Loại bỏ ảnh hưởng mê tín của TQ: Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề nghị bỏ tục đốt vàng mã
22.02.2018 03:42
22/02/2018 10:51 GMT+7 TTO - Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam vừa có công văn đề nghị các Phật tử loại bỏ tục đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo.
Người dân đốt vàng mã tại một chùa ở Bình Dương - Ảnh: Tiến Thành
Công văn số 31 của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Thanh Nhiễu, phó chủ tịch thường trực Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ký.
Công văn đề nghị Ban thường trực Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hướng dẫn chư tôn tăng ni trụ trị các tự viện (bao gồm: chùa, tổ đình, tịnh xá, thiền viện, tu viện, tịnh viện, tịnh thất, niệm phật đường) nhất là các tự viện là di tích lịch sử - văn hoá tổ chức lễ hội mang tính văn minh, tiết kiệm, không phô trương hình thức, phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, văn hoá Phật giáo.
"Đề nghị chư tôn đức tăng ni nêu cao tinh thần Bồ tát đạo, hướng dẫn đồng bào Phật tử và bà con loại bỏ mê tín dị đoan, đốt vàng mã tại các cơ sở thờ tự Phật giáo và các hình thức khác trái với thuần phong mỹ tục, văn hóa dân tộc và văn hóa Phật giáo Việt Nam", công văn của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nêu rõ.
Công văn cũng nhấn mạnh, trong các bài giảng tại các tự viện cần chú trọng việc gìn giữ nét đẹp văn hoá truyền thống, thuần phong mỹ tục trong các lễ hội, lan toả giá trị từ bi, lòng bao dung, tôn trọng sự khác biệt của các cộng đồng tín ngưỡng, tôn giáo bạn.
Theo Hòa thượng Tố Liên viết trên trang web chính thức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với quan niệm thông thường, sau cái chết, con người cũng có một đời sống, cũng có các nhu cầu như khi đang ở dương thế.
Một số người vì quá thương tiếc người thân đã mất, sắm đủ thứ vàng mã để đốt cúng nhân ngày giỗ hoặc các dịp lễ để người ở đã chết sử dụng ở cõi âm.
Việc làm đó đôi khi thái quá, người ta có thể sắm vàng mã với hình dáng nhà lầu, xe hơi, máy lạnh, điện thoại di động, tiền mô phỏng đô- la Mỹ… để cúng cho người đã chết.
Hòa thượng Tố Liên khẳng định Đức Phật Thích Ca không hề dạy đốt vàng mã để cúng gia tiên.
"Tại sao ngày Rằm tháng Bảy là ngày lễ trọng thể của Phật giáo mà thấy một số tín đồ nhà Phật đốt rất nhiều vàng mã để cúng gia tiên. Xin hỏi giới trí thức Việt Nam hiện tại tìm thấy Phật giáo và Nho giáo dạy về thuyết đốt vàng mã ở kinh sách nào?" - Hòa thượng Tố Liên đặt câu hỏi.
ĐỐT VÀNG MÃ MỘT THÓI TỤC MÊ TÍN CẦN HUỶ BỎ Hoàng Liên Tâm
Trong một dịp đi hành hương các chùa nhân dịp đầu năm, chúng tôi có cơ hội chứng kiến việc đốt vàng mã để cúng lễ tại các chùa đền khắp nước Việt Nam, điển hình, tại lễ hội chùa Hương cảnh hai lò đốt vàng mã đặt tại chùa Thiên Trù và Động Hương Tíchhoạt động không ngừng nghỉ, đốt suốt ngày đêm mà không đáp ứng kịp nhu cầu của người hành lễ. Nay trong một dịp dự tang lễ người thân quen tại một nhà quàn ở thành phố Westminster Hoa Kỳ, chúng tôi cũng chứng kiến việc đốt vàng mã cúng tế người quá vãng. Thật không ngờ tục lệ này lại có thể được thực hiện nơi một xứ được gọi là văn minhtiên tiếnnhất thế giới hiện nay. Sau khi tìm hiểu, chúng tôi được cho biết là ngay trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ và một vài nước khác trên thế giới, vẫn còn việc đốt sớ và vàng mã cho những người đã khuất nhân dịp họ cúng giỗ và cầu siêu tại gia đình hay tại một số chùa.
Vì có một số ít Phật tử cho rằng đốt vàng mã cúng người chết giúp cho người sống được an tâm, nên trong bài viết này, chúng tôi xin trình bày về nguồn gốc của tục lệ đốt vàng mã và quan điểm của nhà Phật về việc này.
Thật ra, tục lệ đốt vàng mã đã có từ lâu đời, đã bén rễ và ăn sâu vàotâm thức của người dân Việt Nam. Nhiều người cho tục lệ đó là một trong những nét đẹp văn hoá của phong tục thờ cúng tổ tiên. Trong bất cứ dịp lễ nào, từ ngày rằm, mùng một hàng tháng đến ngày Tết, ngày hoá vàng, ngày cúng giỗtổ tiênông bà hay dọn nhà, giải hạn, lập bàn thờ, bốc bát hương... đều phải có ít nhất vài bó vàng tiền để đốt như là một sự gửi gắm và chăm lo cho những người đã khuất có một cuộc sống sung túc ở cõi âm, hoặc mong được thứ lỗi, hay có được sự thanh thản trong tâm hồn. Với suy nghĩ, càng mua nhiều đồ hàng mã càng tốt, đồ càng đắt tiền càng có nhiều lộc và càng được bình an, người ta không ngần ngạilấy tiền thật để đổi lấy tiền giả là những tờ giấy xanh đỏ hay những vật dụng bằng giấy mầu.
Hiện nay tại Việt Nam, tục lệ đốt vàng mã đã và đang phát triển mạnh, không còn ở trong phạm vicúng giỗ ở gia đình và chùa đền mà còn lan sang các công ty xí nghiệp, các cơ quan công quyền quốc doanh, trở thành một nghi thức mới không thể thiếu của các công ty xây dựng cầu đường và các công trình thủy điện, trong các buổi lễ động thổ, khởi công các công trình do nhà nước giao phó. Theo thống kê cho biết khoảng 50.000 tấn vàng mã được sử dụng trong một năm và riêng tại Hà Nội đã tiêu thụ trên 400 tỉ đồng cho việc đốt vàng mã (năm 2003). Tại tiểu bang California và Texas, nơi có đông người Việt cư ngụ, không có con số thống kê nhưng tất cả các siêu thị Việt Nam và Trung Hoa đều bày bán vàng mã, chứng tỏ có nhu cầu tiêu thụ.
Trong nước, đã có nhiều vị Sư kêu gọi bà con nên bỏ thói tục mê tín này. Một vị Hoà Thượng lớn ở tỉnh Lâm Đồng Đà Lạt cho biếtlỗi lầmmê tín này là do quý Sư không giáo dục Tăng NiPhật tử. Gần đây, một vị Hoà Thượng lớn khác tại Hà Nội cũng lên tiếngchỉ trích việc đốt vàng mã. Sư cho biết “nhiều người lúc cha mẹ còn sống thì ngược đãi, đánh đập. Thế mà đến ngày lễ Vu Lan thì những người con ấy lại đốt vàng mã thật nhiều để báo hiếucha mẹ. Hành vingược đãi cha mẹ, luật pháp cũng không dung tha, Phật cũng không chấp nhận lễ của những đứa con bất hiếu đó. Phật dạy, con cái phải thờ phụngcha mẹ, nuôi dưỡngcha mẹ lúc già yếu. Không nên biến ngày lễ Vu Lantrở thành ngày mê tín dị đoan, lãng phí.”
Trong khi đó, cũng trong địa bàn Hà Nội, có một vị Sư trụ trì một ngôi chùa ở ngoại ô Hà Nội, từng du học ở Trung Quốc với học hàm Tiến sĩ, khi được hỏi về việc này lại cho biết “… Hết thảy mọi pháp đều là Phật pháp. Nếu chúng tanhận thức được thì việc đó (việc đốt vàng mã) cũng không hề sai. Khi tâm mình chưa thanh thản thì cũng nên làm bất cứ một điều gì (như đốt vàng mã) để cho tâm được thanh thản. Khi đó, việc học đạo, làm việc đều thành tựu. Nếu cứ chấp trước cái này là của Phật pháp, cái kia không phải thì sẽ sinh tâm phân biệt như vậy càng xa với Phật pháp.”
Chúng tôi rất ngạc nhiên khi nghe lời dạy này từ một vị tu sĩPhật giáo. Câu nói: “Tất cả các pháp đều là Phật pháp” chỉ là một nửa câu, nửa câu sau là: “Phật pháp là pháp bất nhị”. Toàn cả câu là: “Tất cả các pháp đều là Phật pháp, Phật pháp là pháp bất nhị” cốt để hiển thịtính chất bao hàm của “Tự Tánh bất nhị” đối với toàn thểthế giớihiện tượngtương đối. Nếu hiểu lầm rằng “tất cả các pháp đều là Phật pháp”, cho nên bất cứ chuyện hay, dở gì trong thế gian cũng đều như nhau, đều có thể làm được, không phân biệt tốt, xấu, vì đều “là Phật pháp”, thì không đúng rồi.
Bất Nhị là cảnh giớiChân Tâmtuyệt đối. Nói về đời sốngnhị biên, tương đối, thì Đức Phật đã dạy rằng “Không làm điều xấu, ác và siêng làm điều thiện, lành”. Người học Phật cần biết cái gì là xấu, ác, để tránh và cái gì là thiện, lành, để làm. Không thể nói rằng: “Nếu cứ chấp trước cái này là của Phật pháp, cái kia không phải thì sẽ sinh tâm phân biệt như vậy càng xa với Phật pháp”. Không phân biệtđược thiện và ác thì làm sao mà tu hành để chuyển nghiệp xấu, ác thành thiện, lành được ?
***
Kinh Phật dạy con cái phải tận hiếu với cha mẹ khi các người còn sống, và cho là sau khi chếtmột thời gian ngắn, Thần Thức đã theo nghiệp thiện hoặc ác mà đi đầu thai vào một đời sống mới. Thần Thức cũng không thể ở trong cái nhà hoặc dùng đồ đạc bằng giấy tùy theoý kiến của nhà sản xuất vàng mã chế ra.
Sự kiện đốt vàng mã chỉ tạo nên ảo tưởng, hoặc sự khoe khoang về báo hiếu. Ngoài ra, nó còn có thể khiến cho những người con bất hiếu tha hồ xử tệ với cha mẹ khi các người còn sống, thí dụ tống cha mẹ ra ở góc vườn với ý nghĩ: “Ui da, mai mốt ông bà ấy chết ta đốt cho họ cái lâu đài đầy đồ đạc, xe cộ ê hề, tiền bạc vài trăm tỷ, cho tha hồ mà ăn ở, tiêu xài rộng rãi, sướng nhé”.
Đã thế, sự kiệnbáo hiếu bằng vàng mã sẽ có thể khiến cho những người mê tín thi đua nhau, ai nhà nghèo không đốt được lâu đài cho cha mẹ thì lại tủi thân : “Tội nghiệpcha mẹ mình, sống đã phải ở chui rúc, chết cũng không có được cái nhà cao cửa rộng”. Thế là lại vay công mượn nợ để đốt cho cha mẹcái building, xe Mercedes, vài ngàn thỏi vàng hồ, cho hồn ma cha mẹ vênh vang với các ma hàng xóm và mình thì cũng nở mày nở mặt với bà con.
Như vậy, chúng ta cũng nên xét lại vấn đề đem tiền thật mua những đồ vàng mã như nhà cửa, xe cộ, tiền bạc giả và các vật dụng trong gia đìnhhoàn toàn bằng giấy rồi đem đốt đi nhằm mục đích để ông bà và người thân nơi âm phủ có đủ vật dụng để tiêu dùng.
Theo sử sách của người Trung Hoa, tục đốt vàng mã bắt đầu từ thời nhà Hán. Nguyên do vì nhà vua muốn thực hành lời dạy của Đức Khổng Tử: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, nghĩa là thờ người chết như thờ người sống, thờ người mất như thờ người còn và cho rằng người mất sống nơi cõi âm vẫn có những nhu cầu như kẻ còn sống như tiền bạc, nhà cửa, thực phẩm v.v... Nên khi nhà vua băng hà, phải bỏ tiền bạc thật vào trong áo quan để vua tiêu dùng. Sau đó quan bắt chước vua và rồi dân bắt chước quan. Ai cũng chôn tiền thật theo người chết. Bọn trộm cướp biết vậy nên đào trộm mồ những người giầu có, như mộ vua Hán Văn Đế bị quân trộm khai quật lấy hết vàng bạcchâu báu. Về sau từ quan đến dân thấy việc chôn tiền bạc thật quá tốn kém nên mới nảy sinh ra dùng giấy cắt ra làm tiền giả, vàng giả để thay thế. Dần dà người dân bắt chước và trở thành tập tục. Đến năm Khai Nguyên thứ 26 (738 DL), đời Đường Huyền Tông, nhà vua ra sắc dụ cho phép dùng tiền giấy thay cho tiền thật trong việc cúng tế cầu siêu do quan tế tự Vương Du phụ trách. Việc sử dụng vàng mã chính thức bắt đầu từ đấy.
Không bao lâu, dân chúng chán bỏ vì thấy việc đốt vàng mã không hiệu nghiệm, họ đốt đủ thứ cần dùngđể người quá cốtiêu dùng mà không thấy được báo mộng hay có một hiện tượng gì chứng tỏ người chết được hưởng dụng, nhất là đối với những người nghèo không đủ tiền mua sắm đồ mã nên họ bảo nhau không đốt nữa, thế là nghề làm đồ mã bị ế ẩm. Sách Trực Ngôn Cảnh Giác của Trung Hoa kể lại rằng Vương Luân là dòng dõi của Vương Du, vì không muốn nghề nghiệp gia truyền làm vàng mã bịmai một, nên cố gắnghết sức để chấn hưng nghề làm đồ mã, bèn lập mưu với người bạn thân, lên kế hoạchbí mật chết giả, bằng cách để người bạn thân đó giả vờ đau ốm cho mọi người biết, khoảng vài ngày sau Vương Luân loan tin người bạn thân đã qua đời, sau đó khâm liệm bỏ vào quan tài chờ ngày an táng. Nhưng sự thật thì người bạn của Vương Luân vẫn còn sống, tuy ở trong quan tài nhưng vẫn cólỗ trống ở dưới đáy để thở và đưa thức ăn vào. Đến ngày đưa đám tang, trong khi lễ nhạc linh đình, phúng điếu rộn rịp, Vương Luân đem giấy tiền vàng mã và những đồ dùng bằng giấy như nhà cửa, áo quần và hình nhân thế mạng, đích thân làm lễ cúng tế để cầu nguyện cho người bạn thân. Sau đó ông ta đốt hết giấy tiền vàng mã và hình nhân thế mạng.
Khi đốt xong thì quan tài tự nhiênrung động, ai nấy đều mục kíchrõ ràng, vội cùng nhau mở nắp quan tài ra. Người bạn thân của Vương Luân quả nhiên sống lại, đến trước mặt Vương Luân phủ phục xuống đất cảm tạ và thuật lại cho mọi người nghe rằng chư vị thần dưới âm đã nhận được vàng mã và hình nhân thế mạng nên thả hồn ông ta trở vềcõi trần, nên ông ta mới được sống lại.
Mọi người đều tin là thật và tin tức được loan truyền rộng rãi trong dân gian, nên đồ mã của Vương Luân sau đó lại được hưng thịnh như xưa. Nhờ thế các nhà buôn đồ mã lại làm giầu một cách nhanh chóng và phổ biến sang các nước chư hầu để tiêu thụ, trong đó có Việt Nam. Sau này do sự cạnh tranhnghề nghiệp, nên người bạn thân đã tiết lộ mưu kế gian xảo của Vương Luân và vì thế ngày nay chúng ta mới biết lai lịch việc này.
Tục lệ đốt vàng mã này ảnh hưởng sâu đậm vào nước ta, từ vua chúa đến thứ dân. Vụ đốt vàng mã lớn nhất Việt Nam vào đầu thế kỷ 20 là trong đám tang của Vua Khải Định, băng hà vào ngày 25 tháng 11, năm 1925, triều đình Huế đã làm nguyên cả ngôi điện Kiến Trung bằng giấy thật lớn vànhiều loại đồ dùng của vua như ngự liễn, long xa, tàn kiệu, v.v... để đốt theo vua.
"Con xin cúng ông bà chiếc xe ô tô này để ông bà dùng" (ảnh Reuters chụp tại Hà Nội )
Ngày nay, dưới ánh sáng văn minh, ai cũng biết người chết không thể nào tiêu xài số tiền vàng và các thứ cần dùng chôn theo ấy. Như có người ở Hà Nội cúng người chết cả máy điện thoại Nokia cầm tay bằng giấy, Honda Dream bằng giấy và máy vi tính bằng giấy nữa. Khi còn sống không hiểu người chết ấy có biết sử dụng máy vi tính, điện thoại cầm tay hay xe Honda không? Xin kính gửi tới quý vị đoạn phóng sự viết vào thời gian ngày Vu Lan vừa qua tại Hà Nội:
“Tại phố Hàng Mã, điểm "phân phối" hàng mã cho những người bán rong trên các đường phố luôn đông nghịt người mua sắm, bộ cúng thần linh rẻ nhất cũng 15.000 đồng, cúng chúng sinh giá tương tự. Chúng tôichen chân hỏi mua đồ cúng với giá "bình dân" đã không được các chủ hàng bán. Tôi chứng kiến một phụ nữtrung niên cùng cô con gái đến mua nhà lầu, xe hơi, điện thoại di động, tivi, xe máy, quần áo, tiền dollars Mỹ. Họ còn mua thêm một cô gái bằng giấy như búp bê, mang giày cao gót, mặc váy ngắn, áo lửng. Khi bà mẹ cầm "cô gái" trong tay thì cô con gái cầm ngay chiếc kéo nhỏ đâm lia lịa vào mặt hình nhân thế mạng. Giải thích cho những người hiếu kỳxung quanhvề việc làm kỳ quặc của cô con gái, người phụ nữ trung niên nói: "Bố cháu làm tổng giám đốc, nay xuống dưới ấy cũng phải gửi cho ông ấy cô thư ký, nhưng phải làm cho nó xấu xí để khỏi trở thành bồ của bố cháu".
Theo sự nghiên cứu, chúng tôikhông hề thấy có việc đốt vàng mã cúng tế người chết được ghi trong tam tạng kinh điển của nhà Phật. Đạo Phậthoàn toànbác bỏ tục lệ mê tín này.Quan niệmsống chết đối với Phật Giáo chỉ là hai mắt xích trong một chuỗi sinh tử dài vô tận, từ vô thủy, cho tới ngày giải thoáttối hậu, con người đạt tới cảnh giớibất tử. Do đó, Phật giáo không có khái niệm về một nơi chốn dành riêng cho những người đã chết, mà dân gian thường hay gọi là cõi âm hay là âm phủ. Có thể đây là những từ ngữ của tín ngưỡng dân gian.
Hoà Thượng Thích Thánh Nghiêm, trong một bài giảng Phật Pháp, nói rằng:
“Rất đáng tiếc là hiện nay, đa sốtăng ni cũng không hiểu đạo lý ấy, thậm chí Phật tử ở Trung Hoa lục địa sang Đài Loancòn phát minh ra loại tiền giấy đặc biệt gọi là "tiền giấy vãng sinh", tức là trên một tờ giấy màu vàng, dùng mực đỏ in bài chú vãng sinh bằng chữ Phạn. Thực ra, công dụngtụng chú và tác dụng đốt tiền giấy là hai chuyện căn bản khác nhau…” Hơn nữa, các tăng nitụng kinh, lễ sám, cầu đảo v.v…đều có viết sớ. Đọc sớ xong rồi đốt sớ đi. Đó là bắt chước đạo gia đọc sớ cho quỷ thần nghe, đó là mê tín, hoàn toàn không có căn cứ gì trong giáo lýđạo Phật cả. Trong mọi việc, Phật giáo đều chủ trương lấy tâm thành kính để có cảm ứng. Đã đạt tới chỗ tâm thành và cảm ứng rồi, là có linh nghiệm, chứ không cần phải đốt lá sớ.”
Nếu cho rằng việc đốt vàng mã làm người sống cảm thấy trong lòng thanh thản hơn, an lạc hơn, thì chỉ là một cách nói, một cách đánh lừatâm thức, nếu có chăng chỉ là an lạc tạm thời như người dùng thuốc phiện. Muốn tâm thảnh thơian lạc, không có gì hay hơn là trong cuộc sống hàng ngày chúng tathực hiệnlời Phật dạy:
Không làm điều xấu, ác Siêng làm điều thiện, lành Tự thanh tịnh tâm ý
Còn chuyện hoang đường như đốt vàng mã, thì ngoài việc đã làmtổn hại tài nguyên, còn mâu thuẫn cả về mặt tâm tư. Trong khi chúng tacầu nguyện cho người thân quá vãng được tái sanh vào cõi an lành, như sanh cõi trời hay cõi người hay về cảnh giớiTây phương cực lạc hay một cảnh giớithanh tịnh nào đó mà lại đi đốt giấy tiền vàng mã và đồ dùng bằng giấy xuống âm phủ cho người thân tiêu dùng trong các lễ tang, lễ giỗ, thì như vậy có phải chúng ta cầu cho người thân ở mãi cảnh giớiâm utối tăm đó để xài tiền ma, đồ dùng ma hay sao. Thậm chí có người, khi đốt xong còn lo lắng không biết người thân có nhận được không? …
Hoàng Liên Tâm (Nguồn: http://old.thuvienhoasen.org)
Đốt vàng mã: Giáo lý đạo Phật không dạy thế! Trong giáo lý Phật giáo không có quy định đốt vàng mã.
Đốt nhiều vàng mã trong Lễ vu lan và Xá tội vong nhân đã trở thành tập tục truyền đời. Tuy nhiên, theo các chuyên gia nghiên cứu Phật học, các tôn túc trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam thì trong giáo lý Phật giáo không có quy định đốt vàng mã. Quý vị tôn túc cho rằng, “Âm - dương là hai thế giới hoàn toàn khác nhau không thể cảm ứng được... Người phàm trần chỉ cần ăn chay, niệm Phật để tưởng nhớ”...
“Hán Văn Đế mất vàng” hay “nàng Tuệ Nương bán giấy”?
Cổ tục đốt vàng mã của người dân rất khó bỏ một sớm một chiều. Ảnh: Mai Hạnh
Chuyện xưa kể rằng, đốt vàng mã là một tục lệ dân gian, xuất phát từ thời nhà Hán (Trung Quốc). Do nhà vua muốn thực hành lời dạy của Đức Khổng Tử: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, nghĩa là thờ người chết như thờ người sống, thờ người mất như thờ người còn. Vậy nên khi nhà vua băng hà, chúng thần và hậu cung đã phải bỏ tiền bạc thật vào trong áo quan để vua tiêu dùng.
Sau đó quan bắt chước vua, dân bắt chước quan. Ai cũng chôn tiền thật theo người chết thành một tục lệ. Bọn trộm cướp biết vậy nên đào trộm mồ những người giầu có, như mộ vua Hán Văn Đế bị trộm khai quật lấy hết vàng bạc châu báu. Về sau từ quan đến dân thấy việc chôn tiền bạc thật quá tốn kém nên mới nảy sinh ra dùng giấy cắt ra làm tiền giả, vàng giả để thay thế. Chuyện đốt tiền giấy (vàng mã) ra đời từ đó và trở thành tập tục. Tập tục này được du nhập vào Việt Nam theo những người Trung Hoa.
TS Nguyễn Mạnh Cường, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, cho rằng: “Việc đốt vàng mã là do ảnh hưởng của người Trung Hoa. Tích kể rằng: Vào đời Hán có đôi vợ chồng là Thái Mạc và Tuệ Nương học nghề làm giấy chưa thạo đã về quê mở xưởng. Giấy làm ra xấu và khó viết chữ nên bị ế không bán được. Tuệ Nương bèn giả chết để thực hiện phương kế bán giấy. Ngày thứ 3, trước khi đi chôn, Thái Mạc đem một ôm giấy ra đốt bên cạnh quan tài vợ. Sau khi Thái Mạc đốt giấy xong thì Tuệ Nương ở trong quan tài kêu to gọi chồng, đẩy nắp quan tài bước ra hát rằng: “Dương gian tiền năng hành tứ hải. Âm gian chỉ tại tố mãi mại. Bất thị trượng phu bả chỉ thiêu. Thùy khẳng phóng ngã hồi gia lai”.
Nghĩa là: “Trên dương gian đồng tiền có thể làm được mọi việc ở mọi nơi, dưới âm phủ giấy cũng có thể dùng để mua bán. Nếu không phải chồng đốt cho giấy thì ai lại cho tôi quay về dương gian”. Nói rồi lại mang thêm 2 bó giấy nữa để đốt. Những người chứng kiến đều tin là đốt giấy thành tiền cho người âm phủ rất có lợi nên ai nấy đều về nhà lấy tiền đến nhà Thái Mạc mua giấy về đốt. “Tin lành” đồn xa, người các nơi tranh nhau đến nhà Thái Mạc mua giấy. Không đến 2 ngày, bao nhiêu giấy ế của hai vợ chồng Tuệ Nương đã hết sạch”.
Với tích truyện này, TS Nguyễn Mạnh Cường hy vọng bạn đọc sẽ có suy nghĩ đúng đắn về việc đốt vàng mã. Trước khi đốt vàng mã, mỗi người cần suy nghĩ thật kỹ xem tác dụng thực của việc “hoá vàng” đến đâu. Đã là tập tục thì khó bỏ, chỉ trừ có sự đồng thuận của mọi người trong xã hội.
Không thành tâm, làm gì cũng vô ích
Chúng tôi đem chuyện nhà nhà mua vàng mã, người người đốt vàng mã cho người chết, hỏi các bậc cao tăng Phật giáo để biết rõ hơn việc này. Thượng tọa Thích Thanh Duệ, Phó Trưởng ban Nghi lễ Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam khẳng định: “Trong giáo lý nhà Phật không có việc đốt vàng mã cúng tế người chết. Quan điểm của đạo Phật hoàn toàn bác bỏ tục lệ mê tín này. Phật giáo chỉ khuyên trong ngày Lễ vu lan (báo hiếu cha mẹ) thì nên ăn chay niệm Phật để tưởng nhớ. Và làm Lễ xá tội vong nhân (cúng chúng sinh) – cúng những vong hồn lưu lạc một mâm cỗ chay để bố thí siêu sinh. Đồng thời, giúp đỡ những người nghèo khổ chốn trần gian, ăn chay niệm Phật và phóng sinh tích đức để siêu độ vong linh”.
Còn Thượng toạ Thích Thanh Nhã, trụ trì chùa Trấn Quốc (Hà Nội) cũng khẳng định với PV Báo GĐ&XH rằng, kinh Phật không dạy đốt vàng mã cho người quá cố. Bản thân trụ trì cũng thường xuyên nhắc nhở Phật tử nên hạn chế đốt vàng mã. Theo ông thì nên dùng tiền mua vàng mã đốt để làm việc thiện cho đời sẽ tốt hơn rất nhiều.
Đại đức Thích Thiện Hạnh, trụ trì chùa Vinh Phúc (thôn Quang Độ, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh) cũng cho rằng, việc đốt vàng mã là mê tín dị đoan và sai hoàn toàn. Đại đức Thích Thiện Hạnh giải thích: “Chúng ta vẫn có câu: Dương sao âm vậy. Nhưng vàng mã của chúng ta về dưới đó có tiêu được không? Quần áo chúng ta đốt về có vừa với kích cỡ của ông bà chúng ta nữa không? Xe cộ, đồ dùng... có được gửi đúng địa chỉ không? Thành thực trả lời những câu hỏi đó cũng đủ thấy đốt vàng mã là mê tín dị đoan, không hề phù hợp hay có cơ sở. Nếu cha mẹ cõi âm chỉ mong chờ ngày này để được miếng cơm, manh áo, căn nhà... thì những tháng ngày còn lại, tổ tiên ông bà, cha mẹ ăn, mặc, ngủ, nghỉ ở đâu?
Chúng ta vẫn thường nói “Dương thịnh âm siêu”. Người dương biết làm phúc, để người âm siêu thoát. Tôi nghĩ, chúng ta nên lên chùa, thành tâm cầu nguyện hồi hướng tâm đức. Nếu có tiền để mua sắm vàng mã đốt cho cha mẹ, thì nên dùng tiền đó để chia sẻ cho những người nghèo khó. Bởi “Cứu một người dương gian bằng ngàn người âm phủ”. Còn cầu nguyện, chỉ cần tấm lòng thành, nếu không thành tâm thì làm gì cũng vô ích”.
Cổ tục đốt vàng mã đã có từ lâu đời, ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt Nam nên rất khó từ bỏ trong một sớm một chiều. Thậm chí, nhiều người coi đó là một trong những nét văn hoá của phong tục thờ cúng gia tiên. Nhưng sau khi biết rõ tích của việc đốt vàng mã, người dân liệu có nên gây những lãng phí như các cao tăng nói?
Theo thống kê chưa đầy đủ, mỗi năm cả nước đốt hơn 40.000 tấn vàng mã, riêng tại Hà Nội tiêu thụ trên 400 tỷ đồng cho phong tục này. Đây là hành động mê tín quá hoang phí.
Thượng tọa Thích Thanh Duệ tỏ ra gay gắt khi cho rằng: "Đốt vàng mã một cách hoang phí là việc làm mà cả người sống lẫn người chết đều có tội. Bởi lẽ, việc người sống vung phí tiền bạc, mua vàng mã, làm lễ to lễ nhỏ, sát sinh gà lợn là có tội. Vì người chết mà người sống hoang phí, sát sinh, nên người chết cũng có tội. Tại chùa Quán Sứ chúng tôi, những người rước vong vào chùa chỉ được đốt một bộ quần áo sứ giả, không có bộ thứ hai".
Mai Hạnh - Võ Thu (giađình.net)
Đốt vàng mã là hủ tục nguồn gốc từ Trung Quốc
Đốt vàng mã không phải là quan niệm của Đạo Phật. Mặc dù báo chí đã không ít lần đề cập đến vấn đề mê tín khi đốt vàng mã nhưng hiện nay tục đốt vàng mã vẫn diễn ra rầm rộ. Minh chứng rõ ràng nhất là ngày 27/7, vì đốt vàng mã với số lượng quá nhiều mà một gia đình ở phố Kim Mã (Hà Nội) đã vô tình làm cháy rụi ngôi nhà 4 tầng...
Theo các nhà nghiên cứu Phật giáo, tục đốt vàng mã không phải là quan niệm của đạo Phật. Nhìn lại quá khứ, tục đốt, rải vàng mã không phải là của người Việt Nam, mà có nguồn gốc từ Trung Hoa.
Dân tộc ta trải qua hằng ngàn năm bị lệ thuộc Trung Hoa nên nhiều tập tục của họ đã lây nhiễm sang ta một cách đương nhiên, bất kể là chuyện tốt hay chuyện xấu. Tục đốt vàng mã cũng từ đó mà có. Họ vừa truyền bá tập tục để mong đồng hóa được dân tộc ta, vừa có mục đích kinh doanh kiếm lợi.
Kinh dịch Nho giáo cho biết về thời thượng cổ người chết cứ để vậy đem chôn, không biết đến phần mộ, quan quách. Trải qua các triều đại, việc chôn cất và mai táng người chết có nhiều hình thức. Đáng kể nhất là đời nhà Chu (1.122 trước Tây lịch) có một duy định khi họ chết đi thì tất cả những vật dụng quý giá của họ khi còn sống kể cả thê thiếp, thuộc hạ được sủng ái cũng đều phải chôn theo.
Về sau tục lệ vô nhân đạo này đã được bãi bỏ để thay vào đó là Sô linh (người bện bằng cỏ). Năm Nguyên Hưng nguyên niên (105) đời Hán Hoa, ông Thái Lĩnh tìm ra được cách làm giấy bằng vỏ cây dó, giẻ rách… Bắt đầu từ khi có giấy, ông Vương Dũ nghĩ đến việc biến chế vàng bạc, áo quần… bằng giấy thay cho đồ thật để đốt đi sau khi cúng kính.
Lúc đầu, việc sử dụng vàng mã chỉ áp dụng trong cung đình, chưa được phổ biến rộng rãi trong đại chúng. Đến triều vua Đạt Tôn nhà Đường (762) Phật giáo đang trong thời kỳ đạt thịnh. Lúc ấy có vị sư tên là Đạo Tăng nhân ngày rằm tháng Bảy (lễ hội Vu lan) muốn lôi kéo đại chúng về với Phật giáo bèn lợi dụng tục đốt vàng mã, tâu với vua Đạt Tôn rằng: “Rằm tháng Bảy là ngày xá tội vong nhân, vua Diêm Vương mở cửa xét tội phúc nên thông sức cho thiên hạ đến ngày ấy đốt cho thật nhiều vàng mã để kính biếu vong nhân”. Vua muốn được lòng dân nên thuận ý nghe theo.
Việc làm này đã trái ngược với triết thuyết của nhà Phật. Ý nghĩa ngày rằm tháng Bảy lễ hội Vu lan đơn thuần chỉ là việc báo hiếu công ơn sanh thành dưỡng dục của mẹ cha qua chuyện ngài Mục Kiền Liên cứu mẹ. Nhưng lúc bấy giờ lòng dân mang đầy tính mê tín dị đoan, lại thêm có thông sức của vua Đạt Tôn truyền dụ nên đồng loạt thi nhau đốt vàng mã để kính biếu gia tiên, ngay cả hàng Phật tử cũng không ngoại lệ.
Việc đốt vàng mã trong ngày rằm tháng Bảy đã làm mất đi ý nghĩa chính đáng của lễ hội Vu lan khiến cho chư Tăng phản ứng bài trừ, đồng thời có sự hậu thuẫn nhiệt tình của đa số quần chúng đã tỉnh ngộ. Chính điều ấy đã làm cho một số người chuyên sống về nghề vàng mã gần như thất nghiệp.
Dòng dõi của Vương Dũ là Vương Luân đã tìm cách phục hồi bằng lối mị dân. Ông cho một người giả bệnh rồi chết, sau đó lập tức được khâm liệm trong quan tài có lỗ thông hơi, bên trong để sẵn thức ăn nước uống rồi loan truyền tin tức rộng ra bên ngoài.
Giữa lúc bà con xóm làng đến viếng tang đông đúc, Vương Luân và một số đồng lõa đã vội vàng mang đến nhiều thứ vàng bạc, hình nhân bằng giấy giả cách bày đàn cúng lễ thiên, địa, nhân phủ. Mọi người bỗng thấy cỗ quan tài rung động, Vương Luân liền nhanh tay mở nắp ra thì người giả chết bên trong vừa lúc lò dò ngồi dậy như vừa mới thoát ra được khỏi cõi âm.
Việc làm xấu xa ấy đã gây nên sự mê tín dị đoan lan truyền ra khắp mọi người, ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng kéo dài cho mãi đến ngày nay. Sự thật chỉ là mánh khóe gian lận của con buôn, lợi dụng sự cả tin của đại chúng mà mưu cầu lợi ích riêng tư.
Như đã nói, dân tộc ta đã từng trải qua hằng ngàn năm bị Bắc thuộc nên chịu ảnh hưởng rất nhiều về những phong tục tập quán của người Trung Hoa. Tục đốt vàng mã cũng từ đó mà có, đã ăn sâu trong tiềm thức mọi tầng lớp nhân dân từ đời này sang đời khác chỉ bằng với mục đích mơ hồ không thực tế.
Ngôi nhà số 40, ngõ 82, đường Kim Mã (Ba Đình - Hà Nội) bị cháy vì bất cẩn khi đốt vàng mã trong tháng "cô hồn" (ngày 27/7/2014)
Vậy cúng rằm tháng 7 như thế nào cho đúng?
Theo giáo lý nhà Phật, cúng rằm tháng bảy hay còn gọi cúng Tết Trung Nguyên, cúng vu lan báo hiếu. Việc cúng rằm tháng 7, có thể đến chùa, có thể cúng tại nhà gồm các lễ như: cúng Phật, cúng thần linh, cúng gia tiên, cúng thí thực cô hồn và cúng phóng sinh.
Vào ngày rằm tháng Bảy, sắp một mâm cơm chay hoặc đơn giản hơn là mâm ngũ quả để cúng Phật rồi thụ lộc tại nhà. Khi cúng, tốt nhất là đọc một khoá kinh - Kinh Vu Lan - để hiểu rõ về ngày này, hồi hướng công đức cho những người thân trong quá khứ được siêu sinh. Kinh Vu Lan khá dài, nhưng không đến mức quá dài, lại thuộc thể thơ song thất lục bát nên đọc cũng nhanh thôi.
Theo tục lệ của người Việt, lễ cúng thần linh thường cúng gà trống để nguyên con và xôi (hoặc bánh chưng bóc hết lá nhưng không cắt thành miếng. Lễ đầy đủ phải có thêm rượu, trái cây và bình hoa.
Lễ cúng gia tiên nên có một mâm cơm, có thể là món mặn, có thể là món chay tùy vào hoàn cảnh và căn cơ của người đang sống.
Bàn thờ tổ tiên của người Việt thường có ba bát hương. Bát hương ở giữa là thờ Phật, bát hương bên phải là thờ thần linh thổ công, bát hương bên trái thờ gia tiên.
Lễ cúng Phật được đặt ở nơi cao nhất, sau đó là lễ thần linh và cuối cùng là mâm lễ gia tiên.
Sau khi cúi đầu lạy Phật, dâng lễ, tạ ơn, cầu xin và hứa nguyện, bạn có thể tụng kinh niệm Phật. Nếu chưa biết tụng kinh niệm Phật thì đọc bài kinh Vu lan được bán rất nhiều hiện nay tại các chùa.
Tiếp đến là lễ cúng tạ ơn các thần linh và dâng mâm cơm tưởng nhớ ông bà tổ tiên để cầu nguyện cho các vong hồn siêu thoát, cầu bình an cho gia đình.
Cuối cùng là lễ cúng chúng sinh hay còn gọi là cúng bố thí cho các cô hồn khi tại thế thất cơ lỡ vận, không nơi nương tựa và chịu nhiều oan trái trong xã hội...Những vong hồn này rất đáng thương vì không được ai thờ cúng, hoặc chết đường chết chợ lang thang vạ vật không tìm được đường về với tổ tiên. Do vậy, nếu có điều kiện, có thể làm một mâm cơm đầy đủ để cúng chúng sinh. Ngoài ra có gạo, muối và cháo loãng cùng những thức ăn vặt mà trẻ con thường ưa thích.
Lễ cúng chúng sinh nên cúng ngoài trời, hoặc trước cửa chính ngôi nhà của bạn. Bạn có thể khấn nôm theo tâm nguyện và rải lòng thương của mình đối với các cô hồn, mong họ giải thoát khỏi những bám víu trần thế đau khổ, chỉ đường cho họ đến các chùa to miếu lớn để được nương tựa ánh sáng từ bi vô lượng nơi cửa chùa. Theo Mạc Vi Gia đình & Xã hội
HT.Thích Thiện Tánh, Trưởng ban Kiểm soát T.Ư: "Cúng sao, giải hạn là mê tín dị đoan"
HT.Thích Thiện Tánh - Ảnh: Vũ Giang
GN - Đầu năm mới, nhiều ý kiến, thư bạn đọc gởi đến tòa soạn thắc mắc về hiện tượng có một số chùa tổ chức lễ dâng sao giải hạn, cũng như hiện tượng đốt vàng mã, cá biệt là sự việc ở chùa Đại Giác (Q.Phú Nhuận) còn treo bảng hướng dẫn cách thức làm “chú bán đất”, “chú bán nhà”... gây sự ngỡ ngàng cho nhiều người.
Trao đổi xung quanh vấn đề này với HT.Thích Thiện Tánh, Trưởng ban Kiểm soát T.Ư, Phó Trưởng ban Thường trực BTS GHPGVN TP.HCM, Hòa thượng khẳng định các hình thức trên không xuất phát từ Phật giáo, là mê tín dị đoan. Hòa thượng nói:
Cúng sao, giải hạn không phải xuất phát từ Phật giáo. Trong kinh Phật không chỉ dạy cúng sao, giải hạn. Đây là một trong những tục bị ảnh hưởng bởi Trung Quốc. Thậm chí có nơi cúng sao, giải hạn có cả cúng gà, vịt, đốt vàng mã rất nhiều. Nói chung hiện nay có rất nhiều chùa còn tổ chức việc cúng sao.
Giáo hội Phật giáo không cấm cúng sao, giải hạn nhưng khuyến khích các chùa nên tổ chức Pháp hội tụng kinh Dược Sư cầu an đầu năm cho Phật tử, cầu nguyện có đầy đủ sức khỏe, mưa thuận gió hòa, mọi người đều an lạc.
Trong những năm gần đây, Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM đã khuyến khích các chùa thực hiện hình thức Pháp hội Dược Sư cầu nguyện quốc thái dân an vào dịp đầu xuân mới. Năm nay, Ban Trị sự PG TP cũng kết hợp với các chùa tổ chức Pháp hội Dược Sư, tụng kinh trong 3 ngày tại bốn nơi: tổ đình Ấn Quang, Việt Nam Quốc Tự, chùa Phổ Quang và chùa Huê Nghiêm để làm điển hình. Đó là hình thức phù hợp với tinh thần Phật giáo và chủ trương của Giáo hội, lợi lạc thiết thực và chung cho tất cả.
Tôi xin lưu ý là các chùa đừng lợi dụng Pháp hội Dược Sư như là hình thức cúng sao hội làm cho Phật tử, người dân thêm lo âu. Chùa nào tụng kinh Dược Sư mà lại còn thực hiện “cúng sao” thì đó là việc mê tín. Chùa mà thực hiện những điều mê tín là có tính chất để kiếm tiền. Trong lúc đó, đáng ra quý Tăng Ni ở chùa phải biết khuyên Phật tử đi chùa lạy Phật, tụng kinh cầu an cho tâm mình an vui, thanh tịnh, về nhà làm ăn phấn đấu trong công việc, trong cuộc sống, tránh những điều mê tín dị đoan…
Hòa thượng có lời khuyên nào đối với Phật tử đầu năm mới?
Tôi khuyên Phật tử đi chùa, cầu nguyện cho thân tâm an lạc, sức khỏe đầy đủ để phấn đấu trong công việc làm ăn, nâng cao chất lượng cuộc sống, không nên tin vào cúng sao, giải hạn. Khi đã thoát nghèo rồi thì cũng nên giúp đỡ những người nghèo hơn để tạo được phước đức.
Trong kinh Dược Sư có ghi lại phát nguyện của ngài Dược Sư: “Nhất chúng hữu tình nào tu tà đạo, thì ta khiến cho họ quay về Chánh pháp…”. Trong kinh Dược Sư, ngài A-nan cũng có nói: “Bạch Đức Thế Tôn mặt trời, mặt trăng có thể rơi xuống, núi Diệu Cao có thể lay động, nhưng những lời nói của chư Phật nói ra thì không bao giờ sai được”. Như vậy, Phật tử đi chùa phải nghe quý Hòa thượng, Thượng tọa giảng giải, nghe, tin vào kinh Dược Sư. Nhưng, những vị nào nói, giảng có tính chất mê tín thì tôi khuyên thôi đừng đến, đừng nghe những lời mê tín, đôi khi kéo theo bày vẽ, cúng cái này, cái kia, vừa tốn kém vừa không kết quả đi đến chỗ thiếu nợ, buồn rầu rồi mất niềm tin vào Phật pháp.
Hiện nay vẫn còn tình trạng người đi lễ ở nhiều chùa vẫn còn đốt vàng mã, thắp hương rất tùy tiện, gây nên cảnh ngột ngạt và mất trang nghiêm chốn thiền môn, Hòa thượng có ý kiến gì về hiện tượng đó?
Nhiều chùa hiện nay cũng đốt vàng mã, đốt nhang rất nhiều trong dịp đầu năm mới. Phải xác nhận rằng đó là tín ngưỡng dân gian này xuất phát từ Trung Quốc, chư Tổ, ông bà mình đời xa xưa đã bị ảnh hưởng và lưu truyền cho đến hôm nay. Hiện nay, Giáo hội cũng không cấm Phật tử, người dân đốt vàng mã nhưng có lời khuyên nên hạn chế để tiết kiệm (trước đốt 10 thì giờ đốt 1 để dành tiền làm từ thiện), ý thức bảo vệ môi trường thanh tịnh nơi chùa chiền, hạn chế phát sinh cháy nổ có thể xảy ra.
Phật tử cũng lưu ý hạn chế rải vàng mã trong đám tang, tôi chứng kiến buổi sáng người làm vệ sinh đã quét sạch đường phố rồi nhưng chỉ một đám tang đi qua thì đầy rẫy vàng mã, tiền âm phủ trên mặt đường rất kém mỹ quan. Đặc biệt là trên con đường quốc tế Nam Kỳ Khởi Nghĩa, thậm chí không chỉ giấy vàng mã thông thường mà còn in tiền đồng Việt Nam, đô-la giả… rải trên đường. Tôi nghĩ, các ban ngành thuộc Giáo hội, các vị trụ trì phải tích cực hơn nữa để giải thích cho Phật tử hiểu và hạn chế đốt vàng mã. Nhà nước cũng quan tâm kiểm soát đến những nơi in ấn loại tiền âm phủ, giấy vàng mã, khi hạn chế được việc in ấn thì cũng sẽ hạn chế được việc đốt, rải vàng mã như đã và đang diễn ra.
Trong dịp Tết Giáp Ngọ năm nay, độc giả báo Giác Ngộ viếng chùa Đại Giác tại quận Phú Nhuận, TP.HCM đã phản ảnh những thông tin ở các bảng hướng dẫn cho Phật tử niêm yết ở chùa như “chú bán đất”, “chú bán nhà” nhằm “giúp” bán được đất, bán được nhà mau lẹ… với sự hướng dẫn rất kỳ lạ, làm cho Phật tử có chánh tín ngỡ ngàng, Hòa thượng có ý kiến như thế nào về việc này ạ?
Chùa Đại Giác vừa qua có trưng bảng hướng dẫn “chú bán đất”, “chú bán nhà”, đây cũng là hình thức mê tín dị đoan. Trong kinh Phật tuyệt không có loại “chú” này.
Tôi khuyên Phật tử, người dân không nên tin vào “chú bán đất”, “chú bán nhà”. Tôi cho đó là một trong những trò “mị dân”, chứ không phải “chú” thiêng liêng gì hết. Đây là hiện tượng đầu tiên xuất hiện ở chùa tại TP.HCM mà tôi được biết. Tôi sẽ trực tiếp gặp trụ trì chùa Đại Giác để chỉnh đốn việc đó, yêu cầu dẹp những cái như vậy.
Bảng "Hướng dẫn xin phép chú bán đất" niêm yết tại chùa Đại Giác (Q.Phú Nhuận, TP.HCM) sau khi Giác Ngộ online phản ảnh, đã được tháo gỡ - Ảnh: Yên Hà
Trước các hình thức cúng sao, giải hạn, đốt vàng mã, như kiểu thông tin hướng dẫn về các loại “chú” lạ lùng như vậy phát sinh ở chùa, với tư cách là người đứng đầu Ban Kiểm soát của TƯGH, theo Hòa thượng, Giáo hội nói chung và Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM nói riêng cần có những giải pháp nào nhằm giảm bớt những hình thức này?
Tôi đảm đương trách nhiệm của một lĩnh vực chuyên môn của Giáo hội, quyền là quyền của Giáo hội nhưng mỗi lần họp Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN, tôi đều nhắc đến việc này. Theo tôi, gần đến Tết, Giáo hội nên gởi thông bạch đến các Ban Trị sự GHPGVN tỉnh, thành trong cả nước để kêu gọi các chùa khắp cả nước tổ chức tụng kinh Dược Sư cầu an, giúp Phật tử giảm bớt cúng sao, giải hạn, tránh mê tín dị đoan.
Đặc biệt, Ban Hoằng pháp, quý vị giảng sư trong sinh hoạt giảng pháp nên giảng giải, nói giáo lý, phân tích để Phật tử hiểu rõ lợi ích của việc tụng kinh, lạy Phật trong dịp đầu năm, tránh các hình thức mê tín dị đoan, việc tà đạo, cúng sao, giải hạn xâm thực vào nếp sống tâm linh của mình.
Trụ trì của các chùa cũng phải có tâm, có trách nhiệm giải thích cho Phật tử của chùa mình. Trước hết, trụ trì phải làm gương, không làm những gì đi ngược lại giáo lý, kinh Phật chỉ dạy. Trong năm 2014 này, Ban Trị sự GHPGVN TP.HCM cũng sẽ một lần nữa làm việc với các ban, ngành, đặc biệt là ngành hoằng pháp, 24 Ban Trị sự PG quận, huyện, các vị trụ trì các tự viện trực thuộc Ban Trị sự PG TP cùng nhau giảng pháp, giải thích để giúp Phật tử hiểu rõ việc tụng kinh cầu an, tránh dâng sao, giải hạn. Vai trò của các vị trụ trì cũng rất quan trọng trong việc giải thích, thực hành nghi lễ đúng Chánh pháp làm gương cho Phật tử chùa mình.
H.Diệu thực hiện
Cuộc “xâm lăng” của văn hóa Trung Quốc ở Việt Nam ngày nay
Ngày 24/12/20171,854 lượt xem
“Trong tình hình hiện nay cái chữ “xâm lăng”, phải nói như thế, về mặt văn hoá của Trung Quốc và một sự chống chõi yếu ớt, nhu nhược của những người làm công tác văn hoá ở Việt Nam hiện nay rất đáng báo động. Ai cũng có thể thấy rõ là trên các kênh truyền hình của đài truyền hình trung ương cũng như các địa phương, thời lượng phát sóng dày đặc các phim của Trung Quốc. Bây giờ đang là mùa trung thu, cũng như suốt cả năm đồ chơi trẻ con phải nói 80% là của Trung Quốc.”
Nhận xét trên của TS Nguyễn Xuân Diện, một chuyên gia Hán nôm và cũng là người am hiểu văn hoá Trung Quốc cho thấy một vấn đề thật sự cần nhìn lại không những của những người cán bộ làm văn hoá mà còn của cả xã hội để dần dần thoát ra khỏi hệ luỵ này.
Những ý thức tự ti, tự huỷ
Nói đến văn hoá Việt Nam không hiếm người cho rằng 4 hay 5 ngàn năm văn hiến gì thì cũng xuất pháttừ Trung Quốc. Cái nhìn thiển cận ấy âm thầm kéo dài từ nhiều thế kỷ trong lòng một bộ phận rất lớn của xã hội, nhưng chưa có một phản biện đứng đắn dài hơi và thuyết phục của các nhà nghiên cứu văn hoá Việt để chuyển tải tới cộng đồng, tức là những con người đang sống, đang va chạm trực tiếp với thế giới thật mà chung quanh đầy dẫy hình ảnh, ngôn từ, thói quen, phong tục và ngay cả lối sống đều mang đậm nét Trung Quốc.
Nhiều nhà văn hoá học cảm thấycô đơn khi chấp nhận dấn thân vào khu rừng rậm quá nhiều thói quenkhông thể từ bỏ của người Việt. Những thói quen bị quán tính hoá ấy bao trăm năm qua đã ăn sâu, biến nền văn hoá bên ngoài trở thành văn hoá Việt mà không một ý thức nào còn lại để cảnh giác rằng chúng ta đã đi quá xa, ở quá lâu và lệ thuộc quá nhiều vào nền văn hoá tưởng là đã được Việt hóa ấy.
Nhặt ra cho hết những vô lý, bất cập mà người Việt hoà mình vào dòng văn hoá phương Bắc không khó, tuy nhiênthuyết phục và biến cảithói quen cho người dân bình thường nhất lại là một việc làmkhông dễ trong vòng vài chục năm. Điều này một lần nữa cho thấy nền văn hoá Việt Nam đang có vấn đề mà rất nhiều cán bộ văn hoá không những không nhận ra mà còn vô tình hay hữu ý, thúc đẩy người dân chấp nhận nó như chấp nhận một việc hiển nhiên, một điều mà dân tộc đã gần gũi gắn bó hàng ngàn năm.
Vay mượn nguy hiểm…
Gắn bó và gần gũi không có nghĩa là bị đồng hoá. Lại càng không có nghĩa nếu khôngchấp nhận thì đi ngược lại với sự thật vì nền văn hoá ấy đã bám rễ vào văn hoá Việt.
Văn hoá thuần Việt xuất hiện rõ nét nhất trên những hoa văn, phù điêu của các ngôi chùa cổ. Những nét thủ công nghệ thuật ấy phát xuất từ ý thức sâu sắc muốn thoát ra làn sóng đô hộ văn hoá của phương Bắc làm nên nét đặc thù văn hoá phương Nam.
Chánh điện của một ngôi chùa ở TP.HCM được cho là bị văn hóaTrung Quốc “xâm lăng”
Tổ tiên ta càng ý thức điều này bao nhiêu thì các thế hệ sau lại thờ ơ với nó bấy nhiêu. Nhiều ngôi chùa gần đây không thể gọi là chùa của người Việt được nữa mà phải thành thật nhận rằng nó được mang nguyên mẫu từ Trung Quốc hay Đài Loan sang. Từ kiến trúc tới tượng thờ, nhất nhất đều mang họa tiết Trung Quốc và người ta không giấu tự hào khi cho rằng đã bắt chước giống với bản sao từ nguyên mẫu.
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện chia sẻ các quan sát của ông:
Đại Nam Lạc Cảnh, Binh Duong
– Các công trình đền chùa đình miếu bây giờ có cái đang xây dựng mới, cũng có cái tu sửa thì vẫn đậm chất Trung Quốc. Chúng tôi lấy thí dụ như công trình chùa Bái Đính ở Ninh Bình hay là công trìnhĐại Nam Lạc Cảnh ở Bình Dương không có yếu tốViệt Nam ở trong đó. Đây là những ngôi chùa rất là đồ sộ mang dấu ấn của Trung Quốc rất rõ. Một đài tưởng niệm liệt sĩ là 10 cô gái ở Đồng Lộc, cái tháp chuông ở Đồng Lộc lại là phiên bản của Hoàng Hạc Lâu bên Trung Quốc. Ngay cả Bảo tàng Hà Nội là một bảo tàngvừa mới xây dựng xong cũng là một mô hình copy từ một công trình kiến trúc ở Thượng Hải.
…cùng quán tính và tư duy theo đuôi
Điều nguy hiểm nhất là chính những cơ quan chịu trách nhiệm về quản lý văn hoá lại không thấy có gì sai trái khi hình ảnh Trung Hoa tràn ngập Việt Nam. Nhiều quan chức còn cho rằng đó là tâm lý hàng ngàn năm nay của dân chúng và không thể thay đổi.
Phim ảnh là một ví dụ dễ thấy nhất về tính chây lười tư duy của người làm văn hoá hôm nay. Những bộ phim Trung Quốc dài nhiều chục tập giết thời gian của biết bao người trẻ tuổi? Lịch sửViệt Nam không ngoi lên nổi trong ý thứchọc sinh bởi tên tuổi các vua chúa Trung Hoa đã ăn sâu vàotiềm thức họ qua các phim lịch sửTrung Quốc.
GSTS Nguyễn Đăng Hưng, mặc dù xa tổ quốc bao nhiêu năm nhưng khi trở vê ông vẫn muốn sinh viên của ông phải biết rõ lịch sử nước nhà hơn bất cứ điều gì khác, ông kể:
– Nay tôi về sống tại Việt Nam thì tôi lại thấy ảnh huởng của văn hoá Trung Quốc nhất là qua phim ảnh nó lại rất tràn lan và dữ dội, tôi cho rằng đây là điều không bình thường. Riêng bản thân tôi tôi có phản ứng là không xem phim Trung Quốc nữa.
Tôi rất buồn khi qua các buổi phỏng vấn tuyển chọn các em sinh viên của các lớp vào học với tôi, khi tôi tuyển sinh thì luôn luôn phỏng vần họ. Trong cuộc phỏng vấn không những kiểm tra về toán về sinh học, cơ học mà tôi còn kiểm tra về hiều biết chung trong đó có kiểm tra về đại lý và lịch sử.
Tôi rất buồn các bạn trẻ Việt Nam đã có bằng kỹ sư rồi, đã học bốn năm năm đại học rồi thế mà hiểu biết rất ít về lịch sửViệt Nam nhất là lịch sử dân tộc. Nhiều khi họ cho tôi cảm giác là họ hiểu lịch sửTrung Quốc rõ hơn qua các phim ảnh Trung Quốc. Họ hiểu rất rõ nhà Thanh, họ hiều rất rõ những chuyện các anh hùngTrung Quốc trong khi những anh hùng của Việt Nam thì rất kém.
Viện Bảo Tàng mới xây ở Hà Nội copy từ một kiến trúc Tầu ở Thượng Hải
Học giả và lý thuyết đô hộ
Kiến trúc sư Trần Thanh Vân, một chuyên gia có tuổi nghề làm việc tại Trung Quốc nhiều chục năm nhận xét những gì mà học giảTrung Quốc đang theo đuổi một cách kiên trì với mục đíchđạp đổ nền văn hoá Việt Nam để sáp nhập tất cả vào kho tàng văn hoá vốn đã giàu có của họ, bà nói:
– Những người mang tiếng là nhà văn hoá Trung Quốc đã phát biểu những cái không có cơ sở văn hoá, không hiểu vể lịch sử và nói bậy thì tôi cho những cái đó mình không có gì phải sợ. Ví dụ như chuyện nền văn minh lúa nước. Tại sao nền văn minh lúa nước lại ở Việt Nam? Vì Việt Nam là vùng trũng, tập trung nhiều nước còn Trung Quốc làm gì có chuyện đó! Nó ở vùng đất khô cằn, vùng thảo nguyên thì làm sao nó sang dạy ta trồng lúa nước được?
Rồi những nhà nghiên cứu trống đồng cũng bị nó nói là trống đồng của nó. Những trống đồng đó có niên đại bao nhiêu năm? Mới có năm ngoái hay là tháng trước thôi! Trong khi trống đồng Đông Sơn đào lên từ bao giờ? Các nhà nghiên cứu khảo cổ họ biết thừa, rõ ràng là chỉ lừa đựơc người không biết mà thôi.
Những nhận xét đắng lòng
Nhà giáo Phạm Toàn nhìn lại văn hoá Việt Nam trong thời gianhiện tại mà không khỏi xót xa. Có thể cái nhìn của ông chỉ là một góc của vấn đề nhưng lại là góc bén nhất, quan trọng nhất đối với những ai còn nặng lòng với văn hoá Việt:
– Bây giờ cái nền văn hoá ấy đương trong cơn đại khủng hoảng. Đại khủng hoảng ở chỗ: Bây giờ không có tác phẩm nào để đời cả. Không có bài thơ nào mà thanh niên chuyền tay nhau cả. Không có bài hátnào người ta đi đường lầm rầm người ta hát cả. Không có câu thơ nào mà hai người yêu nhau thủ thỉvới nhau cả. Bây giờ không có bức tranh nào đẹp hết! Còn tượng thì tượng nào cũng như tượng nào. Không một vở kịch nào người ta mời nhau đi xem cả. Không bản giao hưởng nào người ta đòi nhau đi nghe cả! Thậm chí xiếc hay người thì người ta lại sang Pháp diễn mà không diễn trong nước nữa bởi vì diễn ở Pháp hàng tháng trời người ta sống rất đàng hoàng.
Chúng tôi xin mượn kết luận của các trí thức sau đây để đánh động mối lo có thật và rất nguy nan về quyền lực mềm mà Trung Quốc đang dùng để đô hộ văn hoá Việt Nam.
GS-TSKH Nguyễn Đăng Hưng:
– Quyền lực mềm chính là gì? Chính là Trung Quốc dùng ảnh hưởng phim ảnh trong khi hiện nay tình trạng phim ảnh Việt Nam nhất là phim lịch sử rất ít. Phải thuê mượn người ta mà kết quả thì ai cũng biết. Khi thuê mượn và giao cho đạo diễn người Trung Quốc thì họ áp dụng văn hoá của họ vào phim và chỉ đặt cái tên là phim Việt Nam mà thôi. Ngay cả tình tiết, tâm lý đều là Trung Quốc cả. Ngay cả xuyên tạclịch sửViệt Nam khi nhắc tới những chiến thắng của Nhà Lý nhà Tiền Lê nhưng chỉ coi đó là vấn đề nội bộ chém giết nhau cho thấy đây là một di hại vô cùng thâm độc.
TS Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện:
-Chúng tôi mới chỉ sơ qua một phần, vài nét như vậy cho thấy văn hoá Trung Quốc đang xâm lấn văn hoá Việt Nam và bản lĩnh văn hoá Việt Nam lúc này đang trong một cơn thách thức mạnh, nhưng rất tiếc những người làm công tác quản lý văn hoá lại không nhận rõ nguy cơ này. Bên cạnh đó chưa có chỉ đạocó tính chấtquyết định để chống lại sự xâm lăng văn hóa đến từ phía Trung Quốc ngày một mạnh hơn.
Kỹ sư Vi Toàn Nghĩa:
– Bây giờ xu hướng của họ là tư tưởng đại hán bành trướng. Tôi cảm thấy bây giờ nó bắt đầu như thời gian 1.000 năm Bắc thuộc nhưng bây giờ thì kiểu khác. Nó bắt đầu rồi chứ không phải là manh nha nữa. Bắt đầu bằng những chính sách của họ và ngay bản thân những chính sách của mình nữa đã thể hiệnrằng thời kỳ Bắc thuộc đã bắt đầu nhưng dưới hình thức khác.
Ước gì cả xã hội từ đây sẽ xem vấn đề văn hoá Trung Quốc với một tâm thức khác, tỉnh táo và công bằng hơn đối với văn hoá Việt Nam vốn dĩ đã và đang bị làm cho nghèo đi do vô tình, do lợi nhuận hay do nhận thứcdễ dãi mà nền văn hoá ấy đang dần dà trở thànhgánh nặng hơn là di sản quý giá của dân tộc cần được giữ gìn. Theo Mặc Lâm | RFA
Chùa Nam Sơn Cẩm Lệ, Đà Nẵng: Kiến trúc mới gống Trung Hoa 100%:
Nhà sư robot đầu tiên được đưa vào sử dụng tại chùa ở Trung Quốc
Một ngôi chùa ở ngoại ô Bắc Kinh, Trung Quốc vừa sử dụng công nghệ trong việc truyền bá Phật giáo và thu hút tín đồ.
Long Tuyền – tên của ngôi chùa ở ngoại ô Bắc Kinh, Trung Quốc - đã giới thiệu một robot có thể tụng kinh, niệm Phật, di chuyển theo yêu cầu và có thể nói chuyện.
Nhà sư người máy này được gọi là Xian’er, cao khoảng 60 m, có thiết kế giống với một sa di hoạt hình, đầu cạo trọc, mặc áo vàng và cầm một màn hình cảm ứng trước ngực.
Nhà sư người máy này được gọi là Xian’er, cao khoảng 60 m.
Xian’er có thể tạo nên một cuộc hội thoại bằng cách trả lời khoảng 20 câu hỏi đơn giản về Phật giáo, cũng như cuộc sống hàng ngày được liệt kê trên màn hình cảm ứng và có thể di chuyển 7 tư thế nhờ các bánh xe.
Thạc sĩ Xianfan, người chế tạo ra Xian’er cho biết, sư người máy là sản phẩm hoàn hảo để truyền bá Phật giáo ở Trung Quốc thông qua sự kết hợp giữa khoa học và Phật giáo.
“Khoa và Phật giáo không hề có xung đột hay mâu thuẫn, mà có thể kết hợp với nhau”, ông Xianfan nói. Thạc sĩ Xianfan cho rằng Phật giáo nên được truyền bá rộng rãi cho mọi người trong bối cảnh điện thoại thông minh đang thống trị xã hội.
“Phật giáo là một điều gì đó thuộc về tâm linh. Nhà sư robot là một loại hình văn hóa cao. Theo quan điểm của tôi, nó có thể đáp ứng nhu cầu của nhiều người chứ không riêng gì Phật tử”, ông Xianfan cho biết.
Nhà sư robot là kết quả của dự án hợp tác giữa một công ty công nghệ và các chuyên gia trí tuệ nhân tạo của một số trường Đại học hàng đầu của Trung Quốc. Sản phẩm đặc biệt này lần đầu tiên được công bố vào hồi tháng Mười năm ngoái.
Long Tuyền – tên của ngôi chùa ở ngoại ô Bắc Kinh, Trung Quốc - đã giới thiệu một robot có thể tụng kinh, niệm Phật, di chuyển theo yêu cầu và có thể nói chuyện.
Nhà sư robot từng xuất hiện ở rất nhiều hội chợ ở Trung Quốc, nhưng có mặt trong một ngôi chùa như chùa Long Tuyền thì đó là một sự kiện hi hữu. Xian’er chủ yếu “thiền” trên kệ của các văn phòng và đang trở thành một nhân vật gây bão trên mạng xã hội.
Michelle Yu, một du khách và cũng là Phật tử thuần thành, cho biết lần đầu tiên cô nhìn thấy Xiang'er là trên mạng. "Nhà sư robot trông thật dễ thương và đáng yêu. Robot sẽ có thể lan truyền Phật giáo đến với nhiều người", cô Michelle Yu nói.
Michelle Yu, một du khách và cũng là Phật tử thuần thành, cho biết lần đầu tiên cô nhìn thấy Xiang'er là trên mạng.
Ý kiến về việc xây dựng tượng Quan Công ở thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng
Công viên Quan Công ở thành phố Kinh Châu- Trung Quốc
Vũ Ngọc Phương
Gần đây một số phương tiện thông tin đại chúng đưa tin về chuyện Công ty CP Thương mại sản xuất bao bì Thành Lợi (Huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh) đầu tư khu du lịch rộng 18 Ha tại Thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng, trong khu du lịch dự kiến xây tượng Quan Công cao 36m nhìn ra Biển Đông. Có nhiều ý kiến phản đối trên mạng xã hội và cả ý kiến của một số người danh vị. Tựu trung các ý kiến đều có chung một suy nghĩ là không nên xây tượng một Anh Hùng người Trung Quốc ở Việt Nam là không phù hợp. Có ý kiến cực đoan cho rằng:” Cần hỏi rõ nguyên nhân, động cơ của doanh nghiệp là gì?”. Vấn đề trở thành nghiêm trọng!
Quan Công là một nhân vật lịch sử Trung Quốc, theo tín ngưỡng Tâm linh, Quan Công là một Vị Thượng đẳng Phúc Thánh cứu độ chúng sinh, diệt Ác, trừ Tà giữ bình yên cho chúng sinh Trần thế. Hàng ngàn năm qua, hình tượng Quan Công là biểu tượng về Đạo đức tiêu chuẩn của Nhân loại là: Trung, Hiếu, Lễ, Nghĩa, Nhân, Dũng. Quan Công được tôn xưng là “Võ Thánh”, có ảnh hưởng rất sâu rộng trong lịch sử, văn hóa xã hội Trung Hoa, Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á và thế giới, trong đó có Việt Nam. Có thể nói hiếm có vị võ tướng trong lịch sử Nhân loại lại được tôn thờ và ảnh hưởng đến tín ngưỡng dân gian lớn như Quan Công ở nhiều nước trên Thế giới. Tài năng, Trí Đức của Ngài được tôn thờ đến mức đề cao là Quan Thánh Đế Quân. Ngay trong Phật giáo Đại Thừa, Quan Công được tín ngưỡng là ngôi vị Già Lam Bồ Tát, cùng với Vi Đà Bồ Tát là hai Đại Hộ pháp trên cõi Đại Niết Bàn. Trong Nho giáo thịnh hành ở các nước Đông Á và Việt Nam, Quan Công được tôn thờ là Võ Thánh của Nho gia, có địa vị ngang hàng với ông tổ của Đạo Nho giáo là Văn Thánh Khổng Tử. Ngay từ thời Bắc thuộc lần thứ 2, từ năm 43 đến 544 sau Công Nguyên, dưới thời Tam Quốc (năm 220 – 265), Giao châu (Việt nam) thuộc Nhà Đông Ngô (Ngô Vương Tôn Quyền) cai trị rất tàn ác, vì thế người Lạc Việt thường xuyên nổi dậy chống sự thống trị của Nhà Ngô.Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa năm Mậu Thìn (248 sau CN) của Bà Triệu (Triệu thị Trinh) đánh Thứ sử Giao châu là Lục Dận, Bà Triệu đã tử tiết khi mới 23 tuổi. Đối với người Lạc Việt, hai cha con Quan Công, Quan Bình tử tiết năm 219 sau CN là một hình tượng Anh hùng chống Nhà Đông Ngô, đã được dân Việt thờ phụng cho đến ngày nay.
Từ thời cổ, tín ngưỡng tôn thờ Quan Công đã vượt ra ngoài lãnh thổ Trung Quốc gần 1,700 năm được thờ phụng ở nhiều nước Châu Á và Vị Thượng đẳng Phúc Thánh Quan Vân Trường đã trở thành Thánh tích lịch sử và được Quốc tế hóa. Ngày nay Quan Công còn được thờ ở Châu Âu, Bắc Mỹ, vì thế tượng lớn, tượng nhỏ đều có. Quan Công đã được Quốc Tế hóa không còn chỉ riêng ở Trung Quốc. Ngay tại Việt Nam, đền miếu thờ Quan Công hàng nghìn năm qua không ít, người Việt thờ Quan Công tại gia là Vị Thánh Trung – Nghĩa tính số lượng còn nhiều hơn người Hoa thờ Qaun Công ở Việt Nam. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của Sử học và Dân tộc học tại Việt Nam có các Đền lớn thờ Quan Vũ Thánh Đế như sau:
1/ Đền Hồng Sơn, Tp Vinh tỉnh Nghệ An. Còn gọi là Đền Nhà Ông
2/ Chùa ông,Tp Nha trang, đường 23-10
3/ Đền Ngọc Sơn hồ Hoàn Kiếm trước đây từng là nơi thờ Quan Thánh.
4/ Đền Quan Công ở bến Tây Luông, cách cổng thành Thăng Long 2 dặm.
5/ Miếu Quan Đế do Bỉnh Trung Công thời Hậu Lê xây dựng ở phường Hà Khẩu, nay là phố Nguyễn Trung Trực, Hà Nội.
Việt Nam có vị trí trung tâm chiến lược khu vực Đông Nam Á, đồng thời là nơi giao thương kinh tế, văn hóa rất đa dạng. Trong lịch sử, Việt Nam đã có hơn 1,000 năm Bắc thuộc và cũng hàng nghìn năm chịu ảnh hưởng về văn hóa Trung Hoa nhưng Dân tộc Lạc Việt – Việt Nam không bị đồng hóa chính vì Dân tộc Lạc Việt có truyền thống Văn hiến rực rỡ từ thời cổ đại. Học giả Trung Quốc Lí Nhĩ Chân (117.6.129) Date: January 03, 2012 08:17PM đã viết:” Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt – tỉnh Quảng Tây truyền phát tin tức là người Lạc Việt ở Trung Quốc đã sáng tạo chữ viết vào bốn nghìn năm trước. Phát hiện chữ viết của người Lạc Việt lần này sẽ viết lại lịch sử chữ viết ở Trung Quốc, chứng minh văn hóa Lạc Việt là một trong những nguồn gốc trọng yếu của văn hóa Trung Hoa. Lịch sử hình thành dân cư Trung Quốc mới phát hiện, thì thời gian này trên địa bàn Trung Quốc chỉ có người Việt sinh sống, người Hoa Hạ chưa ra đời, chứng tỏ rằng đó là chữ của người Lạc Việt từ bãi đá Sapa đi. Nhà Thương là một dòng dõi Việt sống ở nam Hoàng Hà nên cùng sở hữu chữ viết tượng hình này. Sau này trên cơ sở Giáp cốt và Kim văn, cộng đồng người Việt và Hoa trong Vương triều Chu chung tay xây dựng chữ tượng hình Trung Hoa” (Trích nguyên văn Báo cáo nghiên cứu Khảo cổ học Trung Quốc ngày 20/2/2012).
Ngày nay với một thế giới mở và hội nhập, chúng ta đã đọc được hàng chục vạn thư tịch cổ sử, các tài liệu Khảo cổ học về Việt Nam của các nhà khoa học Việt Nam, Trung Quốc và các học giả Phương Tây cho thấy cách đây 10,000 năm đến 6,000 năm cùng với chữ viết, người Lạc Việt đã phát minh ra đồ gốm, lúa nước, thuần hóa gà, lợn, lụa, vải, đồ đồng, đồ sắt rất tinh sảo trước cả Trung Hoa và Trung Đông, Ai cập. Nhiều nhân vật nổi tiếng lịch sử ghi trong Sử Ký Tư Mã Thiên như Phạm Lãi, Văn Chủng, Tôn Tử, Việt Vương Câu Tiễn,… là người Việt. Tây Thi – Người phụ nữ đẹp nhất lịch sử cũng là người Việt. Dã sử Trung Quốc cho rằng bà mẹ thân sinh ra Quan Công là người Việt, họ Vũ. Vì thế tên khai sinh của Quan Công là QUAN VŨ. Lịch sử chống ngoại xâm của Dân tộc Việt Nam cũng đã ghi danh nhiều người Hoa đã sát cánh cùng người Việt chống ngoại xâm Phương Bắc.
Ngày nay, ở tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Trung Quốc vẫn còn đền, miếu thờ Vua Bà Hai Bà Trưng và một số Nữ tướng như Phật Nguyệt Công chúa được Trưng Vương phong giữ chức Thao Giang Thượng Tả Tướng thuỷ quân, Chinh Bắc Đại tướng quân, Tổng trấn Động đình và Trường Sa. Một Nữ tướng là Hoàng Thiều Hoa – Tả tướng Chinh Bắc Tướng quân lĩnh đạo Trung quân trấn giữ Nam Hải. Trên Thiên Đài, núi Đại Minh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, có miếu thờ Đào Hiển Hiệu – tướng của Hai Bà Trưng cùng một nghìn quân sỹ đã quyết tử tại cửa ải độc đạo hiểm yếu tại Bắc núi Nam Lĩnh để ghìm chân đại quân Đông Hán do Lưu Long làm Phó tướng, vẫn còn đôi câu đối khắc trên đá: “Nhất kiếm Nam hồ kinh Vũ-đế/Thiên đao Bắc lĩnh trấn Lưu Long”. Nghĩa là : “Một kiếm đánh trận ở phía Nam hồ Động-đình làm kinh sợ vua Vũ đế (Ý nhắc đến sự kiện nữ tướng Phật Nguyệt của Hai Bà Trưng đón đánh Mã Viện ở phía Nam hồ Động-đình. Vũ đế là Hán Quang Vũ nhà Đông Hán)/ Một nghìn tay đao Bắc Lĩnh giữ Lưu Long”, người dân Trung Quốc vẫn bảo tồn và cúng lễ gần 2,000 năm qua. Thời hiện đại, Lưỡng quốc Tướng quân Nguyễn Sơn (Vũ Nguyên Bác, Lý Anh Tự, Hồng Thủy) nguyên là Chủ Tịch Ủy Ban Kháng chiến Nam bộ, Tư lệnh đầu tiên của Liên khu 4, được Hồ Chủ Tịch giao sang tham gia Cách mạng Trung Quốc, có công rất lớn. Nguyễn Sơn được xếp vào hàng Khai Quốc Công thần thành lập Nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa. Ở Bát Bảo Sơn và nhiều nơi trên đất Trung Quốc có bài vị của Khai Quốc công thần thành lập Nước Trung Hoa mới trong đó có bài vị của Lưỡng Quốc Tướng quân Nguyễn Sơn.
Cần thấy rằng ngay các tượng đài đã xây dựng của các Vị Anh hùng Dân tộc ta khi mới đề xuất lần đầu tiên cũng có rất nhiều ý kiến khác nhau. Nước ta vẫn còn rất nhiều việc chưa từng làm nhưng sẽ làm, phải làm. Chuyện dựng tượng Quan Công ở thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng cũng chỉ là việc đưa tượng Quan Công đã được thờ trong hàng triệu gia đình người Việt ở trong nhà ra ngoài công viên, lại là công viên du lịch Tâm linh. Trên đất nước ta hiện cũng có rất nhiều tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Quán Thế Âm Bồ Tát, Chúa Jessu, Đức Mẹ Maria,… vốn không phải người Việt Nam nhưng được tôn thờ vì tiêu biểu cho Đức Thiện. Vì vậy tượng Quan Công có dựng cũng là sự bình thường, là sự thể hiện tính Nhân Văn của Dân tộc Việt Nam. Để giữ vững Độc lập, Tự do, toàn vẹn lãnh thổ của Quốc gia Việt Nam rất cần sự đoàn kết Quốc tế, trong đó đoàn kết hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam – Trung Hoa là rất quan trọng, rất cần thiết. Tư tưởng Dân tộc cực đoan không phân biệt được đâu là tham vọng xâm lược của Nhà cầm quyền, đâu là Dân tộc, Nhân dân xưa nay không thể tồn tại trong truyền thống Dân tộc Việt Nam.
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2015
Quảng Bình:
Đưa con rắn được đồn thổi là rắn “thần” ra khỏi mộ người ăn
Sáng 3/3, trao đổi với Dân trí, ông Trần Văn Trọng, Chủ tịch UBND xã Quảng Văn cho biết, trong sáng nay, đơn vị này cùng với các ban ngành liên quan của thị xã Ba Đồn đã tổ chức lực lượng đưa con rắn được đồn thổi là rắn “thần” ra khỏi ngôi mộ nằm ven đường vào xã Quảng Văn.
Con rắn này hiện đang được lưu giữ ở Hạt Kiểm lâm thị xã Ba Đồn, chờ xác định loài để xử lý theo quy định. Rạp che ngôi mộ cũng đã được nhà chức trách tháo dỡ, nhằm hạn chế người dân về đây thắp hương, khấn vái.
Cơ quan chức năng thị xã Ba Đồn đã đưa con rắn được đồn thổi là rắn "thần" ra khỏi ngôi mộ
Như Dân trí đã thông tin, vào dịp trước Tết nguyên đán, tại ngôi mộ nằm ven đường vào xã Quảng Văn, thị xã Ba Đồn xuất hiện 2 con rắn. Qua lời đồn thổi đây là rắn “thần”, gần nửa tháng qua, đã có hàng ngàn lượt người hiếu kỳ tìm đến xem, thậm chí có những người mê tín còn mang hương hoa đến... cúng rắn.
Trung bình mỗi ngày tại ngôi mộ có khoảng 200 đến 300 người nên tình hình trật tự rất phức tạp, xe cộ để dọc đường khiến giao thông đi lại khó khăn.
Trước đó vào tối 1/3, nhằm giảm lượng người hiếu kỳ kéo đến ngôi mộ cúng bái, UBND xã Quảng Văn đã có chủ trương dỡ rạp người dân dựng lên và tháo điện thắp sáng tại ngôi mộ. Tuy nhiên khi xã triển khai lực lượng đến thì bị người dân phản đối, ngăn cản nên vẫn chưa thể thực hiện được.
Hiện tại lực lượng chức năng cũng tháo dỡ rạp tại ngôi mộ
Theo nhiều người dân địa phương, ngôi mộ xuất hiện cặp rắn là nơi chôn cất người ăn xin ở trong vùng, mất từ thời chống Pháp.
Để quản lý số tiền người dân cúng rắn “thần”, UBND xã Quảng Văn cũng đã giao lực lượng Mặt trận thôn La Hà Tây lập tổ quản lý, đồng thời kiểm soát tiền dâng cúng để có phương hướng xử lý phù hợp. Được biết số tiền người dân cùng rắn “thần” đã hơn 200 triệu đồng.