Cái lò của Lú đang nóng tại Đà NẵngHải Âu (Danlambao) - Đà Nẵng, nơi từng được gọi là “thành phố đáng sống” đang trở thành con đường dẫn một số quan chức lãnh đạo và côn an cộng sản vào cái lò của đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng. Sau khi khởi tố, bắt, tạm giam hai tướng côn an là Nguyễn Thanh Hoá và Phan Văn Vĩnh, lần này “cai lò” quyết định tiếp tục làm nóng lò của mình bằng việc, bắt tạm giam, khởi tố Phan Hữu Tuấn, cựu phó tổng cục trưởng tổng cục 5, bộ côn an với tội danh “có ý làm lộ bí mật nhà nước”.
Phan Hữu Tuấn là một trung tướng của ngành côn an với chức vụ phó tổng cục trưởng tổng cục tình báo. Cùng số phận với hai tướng côn an Hoá và Vĩnh, Phan Hữu Tuấn cũng bị cựu “đại ca” của ngành là Trần Đại Quang tước danh hiệu côn an nhăn răng dù Tuấn đã nghỉ hưu từ năm 2014. Ngoài việc trung tướng của cục tình báo bị bắt và khởi tố còn có thêm một cán bộ ngành côn an là Nguyễn Hữu Bách, sinh năm 1963 cùng tội danh “cố ý làm lộ bí nật nhà nước”. Lẽ đương nhiên là cán bộ côn an này cũng bị trùm của các ông trùm ngành côn an là chủ tịch nước cộng sản tước danh hiệu côn an nhân dân.
Bên cạnh việc bắt, khởi tố tướng và cán bộ côn an, đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng tiếp tục tung lưới “hốt” luôn Trần Văn Minh - cựu chủ tịch Đà Nẵng từ năm 2006-2011. Cảm thấy những khúc củi vừa “hốt” chưa đủ làm nóng cái lò của Lú, cơ quan điều tra của đảng trưởng lần này “bội thu” khi Văn Hữu Chiến, cựu chủ tịch Đà Nẵng từ năm 2011-2014 cũng bị bắt tạm giam, khởi tố chung với các đồng chấy, đồng rận trong đám đồng đảng.
Trần Văn Minh sinh năm 1955, trú tại quận Hải Châu, Đà Nẵng bị bắt và khởi tố với tội danh “vi phạm qui định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí” và “vi phạm các qui định của nhà nước về quản lý đất đai”. Nguyễn Hữu Chiến, 64 tuồi, quê tại thị xã Điện Bàn tỉnh Quang Nam. Chiến bị khởi tố và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Ngoài ra một số nhân vật cầm quyền cốt cán của Đà Nẵng cũng bị khởi tố:
- Nguyễn Điểu, sinh năm 1958, trú tại quận Thanh Khê, Đà Nẵng, nguyên giám đốc sở Tài nguyên Môi trường Đà Nẵng.
- Trần Văn Toán, sinh năm 1957, trú tại quận Hải Châu, Đà Nẵng, nguyên phó giám đốc sở Tài Nguyên Môi trường Đà Nẵng.
- Lê Cảnh Dương, sinh năm 1975, trú tại quận Hài Châu, Đà Nẵng, giám đốc xúc tiến và hỗ trợ đầu tư thành phố Đà Nẵng.
Cả 3 quan chức cầm quyền cốt cán trên của Đà Nẵng đều bị khởi tố với cùng tội danh “vi phạm các qui định của nàh nước về quản lý đất đai”. Một điểm chung của các bị can vừa nhận được xuất tham quan lò của Lú lần này là liên quan đến Phan Văn Anh Vũ tức “Vũ nhôm”. Các tướng, cán bộ côn an và quan chức, cựu quan chức của Đà Nẵng đều dính dáng tới việc đại tá tình báo Vũ nhôm trong đại án “trốn thuế, lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, cố ý làm lộ bí mật nhà nước”.
19.04.2018
Lãnh đạo CS không thích chủ nghĩa CS nhưng sử dụng nó để bóc lột dân miền Nam Gần đây một bài viết của một người về Việt Nam cho biết tình trạng quê nhà, tác giả nói nay tại Sài Gòn người miền Bắc kéo vào rất đông, họ là những người giầu có và quyền thế nhất Sài Gòn hiện nay, họ làm chủ hầu hết các nhà cửa to lớn của Sài Gòn và các nhà hàng lớn, các cơ sở thương mại, các cơ quan nhà nước... Đó là những cán bộ cao cấp và bà con thân thụộc của họ được đưa vào đây để tranh dành hết những chức vụ béo bở, những công việc hái ra tiền….tác giả cho biết vào các cửa hàng lớn, các.. cơ quan chỗ nào cũng thấy toàn là Bắc Kỳ, nói tóm lại họ là giai cấp giầu có thống trị tại Sài Gòn hiện nay. Mặc dù chưa được chứng kiến tận mắt nhưng tôi tin ngay lời tác giả trong bài viết..  Tuần vừa qua, một người bạn đã về thăm quê Nha Trang năm ngoái cũng cho tôi biết tại Nha Trang bây giờ toàn là Bắc Kỳ, họ giầu sụ, buôn to bán lớn, chiếm giữ hầu hết các cơ sở thương mại kinh tế của Nha Trang. Họ giữ các chức vụ nhiều lợi lộc, chiếm cứ hầu hết các khu phố xá sầm uất và đẩy những người cũ đi xa như vùng kinh tế mới hoặc những vùng đất quê mùa khô cằn như sỏi đá. Người bạn cũng xác nhận cho tôi thấy NhaTrang nay là một thành phố đã bị Bắc Kỳ cai trị và chiếm đoạt hết tài sản, những nguồn lợi béo bở của thị xã du lịch này. Nếu chúng ta hỏi những người đã về thăm các tỉnh khác như Đà Lạt, Đà Nẵng, Biên Hoà… người ta cũng sẽ nói tình cảnh tương tự như thế. Khi đọc bài viết và nghe người ta kể lại những sự thật phũ phàng như trên tôi tin ngay vì tôi cho rằng đó là những nhận xét khách quan vô tư nhất. Ngược dòng thời gian 40 năm trước vào những ngày sau vụ Mậu Thân 1968, hồi ấy chúng tôi là sinh viên, được huấn luyện quân sự hai tuần và đưa vào Chợ Lớn canh gác theo chương trình NhânDân Tự Vệ. Một buổi tối đứng gác trên sân thượng của nhà thương gia trong khu phố Tầu, anh bạn cùng gác với tôi nhìn những dẫy phố nguy nga, sầm uất của ChợLớn, trước cảnh giầu sang tráng lệ của Tầu Chợ Lớn anh ta thốt lên. “Đứng địa vị thằng Việt Cộng tao cũng đánh đến cùng, đằng nào cũng đã là thằng cùng mạt , chiếm được thì hưởng hết” Ý anh bạn muốn nói thằng nghèo đói sẽ đánh thí mạng cùi để cướp đoạt những tài sản của người giầu có, thế mà 7 năm sau, năm 1975 lời nói của anh ấy đã thành sự thật, thằng nghèo đói đánh thí mạng cùi và đã cườp đươc tài sản của miền Nam giầu có. Ngược dòng thời gian ba mươi bốn năm trước đây sau khi chiếm được miền Nam, cán bộ Cộng Sản rất cởi mở tươi cười với đồng bào miền Nam khiến người ta tin tưởng rằng hoà bình thống nhất rồi, hai miền cùng xoá bỏ hận thù và cùng nhau xây dựng đất nước, hàn gắn những vết thương do chiến tranh để lại. Thế nhưng kẻ chiến thắng không bao giờ bỏ được bản chất gian trá có từ hồi mới cướp chính quyền mùa thu 1945. Vừa xua quân chiếm xong Sài Gòn hoa lệ, đạo quân chiến thắng vội vã chở hết vàng bạc, quí kim của ngân hàng, tháo gỡ các máy móc trong các cơ xưởng, bệnh viện, vét hết các kho dụng cụ, hàng hoá, máy móc hiện đại… đem về Bắc, sự kiện này khỏi cần phải dẫn chứng vì thực tế đã chứng minh và ai cũng đều biết cả. Số vàng bạc quí kim vơ vét được vào túi các quan cán bộ gộc hết. Họ vơ vét nhanh gọn y như đàn cào cào châu chấu phá hoại mùa màng, sau cơn trấn lột tập thể vĩ đại ấy miền Nam chỉ còn là một mảnh đất nghèo xơ xác. Một hai năm sau ngày 30-4-75 Cộng Sản đánh tư sản hai lần, đổi tiền ba lần, chính quyền đã vét gần sạch gần hết túi tiền người dân, kế đó họ phát động chiến dịch đẩy dân chúng đi kinh tế mới để chiếm nhà dân một cách hợp pháp. Chỉ sau ngày 30-4-75 một hai tháng, họ lùa các viên chức, sĩ quan chế độ cũ vào các trại cải tạo lâu dài rồi đẩy miền Nam tới chỗ nghèo nàn cùng cực để không thể trỗi dậy chống lại chế độ độc tài. Người Sài Gòn mỗi ngày một nghèo, nhiều người phải bán nhà với giá rẻ mạt cho kẻ chiến thắng để lấy tiền đong gạo sinh sống. Kế hoạch chiếm nhà dân đã được kẻ chiến thắng hoạch định một cách tinh vi khoa học, đánh tư sản hai lần để chiếm nhà của bọn tư sản bóc lột cho cán bộ ở, ép buộc mọi tầng lớp nhân dân đi kinh tế mới để dãn dân ra khỏi thành thị ngõ hầu có chỗ đưa dân từ miền Bắc vào. Những người đi vượt biên dù đi thoát hay không thoát đều bị lấy nhà, những nhà lớn, nhà mặt đường của dân cải tạo liên hệ chế độ cũ hầu hết bị tịch thu, họ lấy tất cả nhà cửa tài sản của những người đi chính thức, cho tới nay năm 2008 một người bạn mới ở Sài Gòn sang Hoa Kỳ đoàn tụ cho biết chính quyền không cho phép anh bán nhà mà phải để lại cho nhà nước, sau chạy chọt mãi với cán bộ địa phương mới bán được nhưng phải chia tam chia tứ anh chỉ được hưởng 1/5 trị giá căn nhà… … Thế rồi dần dần kẻ chiến thắng, tầng lớp thống trị vơ vét bóc lột người dân, tích lũy tiền bạc mua nhà cửa, bất động sản của những người cũ nay đã khánh tận phải bán của cải đi để lấy cơm ăn áo mặc, thành phần này thuộc loại “Tư bản mại sản”. Người ta chê kẻ chiến thắng quá tham lam, họ đã được cả một đất nước to lớn mà vẫn chưa vừa lòng tham vô đáy còn đi chiếm từng căn nhà một.  Cho tới nay bộ mặt đổi đời của miền Nam càng lộ rõ hơn bao giờ hết bộ, kẻ thắng trận ngày càng giầu có, họ vơ vét bóc lột, tập trung tài sản của đất nước trong tay, bà con của họ cũng được chia chác những chức vụ béo bở, cơ sở làm ăn lớn tha hồ mà đớp hít… trong khi ấy người dân miền Nam, những kẻ bại trận ngày càng khốn khổ, trừ những người có thân nhân ở nước ngoài trợ cấp còn đa số phải làm lụng đầu tắt mặt tối vì miếng cơm manh áo. Người miền Bắc nay đã trở thành giai cấp thống trị người miền Nam, họ tước đoạt tài sản nhà cửa của người miền Nam, đuổi người miền Nam đi các vùng kinh tế xa xôi khỉ ho cò gáy. Những kẻ bị áp bức bóc lột này dẫu căm phẫn cũng đành ngậm đắng nuốt cay vì họ phải chịu khuất phục trước lưỡi lê và họng súng của bọn độc tài thống trị. Theo như lời kể của những người đã về thăm quê hương đã nói ở trên chúng ta có thể mường tượng ra cái hận thù Nam Bắc hiện nay nó sâu đậm như thế nào rồi.. Năm ngoái nhân ngày Quốc Hận, một viên chức chính quyền cũ nhìn những hình ảnh biểu tình, chống đối rồi thở dài bảo: -Anh nghĩ xem, cái hận thù Nam Bắc biết bao giờ mới hết… Theo tôi nghĩ cái hận thù Nam Bắc nay không phải là chỉ mối hận của lớp người cũ đã bị tù đầy cải tạo mà nó thể hiện ở một bình diện rộng lớn bao quát hơn của cả một đất nước, của cả một khối quần chúng đông đảo, của những kẻ bị trị … đó là mối hận thù giữa kẻ bị trị và những bọn cầm quyền cai trị, giữa những kẻ bại trận và bọn thắng trận.. Người ta thường nói cuộc chiến tranh Việt nam là cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa hai luồng tư tưởng đối nghịch nhau của hai khối Cộng Sản và Tư bản. Những người khuynh tả cho rằng cuộc chiến tranh Việt Nam 1960-1975 là cuộc chiến chống Đế Quốc xâm lăng cũng như cuộc chiến tranh giành độc lập chống Pháp 1945-1954. Cũng có người cho rằng đó là cuộc chiến tranh ủy nhiệm, nghĩa là chính quyền hai Miền đã được các siêu cường uỷ nhiệm thực hiện.. nhưng nay thì sự thể đã quá rõ ràng, nó chỉ là một cuộc “chiến tranh ăn cướp” giữa một nước nghèo đói lạc hậu và một đất nước giầu có sung túc với một vựa lúa phì nhiêu. Thằng nghèo đói đã ra sức đánh thí mạng cùi để chiếm cho được mảnh đất phì nhiêu rồi tha hồ mà vơ vét, bóc lột… thằng nghèo đói chỉ biết dùng lưỡi lê và họng súng để theo đuổi cuộc chiến tranh ăn cướp lâu dài. Nhiều người ngoài Bắc vào Nam nói “các anh không thể thắng được chúng tôi những thằng nghèo đói, thằng nghèo đói không sợ chết”. Sau di cư 1954, Hà Nội sống chết cũng phải chiếm cho được vựa lúa miền nam, họ đã thèm thuồng cái vựa lúa này từ lâu.. Nay tại hải ngoại nhiều người chủ trương hoà giải với Cộng Sản Việt Nam, họ lý luận rằng cuộc chiến tranh ba mươi năm đã tàn phá đất nước nhiều rồi, chúng ta hãy bắt tay nhau cùng xây dựng lại những vết thương do chiến tranh để lại, cùng nhau xoá bỏ hận thù. Luận điệu ấy thoáng nghe thật chan chứa tình thương yêu đồng loại, nhưng thực ra họ đã đặt sai đối tượng hoà hợp hoà giải vì có phải rằng khối người lưu vong hải ngoại hận thù Cộng Sản đâu? thực ra như chúng tôi đã trình bầy ở trên hận thù sâu sắc hiện nằm ngay trong lòng quần chúng miền Nam nước Việt, hận thù Nam Bắc hiện nay đang nằm trong lòng dân tộc, nó đã ăn sâu vào tận xương tủy kẻ bị trị nghèo nàn đói khổ.. Nay Cộng Sản Việt Nam vẫn cho thực hiện những phim tuyên truyền kết án chế độ địa chủ ác ôn như trong phim Áo Lụa Hà Đông nhưng trớ trêu và trơ trẽn thay chế độ của họ tự nhận là “Đảng của giai cấp công nhân” lại là một chế độ áp bức, bóc lột gấp trăm gấp ngàn lần thời kỳ địa chủ, cường hào ác bá thập niên 40 trở về trước. Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay chính là một tập đoàn địa chủ giầu có ác ôn, hà hiếp bóc lột dân nghèo tàn nhẫn nhất chưa từng thấy trong lịch sử nước nhà từ trước đến nay. Một người mới về Việt Nam sang Mỹ cho biết chênh lệch giầu nghèo thì không thể tưởng tượng nổi, bọn nhà giầu không ai hơn là cán bộ cao cấp ăn chơi hưởng thụ tại những nhà hàng, khách sạn sang trọng hằng nghìn, hằng mấy nghìn đô la một đêm trong khi có nhiều bà mẹ tay trái thì bồng con, tay phải bán vé số .. chạy ăn từng bữa. Nay nhiều người chủ trương hoà giải với người Cộng Sản Việt Nam bằng một lối lý luận đạo đức giả “xoá bỏ hận thù, xây dựng đất nước” nhưng họ không biết rằng người Cộng Sản có chịu xoá bỏ hận thù hay đào sâu thêm hận thù? người Cộng Sản xây dựng đất nước hay xây dựng cho chế độ của họ thêm vững mạnh bằng lưỡi lê và họng súng? Nhiều người thuộc lớp trẻ cho rằng lớp người cũ, sĩ quan, viên chức chính phủ, cải tạo HO… đã chịu nhiều ngược đãi của Cộng Sản nên cho tới nay họ vẫn giữ lập trường hận thù Cộng Sản. Ngược lại giới trẻ đã không từng trải qua những cay đắng gian khổ của chiến tranh như tù đầy, loạn lạc vì họ còn nhỏ hoặc thậm chí chưa ra đời nên họ không có cái nhìn hằn học với người Cộng Sản như thế hệ cha ông của họ. Họ chủ trương hoà giải với Cộng Sản để cùng bắt tay nhau xây dựng đất nước vì nay Cộng Sản vẫn lớn tiếng kêu gọi người Việt hải ngoại hãy quên dĩ vãng, cùng nhau xoá bỏ hận thù.. Người Cộng Sản có thực sự xoá bỏ hận thù hay không? Họ xóa bỏ hận thù hay đào sâu thêm cái hố hận thù đã vốn dĩ sâu thăm thẳm từ bao năm qua? Chúng ta hoà hợp hoà giải với Cộng Sản, đem tài nguyên tài năng về Việt Nam xây dựng đất nước hay là để củng cố thêm quyềnl ực và tài sản cho bọn thống trị, để họ vơ vét thêm tài sản nhân dân cho đầy túi tham và đè đầu cưỡi cổ nhân dân miền Nam thêm nhiều thế kỷ nữa? Trước mắt chúng ta thấy Cộng Sản Việt Nam vẫn ngoan cố như tự bao giờ, trước sau như một. Địa vị của Đảng vẫn phải được củng cố vững mạnh hơn bao giờ hết bằng lưỡi lê và họng súng. Nay Cộng Sản Quốc tế đã sụp đổ tan tành nhưng Cộng Sản Việt Nam và Trung Hoa vẫn còn bám víu vào quyền lợi riêng tư của Đảng một cách trơ trẽn và ngoan cố, họ không biết rằng con người không thể nào quay ngược bánh xe lịch sử, không thể nào vặn ngược chiều kim đồng hồ. Để quay ngược bánh xe lịch sử họ vẫn ngoan cố bảo vệ Đảng, bảo vệ tập đoàn thống trị bằng bạo lực. Sáu mươi năm trước đây, thánh Ghandi đã nói “Chúng ta thấy qua lịch sử, con đường của sự thật và tình thương luôn luôn thắng bạo tàn, độc ác, bất nhân… Bạo tàn chỉ thắng lợi được mộ tthời gian rồi cũng phải thất bại sụp đổ tan tành”. Thật vậy lịch sử loài ngườitự cổ chí kim đã cho ta thấy rằng tất cả những triều đại, những chế độ tàn bạo,độc ác bất nhân cho dù có vững mạnh tới đâu cuối cùng cũng phải bị bánh xe lịch sử nghiền nát như tương như cám. Nay Cộng Sản Việt nam không chiu nhìn lại cái gương của quá khứ, nếu họ tiếp tục đào sâu hận thù Nam Bắc bằng lưỡi lê và họng súng, cho dù họ có thể tồn tại được trong một khoảng thời gian nào đó, nhưng cuối cùng họ sẽ tự đào hố chôn mình... Nguyễn Phú Trọng chia rẽ Nam BắcNgô Nhân Dụng - Người Việt  Nếu ai còn nghi ngờ dân Hà Nội đã nói oan khi đánh giá ông Nguyễn Phú Trọng là “Lú như Trọng,” nên đọc bài diễn văn của ông Trọng Lú khi trình diện Bộ Chính Trị mới, năm 2016, sẽ hết nghi Trước ống kính truyền hình cho cả nước coi, ông Nguyễn Phú Trọng tuyên bố đảng của ông sẽ tiếp tục “vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…” Thứ nhất, chủ nghĩa Mác-Lênin đã chết từ lâu rồi, sau khi đã làm kiệt quệ cả kinh tế lẫn đời sống tinh thần của hãng tỷ con người. Ngay ở Trung Quốc bây giờ, bọn lãnh đạo cũng không còn tin ở chủ nghĩa đó nữa. Họ chăm chỉ học tập cách làm ăn theo chủ nghĩa tư bản thế kỷ 19. Thứ hai, Hồ Chí Minh không bao giờ nhận mình có “tư tưởng.” Ông đã nói rằng tất cả những gì cần viết đã có Mao Trạch Ðông viết hết cả rồi, chính ông ta không cần suy nghĩ thêm nữa. Ông thỏa mãn với địa vị “Mao Nhỏ” (Tiểu Mao) nên cho bồi bút ca ngợi mình: “Bác Mao không ở đâu xa, Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao.” Nhưng cái lú hiển nhiên nhất là ông Nguyễn Phú Trọng vẫn khẳng định mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bởi vì chính miệng ông đã từng nói, “đến cuối thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” Chính ông cũng không biết cái chủ nghĩa xã hội nó thế nào mà xây dựng, bây giờ ông lại nhất định “lãnh đạo” hơn 90 triệu con người Việt Nam tiến đến cái thế giới mù mù mờ mờ đó! Phải nói rằng ông lú, lú quá! Nói như vậy rồi, cũng phải công nhận rằng lời phê “Lú như Trọng” có phần hơi oan. Bởi vì con đường lú lẫn theo chủ nghĩa Cộng Sản ông Trọng đã đi học người khác chứ không phải chính ông nghĩ ra. Cả đảng Cộng Sản lú chứ không riêng mình Nguyễn Phú Trọng. Cái Lú của ông Trọng có tính chất hệ thống. Niềm hãnh diện lớn nhất trong đời Hồ Chí Minh là “Giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin.” Ðó là đại họa của các đảng viên Cộng Sản và cả dân tộc Việt Nam. Trong đời sống cá nhân, lúc ứng xử với đời, Nguyễn Phú Trọng không lú chút nào cả. Trái lại, ranh ra phết! Nếu không tinh ma quỷ quái thì làm sao hạ Nguyễn Tấn Dũng rớt đài tơi tả một cách ngoạn mục như thế? Một trò tinh ma hạ cấp nhất là khích động óc kỳ thị địa phương. Thế kỷ 16, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, người Việt đã có mâu thuẫn Ðằng Trong chống Ðằng Ngoài. Thực dân Pháp chia ba miền Nam, Trung, Bắc, đào thêm hố chia rẽ. Trước ngày họp hành bầu bán, phe Nguyễn Phú Trọng đã cho truyền tai nhau, rằng chức tổng bí thư phải là người Bắc, “người ngoài mình!” Nguyễn Tấn Dũng tất nhiên không “đạt yêu cầu!” Kỳ thị Bắc Nam là một món võ hiệu nghiệm. Vì hiện nay 70% đảng viên Cộng Sản là người Bắc, dù miền này chưa bằng 46% dân số Việt Nam. Tỷ lệ người miền Bắc vào đảng Cộng Sản cao hơn cả nước. Trong số 11 tỉnh mà số đảng viên chiếm 6% dân số hoặc cao hơn thì 9 tỉnh nằm ở châu thổ sông Hồng và ở biên giới Ðông Bắc giáp với Trung Quốc; hai tỉnh khác là Nghệ An và Quảng Bình. Những tỉnh với tỷ lệ đảng viên từ 4% tới 6% đều nằm từ Quảng Trị trở lên, cộng thêm thành phố Ðà Nẵng và Hà Nội, với số đảng viên hơn 5% số dân. Ngược lại, số người vào đảng Cộng Sản ở miền Nam rất thấp, càng xuống phía Nam càng thấp. Bốn tỉnh ở ngay dưới vĩ tuyến 17 và Kontum, Daknong còn có được 3% tới 4% là đảng viên; các tỉnh Bình Thuận, Lâm Ðồng, Bình Phước, Ðồng Tháp, Kiên Giang, An Giang tỷ lệ đảng viên chiếm dưới 2%. Sài Gòn và các tỉnh khác có 2% tới 3% dân là đảng viên Cộng Sản. Tỷ lệ đảng viên Cộng Sản ở miền Nam thấp dễ hiểu, vì điều kiện lịch sử và chính sách kỳ thị của đảng. Ðảng Cộng Sản đã hoạt động chính thức ở miền Bắc 30 năm trước khi vào Nam năm 1975, số đảng viên phải cao hơn. Dân miền Nam chán ghét Cộng Sản ngay từ những ngày đầu “mở mắt ra” cho nên ít người muốn theo đuôi. Hơn nữa, muốn vào đảng họ sẽ vướng cái rào cản lý lịch. Cha mẹ từng là quân nhân hay công chức Việt Nam Cộng Hòa chắc chắn khó vào. Một người muốn vào đảng còn phải kê khai lý lịch cả thân bằng quyến thuộc, kể cả những bà con, anh chị em, cô dì, chú bác đang sống ở nước ngoài; đó là những hàng rào cản trở lớn. Nhưng ngay tại các tỉnh miền Nam với số đảng viên thấp, hiện nay nhiều đảng viên cũng vốn gốc miền Bắc. Họ vào Nam để chiếm lấy các địa vị quan trọng trong mỗi đơn vị đảng. Tất nhiên khi chọn đại biểu từ mỗi tỉnh hay thành phố đi dự đại hội, số người gốc miền Bắc cũng chiếm đa số vì họ nắm trong tay guồng máy đảng. Với những con số trên đây, trong thành phần dự trong đại hội vừa rồi, người gốc miền Bắc tất nhiên chiếm đại đa số, đa số áp đảo. Cho nên thủ đoạn kích thích tự ái địa phương có hiệu quả, âm mưu chia rẽ Nam Bắc đã thành công. Trong 19 người vào Bộ Chính Trị mới, có 13 người gốc miền Bắc, miền Nam có 4 người và miền Trung chỉ có 2 người. Trong khóa trước, mỗi miền Nam, Bắc có 6 người, với 4 người sinh ở miền Trung từ Thanh Hóa, Nghệ An, đến Quảng Nam. Nguyễn Phú Trọng đã đạt mục đích, ngồi yên ở ghế tổng bí thư, nhưng đã phá nát tinh thần đoàn kết dân tộc. Tình trạng phân biệt đối xử đã diễn ra từ khi Cộng Sản chiếm miền Nam. Sau năm 1975, cán bộ miền Bắc đã trở thành một đạo quân chiếm đóng trong vùng dưới vĩ tuyến 17. Trong đợt đầu, họ đã tháo gỡ nhiều máy móc, thiết bị đem về Bắc, nhiều khi không biết dùng làm gì, để han rỉ rồi phế thải. Trong khi đó cơ xưởng ở miền Nam phải ngưng hoạt động. Mặc dù bị cưỡng chiếm và bóc lột như vậy, sau thập niên 1980 miền Nam vẫn phát triển nhanh hơn, mức sống lên cao hơn, trở thành đầu tàu kinh tế cho cả nước. Ðể bảo vệ quyền lợi miền Bắc, đảng Cộng Sản đã thu góp tài nguyên cả nước để cung phụng cho miền Bắc. Người dân miền Nam sản xuất và tiêu thụ nhiều hơn, nhưng tiền thuế họ đóng góp, tiền tiết kiệm họ gửi ngân hàng được đem nuôi dưỡng các cán bộ trong hệ thống doanh nghiệp nhà nước khi các ngân hàng quốc doanh cho vay theo chỉ thị của đảng. Các xí nghiệp quốc doanh chiếm hơn 50% số tiền vay từ các ngân hàng trong khi đóng góp dưới một phần ba tổng sản lượng nội địa. Trong số 25 xí nghiệp quốc doanh lớn nhất, 22 xí nghiệp nằm trong vùng Hà Nội. Chắc chắn Nguyễn Phú Trọng sẽ tiếp tục chính sách Lấy Nam Nuôi Bắc; Sài Gòn làm, Hà Nội ăn. Óc kỳ thị địa phương lên trở thành một chính sách không cần văn bản. Nhà báo Huy Ðức, người Thanh Hóa, tác giả sách Bên Thắng Cuộc, nói rằng: “Chế độ này không bao giờ muốn hòa giải thật sự. Họ lúc nào cũng tự xưng họ là kẻ thắng, họ là chủ nhân của đất nước.” Một nước chia rẽ là một nước suy yếu. Thực dân Pháp đã theo chính sách chia để trị khi lập ra ba chế độ khác nhau ở ba miền. Năm 1945 cả nước bừng lên phong trào thống nhất. Ngày nay thực dân Pháp không có mặt nữa, vậy đế quốc nào được lợi nhất khi người Việt Nam tiếp tục tinh thần kỳ thị, chia rẽ Nam Bắc? Chỉ có đế quốc đỏ Trung Cộng. Vì sao tôi từ chối không gia nhập Đảng Cộng Sản Việt Nam? Thiện Ý Sau mỗi bài viết được đăng tải trên diễn đàn này, thường có ít nhiều ý kiến phản hồi về nội dung bài viết. Người viết chân thành cảm ơn về sự quan tâm đọc và chia sẻ quan điểm. Tuy nhiên, trong số này, có một số độc giả đã bày tỏ sự bất đồng không phải bằng lý lẽ và thực tiễn để tìm ra chân lý, mà dùng những ngôn từ thiếu văn hóa như gọi người viết là “bọn rân chủ”, “bọn cờ vàng” và chê người viết dốt lịch sử (do đảng viết), sợ không dám nói rõ tên thật… Mục đích mạ lỵ thậm từ để khủng bố tinh thần hòng bịt miệng người viết. Bài viết này nhằm cảnh tỉnh phần nào cho những loại độc giả này, dù là “dư luận viên”, “ăn cơm chúa (đảng), múa tối ngày” hay độc giả bình thường, đều là nạn nhân của nền giáo dục tuyên truyền một chiều, bưng bít sự thật trọng chế độ độc tài toàn trị Cộng Sản Việt Nam (CSVN).
Nội dung bài viết về người thật việc thật, nhưng trong thời điểm hiện nay một số tên người được viết tắt. Vì là một trích ngang hồi ký “Thân Phận Con Người”, nhưng chúng tôi sẽ viết rõ tên người khi cho xuất bản thành sách vào thời gian phù hợp. I - CƠ HỘI VÀ VÌ SAO TÔI TỪ CHỐI CƠ HỘI VÀO ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.
- Cơ hội vào đảng CSVN
Vào khoảng tháng 1 năm 1978, Thiếu úy S. (1) công an khu vực trường học đã mời tôi vào phòng sinh hoạt đoàn đội trường Phổ Thông Cơ Sở L.L, nguyên là một tư thục của dòng Lasan ở Saigon, nơi tôi đang dậy học và cho hay đảng bộ muốn tạo cơ hội cho tôi gia nhập đảng CSVN. Theo Thiếu úy S, sở dĩ tôi được chi bộ đảng nhà trường quan tâm bồi dưỡng để kết nạp vào đảng, là vì “ Đồng chí có lý lịch tốt, có năng lực, nhiệt tình trong công tác giảng dậy và sinh hoạt học đường và có ảnh hưởng quần chúng tốt…”. Nếu chấp nhận, sau khi được kết nạp vào đảng, tôi sẽ được tăng lương, biên chế vào Ban Giám Hiệu, sẽ được chọn công tác bất cứ trường học nào trong Thành phố, mọi nhu cầu tài chánh cho công tác của tôi sẽ được đáp ứng… Đây là điều hoàn toàn bất ngờ và tôi đã phải suy nghĩ rất nhanh để tìm cách trả lời sao cho không bị coi là “chưa dứt khoát tư tưởng” hay có tư tưởng “phản động”. Sau khi tỏ ra xúc động, cảm ơn về sự quan tâm của chi bộ đảng có lợi cho tương lai sự nghiệp cá nhân, tôi đã chối từ với lý do vốn không thích sinh hoạt đảng phái, vì cá tính thích tự do trong cuộc sống, sợ không tuân giữ được kỷ luật nghiêm minh của đảng.Tôi cũng bày tỏ là trước năm 1975, đã được Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ) mời, nhưng tôi đã chối từ, mặc dầu rất có cảm tình và lòng ngưỡng phục với đảng trưởng Nguyễn Thái Học, một anh hùng dân tộc. Tôi nói thêm, tất nhiên với đảng CSVN có khác, được vào đảng CSVN là một vinh dự lớn lao.Tôi cảm ơn chi bộ đảng đã quan tâm tạo điều kiện cho được vào đảng… Sau khi thuyết phục thêm thời gian, Thiếu úy S. nói là tôi không cần trả lời ngay,có thể suy nghĩ và trả lời sau một tuần lễ, kèm yêu cầu như một thử thách tư tưởng xem có dứt khoát về “lập trường giai cấp”, là làm một bản báo cáo những gì tôi biết về một giáo viên dậy Anh văn tên T.V.M, mà theo lời Thiếu úy S., giáo viên này bị nghi ngờ là người của CIA cài lại (mà theo tôi có lẽ chỉ vì giáo viên này thường hay có những phát biểu bộc trực, phê phán thẳng thừng những sai sót, tiêu cực trong nhà trường liên quan đến Ban Giám Hiệu và các viên chức đảng và nhà nước khác). Một tuần sau, tôi đã giữ im lặng, không trả lời và cũng không nộp bản báo cáo về giáo viên T.V.M. Bí thư Đoàn Đội nhà trường lúc đó là cô N.T.T gặp riêng khi tôi đang ngồi ở băng ghế đá trong sân trường, phàn nàn rằng “Thật không hiểu nổi, đúng ra anh phải là người thích hợp với xã hội chủ nghĩa chứ. Tại sao anh lại từ chối một cơ hội mà nhiều người phải phấn đấu lắm vẫn không được”. Tôi bình thản trả lời “ Ai nói tôi không thích hợp với xã hội chủ nghĩa? Không vào đảng CS đâu phải là không yêu XHCN. Mỗi người có ý thích riêng, tôi thích sông tự do thoải mái, không bị ràng buộc gì hết, thế thôi…”. Đối với Thiếu úy S. thì thay đổi hẳn thái độ, không còn vồn vã, tay bắt mặt mừng như trước đó, mỗi khi gặp mặt, mà nay tìm cách né tránh mỗi khi nhìn thấy tôi từ xa. - Vì sao tôi có cơ hội vào đảng CSVN?
Nếu căn cứ vào nhận xét, đánh giá cá nhân tôi của Thiếu úy S. thì tôi có cơ hội vào đảng CSVN là vì “ Đồng chí có lý lịch tốt, có năng lực, nhiệt tình trong công tác giảng dậy và sinh hoạt học đường và có ảnh hưởng quần chúng tốt…”. Tôi có lý lịch tốt, có lẽ là vì Cha tôi là Nguyễn Văn Tiến (1907-1960) từng tham gia kháng chiến chống Pháp từ những ngày đầu (1945), khi tôi còn trong bụng mẹ, cho đến năm 1954 mới bỏ về thành. Cha tôi lúc đó đang là công nhân cạo mủ, rồi phơi mủ ở nhà máy của đồn điền cao su đất đỏ Hớn quản, Quản lợi, Lộc Ninh, mặc dầu ông là một trí thức, một thầy tu xuất (Thầy giáo Tiến khi đến làm Thầy giảng nơi giáo xứ Bút Sơn, gặp mẹ tôi và đã xuất tu). Ông viết và nói thông thạo tiếng Pháp. Tôi được biết, trước khi làm công nhân đồn điền Cha tôi đã làm việc cho Phòng Nhì của Pháp ở Nam Định. Vì vào năm 1950 khi Cha tôi cho người thân tín (Chú Thủ) về quê ngoại tôi ở làng Bút Sơn, Huyện Kim Bảng, Tỉnh Hà Nam (vùng tự do của Việt Minh) để đón mẹ con tôi lên Hà nội (Vùng tề thuộc Pháp), Cha tôi đã đón từ Hà Nội, đưa mẹ con tôi về Nam Định ở phố Hàng Nồi. Khi đó tôi được 5 tuổi. Lần đầu tiên gặp mới biết cha mình là ai. Nhưng chỉ chung sống với cha khoảng 2 năm, tôi có thêm một đứa em trai tên Nguyễn Văn Lợi, thì dường như bị lộ vì Pháp phát hiện nằm vùng cho VM sao đó, nên Cha tôi đã bỏ Miền Bắc vào Miền Nam làm công nhân đồn điền cao su, hoạt động trong giới công nhân (1952) và bảo Mẹ tôi đem hai con về làng Bút Sơn quê ngoại để sinh sống. Em trai tôi đã chết ở đây vì sốt thương hàn, khi chưa đầy hai tuổi. Năm 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, Mẹ con tôi đã theo người em ruột của cha tôi (Chú Thất) đi lính quân đội quốc gia di cư vào Nam để tìm gặp lại cha tôi tại đồn điền cao su Hớn Quản, Quản Lợi. Mặc dù trước đó cha tôi viết thư về nói cứ ở nhà, Ông sẽ trở về Bắc, “vì nước nhà sắp độc lập”. Một người anh cô cậu ruột với mẹ tôi cũng làm ở đồn điền này (Ô Vũ Đức Kiệm), đã khuyên mẹ tôi tìm cách đưa ngay cha tôi ra khỏi nơi đây vì nguy hiểm lắm. Ông cho hay ‘mỗi khi có cuộc đình công, các công nhân đã phải đến nhà đêm ngày bảo vệ cho chú ấy…”. Sau đó, có lẽ nhờ những kinh nghiệm sống trong “vùng tự do” của Việt Minh khá lâu, đã cùng một số dân làng phải trốn chậy bằng đường rừng qua “Vùng Tề” của Pháp, mẹ tôi đã thuyết phục được cha tôi đồng ý ở lại Miền Nam, rời đồn điền cao-su đến sống tại trại di cư Bàu Trai thuộc tỉnh Long An. Trong thời gian này, một lần duy nhất có một người tên Hựu hay Xứng (Tôi không nhớ rõ) từ đồn điền cao su đến thăm ở chơi ít ngày khuyến dụ cha tôi “Anh trở lại trên ấy với chúng em.Chúng em rất cần anh” (có lẽ là người của đảng CSVN). Sau lần gặp gỡ này một thời gian ngắn sau đó (1955), cha tôi đã vội vã tìm đường đưa gia đình lên lập nghiệp ở một trại di cư dinh điền mới mở ở cao nguyên Trung phần Việt Nam, có tên là Chi Lăng, cách thị trấn Buônmêthuột khoảng 8 cây số. Dường như cha tôi muốn tránh xa sự lôi kéo của CS trở lại đồn điền cao su để sau đó tiếp tục hoạt động cho họ trong cuộc nội chiến Quốc-Cộng (1954-1975). Vì “tướng học trò” như lời mẹ tôi thường nói, không quen lao động làm ruộng rẫy cực khổ, ăn uống thiếu thốn, cha tôi đã chết vì bệnh lao phổi vào năm 1960 ở tuổi 53, khi tôi đang học lớp Đệ Lục (Lớp 7) tại trường công lập Buôn mê thuột. Như vậy là cuộc đời cha tôi đã chỉ sống chung với mẹ con tôi trước, sau tổng cộng khoảng 9 hay 10 năm. Sau khi cha mất, mẹ con tôi tiếp tục làm ruộng rẫy, gói bánh chưng bán làm kế sinh nhai.Bản thân tôi theo thời gian vừa làm vừa học, với đủ mọi nghề (kèm tư gia, chấm bài thuê, dậy tiểu học, rồi trung học,…) . Sau cùng đã tốt nghiệp cử nhân luật để trở thành luật sư trước ngày 30-4-1975. Vì là nghề tự do, hoãn dịch gia cảnh (một mẹ một con duy nhất của góa phụ), nên tôi không thuộc diện tập trung cải tạo. Sau 30-4-1975, tôi đã đến “đăng ký” xin dậy học và trở thành giáo viên tại Trường Phổ Thông Cơ Sở L.L. ở nội thành Saigon. Trong môi trường giáo dục này, tôi đã phát huy khả năng, sáng kiến viết kịch bản, đạo diễn thực hiện các hoạt cảnh phát động cao trào thi đua, học tập, sinh hoạt học đường qua 3 đợt chủ đề “Tổ Quốc Em Biết Mấy Tự Hào”, “Sao Tháng 10 Ngời Sáng” và “Vươn Tới Tầm Cao Đất Nước”. Một trong những hoạt cảnh này được chọn biểu diễn trước Nhà Hát Thành Phố HCM (Trụ sở Quốc Hội VNCH cũ) trong dịp phát động thi đua học tập toàn thành phố, có sự tham dự của Ông Võ Văn Kiệt là Bí Thư Thành Ủy lúc bấy giờ. Với thành quả sau cùng là Trường Phổ Thông Cơ Sơ L.L đã đạt danh hiệu “Trường Điểm” cho cả nước học tập. Có lẽ vì thế mà Thiếu Úy S. đã đánh giá tôi là người “có năng lực, nhiệt tình trong công tác giảng dạy và sinh hoạt học đường…”? Tôi lại được các giáo viên tín nhiệm bầu làm Thư Ký Hội Đồng Giáo Dục Nhà Trường có vai trò gạch nối giữa Ban Giám Hiệu và tập thể giáo viên nên được đánh giá là “có ảnh hưởng quần chúng tố” chăng? Tôi không được Thiếu úy S. cho biết ai là người đã giới thiệu tôi vào đảng CSVN, nên chỉ suy đoán có lẽ là chị Hiệu Trưởng Đ.N, có chồng tên L., bí danh Ba S. Lúc bấy giờ chị N. nói với tôi anh L. là Ủy viên dự khuyết Trung Ương đảng. Vì trước đó, họ đã có nhiều dấu hiệu quan tâm ưu ái đặc biệt, khuyến khích tôi theo hướng phấn đấu để được kết nạp vào đảng CSVN. Chẳng hạn có đôi lần chị Hiệu Trưởng mời tôi đến dùng cơm, giới thiệu với chồng tại nhà ở cư xá Ngân Hàng cũ trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (gần cầu Công Lý cũ). Có lần chị thăm dò tôi về tôn giáo xem tôi có còn giữ đạo Công giáo như ghi trong lý lịch. Tôi đã xác định “Đúng là theo đạo của cha mẹ, không sùng đạo, nhưng thiên về sống đạo, tôi vẫn giữ đạo đàng hoàng, ít khi bỏ lễ Chủ nhật và các ngày lễ buộc…” Khi đón nhận danh hiệu “Trường Điểm”, Chị đã ca ngợi hết lời và ghi công cho tôi rất nhiều và nói lên trước cuộc họp các giáo viên thành quả này có được do sự hợp tác làm việc ăn ý, hiệu quả giữa tôi và chị, bằng câu nói hữu thần, dù chị là đảng viên CS vô thần, rằng “Trời sinh ra Đ.N thì phải sinh ra Nguyễn Văn Thắng”. Mặc dầu tôi không phải là đảng viên CS, nhưng Chị phong cho chức Cố vấn Đoàn Đội nhà trường và yêu cầu Bí Thư đoàn đội nhà trường khi làm gì cần tham khảo ý kiến với tôi. Chị cũng cho tôi quyền sử dụng con dấu nhà trường khi cần không có chị ở văn phòng, nên anh chị em giáo viên gọi đùa tôi là Hiệu Phó thứ tư (ngoài 3 Hiệu phó chính thức theo biên chế)…. II - VÌ SAO TÔI TỪ CHỐI CƠ HỘI VÀO ĐẢNG CSVN 1 - Lý do từ chối giả tạo Lý do giả tạo tôi đưa ra để từ chối cơ hội vào đảng CSVN với Thiếu úy S. không phải vì cá tính thích tự do, không muốn bị ràng buộc; cũng như viết trong bản tự khai với chấp pháp (hỏi cung) sau khi bị bắt vì tham gia thành lập và hoạt động trong Mặt Trần Nhân Quyền Việt Nam, không phải vì Đảng đã kỳ thị, không tin tôi chỉ vì tôi là người Công giáo, nên tôi bất mãn, không vào đảng mà chống chế độ… 2 - Lý do từ chối thực sự Lý do từ chối thực sự cơ hội vào đảng CSVN, mà chống chế độ vì nhận thức tư tưởng cũng như kinh nghiệm thực tế cho tôi thấy rằng: Chủ nghĩa cộng sản là không tưởng, một lý tưởng có vẻ cao đẹp (xây dựng một xã hội không giai cấp, không người áp bức,bóc lột người…) nhưng chỉ là hoang tưởng không thể và không bao giờ thực hiện được.Vì chỉ cân suy luận đơn giản nhất, trong hàng ngũ chức sắc lãnh đạo ưu tuyển của các tôn giáo, không gia đình vợ con, cả đời tận hiến phục vụ tha nhân cho một lợi ích siêu nhiên, mà còn có nhiều người “tham sân, si” tha hóa, thì các cán bộ đảng viên CS vô thần có gia đình, thì làm sao có bản chất, nhân cách, lối sống vị tha quên mình “mình vì mọi người,khổ trước cái khổ của dân, vui sau cái vui của dân”, để thực hiện “một xã hội không giai cấp, không còn cảnh người áp bức, bóc lột người” như lý tưởng CS vẽ ra? Vả lại, lúc đó tôi thấy, động lực để người ta phấn đấu vào đảng hình như đa phần không phải vì lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa cộng sản mà vì lợi ích cá nhân; vào đảng để có ưu quyền. đặc lợi, để chia ghê chia phần trong bộ máy cầm quyền độc tài, độc tôn của đảng CSVN. Nhìn vào thực tế, qua kinh nghiệm thực hiện chủ nghĩa CS khởi đi từ Liên Xô cũ đến các nước khác trên thế giới, ai cũng thấy sự tàn ác, dã man, vô nhân đạo gây khổ lụy cho bao nhiều con người, đã phá hủy nền tảng đạo đức, luân lý xã hội, gây hậu quả nghiêm trọng, toàn diện, di hại lâu dài cho nhiều dân tộc, đất nước chỉ vì đã bị các đảng CS, trong đó có đảng CSVN, đem thử nghiệm chủ nghĩa không tưởng này. Tôi có được nhận thức và kinh nghiệm trên nhờ sống ở Miền Nam trong chế độ tự do, dân chủ pháp trị, dù còn phôi thai nhưng ai cũng có thể tự do tìm hiểu chủ nghĩa CS, biết được qua kinh nghiệm thực tế ở các nước CS qua nhiều tài liệu trong và ngoài nước. Đồng thời bản thân tôi lại còn có chút kinh nghiệm có được qua hầu hết tuổi thơ sống trong vùng “Tự do” do Việt Minh kiểm soát (tương tự vùng giải phóng của Việt cộng sau này ở Miền Nam). Đó là vào khoảng 1951-1952, với kinh nghiệm ấn tượng là tận mắt chứng kiến cảnh đấu tố dã man vợ con ông “Cai Đích” (đi lính cho Tây chỉ làm đến chức Cai, tứcTrung sĩ, dù lúc đó Ông đã chết) khi theo mẹ đi chợ ở làng Phù Thụy; và tận mắt thấy người ta trói Ông Bà Lý Quốc Chương (cha mẹ của Ls Lý Quốc Sỉnh sau này đã nhận tôi tập sự luật sư) ở Lạt Sơn, để cho dân chúng lấy thóc, hôi của gọi là “quân phân tài sản địa chủ chia cho người nghèo”. Cả hai làng Phù Thụy và Lạt Sơn đều sát gần làng Bút Sơn quê ngoại tôi, thuộc huyện Kim Bảng, tình Hà Nam, nên thời bấy giờ dân các làng này có thể đi bộ qua lại. Chính nhờ kiến thức, kinh nghiệm xa gần trên về cộng sản, đã là lý do thực sự để tôi từ chối cơ hội vào đảng CSVN và vì ngay khi có cơ hội này tôi đã, đang tham gia vào việc thành lập và hoạt động trong tổ chức Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam chống lại chế độ do đảng CSVN áp đặt. III - KIÊN ĐỊNH LẬP TRƯỜNG QUỐC GIA, DÂN TỘC, TRUNG THÀNH VỚI LÝ TƯỞNG TỰ DO, DÂN CHỦ Cha tôi, một trí thức như rất đông các nhà trí thức cùng thời, vì lòng yêu nước đã chấp nhận hy sinh hạnh phúc gia đình, chấp nhận hiểm nguy tham gia cuộc kháng chiến 9 năm (1945-1954) chống thực dân Pháp để giành độc lập cho Tổ Quốc; chứ không phải cướp chính quyền cho đảng CSVN thực hiện chủ nghĩa cộng sản trên đất nước ta, theo chỉ thị của cộng sản quốc tế. Sau khi cuộc kháng chiến chấm dứt, với Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, chính cha tôi cũng như nhiều người Việt quốc gia yêu nước khác, ai cũng nghĩ thế, nên viết thư về nói mẹ con tôi cứ ở lại Miền Bắc đợi ông “Tập kết” trở về,vì “nước nhà sắp độc lập” (!?!). Rất may có lẽ mẹ tôi đã dùng chính kinh nghiệm sống trong “vùng tự do” của Việt Minh, nên đã thuyết phục được cha tôi ở lại Miền Nam. Nhưng thái độ tôi nghĩ là tiêu cực khi cha tôi sau khi tìm cách xa lánh Việt cộng, lại đã không cộng tác với chính quyền quốc gia đem tài năng góp phần cải tạo một chế độ mà sau này trong men say ông thường kết án là một “xã hội thối nát, bất công” và chỉ biết tự hào với quá khứ kháng chiến chống Pháp, rằng “Ta làm cách mạng, ta không cần vợ cần con”. Tiếc rằng, cha tôi đã không sống đủ thời gian để thấy con mình, dù sống trong cái chế độ “Thối nát, bất công” ấy, nhưng với ý chí và nghị lực tự thân, nó đã có cơ hội nỗ lực phấn đấu vươn lên từ tầng đáy lến đến tầng cao của xã hội trong chế độ ấy. Nhưng nếu giả như tôi phải sống trong xã hội của chế độ Miền Bắc từ năm 1954 thì sao?- Chắc chắn con ông nếu không chết mất xác trên đường Trường Sơn để “giải phóng Miền Nam” thì vào năm 1975 tốt lắm con ông cũng chỉ mang quân hàm Trung úy quân đội CSBV, như người bạn của tôi thời thơ ấu tên Trạch ở làng Bút Sơn quê ngoại mà nó tìm gặp lại tôi ở Saigon những ngày, tháng đầu sau 30-4-1975. Số phận khác biệt này chính là do sự khác biệt giữa một xã hội trong một chế độ độc tài toàn trị do đảng CSVN áp đặt ở Miền Bắc sau năm 1954; với một xã hội trong một chế độ dân chủ pháp trị ở Miền Nam do sự lựa chọn tự do của người dân Miền Nam, thông qua một cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955, sau Hiệp Định Gènève 1954 chia đôi đất nước . Vì vậy, đó là tất cả những lý do tổng quát mà tôi đã từ chối cơ hội vào đảng CSVN với nhiều ưu quyền, đặc lợi, để chọn con đường chống chế độ dù phải vào tù. Có lẽ nhờ “lý lịch tốt”, được “chiếu cố” nên tôi chỉ bị chế độ cho án tù tập trung cải tạo 3 năm, thay vì 10 năm nếu bị đưa ra xét xử làm vụ án “phản động” điển hình, như cán bộ Đội trưởng đội chấp pháp vụ án Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam, là Tr. A. Nh.. nói với tôi khi kết thúc điều tra xét hỏi vụ án; hay vì “Tội anh lớn lắm” như lời Thiếu Úy Thùy Trưởng khu C.2 nhà tù số 4 Phan Đăng Lưu nói với tôi trước cửa phòng biệt giam số 6 trong một lần tôi mới đi làm việc (hỏi cung) trở về biệt giam . Nhưng 3 năm hay 30 năm tù “tập trung cải tạo” hay hơn nữa cũng thế thôi, cũng không thể “Cải tạo” được tôi đâu. Tôi thấy mình rất may mắn được sống ở Miền Nam hơn 20 năm dưới bóng Cờ Vàng, biểu tượng của quốc gia dân tộc, của lý tưởng tự do dân chủ. Và tôi cũng rất tự hào là đã có một quyết định lựa chọn đúng khi “Từ chối cơ hội vào đảng CSVN”, phù hợp với lập trường kiên định Quốc gia, Dân tộc, Dân chủ, để tiếp tục, bằng mọi phương cách, cùng toàn dân Việt Nam đấu tranh cho đến khi thành đạt mục tiêu tối hậu là dân chủ hóa Việt nam, tạo tiền đề thuận lợi để phát triển toàn diện đất nước đến phú cường, văn minh, tiến bộ theo kịp đà tiến hóa chung của thời đại. Thiện Ý Houston, ngày 28-1-2017 GHI CHÚ: (1) Thiếu úy S. công an khu vực nhà trường (1978) đã là Trung tá Trưởng Công An một quận nội thành Saigon vào năm 1992. Sở dĩ tôi biết được cấp bậc này là vì trước khi gia đình rời Việt Nam đi định cư tại Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ, tôi đến chào tạm biệt người bạn thân mà tôi đã có bài viết vào dịp Tết năm nào, nhan đề “Thư xuân viết về và viết cho người bạn thân, một đảng viên CS chân chính” được đài VOA cho đăng tải cách nay vài năm. Trước khi chia tay tôi có nói đùa một câu “Nếu ngày ấy không từ chối cơ hội vào đảng thì giờ này tôi làm gì ở đâu ha…”. Người bạn không trả lời vào câu hỏi, mà chỉ nói “Đồng chí ấy (Thiếu úy S.) bây giờ đã là Trung tá Trưởng công an Quận X …” |