi của một số phóng viên quốc tế về hiệu lực của quyết định liên quan đến quyền tự do đi lại của người dân Đông Đức, ông Gunter Schabowski đã buột miệng nói rằng quyết định này “có hiệu lực ngay lập tức” và tất nhiên hòa quyện với những nổi vui mừng, và niềm hạnh phúc bất tận của toàn dân Đông Đức là một bầu không khí hân hoan đón nhận nền tự do, dân chủ cũng bao trùm cả nước Đức và lan tỏa dần đến các nước láng giềng.
Đối với nhân loại trên toàn cầu, sự sụp đổ của chế độ cộng sản là một hệ quả tất yếu của học thuyết Engel, Karl Mark và Lenin về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, bởi toàn bộ nền tảng của các học thuyết này được xây dựng hoàn toàn bằng những sự bao biện khiên cưỡng và trái ngược với quy luật phát triển tự nhiên của xã hội và của con người: Hai bản năng gốc của con người là sở hữu và tiêu diệt, nhưng Engel, Karl Mark và Lê Nin đã phủ nhận thực tế này bằng những lý luận khập khiểng về việc xóa bỏ chế độ tư hữu nhằm xây dựng một chế độ xã hội loài người hoàn hảo giống như xã hội loài ong, loài kiến, thật hết sức hoang đường!
Khác với người dân Đông Đức và các dân tộc Đông Âu, sự kiện sụp đổ của bức tường bá Linh kéo theo sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết và các nước cộng sản ở Đông Âu được người Việt nam trong nước đón nhận với ít nhất là hai chiều suy nghĩ khác nhau: Đối với người dân, từ trong Nam, ngoài Bắc, mọi người đều trông chờ một điều kỳ diệu tương tự sớm xãy ra với nước Việt nam và buồn thay đã không có một điều kỳ diệu nào xãy ra tương tự cho người Việt nam cả, bởi “FREEDOM IS NOT FREE”: Vâng, “TỰ DO KHÔNG PHẢI TỰ NHIÊN MÀ CÓ”. Đối với tập đoàn lãnh đạo đảng và nhà nước cộng sản Việt nam, lúc bấy giờ họ căng thẳng, họ lo sợ cho sự sụp đổ của thiên đường XHCN như một quy luật tất yếu đã diễn ra vào thời điểm đó tại Đông Âu, hình ảnh của người đồng chí Erich Honecker, lãnh tụ vĩ đại của Đông Đức một thời “oanh liệt” lúc bấy giờ phải trốn sang Liên Xô xin tỵ nạn tự do và công lý đã khiến cả bộ chính trị trung ương đảng cộng sản Việt nam vô cùng khiếp sợ, hình ảnh đồng chí Nicolae Ceausescu, lãnh tụ vĩ đại một thời của nhân dân Romania anh hùng bị đưa ra trước tòa án công lý và bị kết án tử hình, bởi những tội ác vô cùng dã man tàn bạo đối với dân tộc Romania trong suốt những năm cầm quyền càng khiến cho các lãnh tụ của cộng sản Việt nam khiếp sợ.
Để kịp thời ngăn chặn sự sụp đổ của chế độ cộng sản Việt nam, nhằm tiếp tục duy trì quyền thống trị đất nước, để tiếp tục khai thác triệt để những đặc quyền đặc lợi của những nhà chuyên chế đại tư sản, bên cạnh việc tăng cường các biện pháp an ninh để chống “diễn biến hòa bình” (Bởi chủ trương của cộng sản là diễn biến chiến tranh thôi) bằng những cuộc bắt bớ, giam cầm, quản thúc và ngay cả thủ tiêu những nhân vật có tư tưởng cấp tiến như Trần Độ, Trần Xuân Bách, Dương Thu Hương, Lưu Quang Vũ… đảng và nhà nước cộng sản Việt nam còn liên tục tổ chức các khóa học tập chính trị để “quán triệt nghị quyết, chủ trương đường lối của đảng, xác định lập trường kiên định theo chủ nghĩa Mác-Lê Nin và đưa đất nước Việt nam tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mà Bác Hồ đã lựa chọn.”
Dẫu có một thời lầm lạc trong cái thiên đường mù XHCN đó, nhưng sau thời điểm 09 tháng 11 năm 1989 đa phần người Việt trong nước, đặc biệt là giới trí thức, và ngay cả những lãnh tụ của cộng sản Việt nam cũng đã nhận thức được rằng không thể có một xã hội XHCN hay CSCN theo học thuyết của Karl Mark và Lenin, nơi mà con người ta “làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu”, ngay cả những người nông dân chân lấm tay bùn cũng không thể tin rằng có một xã hội XHCN, nơi mà con người không cần bất cứ một sự hưởng thụ nào, ngoài niềm vui lớn lao nhất của họ là được lao động, được làm nô lệ, như đàn ong thợ, kiến thợ, để cho riêng tập đoàn ong kiến đực và ong kiến chúa hưởng thụ, bởi con ong cái kiến chỉ sống chủ yếu bằng bản năng, trong khi con người chúng ta lại sống thiên về lý trí. Kiên định theo con đường XHCN là các lãnh tụ của đảng cộng sản muốn biến con người Việt chúng ta thành loài ong, loài kiến, nghĩa là không được sống bằng lý trí mà phải thay vào đó bằng bản năng!
Sau thời điểm 09 thánh 11 năm 1989, từ thằng dân ngu cu đen cho đến các lãnh tụ của cộng sản Việt nam đều biết rằng con đường đi lên CNXH và chủ nghĩa cộng sản thực chất chỉ là con đường phát triển từ chủ nghĩa TƯ BẢN lên chủ nghĩa TƯ BẢN, nghĩa là một đường tròn khép kín mà đường kính quá lớn nên khi đang đi trên đó, người ta cứ ngỡ là đang đi trên một đường thẳng, và nhiên liệu cho cổ máy chế độ được vận hành trên đường tròn khép kín với đường kính quá lớn đó không phải là xăng dầu mà chính là mồ hôi, nước mắt, là máu xương, là sinh mạng của đồng bào, của hàng triệu người dân ngu cu đen thấp cổ bé họng.
Giai cấp lãnh đạo của CSVN cố bám víu cái lấy cái học thuyết Mác-Lê bởi đó là cái phao cứu sinh cho ngai quyền lực của họ, bởi cũng phát xuất từ học thuyết này là chuyên chính vô sản, là sử dụng bạo lực cách mạng để tiêu diệt các thế lực phản cách mạng. Các nhà lãnh đạo CSVN vì muốn đặt quyền lợi của cá nhân, của giai cấp lên trên quyền lợi của dân tộc mà kiên định “xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN” nghĩa là họ quyết tâm đưa đất nước Việt nam tiếp tục đi trên một con đường được xây dựng bằng mồ hôi nước mắt và máu xương của đồng bào, một con đường vòng từ chủ nghĩa TƯ BẢN lên chủ nghĩa TƯ BẢN, bở vì họ khiếp nhược khi nhìn thấy Erich Honecker phải đi tỵ nạn công lý và cũng vì họ không muốn trở thành một Nicolae Ceausescu của Việt nam.
Đối với người dân Việt nam, chắc chắn ai cũng muốn được hít thở bầu không khí tự do, được quyền biểu lộ tình cảm của mình trước cái yêu, cái ghét, mà nhân loại gọi là BIỂU TÌNH, chắc chắm ai cũng khát khao được tự do bày tỏ chính kiến của mình, hay tự do lựa chọn người đại diện cho mình để điều hành đất nước, nhưng than ôi! Cũng vì quá khiếp nhược trước bạo quyền mà cả 80 triệu người dân Việt, dù khát khao khát vọng tự do và dân chủ đến mấy cũng đành ngồi đó chờ điều kỳ diệu xãy đến như thể chờ sung rụng.
Hỡi vị nào đó trong số 15 vị trong bộ chính trị, hãy vì quyền sống, quyền làm người của hơn 86 triệu người dân Việt, hãy vì sự hưng vong của nòi giống, hãy đặt quyền lợi của dân tộc lên trên quyền lợi của cá nhân và giai cấp, mà làm một Mikhaïl Gorbachev, một Boris Yeltsin của Việt nam, hãy giải tán đảng cộng sản Việt nam, hãy giải tán chính phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, hãy giải tán ngành công an và an ninh-cái dùi cui của cộng sản Việt nam… rồi những trang sử vàng của Viêt tộc sẽ lưu danh quý vị muôn đời. Dân Việt vốn tính hiếu sinh, sẽ không hành hình quý vị như người Romania đã hành hình nhà độc tài Nicolae Ceausescu. Người Việt Quốc gia vốn tính hiếu hòa, sẽ không xây dựng bất cứ trại tập trung cải tạo nào để đọa đày quý vị hay thuộc cấp của quý vị như quý vị đã giam cầm, đày đọa họ sau ngày quý vị đã cưỡng chiếm được miền Nam đâu .
Hỡi 80 triệu đồng bào Việt nam yêu quý, hỡi các sỹ phu đất Việt hãy vì tiền đồ của dân tộc, hãy mau mau đứng lên đáp lời sông núi, hãy là những Ronald Reagan của Việt nam, hãy đến trước quãng trường Ba Đình, mắt dõi về tòa nhà quốc hội của cộng sản Việt nam mà kêu gọi: “Hỡi ông tổng bí thư Nông Đức Mạnh, hỡi ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, hỡi ông Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết! Nếu các ông tìm kiếm sự thịnh vượng cho đất nước Việt nam, nếu các ông đang tìm kiếm tự do cho dân tộc Việt nam, xin hãy đến tại quảng trường này, Các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, hãy phá nát lăng của Hồ Chí Minh, thành trì cuối cùng của cộng sản Việt nam đi, hãy phá tan những bức tường lửa ngăn không cho người dân Việt được tiếp cận với các nguồn thông tin đa chiều, hãy chặt gãy hết gông cùm đang xiềng trói cả dân tộc Việt nam không cho họ được hưởng bất cứ một quyền tự do căn bản nào mà Thượng Đế đã ban cho họ”.
Chủ nghĩa cộng sản đã hoàn toàn phá sản! Chế độ cộng sản đã sụp đổ ngay trên cái nôi sản sinh ra nó đã 20 năm rồi! Cũng đã một thế hệ người dân ở Đông Âu không còn sống dưới ách cai trị của cộng sản nữa, bởi thượng đế đã thương ban cho họ một Đức Giáo Hoàng Jean-Paul II, một Mikhaïl Gorbachev, một Boris Yeltsin và Thương Đế cũng đã sinh ra họ là những dân tộc không chấp nhận sống nhục sống hèn.
Đâu rồi một Việt nam quê hương ngạo nghễ? Đâu rồi triệu trái tim của triệu khối kiêu hùng, đâu rồi những cháu con của Bà Trưng, Bà Triệu? Đâu rồi những hậu duệ của Hưng Đạo, của Lê Lợi, Quang Trung? Sao cứ mãi khiếp nhược để chịu kiếp sống nhục sống hèn? Hay mọi người đang còn say ngủ? Một lần nữa xin hãy lắng nghe lời hiệu triệu của cụ Tây Hồ Phan Chu Trinh “Hởi Quốc Dân! Dậy! Dậy Dậy!”
Nguyễn Phúc Bảo Ân Quyết không khiếp nhượcLS LÊ CÔNG ĐỊNHLịch sử Việt Nam là lịch sử thăng trầm của một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, một trăm năm nô lệ giặc Tây. Những khoảng khắc hòa bình hầu như ngắn ngủi. Sau 1975 niềm vui độc lập và thống nhất, với biết bao máu và nước mắt vô tội đổ xuống, đã không kéo dài bao lâu. Đất nước triền miên rơi vào khủng hoảng, hết khủng hoảng kinh tế, đến khủng hoảng đạo lý và bây giờ khủng hoảng niềm tin. Điều đó suy cho cùng có nguyên nhân nội tại từ chính sự nhu nhược của mỗi con người chúng ta. Bốn ngàn năm lịch sử đã kết nối từng cá nhân thành một dân tộc, hun đúc nên khát vọng Đại Việt, đưa chúng ta đi hết chiến thắng này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập tự chủ và thống nhất giang sơn về một mối. Thành tựu ấy có được là do sự quật khởi của hào khí Diên Hồng qua các thời đại. Tiếc thay khi chuẩn bị bước vào nền thái bình thịnh trị, sự nhu nhược đã thế chỗ cho tinh thần quật khởi! Kẻ thì bỏ nước ra đi, trốn tránh. Người thì ở lại nhẫn nhục, muộn phiền. Bọn cơ hội thừa dịp thi thố sự đồi bại, biến giang sơn chung thành món mồi riêng tư béo bở. Vì nhu nhược, chúng ta không dám phản kháng thói hạch sách, nhũng nhiễu của lớp quan lại mới, chấp nhận dùng tiền vượt qua trở ngại. Đến khi nhìn lại, quốc nạn tham nhũng và quan liêu đã lan tràn, bất trị. Vì nhu nhược, chúng ta che tai không dám nghe lời nói ngay thẳng, mặc nhiên dung túng sự dối trá và xu nịnh. Đến khi bừng dậy, đạo đức đã suy đồi, khó sửa. Vì nhu nhược, chúng ta hài lòng với những gì đang có, cố tin vào sự ổn định giả tạo, đắm mình vào những lễ hội vô nghĩa liên miên. Đến khi nghĩ lại, xung quanh đã đầy dẫy ung nhọt, không còn thuốc chữa. Vì nhu nhược, chúng ta bịt mắt trước những bước đi vũ bão của các dân tộc láng giềng. Đến khi tỉnh ngộ, sự tụt hậu quá rõ ràng, không còn cơ may rút ngắn khoảng cách. Để che giấu mặc cảm do nhu nhược, khắp nơi người ta kể nhau nghe những bài vè châm biếm hoặc lớn tiếng dè bỉu chuyện cung đình tồi tệ, nhưng lại trong … quán nhậu! Chí khí kiểu “sĩ phu Bắc Hà” ấy liệu sẽ giúp ích được gì cho công cuộc chấn hưng đất nước đang lúc cần hào khí Diên Hồng năm xưa? Muốn chấn hưng đất nước trong vận hội ngàn năm có một này cần phải rũ bỏ sự nhu nhược đó. Muôn người xin hãy nắm tay lại, chế ngự sự sợ hãi, cùng tiến về phía trước, may ra khát vọng Đại Việt mới có cơ may biến thành hiện thực. Xin đừng để sự nhu nhược của những cá nhân trở thành sự bạc nhược của cả một dân tộc. |
|