Sự ra đi của một nhạc sĩ lớn như Phạm Duy khiến nhiều người ngỡ ngàng, với những nghệ sĩ thường hay hát nhạc Phạm Duy như Đức Tuấn hay Ánh Tuyết, đó còn là một mất mát quá lớn khó có thể bù đắp được...

Đức Tuấn
Đức Tuấn
Mọi người cho đau buồn vì sự ra đi của Phạm Duy sẽ là một mất mát lớn cho nền âm nhạc, tuy nhiên đối với Đức Tuấn, sự mất mát đó còn lớn hơn rất nhiều bởi tôi coi như đã mất đi một người ông, một người trong gia đình.
Tôi có may mắn được song hành và làm việc cùng Phạm Duy từ những ngày ông mới về Việt Nam. Tôi từng được đến thăm ông khi ngôi nhà ở Lê Đại Hành còn chưa sửa xong, cảm nhận được sự háo hức trong lời khoe “đây là nhà bác”. Cùng được ăn, ngủ, song hành cùng ông trong những đêm nhạc Phạm Duy là những kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên.
Tất nhiên, sự ra đi của Phạm Duy để lại nhiều mất mát, tôi cũng rất đau lòng và hơn ai hết không muốn ngày này xảy ra sớm đến vậy. Những người ở bên cạnh bác thời gian gần đây đều thấy bác đã quá yếu rồi. Sự ra đi của bác là một mất mát về con người nhưng tôi nghĩ điều này sẽ cho người ta thấy thêm giá trị trong âm nhạc của Phạm Duy, dù thời gian gần đây, âm nhạc của ông đã được ghi nhận.
Ngoài sự nuối tiếc về sự ra đi của ông nhưng tôi còn nuối tiếc vì chưa kịp khoe với ông album mà tôi đang thực hiện tại Đức. Tôi cũng đã khoe với ông rằng giao thừa này tôi sẽ hát nhạc của ông và hứa rằng sẽ làm ông hài lòng. Thế nhưng đã không kịp nữa. Sự mất mát này là quá lớn và tôi rất đau lòng...
Mỹ Tâm

Tôi đã bị sốc khi biết tin sau chuyến bay từ Hà Nội về. Tuy tôi không hát nhạc của bác Phạm Duy nhiều nhưng ngay từ khi mới bước chân vào con đường ca hát, bác đã là một thần tượng lớn trong lòng tôi. Thi thoảng tôi được gặp bác, được cúi chào và được bác nhận ra mình, lúc đó tôi vui lắm. Nhưng giờ thì bác đi rồi...
Mới chiều nay thôi tôi mới nói với một người bạn, khi nghe tin bác Phạm Duy mất, rằng đời người ta đôi khi thấy trước mắt cứ tưởng vẫn ở đó nhưng rồi không biết mất khi nào. Cuộc đời đôi khi thật bấp bênh. Thật đau lòng cho gia đình khi con trai bác mới mất cách đây chưa lâu và giờ là sự ra đi quá lớn này. Tâm muốn nhờBáochuyền lời chia buồn sâu sắc của mình tới gia đình, người thân và những người yêu mến nhạc của bác Phạm Duy.
Ánh Tuyết

Khi nghe tin ông mất, tôi như rụng rời chân tay. Bởi hơn ai hết, tuổi thơ của tôi đã gắn liền với nhạc Phạm Duy, tôi lớn lên, đam mê từng giai điều trong âm nhạc của ông từ nhỏ là bởi những người anh của tôi rất đam mê nhạc của ông và mỗi khi họ tập đàn, họ đều yêu cầu tôi hát theo. Âm nhạc của Phạm Duy đã ngấm vào máu tôi từ đó.
Thời gian gần đây tôi rất hay gặp Phạm Duy bởi tôi đang có dự án làm album nhạc của ông, điều đó làm ông rất vui. Còn tôi, nhờ những lần trao đổi với ông, tôi hiểu ông nhiều hơn và nhờ đó cũng học hỏi được nhiều điều. Chính vì hay được gặp ông gần đây nên khi nghe tin ông mất tôi không thể nào tin được, bởi ông đã già yếu nhưng vẫn còn khoẻ lắm, giọng ông vẫn hào sảng lắm.
Ông mất đi tôi hối hận lắm, bởi tôi đang cố gắng làm một album nhạc của ông trước khi ông mất, tôi không muốn như Trịnh Công Sơn, người đã đi rồi thì mình mới bắt đầu làm nhạc. Tiếc là dự án này chỉ mới đi nửa chặng đường thì ông đã mất.

Trong toàn bộ sự nghiệp âm nhạc của mình, tôi chỉ hát một bài của ông là bàiNgày trở vềtrong chương trình Duyên dáng Việt Nam, tuy tôi không hiểu hết được ý nghĩa của bài hát nhưng quả thực bài hát đã lay động lòng người. Tôi nghĩ, đó là một cơ duyên của tôi đối vời người nhạc sĩ tài hoa này.
Ấn tượng mà tôi nhớ mãi về ông có lẽ là hình ảnh một người nhạc sĩ già, ngồi trên ghế và lắng nghe những ca sĩ con cháu hát trên sân khấu, thậm chí còn lẩm nhẩm hát theo, cảm giác đó rất khó tả cứ như người ông đang rất viên mãn lắng nghe con cháy vậy. Con trai ông mới ra đi chưa lâu và giờ ông lại ra đi, tôi chỉ muốn như một người con cháu, gửi lời tri ân và chia buồn sâu sắc nhất tới ông. Mong ông yên nghỉ...
Phạm Duy: 'Tôi về đây là vì tôi yêu nước'

Nhạc sỹ Phạm Duy kể lại những biến cố trong cuộc đời mà ông đã trải qua, từ cuộc di cư từ Bắc vào Nam, các sự kiện Mùa Hè đỏ lửa, tháng 4/1975 và chuyến vượt biên lênh đênh qua Hoa Kỳ của ông.
Trong phần II của cuộc trao đổi với BBC, chương trìnhBấmYour World, ông cũng dành thời gian nói về quan điểm sống, quan niệm sáng tác, về kỷ niệm của nhiều ca khúc và đặc biệt nói về chuyến trở về Việt Nam sau hàng chục năm sống ở xứ người.
BBC:Ông rời Việt Nam sang Mỹ năm 1975, ông có thể kể về toàn bộ chuyến đi và thời gian ông ở Mỹ được không?
Cũng vất vả lắm, nhưng cũng xong rồi. Đầu tiên tôi cũng không đi đâu được cả, bởi vì lúc đầu chỉ có 250.000 người Việt Nam ở rải rác khắp nơi, nhưng rồi nó lên đến 2 triệu người, thì tôi đi hát cho những người đó nghe.
BBC:Ông ở Philippines bao nhiêu lâu trước khi đến Mỹ?
Ở trong trại tị nạn hồi đó, đáng lý ra tôi phải đi ra ngoài ngay. Nhưng tại vì lúc đó tôi bị kẹt vì mấy người con còn ở lại. Thành ra tôi cũng nán lại. Nhưng hình như chỉ ở độ 3 hay 4 tháng thôi. Đi sang bên đó vào đầu tháng Năm, thì vào tháng Tám, tháng Chín thì tôi ra khỏi trại.
BBC:Và khi ông tới Mỹ thì có vấn đề gì không?
Không, không có vấn đề gì. Tôi không có coi cái gì là quan trọng cả. Tất cả giản dị lắm.
BBC:Khi đi Mỹ thì ông có tâm trạng như thế nào, ông có buồn không?
Đi Mỹ, phải đi Mỹ, thì vừa buồn, vừa vui. Buồn là vì phải bỏ nước ra đi, mất luôn cả mấy cái nhà nữa. Nhưng đi thì cũng là cơ hội để mình đi xem quốc tế, thế giới ra sao, lại vui.
BBC:Khi đi Mỹ, ông xuất bản cuốn “Musics of Vietnam” ra sao và việc biểu diễn âm nhạc của ông ở Mỹ thế nào?
Cái đó tôi viết lâu rồi, nhưng khi sang tới Mỹ, lúc đó mới kịp in ra. Cuốn “Musics of Vietnam” tôi viết từ lâu. Tôi đi gần như khắp nước Mỹ. Khổ nỗi là lúc đó tôi đã già rồi, đã trên 50 tuổi rồi, không đủ sức khỏe để đi nhiều thôi. Nhưng tôi sang bên đó, thì tôi đi hát chung với những người nhạc sỹ, ca sỹ Mỹ. Và đồng thời gia đình tôi cũng có mấy người đi hát với tôi. Hồi đó Khánh Ly cũng đi hát chung trong nhóm của chúng tôi. Chúng tôi vẫn đi luôn.
BBC:Thời gian ông đi Philippines, ông đã viết “Tị nạn ca”, “Nhục ca” đúng không?
Những bài đó là bài soạn ra trong lúc hoảng hốt, không nên nhắc đến. Tôi quên rồi.
BBC:Khi ông về lại Việt Nam, phản ứng của chính quyền thế nào, có vấn đề gì không?
Rất tốt. Khi tôi về, đầu tiên, tôi xin lại, hồi tịch lại, tôi lại trở thành người Việt Nam ngay. Tôi không còn là người Mỹ nữa. Đó là một cái rất tốt. Đối với tôi và chính quyền ở đây không có vấn đề gì cả. Họ cũng thấy tất cả mọi sự trong cuộc gọi là giao tranh giữa hai miền như vậy, thì không có ai...
BBC:Còn phản ứng của mọi người nói chung ra sao?
Rất tốt. Là vì khi tổ chức một đêm “Ngày trở về” ở Hà Nội, thì tất cả các ca sỹ thượng thặng đều tham gia hết.
BBC:Cảm xúc của ông khi trình diễn “Phạm Duy – Ngày trở về” ở Nhà hát lớn như thế nào?
Tôi rất mừng vì bao nhiêu năm nay, tôi tưởng người Việt Nam không ai còn hát nhạc của tôi nữa. Tôi về, tôi thấy là họ vẫn hát nhạc của tôi như thường. Vui lắm. Tôi còn nhớ là lúc còn trẻ, tôi làm bài “Nhạc tuổi xanh”. Trong đó có một câu là “Đường ta, ta cứ đi”, thì bây giờ thì “Đường về, ta cứ về thôi.” Giản dị. Hồi đó tôi cũng thấy bình thường thôi. Tôi đã đứng hát trên sân khấu Nhà hát lớn cách đây gần 60 năm rồi. Bây giờ tôi trở lại, tôi cũng vui chứ. Chỉ có vấn đề là hát không có hay như ngày xưa thôi, dở lắm.
BBC:Được biết là chỉ có 10% bài hát của ông được cho phép ở Việt Nam, cái này đúng không?
Đúng rồi, nước nào người ta cũng có những quy định về vấn đề cho phép hay không cho phép. Nói cho đúng ra, sở dĩ tôi chỉ có 1/10 sáng tác của tôi thôi, là cũng giản dị là vì tôi không đứng ra xin phép. Nếu tôi xin phép, có thể họ cũng cho ra đấy. Nhưng ở đây phải xin phép mới được. Thế thôi, không có gì khó cả. Rất giản dị. Những người ngoài thấy là hơi bất bình là vì tại sao tôi nhiều bài như vậy mà chỉ cho tôi có 100 bài thôi. Nhưng khổ nhất vấn đề là tôi phải đứng ra tôi xin thêm thì người ta mới cho chứ. Không xin thì người ta không cho.
BBC:Ông có không băn khoăn gì về chuyện phép tắc đó không?
Tôi nói rằng tôi về đây, cứ hát một bài của tôi là cũng xong rồi. Đừng nói là được hát 100 bài. Tôi về đây không phải là tôi đi tìm danh vọng, hay tôi tìm đồng tiền kinh tế. Không phải. Tôi về đây là vì tôi yêu nước thôi. Mà tôi phải về vì người già nào cũng muốn chết ở quê hương của mình, thế thôi.
BBC:Ông có viết một số bài gọi là “Hương ca” nói về cảm xúc của ông khi về nước đúng không?
Đúng, những bài đó là tâm tình của tôi đấy. Lúc tôi về nước, tôi làm 10 bài hương ca. Nhưng mới xin phép được 5 bài thôi. Bởi vì tôi chỉ mới xin phép 5 bài thôi. Ví dụ như bài “Hương rừng Cà Mau”. Đây là bài thơ của một thi sỹ tên là SơnNam. Tôi làm một bài để xưng tụng những người đầu tiên đi khai phá miềnNam.
'Đang xin phép'
BBC:Trước đây ông có một trường ca rất nổi tiếng là “Mẹ Việt Nam,” tác phẩm này có được phép không?
“Mẹ Việt Nam” và “Trường ca Miền Nam” là hai bài đang xin phép. Cũng mới gửi đi xin phép, thành ra không thể nói gì hơn được nữa. Nếu mà được thì càng tốt, bởi vì những bài đó xưng tụng sự thống nhất của đất nước và con người.
BBC:Ngoài bài “Mẹ Việt Nam”, cũng có bài “Việt Nam, Việt Nam”, Việt Kiều ở Mỹ nghĩ gì về bài đó?
Người Việt Nam ở Mỹ, hay đi hải ngoại rồi, muốn nghĩ gì thì nghĩ, tôi không quan tâm. Bởi những người đó vẫn còn nuôi oán thù. Mà tôi chủ trương là sau 30 năm trời, thì phải đến các lúc mà có sự hòa hợp dân tộc. Thì phải thế thôi. Thế còn người nào cất tiếng lên chửi bới nhau chỉ vì đi về Việt Nam không thôi, thì tôi không nói chuyện với họ. Muốn nghĩ gì thì nghĩ. Khi tôi làm bài đó ra, tôi đâu có nghĩ đến trường hợp đến một ngày nào đó, có một người Việt Nam ở bên Mỹ lại hát bài đó. Tôi chỉ làm ra thôi. Cái tình cảm của tôi lúc đó vẫn là hòa hợp dân tộc.
BBC:Ông viết “Mẹ Việt Nam” năm 1965, tại sao lúc đó ông lại muốn viết bài này?
Đầu tiên nước Việt Nammình sinh ra là một nước theo chế độ mẫu hệ. Tức là xưng tụng người đàn bà nhiều hơn. Tôi cũng dựa vào cái đó để tôi nói về lịch sử ViệtNam. Lịch sử Việt Namthì cũng có những lúc chia rẽ nhau như thời Trịnh – Nguyễn phân tranh chẳng hạn. Thế nhưng cũng có thời họ thống nhất. Nước Việt Nam mình đã có thời kỳ chia cắt, thì phải có lúc thống nhất thôi.
BBC:Có người nói ông có công lớn với âm nhạc Việt Nam, ông nghĩ sao?
Không, không nói công với tội gì cả. Tôi sợ những cái đó. Ai khen tôi hay ai chê tôi, tôi đều sợ cả. Vì tôi làm việc cũng như người làm ruộng thôi. Làm ruộng thì phải cấy lúa, làm nhạc thì phải đánh đàn, giản dị thế thôi.
BBC:Có một số bài chưa nói tới như “Gánh lúa.”
Ô, bài ấy hay lắm. Bài ấy vui lắm. Bài ấy là bài cuối cùng của tôi làm trong khi còn ở Kháng chiến. Bài ấy tôi diễn tả một đoàn người nông dân đi gánh lúa để nuôi lính, nuôi quân. Hay lắm. Khi tôi hát bài dân ca, thì cũng có khi có những người hát thay tôi bài “Gánh lúa”. Nếu tôi không nhầm, thì tôi giữ được nhiều “versions” của những người này, người họ hát. Họ hát hay lắm, rất ViệtNam.
BBC:Rất nhiều ca sỹ đã trình bày các bài hát của ông, ông nghĩ gì về họ?
Nhiều lắm. Thái Thanh suốt đời hát nhạc của tôi. Còn Khánh Ly cũng hát. Ai cũng hát hết, những người nhạc sỹ già đó. Còn những người nhạc sỹ trẻ như Tấn Minh hay Đức Tuấn hay Mỹ Linh cũng đều hát nhạc của tôi hết. Tất nhiên là họ hát những bài đã được phép. Nước nào cũng có quy luật của nó chứ. Anh làm sao đi quá luật được.
BBC:Từ đầu 1960 so với Tết Mậu Thân, thì nhạc của ông có thay đổi không?
Cái đó thì phải để người khác người ta phê bình, chứ tôi không biết. Tôi chỉ biết làm thôi. Đại khái như bài nhạc của tôi làm hôm nay nó khác với bài trước như thế nào, thì tôi chịu chết (không thể biết được). Tôi không thể giải thích được. Người khác giải thích hộ tôi.
BBC:Nhưng có một số bài nói về thiên nhiên vào những năm 1950 và đầu 1960, như là bài ca “Sao” và “Chiều về trên sông”, ông có thể nói gì về quan hệ thiên nhiên và âm nhạc?
Lúc đó là lúc tôi bỏ qua trường hợp nhìn vào đất nước Việt Nam. Tôi muốn nhìn vào cuộc đời nhiều hơn. Tôi nói những câu chuyện về “Bài ca sao”, “Bài ca Trăng”, thì nó vượt ra khỏi nước Việt Nam rồi.
BBC:Từ năm 1954-1975 ở miền Nam, không khí âm nhạc thời đó như thế nào?
Tôi không nhớ được, quên rồi. Thời cuộc của Việt Nam thay đổi nhiều quá, thành ra tôi cũng quên mất.
BBC:Nhưng khi ông hát “Tâm phẫn ca”, sinh viên nghe thì họ thấy sao?
Cái đó thì họ phải thích chứ. Bởi vì cái đó cũng nói lên được lòng căm giận của họ cũng như của tôi, là vì chiến tranh kéo dài quá.
BBC:Về âm nhạc mà ông đã sáng tác sau khi về Việt Nam năm 2005, ông có thể nói về trường ca về “Minh họa Kiều”?

Về đây tôi mới sáng tác được toàn vẹn “Minh họa Kiều”. Vì “Minh họa Kiều” dài lắm. Nó dài phải đến hơn 2 tiếng đồng hồ mới hết. Tôi mới làm được 3 phần, về đây tôi làm nốt là phần thứ tư, về đây mới làm được, xong rồi. Tôi làm “Hương ca” là bản nhạc mới. Rồi tôi làm thêm những bài nhạc phổ thơ của thi sỹ Bích Khê. Đó cũng là những cái mới hết. Muốn biết nó ra sao thì phải mua đĩa để nghe thôi.
Trong “Hương ca” nó nói gì? Nó nói về tình yêu nước. Mà yêu nước của Việt Nam nay nó khác với yêu nước của ngày xưa rồi. Ngày xưa tôi làm bài “Tình hoài hương” là vào 1950, thì cái đẹp của đất nước nó khác cái đẹp của bây giờ. Ví dụ như là ngày xưa còn có những người đàn bà con gái răng đen, và đồng thời ăn mặc quần áo nâu. Bây giờ người con gái, anh đi về vùng quê anh coi, họ mặc hoàn toàn giống như những người mới, chứ không phải như người cũ nữa. Vậy thì tình cảm của tôi cũng phải khác đi.
BBC:Ông chọn một bài thơ để phổ nhạc như thế nào, ông có thể cho một vài ví dụ?
Tại sao tôi chọn bài thơ của ông Hoàng Cầm, là vì lúc đó ông Hoàng Cầm là nhà vô địch của những bài thơ kháng chiến. Tại sao tôi lại phổ thơ của ông Phạm Thiên Thư, là vì lúc đó, ông Phạm Thiên Thư đưa ra những loại nhạc lúc đó gọi là “Đạo ca”, là những cái mới hết. Ông Nguyễn Tất Nhiên là những bài ca ngộ nghĩnh, vui vẻ. Tôi chỉ có thể nói thế được thôi, còn đi vào chi tiết, không thể nói được.
BBC:Còn các bản “Tị nạn ca” thì sao?
“Tị nạn ca” là những bản nhạc nói chung về những vấn đề những năm không còn ở trong nước nữa. Đó là tị nạn chứ gì. Thế nhưng xong rồi thì tôi thấy là nó là những bản nhạc hơi “ảo ảnh quê hương”, chứ không phải là bản nhạc thật. Ngồi ở Bridgeway City mơ tưởng đến cánh đồng Việt Nam, thì nó hơi vô duyên quá (non-sense). Sau tôi quyết định tôi không nhắc đến nữa.
BBC:Giáo sư Trần Văn Khê sẽ viết về những tác phẩm nào của ông không?
Tôi không biết, chỉ biết là ông ấy đã viết được trên 100 trang rồi.
BBC:Ông là người rất nhạy về công nghệ, nhất là ứng dụng cho âm nhạc, ông đã sản xuất một CD đầu tiên ở Mỹ. Ông có thể nói gì về chuyện này?
Giản dị thôi, ngày xưa, tôi đi học ở trường Kỹ nghệ thực hành, thành ra những cái gì thuộc về vấn đề kỹ thuật, tôi thích lắm. Khi có được thời đại computer, năm 1982 là lúc computer ra đời, thì tôi vội vàng học ngay rồi. Từ đó tới nay, tôi áp dụng vào trong sáng tác nhạc, thì rất tốt. Nếu tôi không đi học được kỹ thuật, thì tôi không hiểu biết được kỹ thuật mới. Tôi nghĩ là tôi may mắn hơn những người khác là tôi thấy ngay được cái hay, cái ích lợi của computer và tôi dùng nó ngay.
BBC:Ông biết gì về phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe”? Âm nhạc của phong trào này khác gì với nhạc của ông?
Không, tôi không làm loại đó. Cái loại đó của người khác làm. Ông Tôn Thất Lập thì phải. Không phải tôi. Tôi không biết. Tôi không được nghe những bài đó. Tôi có biết là ông ấy có làm những bài hát là “Hát cho đồng bào nghe”, nhưng tôi không có ở trong tay để biết là bài đó ra sao. Tôi không dám phê bình.
'Sức mấy mà buồn'
BBC: Âm nhạc ở miền Nam Việt Nam ngày xưa có rất nhiều luồng, quan hệ giữa chúng ra sao?

Tôi cũng biết hết đấy, nói cho nó ngay ra mà nói là không biết thì không đúng, nhưng mà biết, nhưng nó không ảnh hưởng đến tôi gì cả. Tôi kính trọng những bài đó, thế thôi. Tôi không chê mà tôi cũng không khen.
BBC:Mục đích nhạc của ông những năm 1960 là gì?
Vẫn là con đường cũ tôi đi theo. Tức là vấn đề “khóc, cười theo mệnh nước”, lúc nào nước vui, thì tôi cười, thế còn lúc nào nước buồn thì tôi khóc.
BBC:Có sự kiện nào trong lịch sử làm cho ông buồn?
Không bao giờ tôi buồn cả, bởi vì tôi có bài hát gọi là “Sức mấy mà buồn”. Không bao giờ tôi buồn cả. Buồn làm gì, vô ích. Nếu có buồn, thì cũng chỉ buồn đại khái thôi, nói cho nó vui thôi chứ, không bao giờ tôi bị buồn cả.
BBC:Nhưng có một số bài buồn như là “Ngậm ngùi”?
“Ngậm ngùi” thì đâu có buồn. Đó là một bài hát an ủi. Ông ta làm thơ như vậy để khuyên mọi người trở về với đời sống bình thường thôi. Thì đó là an ủi nhau thôi chứ không có gì mà buồn.
BBC:Bài “Quê nghèo” chẳng hạn?
“Quê nghèo” thì thực sự là buồn. Đó là bởi vì chiến tranh. Tôi làm bài “Quê nghèo” đó là người ở quê là người dân nghèo, đói nhất ViệtNam, lại còn bị chiến tranh nữa. Thì tôi diễn tả đó thôi.
BBC:Bài “Quê nghèo” thì ông diễn tả điều gì?
“Tôi không xa kinh kỳ sáng chói”, có những ông già “Cày bừa thay trâu” thì khổ quá. Đó là một bài mà nhiều người Việt Nam rất cảm động, rất thích, là bởi vì tôi nói được những cái đó lên
Sinh thời, nhạc sĩ thường dành nhiều bài viết đặc biệt của ông cho báo xuân Việt Báo. Sau đây là một số bài viết về người nhạc sĩ lớn của chúng ta, trích từ Việt Báo Tết trong hai năm gần đây.
Bài I.
PHẠM DUY CÒN ĐÓ NỤ CƯỜI
92 TUỔI, 70 NĂM CA HÁT

đến nỗi ai cũng có thể nhớ một kỷ niệm đẹp gắn liền với một hai ca khúc của ông.”
Người viết: Quỳnh Giao
Việt Báo Tết Nhâm Thìn 2012.
Vào dịp cuối năm, khi đèn đuốc Giáng Sinh lấp lánh đón mừng năm mới trong tiếng thánh ca, mà Tết Nguyên Đán năm nay lại đến khá sớm, chúng ta có cảm giác như bị thời gian xô đẩy tới chốn lạ, nơi mà cái mới cùng chen chân với cái cũ.
Cảm giác vừa bồi hồi với những gì đã qua đi và sẽ mất luôn, lại vừa háo hức với hy vọng của ngày mới khiến mình rất dễ tìm lại tuổi ấu thơ. Đấy là cái tuổi mà con trẻ phải đi ngủ sớm vì mai sẽ có tấm áo mới, nhưng vẫn luyến tiếc những nhộn nhịp của ánh đèn giao thừa và tiếng pháo đì đùng nên chưa chịu chui vào màn. Chỉ sợ là sẽ lại hụt mất một chuyện gì vui lắm!....
Tâm trạng mông lung ấy của người viết còn được "điểm xuyết" bởi một biến cố nhỏ, rất riêng tư. Duy Cường, con trai nhạc sĩ Phạm Duy, gửi thư báo tin là sẽ ra chơi vài ngày nên hẹn gặp bà chị.
Tối hôm đó, chúng tôi trở lại "Thị Trấn Giữa Đàng" là Midway City, tìm đến con đường cũ và ngôi nhà xưa của Phạm Duy, có liếp mắt cáo sơn trắng. Gia đình vẫn giữ ngôi nhà ấm cúng ấy. Trên xe đến đón Duy Cường, Quỳnh Giao nhớ lại Chú Duy và Cô Hằng, bỗng dưng lâm râm hát lại "Kỷ Niệm" ông viết cách đây 55 năm. Năm đó, ông đưa ngay cho con bé hát và ca khúc trở thành một phần khó phai của đời sống người viết.
Trong bữa ăn tối hôm đó, thực đơn chỉ có một món Phạm Duy! Tôm hùm cá hấp gì cũng không bằng "ngàn lời ca" và những câu chuyện về sức khoẻ và cách sống của ông ở nơi chốn ấy.
Phạm Duy sinh năm Dậu, cùng tuổi với thân mẫu của người viết nhưng sinh sau hai tháng và từ bé Quỳnh Giao đã gọi bằng chú. Khi hát trong ban "Hoa Xuân" của ông thì mình có cái thế như "con cháu trong nhà", lại được ông quý vì yêu nhạc, thích lời.
Phạm Duy quý mến tất cả những ai hát nhạc của ông, dù đôi khi hát chưa tới, hoặc sai lời. Ông dung dị hơn người bạn và cũng là một nghệ sĩ sáng tác xuất chúng là Vũ Thành. Dung dị mà đáo để. Trong ca khúc phổ thơ Thế Lữ là "Tiếng Sáo Thiên Thai", có người hát sai lời "hai con hạc trắng bay về Bồng Lai" thành... "bay về Đồng Nai". Đây là Phạm Duy trong tiếng cười: "Cũng được! Như vậy cho nó gần!..." Đúng là khẩu khí Phạm Duy.
Khi Quỳnh Giao thực hiện những đĩa nhạc có ca khúc Phạm Duy do Duy Cường soạn hòa âm – nhanh thật, mới đó đã gần hai chục năm – ông thường vào tận phòng ghi âm ngả lưng trên thảm thưởng thức phần thu thanh. Duy Cường cau mặt, cho bố nghe nhưng cấm bình đấy!
Có lần ông còn gật gù cho người viết này được sửa một chữ trong bài "Đường Chiều Lá Rụng". Thế mới ghê!...
Trong thế kỷ 20 của chúng ta, giữa quá nhiều tai ương thì Việt Nam vẫn có được một món quà nghệ thuật là "tân nhạc cải cách" xuất hiện hơn 70 năm về trước, khiến cho từ đấy đa số dân ta không hát như xưa nữa. Trong kho tàng tân nhạc đó, chúng ta có những tác phẩm của Phạm Duy, cả ngàn tác phẩm. Vị trí của ông, khó ai thay thế được.
Ông không chỉ là người may mắn sống rất thọ và viết rất sớm - từ đúng 70 năm trước vào năm 1942. Ông còn là người sống rất nhiều, tích tụ đủ loại sóng gió trong đời rồi biến thành nhạc.
Do những kỷ niệm thân thiết từ thuở ấu thơ đến mãi về sau, riêng Quỳnh Giao lại nhớ đến vài chi tiết đặc biệt về người nghệ sĩ siêu hạng này.
Phạm Duy là người có biệt tài ăn nói.
Ông có thể ứng khẩu trình bày hàng giờ về nhạc, đôi khi bằng tiếng Pháp rất chuẩn, với sự lôi cuốn vì mở ra cho người nghe những chân trời mới về âm nhạc và đời sống. Trong sự hùng biện ấy, ông còn có tài... chọc giận khiến nhiều người không hiểu có thể nổi điên mà mắc mưu.
Quỳnh Giao nhớ đến lối "đánh đuổi chầu rìa" quanh một bàn mạt chược: người trong cuộc không ưa kẻ đứng ngoài cứ bàn vào nước bài nên cố tình đánh ngược cho người đó phát bực mà đi chỗ khác! Quý vị nào mà bực và giận thì sẽ... hai lần khổ. Vì mình thì mất vui và ông lại bất cần!
Nổi tiếng về cách ăn nói hay nếp sống rất lạ, Phạm Duy thật ra lại là người rất ngăn nắp và chu đáo!
Ông thú thực không biết uống cà phê, ghét rượu và chẳng thích cờ bạc. Mọi tội ông chỉ có nòi tình, nhưng cũng thú thực là chưa tán ai cả, chỉ có người tán mình mà thôi! Người duy nhất ông tán tỉnh là bà vợ: Thái Hằng. Không chỉ tán bằng lời duyên dáng có thừa, ông thủ vai "Chú Cuội" để tán tụng bằng nhạc. Câu “Ta yêu cô Hằng, năm xưa xuống trần”… là để thổ lộ với một nàng có thật. Ông nghịch ngợm với chuyện thiêng liêng nhất của con tim!
Ngày xưa, nhiều lần từ California qua miền Đông chơi, Phạm Duy thức dậy rất sớm, điểm tâm đầy đủ dù chỉ uống trà chứ không uống cà phê. Rồi lấy ngay bản đồ gấp sẵn trong túi áo, xem trước những nơi chốn sẽ phải tới. Ông chỉ nhờ chủ nhà đưa ra bến xe điện ngầm, hẹn giờ sẽ về tới địa điểm khởi hành. Ông khoác áo ra đi và trở về đúng giờ giấc mà không muốn làm phiền một ai.
Quỳnh Giao thấy bốn người có lối sống trái ngược với tác phẩm của mình. Võ Phiến viết văn sắc xảo mà sống hiền hòa nhũn nhặn. Nguyên Sa tài hoa với thơ nhưng là thương gia có hạng. Mai Thảo ăn nói bạt mạng mà lại ân cần với văn chương và từng độc giả.
Phạm Duy là trường hợp thứ tư. Ông không hành xử như một nghệ sĩ xuất chúng và chờ đợi nhân gian phải cung phụng, chiều chuộng. Ông rất... văn minh trong cách cư xử đó.
Là nhạc sĩ sáng tác không có nguồn sống nào khác ngoài nhạc, Phạm Duy sòng phẳng với mọi người, dù đã biết và đã viết... "dăm eo sèo nhân the / Chưa phai lòng say mê. "Đôi ba lần gian dối, Đời vẫn ban cho ngọt bùi" là một cách nói của ông, nhưng Quỳnh Giao khó quên được vài kỷ niệm hơi đắng.
Trong một buổi ra mắt tại Houston để phổ biến đĩa nhạc "Minh Họa Kiều" của ông, Quỳnh Giao áy náy vì thấy số bán quá ít. Đây là Phạm Duy: "Cháu ơi, có người mua ngần ấy là mừng rồi! Lần trước, chú lễ mễ từ Cali qua miền... (xin miễn nói tên) mà đem về gần hết!"
Giờ này nhớ lại thì vẫn ứa nước mắt, nhưng bỗng thấy yêu đời hơn vì chữ "ngọt bùi". Và càng hiểu vì sao "gã Duy già của chúng ta" - như ông đã xưng từ bốn chục năm trước - có những phút nổi loạn, mà cũng có lúc như an phận. Ông giữ riêng mối thâm giao với nghệ thuật và cười với sóng gió.
Tác phẩm của Phạm Duy làm đời sống chúng ta thêm phong phú, đến nỗi ai cũng có thể nhớ một kỷ niệm đẹp gắn liền với một hai ca khúc của ông. Nhưng mấy ai đã đáp lại cho tương xứng?
Rất riêng tư thì Quỳnh Giao cầm bút lần đầu là để viết cho tờ Văn Học một đoản văn mừng sinh nhật thứ 66 của Phạm Duy, cách nay 25 năm rồi. Từ đó đã viết thêm cả chục bài về lời và nhạc của ông trong một số tác phẩm mình yêu thích nhất. So với những gì ông đã cống hiến cho người nghe và người hát thì thật chưa đầy vốc tay.
Được tin ông vẫn vui sống dù sức khoẻ không còn như xưa, Quỳnh Giao kính chúc ông "sống lâu trăm tuổi" nhưng biết rằng ông đã sống hơn trăm tuổi cho âm nhạc. Và di sản của ông sẽ tồn tại rất lâu trong tâm khảm của chúng ta.
Mừng năm mới, xin quý vị hãy lẩm nhẩm nhớ lại ngàn lời ca của Phạm Duy, từ dân ca đến tình ca, từ chiến trường ca đến đạo ca, tâm ca, hãy đi lại "Con Đường Cái Quan" trong trí nhớ, hãy để ý đến hình tượng của Mẹ trong ca khúc Phạm Duy và những khúc xuân ca của ông, chúng ta sẽ thấy rằng đời sống của mình có thêm ý nghĩa.
Đấy là món quà xuân bất tận của Phạm Duy. Mong rằng đấy cũng là niềm vui bất tận cho người nghệ sĩ thật ra vẫn trẻ mãi không già.
Quỳnh Giao
Việt Báo Tết Nhâm Thìn 2012.
Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Saigon tổ chức Mừng Thọ Nhạc Sĩ Phạm Duy

“Ông tiếp tục rót vào không gian và trái tim chúng ta dòng nhạc tuyệt vời.”
James Durst viết về Phạm Duy. Saigon 5-10- 2011.
Hình ảnh trích từ trang web của James Durst, người nhạc sĩ lừng danh của nhạc đồng quê Mỹ, kể lại chuyện lần đầu tiên ông bay từ Hoa Kỳ sang Việt Nam chỉ để mừng sinh nhật thứ 91 của nhạc sĩ Phạm Duy. Ảnh mới do Phong Quang chụp ngày 5 tháng Mười 2011. Ảnh cũ từ mùa xuân 1974, khi James Durst cùng Phạm Duy đi hát khắp miền Nam Việt Nam. Bài đăng trong báo xuân Việt Báo Tết Nhâm Thìn 2012, do Trần Dạ Từ trích lược và ghi chú.
Chiều tối ngày 5 tháng Mười 2011, sinh nhật thứ 91 của nhạc sĩ Phạm Duy đã được tổ chức tại tư gia ông Lê Thành Ân, Tổng lãnh sự Mỹ ở Saigon, với sự tham dự của gia đình Phạm Duy và thân hữu Việt Mỹ. Để mừng thọ người bạn nhạc sĩ, James Durst lại cầm đàn hát dân ca “Qua Cầu Gió Bay” và ca khúc Phạm Duy do chính chàng chuyển sang Anh ngữ: “Little Child, catch a cricket. (Chú bé, chộp con dế.) Tiếp theo, nhiều ca khúc Phạm Duy cũng được hát bởi Duy Quang, Tuấn Ngọc, Thái Thảo, Đức Tuấn... Vị Tổng lãnh sự Mỹ gốc Việt nói “Buổi chúc thọ Phạm Duy góp phần tốt đẹp trong bang giao Việt Mỹ, vì sự giao tiếp văn hoá là quan trọng, có thể là phần quan trọng nhất, trong quan hệ giữa hai nước.” Trên trang web của ông, nhạc sĩ James Durst viết như sau:
“Sau 37 năm, vào tháng Mười 2011, tôi đã trở lại Việt Nam --chuyến đi rất ngắn-- để vinh danh ông bạn Phạm Duy của tôi, nhân dịp mừng sinh nhật thứ 91 của ông. Mặc dù Phạm Duy sinh ngày 21 tháng Mười năm 1921, nhưng người Việt Nam được tính một tuổi ngay khi vừa chào đời. Vị trí quốc gia của Phạm Duy giống như Pete Seeger/ Woody Guthrie*, đệ nhất ca nhạc sĩ Hoa Kỳ. Ông là ca sĩ, nhạc sĩ, phổ thơ, soạn ca kịch, hoà tấu và hàng ngàn ca khúc. Chúng tôi từng cùng nhau đi trình diễn khắp miền Nam Việt Nam vào mùa xuân 1974, theo lời mời của US Information Service. Tình bạn còn đưa tới việc chúng tôi cùng nhau thực hiện một tập nhạc song ngữ Phạm Duy - James Durst, Songs / Ca Khúc do Hội Việt-Mỹ bảo trợ, xuất bản. Một thân hữu đã tìm thấy ấn bản năm xưa của tập nhạc này trong một tiệm sách cũ và mang nó tới buổi tiệc mừng sinh nhật. Tôi đã ghi âm nhiều bài ca được chuyển ngữ này và dùng hai bài trong tập nhạc của tôi, Hue Manatee’s Quest**. Trên cái bìa bao màu đỏ đặc biệt của tập nhạc, hình người đàn ông ở hàng đầu chính là Phạm Duy. Sau 30 năm sống cùng gia đình tại miền Nam California, ông trở về Saigon năm 2005 sống những ngày còn lại. Cùng với hai người con, (Duy) Quang và (Duy) Cường --cả hai đều là nhạc sĩ được quí trọng-- ông tiếp tục rót vào không gian và trái tim chúng ta dòng nhạc tuyệt vời. James.”
--------
Ghi chú:
* Peter Seeger, năm nay 93 tuổi; ca khúc nổi tiếng: “Turn, Turn, Turn.” Woodrow Wilson “Woody” Guthrie sinh 1912, mất năm 1967; ca khúc nổi tiếng: "This Land Is Your Land,"
** Hue Manatee’s Quest là tên tập nhạc tuyển 10 ca khúc của James Durst. “Sự tìm kiếm của con heo biển Hue” bắt đầu bằng câu nói dễ thương của James, khi chàng cùng Phạm Duy đi hát khắp miền Nam Việt Nam: “My folks named Herald. My friend call me Hue. So can you.”
Viết Về Một Ca Khúc Phạm Duy

Trang bìa bản nhạc, do hoạ sĩ Duy Liêm vẽ, ấn hành tại Saigon năm 1959
“Nhịp điệu uy nghi hùng dũng
mà trong sáng êm dịu.”
Người viết: Quỳnh Giao
Việt Báo Tết Quý Tỵ 2013
Có phải là ngẫu nhiên chăng mà hai nhạc phẩm đầy tính chất anh hùng ca của Lizst và Beethoven đều lấy âm giai Mi giáng Trưởng (Mi bémol Majeur)? Đó là Cầm tấu khúc số 1 của Lizst có tên là "Héro" và Cầm tấu khúc số 5 của Beethoven có tên là "Emperor" viết cho đại đế Napoléon.
Trong nền tân nhạc Việt, các ca khúc về lịch sử hay những bài hùng ca thường được viết trên âm giai Fa Trưởng. Nói về nhạc thuật, các âm giai Trưởng như Do, Ré và Fa nghe thấy trong sáng và hợp với giọng Kim. Khi giọng Kim là giọng chính (chant), bè phụ thường được viết thấp hơn để làm nổi giọng chính. Những ca khúc như “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” của Hùng Lân, “Nước Non Lam Sơn” hay “Bóng Cờ Lau” và “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Hoàng Quý, “Hội Nghị Diên Hồng” hay “Bạch Đằng Giang” của Lưu Hữu Phước, “Việt Nam, Việt Nam” của Võ Đức Thu, “Việt Nam Anh Dũng” của Dương Thiệu Tước”, “Việt Nam Hùng Tiến” của Thẩm Oánh, v.v.... đều được viết trên cung Fa Trưởng.
Thật sự, thì âm giai trong sáng hay u tối, êm dịu hay gay gắt chỉ có ảnh hưởng với nhạc khí, chứ không ảnh hưởng với giọng hát. Giọng hát nhẹ êm hay mạnh mà cứng là do âm sắc (timbre) của người trình bày. Giọng Thổ thường dầy hơn giọng Kim, ngược lại thì giọng Kim lanh lảnh và thánh thót hơn giọng Thổ. Riêng các nhạc sĩ sáng tác và sử dụng dương cầm, mà Frederic Chopin là một điển hình, thì chuộng loại âm giai mang nhiều dấu giáng (bémol). Ông cho rằng đàn những nốt giáng (phím đen trên dương cầm) thì tiếng đàn êm hơn, và về kỹ thuật thì ngón tay trườn trên phím, càng sâu càng dễ di chuyển lả lướt hơn…
Trong khung cảnh chung như vậy, ca khúc “Xuân Hành” của Phạm Duy lại được viết trên cung Mi giáng Trưởng, trong sáng mà êm dịu hơn âm giai Fa Trưởng.
Những ai mới nghe ca khúc này thì tự hỏi rằng tác giả dùng chữ "hành" trong ý nghĩa nào. Hành có thể là hành trình, hành khúc, hoặc biết đâu còn là một thể thơ cổ, như bài Tỳ bà hành mà ai cũng biết qua bản dịch của Phan Huy Vinh, hay bài Hiệp khách hành mà các độc giả của Kim Dung có thể còn nhớ và nhất là Hành phương Nam của Nguyễn Bính?
Người nghe hay người thưởng ngoạn có quyền mở rộng sự cảm nhận để hiểu tác phẩm từ sở thích hay nhận thức khác biệt của mình. Nhưng nhạc sĩ Phạm Duy là người cẩn trọng, như tên của ông.
Trong cuốn "Ngàn Lời Ca" được xuất bản tại hải ngoại năm 1987, ông giải thích khung cảnh sáng tác của từng bài mà gọi đó là "sự tích". Ông trình bày rằng mình đã soạn nhiều ca khúc về hành trình của con người trong cuộc đời, trong đó có ba bài hành là "Lữ Hành", "Dạ Hành" và "Xuân Hành". Chúng ta liền hiểu ra ý nghĩa của chữ hành trong tác phẩm.
Nếu "Lữ Hành" là cuộc hành trình thơ thới và bất tận của loài người và được ông sáng tác tại Sàigòn vào năm 1953 đầy hy vọng thì "Dạ Hành" là lúc con người đi trong đêm tối. Mà bóng tối ở đây không là một khái niệm về thời gian khi thiếu ánh mặt trời. Bóng tối là chông gai hiểm hóc của phận người và ca khúc cũng được viết tại Sàigòn nhưng mà là Sàigòn khói lửa của chiến chinh tham tàn năm 1970.
Rồi Phạm Duy mới nói về cuộc đi bình thường là bài "Xuân Hành", sáng tác năm 1959, ở giữa hai bài hành kia. Hành trình bình thường và muôn thuở như câu hỏi đầy vẻ triết học là "người là ai, từ đâu tới và sẽ đi về đâu ".... Ngươi từ lòng người đi ra rồi sẽ trở về lòng người. Người vừa là thần thánh, vừa là ma quỷ, biết thương yêu dai mà cũng biết hận thù dài…. Nhất là biết vui buồn giữa hai nhịp đập của con tim, ngay cả khi tim ngừng đập.
Với khoảng cách thời gian, nghĩa là có thêm sự chín mùi của cuộc sống, mình có thể nghe lại ba bài hành này mà thoát khỏi hoàn cảnh của Sàigòn thời 53, 59 hay 70. Nghe lại với tâm cảnh của chính mình. Đấy cũng là lý do mà Quỳnh Giao thích bài “Xuân Hành” hơn cả.
Về nhạc thuật thì đấy là một ca khúc có nhịp điệu uy nghi hùng dũng, trong sáng mà êm dịu chứ không cứng cỏi, mạnh mẽ như nhiều bài hùng ca hoặc một khúc quân hành. Bài "Lữ Hành" rất hay nhưng ít người hát vì từ đầu đến cuối là dùng nhịp chõi – syncope. Đôi khi có người còn trình bày theo điệu "swing" khá giật mà không phản ảnh được nội dung sâu sắc thánh thiện của lời ca. So với "Lữ Hành" thì bài "Xuân Hành" dễ hát hơn, nhưng cũng cần trình bày hợp ca nên đòi hỏi kỹ thuật hòa âm mới diễn tả hết giá trị của tác phẩm. Phải chăng vì vậy mà ngày xưa, chúng ta ít được nghe ca khúc này ở ngoài các chương trình của đài phát thanh?
Bây giờ mà nghe lại, khi tư duy đã lắng đọng, người ta còn thấy ra một giá trị khác, là nội dung của lời từ.
Phạm Duy đã dẫn chúng ta vào tác phẩm với lời giới thiệu về câu hỏi muôn đời là người từ đâu tới và đi về đâu. Nhưng trong ca khúc mà cũng là một đời người từ thuở là mầm non chớm nở đến khi trở thành lá úa, ông còn diễn tả nhiều điều khác nữa. Nổi bật trong đó là chữ nhân, hay tinh thần nhân ái là chữ mà ông dùng. Chúng ta sinh ra là từ lòng người với tiếng khóc và nụ cười, với thương yêu và hận thù lẫn đắm say. Nhưng chân lý muôn đời là trưa hôm qua có thể còn là người, đêm hôm sau thì đã thác, có khi là vị thần hoặc một lũ ma lẻ loi....
Chữ sinh và hủy chỉ là hai mặt của cuộc đời và ai ai cũng như vậy. Nhưng, nội dung mang tính chất thánh ca của tác phẩm nằm trong thông điệp chìm ẩn bên dưới: sự bất diệt trong vòng tử sinh đó là chữ nhân. Nếu sinh ra và sống mãi với lòng nhân thì chẳng ai nên sợ cái chết. Cuộc hành trình của đời người mang ý nghĩa thăng hoa của một mùa Xuân khi nó được hướng dẫn bởi lòng tử tế.
Khi liên lạc với chú Phạm Duy - người viết vẫn gọi ông như vậy với sự tôn kính - về bài Xuân Hành, Quỳnh Giao đã lẩm nhẩm hát lại và ngẫm lại rồi nghĩ đến một thông điệp tôn giáo.
Đó là lẽ tử sinh của luân hồi, là ngũ uẩn gồm có sắc-thọ-tưởng-hành-thức. Nhờ sự suy ngẫm đó mình tìm ra một chữ "hành" trong kinh sách nhà Phật. Đấy là ý khác của hành trong bài Xuân Hành. Rất đơn giản thì hành động tốt sẽ tạo ra thiện nghiệp để có ngày vượt khỏi lẽ tử sinh. Phải chăng, câu "Đường nhân ái còn đi mãi mãi" của ca khúc nói về một cách sống bất tử? Nếu quả như vậy thì thông điệp này còn sâu xa biết bao.
Nhân mùa xuân tới, bài này được viết vơi lòng tri ân được gửi đến tác giả, cùng với lời chúc Xuân.
Quỳnh Giao
Việt Báo Tết Quý Tỵ 2013
'VN hai câu nói sau cùng khi lìa đời'

Cuối tháng Tư 1975, tôi rời Việt Nam trên một con tàu không máy được kéo ra khỏi bờ sông Sài Gòn từ bến kho 5. Khi tàu tách bến, nhìn thành phố bập bùng khói lửa, nước mắt rưng rưng và lòng thầm hát:
Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ bến tơi bời
Làn mây hồng pha rán trời
Sóng Đà giang thuyền qua xứ người…
Lời ca theo tôi trên một hành trình vô định. Cho đến khi tới được Hoa Kỳ và biết rằng nhạc sĩ Phạm Duy, tác giả của “Thuyền viễn xứ”, cũng đã bỏ nước ra đi.
Với ông, đó là một lần nữa bỏ quê hương, sau lần rời Bắc vào Nam sinh sống hơn 20 năm trước đó. Lần xa quê này ông chỉ mang theo được người bạn đời là ca sĩ Thái Hằng và những cô con gái là Thái Hiền, Thái Thảo và Thái Hạnh, còn các con trai Duy Quang, Duy Minh, Duy Hùng, và Duy Cường đều kẹt lại.
Nơi quê người, khởi đầu định cư ở Pensacola, tiểu bang Florida. Sau một thời gian ngắn Phạm Duy đưa gia đình về Midway City – mà ông gọi là “Thị trấn Giữa đàng” – nằm ngay cạnh Westminster, thủ phủ của người Việt ở miền nam California. Ở đó gia đình Phạm Duy thường đi rong hát xẩm, là cách gọi của ông khi nói về những chuyến ôm đàn đi hát cho đồng hương ở Mỹ nghe.
Những năm ở nước ngoài Phạm Duy viết được một số ca khúc và đã thu âm vào những băng, đĩa nhạc: Ngục ca, Bầy chim bỏ xứ, Rong ca, Thiền ca, Hàn Mặc Tử ca.
Sống đời lưu vong ông luôn hướng về quê nhà. Năm 1978 ông viết lên ca khúc “Ở bên nhà em không còn đứng chờ đợi anh” là những cảm xúc sâu lắng được nhiều người tị nạn chia sẻ:

Ở bên nhà đôi tay ngà em vục bùn đen
Ở bên nhà đôi môi mềm thu vạn tủi oán
Ở bên này sống với ác mộng
Từng đêm ngày anh ra biển rộng khóc thương em.
Hai lần phải bỏ quê hương ra đi được ông ghi lại trong ca khúc: “54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước”:
Một ngày 54, cha lìa quê hương
Lánh Bắc vô Nam, cha muốn xa bạo cường
Một ngày 75, đứng ở cuối đường
Loài quỷ dữ xua con ra đại dương!...
Một ngày 75, con bỏ hết giang sơn
Hai mươi năm tình, yêu người yêu cuộc sống
Giờ nơi nước mình niềm đau thay nỗi vui
Sài Gòn đã chết rồi, phải mang tên xác người…
Đời hai lần ta bỏ quê bỏ nước
Phải nuôi ngày sau về ôm Tổ Quốc.
Đầu năm 2004 trong một cuộc phỏng vấn dành cho người viết bài này, khi hỏi cảm nhận và so sánh giữa bỏ quê hương ra đi trong “Thuyền viễn xứ” và “54 cha bỏ quê, 75 con bỏ nước”, Phạm Duy từ chối trả lời câu hỏi này như để tránh rắc rối cho việc nhạc sĩ đang chuẩn bị chuyến trở về sống hẳn ở cố hương.
Sau ba mươi năm lưu vong, tháng 5-2005 Phạm Duy đã “về ôm tổ quốc”. Quyết định của ông được nhà nước Việt Nam hoan nghênh. Một số người Việt hải ngoại lên án ông.
Từ khi ông trở về, trong nước thỉnh thoảng có những chương trình nhạc Phạm Duy tổ chức tại Hà Nội và Sài Gòn. Một vài đầu sách và đĩa chương trình ca nhạc của ông cũng được phát hành. Tuy nhiên vẫn có những văn nghệ sĩ, nhà báo trong nước chỉ trích quá khứ của Phạm Duy, nào là đã bỏ kháng chiến về thành, vào nam sinh sống, đã ca ngợi chế độ Việt Nam Cộng hoà, rồi lại bỏ nước ra đi khi chiến tranh chấm dứt, như thế Phạm Duy – “tên phù thủy âm nhạc” như cán bộ văn hoá từng đặt cho ông – không xứng đáng được vinh danh là một nhạc sĩ tài ba của nền âm nhạc Việt Nam.
Với cả ngàn bài ca, núi nhạc của Phạm Duy sừng sững như dãy Trường Sơn mà người Việt nào cũng thấy bóng hình mình ẩn hiện trên đó. Đó là “Bà mẹ quê”, “Em bé quê” là “Tuổi ngọc”, Tuổi biết buồn”. Đó là đồng lúa, là tà áo dài, vòng quay xe đạp, là mảnh áo nâu, là quang gánh trên vai. Không như Trịnh Công Sơn viết về thân phận và huyền thoại quê hương trong một giai đoạn chiến tranh nhất định, nhạc Phạm Duy dạt dào tình yêu quê hương, nổi bật với những hình ảnh thật gần gũi với mọi người. Hãy nghe ông viết về đất nước:
Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.
Quê hương ơi bóng đa ôm đàn em bé
Nắng trưa im lìm trong lá
Những con trâu lành trên đồi nằm mộng gì
Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi…
Không nhạc sĩ nào đã đưa sông nước, đồng lúa, trâu cày, bóng đa đầu làng vào lòng người một cách êm đềm và tình tự như Phạm Duy để rồi những ai sống xa quê hương khi nghe mà không thương, không nhớ.
Hay như hình ảnh tà áo dài, chiếc xe đạp của tuổi thơ sao thật dễ thương:

Xin cho em một chiếc áo dài
Cho em đi mùa xuân tới rồi
Mặc vào người rồi ra
Ngồi lạy chào mẹ cha
Hàng lụa là thơm dáng tiểu thơ.
Xin cho em môt chiếc xe đạp
Xe xinh xinh để em đi học
Từng vòng từng vòng xe
Là vòng đời nhỏ bé
Đạp bằng bàn chân gót đỏ hoe.
Ca từ của ông vẽ lên quê hương, lịch sử nước nhà như một bức hoạ đẹp tuyệt vời qua trường ca “Con đường cái quan”:
Tôi đi từ Ải Nam Quan sau vài ngàn năm lẻ
Chia đôi một họ trăm con đã lên đường…
Về Hà Tiên ta tiễn Chúa ra đảo khơi
Về Cà Mau ta đốt biết bao lửa vui.
Nhạc Phạm Duy đến với tôi vào những năm giữa thập niên 1960 khi còn học cấp 2. Đầu tiên là tiếng dân ca “Qua cầu gió bay” với nét vui đùa, là “Giọt mưa trên lá” mang mang buồn, trước khi biết rung động theo những bóng hình ở sân trường, biết mơ mộng một mối tình vu vơ qua “Nghìn trùng xa cách”, “Thà như giọt mưa”, “Trả lại em yêu”, “Còn chút gì để nhớ”, “Con đường tình ra đi”, “Nha Trang ngày về”, “Tóc mai sợi vắn sợi dài”…
Khi có nhận thức và hiểu biết về lịch sử nước nhà, về văn hoá dân tộc thì nhạc Phạm Duy như xoáy xoay vào hồn với trường ca “Mẹ Việt Nam”, trường ca “Con đường cái quan” với 10 bài “Đạo ca” với bài “Tình ca” bất hủ:
Tôi yêu tiếng nước tôi
Từ khi mới ra đời người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời…

Tiếng nước tôi
Bốn nghìn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…
Trong nửa thế kỉ qua, nhạc Phạm Duy đã theo bước chân người Việt đi khắp nơi với yêu thương qua những cuộc tình, với quê hương biết bao niềm nhớ, với tình tự dân tộc nơi quê người hay ngay cả trên quê hương đã sinh ra ông, dù vẫn còn những ngăn cấm.
Nhạc sĩ Phạm Duy tên thật Phạm Duy Cẩn, sinh ngày 5-10-1921 tại phố Háng Cót, Hà Nội và qua đời tại Sài Gòn hôm 27-1-2013, thọ 93 tuổi.
Như thế ông đã trọn vẹn với ước nguyện thể hiện khi ông viết bản đồng ca – mà ông gọi là chung khúc “Việt Nam, Việt Nam” – trong trường ca “Mẹ Việt Nam” đã được rất nhiều người Việt biết đến:
Việt Nam, Việt Nam nghe từ vào đời
Việt Nam, hai câu nói bên vành nôi
Việt Nam nước tôi…
Việt Nam, Việt Nam tên gọi là người
Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời.
Năm 1995, trong dịp đến Đại học Berkeley nói chuyện với sinh viên nhạc sĩ Phạm Duy đã phát biểu: "Nhạc của tôi đi vào lòng người thì dễ, nhưng đi vào lòng ông Đỗ Mười sao khó thế!”. Lúc đó ông Đỗ Mười là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Mười tám năm sau, hầu hết nhạc của ông dường như vẫn chưa dễ gì lọt được vào lòng giới lãnh đạo Hà Nội.
Dù ông đã hồi tịch, được cấp chứng minh nhân dân, mua nhà ở. Dù ông đã nhiều lần phát biểu hết lòng ca ngợi chính sách hoà giải của nhà nước, nhưng cho đến lúc nhắm mắt lìa trần, gia tài âm nhạc của Phạm Duy với cả ngàn bài ca cũng mới chỉ có chưa đến 100 bài được phép phổ biến trong nước.
Tác giả hiện dạy đại học cộng đồng và là một nhà báo tự do sống tại vùng Vịnh San Francisco
Có lẽ ít có nhạc sĩ nào viết về sự sống, cái chết trong ca khúc của mình nhiều và sâu sắc như Phạm Duy. Chính người nhạc sĩ đã tâm sự: “…đối với tôi chỉ có ba điều quan trọng: TÌNH YÊU, SỰ ĐAU KHỔ VÀ CÁI CHẾT…”. Những người chiêm nghiệm sự sống - chết theo nhân sinh quan Phật Giáo sẽ nhận ra rằng: Phạm Duy cũng nhìn tử sinh như một vòng tròn sinh diệt bất tận của thuyết luân hồi.
Trong gần 70 năm sự nghiệp sáng tác của Phạm Duy, người ta nhận ra có hai giai đoạn ông viết nhiều ca khúc về chủ đề tử sinh nhất. Vào khoảng cuối thập niên 50 đến giữa 60, ông cho ra đời hàng loạt ca khúc bất hủ như Đường Chiều Lá Rụng (1958), Một Bàn Tay (1959), Tạ Ơn Đời (1959), Xuân Hành (1959), Xuân Ca (1961), Những Gì Sẽ Đem Theo Về Cõi Chết (1966). Ở độ tuổi “tứ thập nhi bất hoặc”, Phạm Duy đã nhìn đời người là một cuộc tái sinh duyên từ lúc ra đời cho đến khi nhắm mắt lìa đời:
“Bàn tay đưa anh ra khỏi lòng người
Một đêm kêu lên hơi thở tuyệt vời…
….Một mai đưa anh thăm thẳm lìa đời
Mùa đông khăn tang mây bỏ đường dài
Bàn tay thương nhớ, ôi gập anh băng giá
Lạ lùng, tay khép làn mi” (Một Bàn Tay)
Con người ta vào đời và lìa đời cũng với một bàn tay…
Đường Chiều Lá Rụng là một trong những ca khúc nói về cái chết hay nhất của nền ca khúc Việt Nam. Trong ca khúc này, Phạm Duy nhìn sự chết đi và tái sinh của một kiếp người qua từng chiếc lá rụng về cội:
“Còn rơi rụng nữa, cành khô và lá, thành ngôi mộ úa
Chờ đến một trận gió mưa, cho rữa tình già xác xơ,
Cho biến thành nhựa sống nuôi tình thơ…”
Nhìn sự sống chết trọn vẹn như vậy, Phạm Duy chắc đã bình thản đón chờ cái chết, và chấp nhận những gì mình sẽ phải bỏ lại cuộc đời này, điều mà không phải ai cũng chấp nhận được:
…Tôi không đem theo với tôi được tiền tài hay danh vọng
Tôi không đem theo với tôi được gái đẹp hay rượu nồng
Tôi không đem theo với tôi được lầu vàng hay gác tía…”
(Những Gì Sẽ Đem Theo Về Cõi Chết)
Giai đoạn thứ hai của các ca khúc tử sinh của Phạm Duy là vào năm 1988, khi ông hoàn thành 10 ca khúc trong tuyển tập “Hát Cho Năm 2000”. Lúc bấy giờ tác giả đã “thất thập cổ lai hy”. Dù vẫn xem sống chết là một thực thể không thể tách rời, nhưng tác giả lúc này thể hiện tình yêu sự sống còn mãnh liệt hơn nữa. Trong ca khúc “Nắng Chiều Rực Rỡ”, ví tuổi già của mình với từng tia nắng ban chiều, Phạm Duy dối già rằng: “…Nắng chiều còn tươi hơn nắng trưa”, và níu kéo rằng:
“Em có thấy không nắng chiều rực rỡ
Em có thấy không nắng đẹp còn đó
Nắng còn nắng lê thê thì đêm ơi vội gì
Nắng còn nắng bao la thì xin đêm đợi chờ…”
Hay trong ca khúc “Trăng Già”, tác giả ước ao được sống tuổi đời của đá, của trăng:
“…Đá, trăng bao tuổi, đá, trăng mới già
Mà sao ta thấy ơi a trăng tà, cũng như đá già
Vẫn còn đương tơ, vẫn còn trơ trơ
Giữa nơi ta bà hay đối với ta…”
Thấy được tử sinh luân hồi như vậy, có phải chăng Phạm Duy đã là một thiền sư, thanh thản ra đi bỏ lại kiếp người không vướng bận? Không, không hề! Thiền sư Nhất Hạnh có nói rằng giữa người nghệ sĩ và thiền sư có một điểm giống nhau, đó là cả hai đều biết sống trọn vẹn, tràn đầy từng giây phút của đời sống của chính mình. Nhưng thiền sư hướng mình đến một trạng thái tâm không còn vướng bận vào tử sinh. Là một nghệ sĩ trọn vẹn, hình như Phạm Duy không muốn thế. Ông sống trọn vẹn, yêu thương trọn vẹn trong cuộc đời cho chính mình. Nếu không sống, không yêu thương hết mình, Phạm Duy đã không thể để lại cho đời nhiều ca khúc bất hủ đến thế. Và khi mất đi, ông luôn luôn khát khao một lần nữa được tái sinh lại làm kiếp người, để lại được yêu thương, hờn ghét. Có thể nói rằng không có một nghệ sĩ nào thể hiện tình yêu kiếp người mãnh liệt hơn Phạm Duy. Ông là hình ảnh có thực của một Alexis Zorba trong tiểu thuyết. Xin hãy hát cùng Phạm Duy để cảm nhận được tình yêu nhân thế bao la đó:
“…Xuân muôn năm, có ta Xuân còn hơi Xuân
Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần…” (Xuân Ca)
“…Ta vứt sau ta những nẻo đường trần
Ta vút bay theo những nẻo đường tiên
Nhưng nếu mai sau, ai gọi Người Tình
Anh sẽ quay lưng bước về nẻo xanh…” (Rong Khúc)
“…Người là ta một mùa Xuân tỏa ánh nắng mai
Bước lên đời mang một duyên tình duyên mới
Người là ta đường nhân ái còn đi mãi mãi
Hết bước xuân, ta gọi nhau về trong Người…” (Xuân Hành)
Ca sĩ Duy Trác có lần bảo rằng phải mất 50 năm nữa thì Việt Nam may ra mới có một Phạm Duy thứ hai. Nhiều người bi quan với tình hình văn hóa nghệ thuật trong nước như hiện nay, cho rằng thời gian chờ đợi đó chắc sẽ là một thế kỷ!
Nhưng đối với những ai yêu mến nhạc Phạm Duy, và tin vào tái sinh, thì lạc quan nghĩ rằng Phạm Duy dù có mất đi, rồi ông cũng sẽ quay về để sinh lại làm người. Và với người nhạc sĩ đã một đời “khóc cười theo vận nước nổi trôi” như ông, chắc hẳn nghiệp lực sẽ lại kéo ông làm người Việt Nam thêm một lần nữa, cho dù quê hương vẫn còn nhiều nổi trôi…
Hãy tin như vậy. Hãy hát những ca khúc tử sinh của Phạm Duy để thấy rằng người nhạc sĩ vẫn còn ở quanh đây với cuộc đời. Và trong một ngày không xa, cái hồn nhạc Phạm Duy lại được tiếp nối qua một người nghệ sĩ trẻ nào đó, cũng biết yêu thương, hờn ghét trọn vẹn với một tâm hồn tự do phơi phới như Phạm Duy của một thời vang bóng…
Đoàn Hưng
Phạm Duy: Với đàn bà, tôi yêu đến tột độ
Trăm năm nhỏ bé và bộn bề, như lời ông đã viết, đang khép lại trong căn nhà nhỏ bình yên giữa Sài Gòn, nơi ông an hưởng tuổi già.
Khi đã đi gần hết trăm năm của đời người lắm thăng trầm, dâu bể, nhạc sĩ Phạm Duy – người ghi dấu ấn không thể phai mờ trong gia tài âm nhạc VN chọn ở lại TP.HCM. Ông sống những ngày cuối đời trong một căn nhà nhỏ nép trong lòng một con hẻm yên tĩnh giữa phố Lê Đại Hành hiện đại và náo nhiệt.
![]() |
| Nhạc sĩ Phạm Duy trong đêm sinh nhật mừng thọ 92 tuổi vào năm 2011 |
Tôi là người sung sướng nhất đời
- Thưa ông, lời đầu tiên xin cho cháu được hỏi ông có khỏe không ạ?
Lúc này thì yếu rồi. Bởi vì tôi 93 tuổi. Tôi không đi bộ được nữa, phải ngồi xe lăn.
- Một ngày bình thường của ông trôi qua như thế nào?
Buổi sáng tôi dậy ăn sáng xong rồi ngủ, ăn cơm trưa xong rồi tôi lại ngủ, nhưng đêm thì tôi thức suốt đêm. Tôi không có việc gì cả, nên tôi là người sung sướng nhất đời.
- Sung sướng hiểu theo nghĩa nào, thưa ông?
Hiểu theo nghĩa là an nhàn thôi, tôi không phải suy nghĩ gì. Trước kia một ngày 24 tiếng thì tôi suy nghĩ tới 25 giờ đồng hồ rồi. Giờ tất cả nhẹ tênh rồi. Thế là tôi sung sướng chứ còn gì.
-Ông đã sống ở nhiều nơi từ Hà Nội tới Sài Gòn, từ Việt Nam tới Hoa Kỳ. Nơi nào khiến ông cảm thấy như đang ở nhà?
Phải công nhận là năm tôi bỏ nước ra đi, tôi không phải là người có lý tưởng sống để mà đi. Thành thử tôi rất đau đáu. Tôi là người Việt Nam thì tôi phải sống chết với nước Việt Nam chứ. Khi qua hải ngoại được vài năm, tôi đã viết bài “Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà”. Nhưng lúc đó tôi không thể về nhà được ngay, đợi đến ba mươi mấy năm thì mới về được. Cả một đời người rồi còn gì.
Với đàn bà, tôi yêu đến tột độ
- Nhìn lại sự nghiệp của ông đồ sộ và trải dài từ ca khúc tới trường ca, từ tình ca, bé ca tới thiền ca, tâm ca, đạo ca…, phần âm nhạc nào làm ông hài lòng nhất?
Phải nói một vấn đề là tôi không có chọn lựa. Tôi làm cái nào xong là tôi quên ngay. Nếu tôi cứ ngồi ôm chặt “Con đường cái quan” thì chắc cuộc đời tôi chỉ có một bài đó thôi. Tôi vừa làm tâm ca xong thì lại nghĩ tiếp tới làm tục ca. Hai cái nó chống nhau như vậy. Tôi sống theo cảm tính của tôi, là một con người nghệ sĩ đa năng, tế nhị. Bất cứ cái gì xảy ra với tôi, phút trước tôi vui thì phút sau tôi buồn ngay.
- Cháu cảm nhận có rất nhiều thái cực trong âm nhạc của ông, khi hạnh phúc lúc đau khổ, khi mê đắm lúc chán chường… Vì sao vậy thưa ông?
Có lẽ do tôi là người cực đoan trong nghệ thuật.
- Vậy còn nhục cảm thể xác, chúng có vai trò gì trong những bản tình ca của ông?
Nhạc tình của tôi có vẻ có nhiều nhục tình hơn. Chẳng hạn như bài “Cỏ hồng”. Mà ngay bài “Mẹ Việt Nam” cũng nhắc nhiều đến nhục cảm. Rõ ràng mỗi người (nhạc sĩ) có một phong cách. Ví dụ anh Trịnh Công Sơn viết lời ca rất ảo, tôi lại rất thật. Cũng như mỗi người yêu một người đàn bà theo nhiều cách khác nhau, riêng tôi thì yêu đến tột độ.
- Rất nhiều người đàn bà đã đi qua cuộc đời ông, vậy ai là người đã để lại ấn tượng nhiều nhất trong ông?
Có lẽ không ai ngoài vợ. Tất cả những người đi qua chỉ là những người đi qua. Riêng nhà tôi, tôi vẫn tưởng như bà ấy đang ở gần tôi.
- Ở tuổi 93, ông còn mong muốn gì trong cuộc đời?
Nói thì có vẻ hơi tiểu thuyết. Nhưng tôi mong cuộc đời tôi kết thúc cho lẹ đi.
Già về phương diện tinh thần thì sung sướng thật đấy. Nhưng về vật chất thì, ngủ thì tôi không ngủ được nữa. Có khi trắng đêm. Một ngày tôi chỉ ngủ được ba tiếng. Vật chất, sinh lão bệnh tử. Sinh tử thì dễ quá nhưng bệnh thì ngặt quá. Đó là tôi là người khỏe rồi đấy. Đến giờ còn ngồi để tiếp chuyện được anh. Tôi thấy tôi chưa chết nhưng hình như tôi đã tàn phế.
- Ông suy nghĩ gì về cái chết và suy nghĩ này có ảnh hưởng gì đến ông?
Tôi đã nói về cái chết từ khi 40 tuổi. Tôi coi mục đích tối hậu của con người là cái chết. Tôi không có gì là hãi hùng và buồn phiền cả. Nếu được theo đúng thuyết nhà Phật, người ta ăn ở đức độ thì sẽ được tái sinh.
Và nếu có sự tái sinh thì tôi sẽ không thích tái sinh nữa đâu. Bởi vì tôi đã mệt quá rồi. Các nhạc sĩ ở đây sướng lắm, không ai mệt như tôi cả, không ai đi nhiều, hát nhiều và sáng tác nhiều như tôi cả. Khổ tâm lắm.
Tôi hơi quá đà trong việc yêu nghệ thuật
- Thưa ông, vậy bây giờ ông còn sáng tác?
Có chứ. Tôi vừa làm xong 10 bài hát phổ thơ của Bích Khê. Hay lắm, có dịp anh nghe thử.
- Năng lượng nào giúp cuộc đời sáng tác của ông dài như vậy?
Hình như là tôi hơi quá đà trong việc yêu nghệ thuật. Cứ coi như tôi sống trên cái kiềng ba chân, vợ tôi là một, người tình tôi là hai và nghệ thuật là ba. Tôi không bỏ được vợ, không bỏ được người tình và cũng không bỏ được nghệ thuật.
- Những “người từ trăm năm” như ông mà lại nắm bắt rất nhanh về công nghệ quả thật xưa nay hiếm. Điều gì khiến ông làm được điều này? Cháu nghe nói ông chỉ sáng tác nhạc trên máy tính?
Có cái may là khi còn trẻ, tôi vào trường học kỹ nghệ. Năm 1982, tôi đã bắt đầu học kỹ nghệ computer và sáng tác nhạc trên computer kể từ đó. Anh cứ tưởng tượng đi, lúc đó tiếng Việt còn chưa có dấu nữa cơ mà. Dĩ nhiên là tôi cũng học lỏm thôi, chứ không phải tử tế.
Công nghệ giúp cho công việc của mọi người được tiến hành nhanh chóng hơn. Nhiều người cứ bảo nhạc sáng tác trên computer hơi giả tạo, âm thanh nó không thật. Nhưng cái nào là thật? Tiếng violon cũng có phải do con người tạo ra mà được đâu. Hơn nữa, ở bên Mỹ, nếu không dùng computer thì không thể soạn nhạc được vì tiền đâu mà thuê nhạc công?
![]() |
| Nhạc sĩ Phạm Duy đang diễn tả tâm trạng chương số 3 Đà Lạt trăng mờ (do Tuấn Ngọc trình bày) trong trường ca Hàn Mặc Tử. |
- Những tác phẩm của ông đang được diễn đạt lại trong thời đại mới và bởi các giọng ca thuộc thế hệ 8x và 9x. Ông có hài lòng khi nghe họ hát?
Về giọng ca thì có người hay hơn và có người kém đi so với thế hệ đàn chị Thái Thanh. Nhưng về phương diện hòa âm thì hay lắm. Trước kia không có hòa âm, bạ ai đánh bừa đi thôi. Những bản thu âm ngày xưa giờ rát tai lắm, không hợp và tôi không nghe được nữa.
- Dịp này, bản “Tình ca” của ông được dựng lại và trình diễn vào đúng ngày Quốc khánh tại Hà Nội trong chương trình hòa nhạc Điều còn mãi do báo VietNamNet tổ chức. Ông có thể cho biết hoàn cảnh ra đời và ý nghĩa của ca khúc này không ạ?
Khoảng năm 1953, khi tôi vừa từ chiến khu vào miền Nam, chiến tranh Triều Tiên đang lên cao tột bậc, tôi nhìn rõ đất nước sắp chia đôi rồi. Thành ra tôi phải làm một bài tình tự dân tộc để kêu gọi mọi người đoàn tụ, hòa hợp và hòa giải. Thế nên tôi viết bài “Tình ca”. Tôi làm ca khúc này rất nhanh, khoảng 15 phút đồng hồ cho ca khúc 3 đoạn. Lời cứ thế mà tuôn ra.
Theo Minh Chánh - VietNamNet Việt Báo(Theo_VT)
Các cuộc 'hạnh ngộ' của Phạm Duy
Một trong những ghi chép cuối đời của cố nhạc sỹ Phạm Duy là về một số cuộc gặp gỡ đáng kể trên đường đời của ông.
Ghi chép mang tên 'Những Cuộc Hạnh Ngộ' được mộtMainngười bạn thân của nhạc sỹ chia sẻ với BBC và đây là bản đã được rút ngắn.
Ảnh trong bài do chính nhạc sỹ sưu tầm trong khi một số tựa đề phụ do BBC đặt.
Bài viết có hai phần gồm phần một dưới đây và quý vị có thể nhắp chuột vào tựa đề 'Gặp cựu TT Võ Văn Kiệt và những người khác' ở phía bên tay phải của phần một để đọc phần hai.
Phạm Duy qua đời tại Bệnh viện 115 ở thành phố Hồ Chí Minh hôm 27/1, hưởng thọ 92 tuổi và được an táng tại nghĩa trang Công viên Bình Dương hôm 3/2/2013
Bạn già trầm tư bên linh cữu nhạc sĩ Phạm Duy
Trong con hẻm nhỏ đường Lê Đại Hành, quận 11, TP HCM, không khí hai ngày nay trầm lắng hơn bởi sự ra đi của người nhạc sĩ nổi tiếng.
Ngày 27/1, tin nhạc sĩ Phạm Duy ra đi làm rúng động giới mộ điệu nhạc Việt. Người nghệ sĩ với những bản tình ca đẹp tạ thế ở tuổi 93. Trên bàn thờ, bức ảnh của ông ghi dấu nụ cười thân quen và mái tóc bạc phơ. |
Từ chiều 28 đến sáng 29, rất nhiều bạn già đã đến viếng ông. Những mái đầu bạc cúi chào người bạn già ra đi mãi mãi. |
Có người nặng trĩu ưu tư nhìn bạn lần cuối qua nắp quan tài. |
Một vài người bạn chụp bức ảnh trước bàn thờ lần cuối. |
Những thế hệ khán giả trẻ hôm nay cũng đến viếng ông. |
Ca sĩ Hà Anh Tuấn và đạo diễn Phạm Hoàng Nam trước linh cữu. |
Vòng hoa của các nghệ sĩ khắp nơi gửi đến viếng ông. |
Nhiều bạn bè xúc động chia sẻ dòng tưởng niệm qua sổ tang. |
Một người lái xe ôm tranh thủ công việc đến viếng nhạc sĩ, trên tay vẫn ôm chiếc mũ bảo hiểm. Ông cho biết vì ái mộ, nên khi hay tin, ông bàng hoàng và nhất quyết phải đến tiễn đưa Phạm Duy. |
Xung quanh tường nhà, hình ảnh của cố nhạc sĩ tràn ngập, xen lẫn là vòng hoa và những lời tiếc thương của bạn bè, anh chị em nghệ sĩ, người thân. |
Tang lễ nhạc sĩ Phạm Duy được tổ chức tại tư gia ở Lê Đại Hành, phường 13, Quận 11, TP HCM. Lễ nhập quan diễn ra lúc 9h ngày 28/1. Lễ động quan lúc 6h ngày 3/2. Nhạc sĩ Phạm Duy sẽ yên nghỉ tại Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương. |

Các chuyên mục 






























