Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Hai 2026
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 6
 Lượt truy cập: 28537636

 
Tin tức - Sự kiện 03.02.2026 07:05
Saigon trong cơn hấp hối 30.04.1975 : Cận vệ ông Vũ Văn Mẫu
02.04.2012 11:39

Đã 37 năm qua, hình ảnh Saigon trong cơn hấp hối vẫn còn rõ nét trong ký ức tôi. Giờ đây tôi muốn ghi lại những điều tôi biết, tôi thấy và tôi đã làm chỉ để đóng góp một vài sự kiện trong những giờ phút sau cùng của chế độ dưới cái nhìn trong cương vị một sĩ quan cận vệ của Thủ Tướng Chánh Phủ VNCH.

Chiều ngày 28 tháng 4 năm 1975, tại Dinh Độc Lập, một buổi lễ bàn trong đó Tổng Thống Trần Văn Hương, người kế nhiệm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vừa từ nhiệm, trao quyền cho Đại Tướng Dương Văn Minh, người duy nhất mà Hà Nội bằng lòng thương thuyết. Chủ tịch Thượng Viện được mời làm Phó Tổng Thống và Thượng Nghị Sĩ Vũ Văn Mẫu được mời thành lập nội các.Buổi lễ trình diện tân nội các được dự định vào sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975.Tuy nhiên, có những biến chuyển khiến chuyện này đã không thể xảy ra. Sáng sớm ngày 30 tháng 4 năm 1975, tại Phủ Thủ Tướng tọa lạc tại số 7 đường Thống Nhất, diễn ra một buổi họp gồm có Nghị Sĩ Vũ Văn Mẫu, Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo, cùng một số nghị sĩ, dân biểu, các nhân sĩ có chân trong tân nội các họp với cựu tướng Pháp Vanuxem, đặc phái viên của Tổng Thống nước Cộng Hòa Pháp. Phía bên ngoài phòng khách, tôi còn nhận thấy sư hiện diện đặc biệt của cựu Thủ Tướng chánh phủ lâm thời Nguyễn Ngọc Thơ (tháng 11/1963), Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng, cựu Tư Lệnh LLĐB/VNCH và một số người tháp tùng ông đang trông chờ kết quả cuộc họp bên trong với tâm trạng lo âu, buồn bã. Độ một giờ sau, cựu tướng Vanuxem ra về để lại trên gương mặt mọi người sự thất vọng và lo sợ.


Sau đó Sở Truyền Tin Phủ Thủ Tướng được lệnh lên phong phòng của Thủ Tướng Mẫu để thu băng một bản hiệu triệu của Tổng Thống Dương Văn Minh. Lời kêu gọi của Tổng Thống Dương Văn Minh được một phóng viên và một kỹ thuật viên âm thanh của Đài Phát Thanh Quốc Gia đưa về đài và cho phát vào lúc 10 giờ sáng và chỉ phát được một lần. Sau đó khi Tổng Thống Dương Văn Minh được phía chiến thắng giải giao về Đài Phát Thanh Quốc Gia thì ông lại bị đẩy vào phòng vi âm thu cuốn băng thứ hai. Cuốn bằng này được phát nhiều lần, trong đó Tổng Thống Dương Văn Minh phải kêu gọi lực lượng còn lại của VNCH buông súng đầu hàng vô điều kiện.

Sau khi Tổng Thống Dương Văn Minh thu băng tại phòng làm việc của Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu xong, ông cùng các vị trong nội các chưa được tấn phong chuẩn bị qua Dinh Độc Lập, có thể là sẵn sàng để chuyển giao quyền hành? Tại phòng khách trên lầu 2 của Dinh Độc Lập, tôi thấy có giáo sư Bùi Tường Huân, các nghị sĩ Vũ Văn Mẫu (Thủ Tướng), Thái Lăng Nghiêm (Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng), Dân Biểu Lý Quí Chung (Bộ Trưởng Thông Tin) và một số người khác. Trong khi ấy, tại phòng làm việc của Tổng Thống Dương Văn Minh có mặt chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng Tham Mưu Trưởng QL/VNCH và tôi (Nhan Hữu Hậu). Đại tá Vũ Quang Chiêm Chánh Võ Phòng Tổng Thống, Đại tá Lê Thuần Trí Chánh Sở Quân Vụ, Trung tá Võ Ngọc Lân Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn An Ninh Danh Dự thì ngồi trong phòng làm việc của Chánh Văn Phòng Phủ Tổng Thống.

Đại Tướng Minh làm việc một mình trong phòng và không có Chánh Văn Phòng Trương Minh Đẩu cũng như Sĩ Quan Tùy Viên Hoa Hải Đường thường nhật luôn làm việc bên cạnh ông. Thấy vậy, tôi bước đến nghiêm chỉnh và trình:

-Thưa Tổng Thống cần gọi đâu, xin Tổng Thống chỉ thị.

-Em gọi cho qua Thượng Tọa Trí Quang.

Tiếp nhận tờ giấy rời với các số điện thoại chi chít trên tay Tổng Thống Dương văn Minh, tôi gọi Thượng Tọa. Chuông reo một lúc nhưng đầu giây bên kia không có người trả lời. Bên cạnh, một máy điện thoại khác reo, tôi nhắc ống nghe. Từ đầu giây bên kia có giọng nói:

-Tôi là Thiếu Tá Phạm Châu Tài, chỉ huy trưởng lực lượng phòng thủ còn lại tại Tổng Tham Mưu, cho tôi nói chuyện với Đại Tướng Minh.

Tôi bảo Thiếu Tá Tài chờ tôi trình Tổng Thống. Áp ống liên hợp vào tai, Tổng Thống Dương Văn Minh nói: “Qua nghe đây em”.

-Thưa Đại Tướng, tôi còn quân mà sao Đại Tướng đầu hàng?

-Đã trễ rồi em. Tôi muốn tránh cho dân khỏi chết chóc và Saigon khỏi thành bình địa. Mình phải cứu dân trước đã !

Nghe đến đây, tôi bước ra ngoài trong lúc Tổng Thống Dương Văn Minh đang còn tranh luận với Thiếu Tá Tài vì sao mà ông phải trao chính quyền cho Cộng Sản.

Bước dọc hành lang trên lầu nhìn ra tiền đình Dinh Độc Lập, nhìn thấy hai cánh cổng sắt phía trước đã rộng mở, vũ khí đủ loại và chiến xa của lực lượng phòng thủ Dinh đã được chất thành đống trước bồn nước theo lệnh của vị Tổng Thư Lệnh sau cùng của VNCH. Độ một giờ sau, chiếc GMC chở đầy quân trong các bộ quân phục ngụy trang lẫn lộn, bên thành xe có treo một miếng vải trắng được cột trên cao chạy vào đậu bên trong cánh phải của Dinh, trong tay họ vẫn còn vũ khí cá nhân. Họ chỉa súng vào khoảng không vừa bắn vừa la khóc trong uất hận, rồi xuống xe cởi bỏ áo trận, vất súng ngổn ngang sau đó tự động tan hàng.

Khoảng 12 giờ trưa ngày 30 tháng 4, xe tăng Cộng Sản tiến vào Dinh Độc Lập mà không gặp một sức kháng cự nào, vì cổng chánh đã được mở rộng từ trước. (Chú thích của tác giả: Sau giờ phút này, Cộng Sản đã lợi dụng đêm tối, ngụy tạo cho đóng 2 cổng này lại, ủi sập rồi tuyên truyền đây là hang ổ cuối cùng của ngụy quyền đã bị thanh toán).

Kể từ lúc này, tôi không thấy 2 vị Đại Tá Vũ Quang Chiêm và Lê Thuần Trí ở bên cạnh Đại Tướng Minh nữa.

Từ hành lang lầu 2, phía ngoài phòng khách chỉ còn lại Tổng Thống Dương Văn Minh và Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh (vẫn mặc quân phục). Trung tá Võ Ngọc Lân và tôi đứng chờ đợi chuyện kế tiếp diễn ra. Một cán binh mặc áo thun trắng chạy lên lầu hỏi trỏng: “Thằng Minh đâu rồi?”. Hắn hỏi như vậy 3 lần, nhưng Tổng Thống Minh chỉ chắp tay sau đít đi tới đi lui mà không trả lời. Tôi chỉ vào ông và nói với hắn: “Tổng Thống Minh đây nè”. Tên cán binh ngó qua xong rồi chỉ tướng Nguyễn Hữu Hạnh bảo cởi quấn phục ra. Tôi lấy chiếc chemise của tôi trao cho ông mặc tạm.

Như đã nói ở trên, chúng tôi và một phần nội các chưa tấn phong bị gom lại ngồi trong phòng khách có vệ binh canh giữ bên ngoài, ngoại trừ Phó Tổng Thống Nguyễn Văn Huyền đã về nhà bằng phương tiện riêng trước khi xe tăng Cộng Sản tiến vào Dinh. Phần còn lại của nội các và quân, cán, chính phục vụ trong Dinh Độc Lập lúc đó bị giữ ở đâu đó tôi không được rõ, vì không nằm trong tầm mắt của tôi.

Điều đáng lưu ý là nhóm dân biểu đối lập trước đây thường tự xưng là thành phần thứ ba do Dân Biểu Lý Quí Chung đại diện. Ông Chung đã đến trước tên cán binh Cộng Sản tự giới thiệu mình là thành phần thứ ba trong chánh phủ Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, nhưng tên cán binh hét lên: “Không có thành phần nào hết, ngồi lại kia”.

Vì chưa được tiếp xúc với đại diện phía bên kia, nên Tổng Thống Dương Văn Minh và chúng tôi vẫn ngồi trong phòng khác dưới sự canh gác chặt chẽ các cán binh Cộng Sản phía bên ngoài. Trời đã xế chiều, bỗng có nhiều tiếng súng nổ từ trong Dinh Độc Lập, chúng tôi được di chuyển xuống tầng hầm, nơi có đặt máy truyền tin để sử dụng khi có biến cố xảy ra, cạnh đấy là phòng dùng làm xạ trường để các cận vệ thực tập tác xạ và một nhà kho dự trữ lương thực phòng khi có biến động. Chúng tôi được đưa lên phòng khách trở lại trên lầu 2 và một cán binh xoa tay giải thích: “Nhân dân vui quá nên đốt pháo ăn mừng?”.

Sau đó, một phái đoàn Cộng Sản khoảng sáu bẩy người ăn mặc thường phục và quân phục lẫn lộn không đeo quân hàm tiến vào phòng khách. Một người mặc thường phục tự giới thiệu với Tổng Thống Minh là kỹ sư Tô Văn Ký, đại diện Thành Ủy đến tiếp xúc và nói vài lời trấn an. Trước khi rời khỏi phòng, ông ta trao cho Đại Tướng Minh hai gói thuốc lá Điện Biên và hai bánh lương khô Trung Quốc. Ông nhận và giao lại cho tôi giữ. Lúc này sự đi lại của chúng tôi bị kiểm soát rất chặt chẽ, ra vào phải có sự chấp thuận của các cán binh canh gác bên ngoài. Đến tối, chúng tôi được phát mỗi người một ổ bánh mì ngọt ăn với đường thẻ. Riêng Đại Tướng Minh được người nhà gởi vào một nồi cơm chiên và một trái dưa hấu. Ông chia sẻ và yêu cầu mọi người ăn chung.

Trong suốt ngày 1 tháng 5 từ sáng đến tối, không có một cuộc tiếp xúc nào hoặc thăm hỏi của phía bên kia, thỉnh thoảng có một nhóm người đi qua ngó vào phòng khách rồi lại đi.

Ngày 2 tháng 5 đến gần trưa, một phái đoàn báo chí Miền Bắc trong đó có cả các hãng truyền thanh truyền hình thuộc khối Cộng Sản Đông Âu vào trong Dinh và họ được nói chuyện với Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hảo đầu tiên. Các phóng viên bấm máy lia lịa, nhưng đến khị họ hỏi chuyện thì ông khoát tay: “Mấy anh tắt máy thu băng đi, đây chỉ là một cuộc nói chuyện bình thường chứ không phải là cuộc phỏng vấn. Hòa hợp hòa giải gì các anh. Hòa hợp hòa giải gì mà hai ngày nay không cho người ta súc miệng rửa mặt?”. Sau đó báo chí truyền thông (tất nhiên là của nhà nước Cộng Sản) bắt đầu dàn cảnh quay phim chụp hình. Chúng tôi được đi rửa mặt chải đầu và sửa soạn quần áo cho ngay ngắn, rồi ngồi vào ghế chụp hình quay phim với lệnh mọi người phải tươi cười để họ hoàn thanh cuốn phim thời sự !!!

Đêm cuối cùng tại Saigòn
  



Trước cổng Sân Bay Tân Sơn Nhất năm 1975

Trần Quốc Sỹ 

Tôi rời Việt Nam lúc 9 giờ 15 sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975. Một ngày trước khi miền Nam bị Cộng Sản cưỡng chiếm. Lúc đó, tôi là một quân nhân thuộc Sư Ðoàn 5 Không Quân, phục vụ cho xưởng vô tuyến đặc biệt tại phi trường Tân Sơn Nhất.

Lúc bấy giờ khoảng 6 giờ chiều ngày 28-4. Sau cơn mưa rào, bầu trờI Sàigòn thật trong vớI vài cụm mây trắng lãng đãng trên nền trờI xanh ngắt. Ðột nhiên, tôi nghe những tiếng bom nổ lớn từ hướng phi trường Tân Sơn Nhất. Những cột khói đen, có thể nhìn thấy từ mấy cây số, bốc cao. Còi báo động hú lên inh ỏi. Từ chiếc radio, ngườI xướng ngô viên cho biết phi trường Tân Sơn Nhất đã bị dội bom bởi hai chiếc khu trục cơ của chính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (một điều thật đáng buồn).

Ăn vội bát cơm và khoác vội bộ quân phục, tôi chào bố mẹ rồi nhảy phóc lên chiếc Yamaha nhắm hướng Lăng Cha Cả trực chỉ. Lúc ấy, tôi không biết đó là lần cuối cùng tôi thưa chuyện cùng bố mẹ tôi cho đến gần hai mươi năm sau.
Tôi là một trong những người đầu tiên vừa tớI cổng Phi Hùng thì hai cánh cổng sắt đã được kéo ngang cùng những vòng kẽm gai chắn lối. Lệnh 'nội bất xuất, ngoại bất nhập' vừa được ban hành. Sau mười lăm phút đợi chờ, hoang mang và không biết phải làm gì, cuối cùng tôi quyết định trở về nhà. Tôi quay lại định trở đầu xe thì mới biết, sau lưng tôi đã có hơn trăm chiếc xe gắn máy đủ loại đã đậu chắn lối tự bao giờ. Chẳng còn một chọn lựa nào khác, tôi đành ngồi yên trên xe tiếp tục chờ đợi...

Khoảng một giờ sau, cánh cổng trại Phi Hùng được mở rộng. Chúng tôi ùa vào như đàn o­ng vỡ tổ. Ðường đi tối như mực vì không có điện. Ngọn đèn pha của chiếc Yamaha hầu như không đủ soi sáng mặt đường nhựa, ngổn ngang dẫy đầy những mảnh vụn của gạch ngói.

Như đã trình bày ở trên, tôi phục vụ cho xưởng vô tuyến đặc biết (còn được gọi là xưởng Bravo) thuộc Sư Ðoàn 5, Không Quân. Ðây là một căn cứ mật, có nhiệm vụ thâu thập tin tức tình báo, xác định những mục tiêu của địch, rồi cung cấp những dữ kiện này cho các phi đoàn oanh tạc cơ Việt-Mỹ. Xưởng Bravo gồm ba dãy nhà hình chữ U, nằm chơ vơ, biệt lập trên một khu đất rộng. Về phía bên trái cũng như bên phải, là những ụ máy bay, hay cho dễ hiểu, là những chỗ đậu cho những chiếc phi cơ AC-47 thuộc phi đoàn 718. Sau lưng Bravo khoảng nửa cây số là phi đạo chính của phi trường Tân Sơn Nhất. Từ sân sau, chúng tôi có thể quan sát rõ ràng những chiếc phi cơ cất cánh và hạ cánh. Vì lí do an ninh, tôi bắt buộc phải đậu xe cách xưởng nửa cây số, qua một cổng sắt, đi bộ băng ngang qua một dãy phi đạo 'taxi' rồi mới tới sở.

Tới xưởng Bravo, tôi thật bàng hoàng vì những cảnh tượng trước mặt. TrờI tối như mực, không một ánh đèn ngoại trừ ánh trăng yếu ớt. Hai chiếc phi cơ AC-47 bên tay trái và phải đều bị trúng bom thiêu hủy hoàn toàn. Dãy nhà hình chữ U đã bị sập một nửa vì sự chấn động và sức ép của bom. Mảnh vụn của gạch ngói vung vãi khắp nơi, đồ đạc đổ vỡ ngổn ngang.

Sau khi dọn dẹp sơ sài, anh em chúng tôi điểm danh tập họp, trang bị vũ khí và chia nhau canh gác. Ðêm hôm đó, chúng tôi phải trải chiếu ngủ trên nền xi măng ngoài bờ hè vì nhà ngủ đã bị hư hại. Tôi tìm được một góc hè, ngả lưng và thiếp đi lúc nào không biết.

Ðang ngon giấc, bỗng tôi choàng tỉnh vì một tiếng 'ầm' vang dội cả một góc trời. Lúc đó khoảng 4 giờ sáng. Có tiếng la lớn: "Pháo kích, pháo kích, chết mẹ, tụi Việt Cộng pháo kích. Xuống hầm mau.". Tôi bật dậy như một cái lò xo, quơ tay chụp cây M16, lao mình nhảy vội xuống hầm trú ẩn. Những trái đạn pháo kích rớt đều cách nhau vài phút.

Những tiếng rú ghê rợn của đạn pháo kích 'chiiiuíiiuuu' rồi "ââầmmm" rồi "chiiiuíiiuuu" rồi "ââầmmm" kéo dài gần ba giờ đồng hồ. Lúc gần, lúc xa.
Có lúc, tôi tưởng chừng như trái đạn rớt chỉ cách chúng tôi vài mét. Những mảnh vụn cùng đất đá bị bắn lên cao, rơi xuống như mưa trên đầu chúng tôi.
Trời hừng sáng, đạn pháo kích thưa dần rồi ngưng hẳn. Chúng tôi bò lên khỏi hầm, duyệt xét lại cơ xưởng và kiểm điểm những hư hại. Tạ ơn Chúa, xưởng Bravo cũng không hư hại hơn, và không ai trong chúng tôi bị thương tích gì cả. Sau khi làm vệ sinh cá nhân dã chiến, chúng tôi chia nhau dọn dẹp. Ðang loay hoay sắp lại những đồ vật, bỗng tôi nghe tiếng nói nhỏ bên tai : "Ê Sỹ, tao với mày "dzọt" về nhà. Tao thấy ở đây không khá được. Tao đang giữ chìa khóa xe pick-up của sở, tụi mình viện cớ đi mua đồ ăn sáng cho anh em, rồi "dzù" luôn.".

Tôi ngẩng nhìn lên, nhận ra Lễ, một đồng đôi. Lễ ở gần nhà tôi, chỉ cách nhau một khoảng đường. Tôi ngập ngừng, suy nghĩ một lát rồi xiêu lòng đi theo Lễ ra chiếc xe pick-up. Trên đường ra cổng tôi mớI có dịp quan sát kỹ cảnh hoang tàn sau một đêm bị dộI bom và pháo kích. Tôi không tin vào mắt mình nữa. Phi trường Tân Sơn Nhất thật tang thương như vừa trải qua một trận động đất kinh hồn. Ðó đây, những chiếc phi cơ bị trúng đạn pháo kích, thiêu huỷ, cháy rụi, còn lại chỉ là một khối sắt đen sì. Dọc hai bên đường, những ngôi nhà cũng bị đạn pháo kích tàn phá, đổ nát. Một vài xác người chết nằm cong queo, đẫm máu, bên vệ đường. Cảnh đỗ vỡ, chết chóc cùng với mùi khét lẹt trong không khí đã làm cho tôi có một cảm giác rùng mình, ớn lạnh.

Từng đoàn người lũ lượt, tay xách nách mang, bồng bế, dắt dìu nhau nối đuôi nhau ra cổng. Họ là những gia đình quân nhân sinh sống trong khu gia binh đang tản cư ra ngoài để tìm sự an toàn. Sẵn có xe, chúng tôi đã tình nguyện chở giúp một số người, phần đông gồm đàn bà và con nít.

Tới cổng, tôi và Lễ bị quân cảnh đuổi trở vào. Anh quân cảnh với sắc mặt lạnh như tiền, trên tay cây M16, chặn chúng tôi lại và hô lớn: "Dân đi ra, lính đi vô.". Tôi và Lễ tiu nghỉu, vòng xe trở lại.

Tôi và Lễ trở lại Bravo khoảng 7 giờ rưỡi. Ðây đó, bạn bè tụm năm tụm ba bàn tán. Tôi và một vài ngườI nữa đứng ngoài sân sau xem những chiếc phản lực cơ A-37 và F-5E gầm thét trên không trung, bắn từng quả rocket và thả bom vào những vị trí địch quân, lúc bấy giờ có lẽ đã sát bên phi trường. Một chiếc vận tải cơ C119, chậm chạp bay trên bầu trời. Bỗng nhiên, một vệt khói đen từ chân trờI vút lên. Chiếc hoả tiễn tầm nhiệt SR7 xé gió, trong chớp mắt phá nát đuôi chiếc C119 làm nó chao đảo rồi chúi đầu đâm thẳng xuống đất. Chiếc phi cơ hai cánh quạt rơi như một quả chuối, chạm mặt đất, nổ tung tạo nên một khối lửa màu cam khổng lồ. Tôi không biết là ngườI phi công và những quân nhân trên chiếc phi cơ xấu số đó có kịp bung dù thoát ra ngoài hay không. Thật là một cảnh tượng hãi hùng mà tôi được chứng kiến.

Khoảng gần 8 giờ, đạn pháo kích lại bắt đầu rơi. Một lần nữa, chúng tôi lại lao mình xuống hầm trú ẩn. Lần này, hình như bọn Việt Cộng đã chiếm được đài không lưu, có 'đề-lô' chấm toạ độ rõ ràng nên những trái đạn rơi thật chính xác. Từ hầm trú ẩn, tôi đã được mục kích cảnh từng chiếc phi cơ bị thiêu hủy. Một chiếc ..., hai chiếc ..., ba chiếc ... chiếc này theo sau chiếc kia, từng chiếc một, trúng đạn và bốc cháy.

Ðến gần 9 giờ sáng, đạn pháo kích ngừng rơi. Chúng tôi lại bò lên khỏi hầm trú ẩn, hoang mang không biết việc gì sẽ xảy ra kế tiếp. Từ sân sau của sở nhìn ra phi đạo chính, chúng tôi thấy những chiếc A37, những chiếc F5, rồi đến những chiếc C-130 thay phiên nhau cất cánh. Lúc đầu không ai để ý nhưng khi càng ngày càng nhiều phi cơ cất cánh, lúc đó, chúng tôi mới vỡ lẽ là 'bà con' đang di tản. Tất cả mọi người đều nhốn nháo. Sau những lời đôi co bất đồng ý kiến, chúng tôi được lệnh bỏ sở, chen nhau trên chiếc xe pick-up, ra phi đạo với hy vọng mong manh sẽ tìm được một chiếc phi cơ.

May thay, cuối một đường của một phi đạo nhỏ, chúng tôi gặp một chiếc C-130 đang quay máy chuẩn bị để 'taxi' ra phi đạo chính. Trên phi cơ, đã có hơn 200 người, chen chúc nhau ngồi trên sàn sắt lạnh. Anh em chúng tôi lần lượt lên tàu, cũng ngồi bệt xuống sàn tàu như mọi người khác. 9 giờ 15 phút sáng 29 tháng 4 năm 1975, chiếc C-130 lướt nhanh trên phi đạo rồi nhấc bỗng khỏi mặt đất, vĩnh viễn đưa tôi rời xa thành phố Sài Gòn, nơi tôi đã sống và lớn lên vớI hàng ngàn kỷ niệm buồn vui. Trên 200 gương mặt trầm tư, mỗi người mang một tâm trạng khác nhau, một nỗi buồn riêng tư của chính mình. Tất cả đã được thể hiện trên gương mặt mỗi người với nét đăm chiêu, tư lự. Riêng tôi, sang hôm đó, tôi cảm thấy buồn và mất mát rất nhiều. Lý do thật giản dị, tất cả những người thân yêu của tôi đều ở lại. Tôi biết lần ra đi này, có thể tôi sẽ không bao giờ gặp lại những gương mặt thân yêu đó nữa.

Bất giác, một giọt nước mắt trào ra từ khoé mắt và lăn dài trên má của tôi.

  7 tháng giữa xác ngừơi trên đại lộ kinh hoàng
  



Ngy Thanh ghi lại

Các chi tiết dựa theo buổi nói chuyện qua điện thoại với Nguyễn Kinh Châu từ quận Bình Thạnh, Saigon vào tháng 10-2009) .. 
Ba mươi bảy năm sau khi cùng nhau cầm bao nylon lom khom lội vào vùng chiến sự để thu nhặt xác đồng bào bị thảm sát bởi đạn của Sư Đoàn Pháo Bông Lau mà cứ như lén lút vào kho tội ác của Cộng sản để đánh cắp, câu đầu tiên anh Nguyễn Kinh Châu nhắc đi nhắc lại với tôi (như cứ sợ chính mình cũng sai sót) là tên đầy đủ của nghĩa trang mà nhật báo ST đã mai táng 1,841 xác, “Nghĩa Trang Đồng Bào Chiến Nạn Quảng Trị̣ do nhật báo Sóng Thần và thân hữu phụng lập”.

Một lần đi hốt xác đồng bào bị Việt Cộng chôn sống trong tết Mậu Thân ở Huế, và lần thứ nhì hốt xác đồng bào bị Việt Cộng tàn sát trên Đại Lộ Kinh Hoàng ở Quảng Trị, những hình ảnh ghê rợn đã khắc chạm thật sâu vào ký ức anh Châu, như một thứ đền tưởng niệm Cánh Đồng Chết của nạn nhân Pol Pot ở Cam-Pu-Chea – “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Trả lời câu hỏi của tôi, anh Nguyễn Kinh Châu nhắc lại con số 1,841 xác nạn nhân một cách dễ dàng như không cần khui một gói thuốc lá để biết trong đó có 20 điếu.

Tôi hỏi tiếp, làm sao anh nhớ được chính xác như thế, anh tâm sự, “Làm sao không, có ngày nào là áo quần không thấm mùi hôi của xác chết, có xác nào không là xác đồng bào, anh em?”

Khi mới bắt tay vào việc, chính quyền và quân đội chưa cho phép thường dân qua sông Mỹ Chánh vì vấn đề an ninh (sợ Việt Cộng trà trộn để hoạt động) và vì vấn đề an toàn (sợ đạn pháo binh Việt Cộng bắn trúng làm chết nhóm người đi lượm xác đồng loại). Vấn đề mang một nhóm thường dân vượt qua phòng tuyến quân sự Mỹ Chánh để tìm và thu nhặt xác là chuyện chưa từng xảy ra trước đây trong chiến tranh Đông Dương. Mặt khác, anh em báo ST ngại một khi đăng lời kêu gọi xin độc giả tiếp tay đóng góp, tiền tới tay rồi mà lỡ xác đồng bào lấy về không được sẽ bị mang tiếng lừa phỉnh, nên anh Châu hội ý với anh em phóng viên ST đang có mặt tại Huế, rồi vào Đà Nẵng bàn thêm với bác sĩ Phạm Văn Lương. Kết quả: chúng tôi quyết định thử nghiệm trước bằng cách tự lực. Anh Châu đã mang chiếc xe gắn máy Honda 68 tới xin cầm cho một thân hữu là anh Huỳnh Văn Phúc, chủ tiệm vàng Phúc Ân kiêm tổng thư ký Hội Đồng Tỉnh Thừa Thiên, lấy 50 ngàn đồng để làm vốn liếng khởi công. Ngạc nhiên thấy anh Châu cầm xe, anh Phúc hỏi dồn, nên đã biết sự thật là anh Châu cần tiền để trao cho thầy Thích Đức Tâm ở chùa Pháp Hải bên cồn Hến đóng quan tài để ra Quảng Trị lượm xác đồng bào bị pháo chết. Biết việc chúng tôi làm như thế, anh Phúc bảo anh Châu cứ mang xe về, và cho anh chị em ST mượn 50 ngàn tiền mặt, một số tiền không nhỏ lúc bấy giờ, để khởi công. Bên cạnh đó, anh em ST vào Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 1 tiếp xúc với Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương. Chỉ huy trưởng, thiếu tá Nguyễn văn Cơ đã cho nhóm Sóng Thần 200 bao nylon loại dùng để tẩm liệm quân nhân tử trận. Ngoài ra, nhóm mượn được một xe GMC của Tiểu Khu Thừa Thiên làm phương tiện vận chuyển đoàn hốt xác và xác hốt được. Về sau khi số xác lượm được tăng lên tới con số gần hai ngàn, anh Cơ vẫn cung cấp đầy đủ để gói ghém tử thi đồng bào, đồng thời phía Tiểu Khu Thừa Thiên tăng cường cho mượn thêm một xe GMC nữa, và phía Tiểu Khu Quảng Trị cho mượn 2 GMC khác, để di chuyển xác chết.

Sóng Thần đã tiến hành hốt xác tất cả 3 đợt. Khi chị chủ nhiệm Trùng Dương từ tòa soạn ra tham dự để ăn đạn pháo kích là đợt một. Đợt nầy đoàn hốt xác có 4 tổ, mỗi tổ 4 người, thu được trên 800 xác. Về sau đoàn hốt xác tăng lên thành 7 tổ. Sợ mùa mưa tới xác đồng bào bị vữa và trôi hết phần thịt, chúng tôi đã tăng gấp đôi số nhân công để rút ngắn thời gian.

Khởi đầu, thầy Đức Tâm thuê đóng và giao cho đoàn 20 quan tài để mang theo, xem thử đủ thiếu thế nào. Lên đường, anh em ST chúng tôi chỉ dám cầu mong lượm được tới 20 xác như mong muốn của thầy Đức Tâm, vì khu vực giữa hai cầu Bến Đá và Trường Phước là đụn cát trắng không nhà cửa cây cối, hễ thấy bóng người di chuyển là tiền sát viên Việt Cộng gọi pháo tầm xa từ Trường Sơn bắn xuống. Kết quả của ngày đầu thật bất ngờ với con số 96 xác. 20 xác đầu tiên được xếp vào quan tài, phần xác còn lại gói tạm vào bao nylon mang về đặt trong các phòng học của trường Mỹ Chánh.

Đại Lộ Kinh Hoàng’ trước khi được công binh của Việt Nam Cộng Hoà mang xe ủi qua, gạt các xác xe dạt xuống hai bên vệ đường, mở một lố đi nhỏ trên mặt nhựa cho các xe tiếp tế đạn dược lên phía Quảng Trị̣, cũng như lấy thương binh và xác tử sĩ. (Ảnh NgyThanh, chụp ngày 1 tháng 7, 1972) 

Dạo 1968, anh Nguyễn Kinh Châu là ký giả đã theo chân đoàn người đi khai quật các hố chôn tập thể và đã có loạt hình chạy 8 cột bề ngang trên báo Hòa Bình tường thuật tội ác rùng rợn nầy. Cũng nhờ quen biết cũ từ 4 năm về trước, lần nầy đề xuất việc đi lượm xác, anh Châu đã quay lại Phú Thứ để tìm gặp và thuyết phục các người chuyên về di dời xác chết bốn năm trước, sau Tết Mậu Thân, để họ bằng lòng tham gia công việc nghĩa tử dưới làn đạn pháo của Sư Đoàn Pháo Bông Lau. Đúng là Việt Cộng đã dành cho những người nầy những việc làm có một không hai trong lịch sử tội ác chiến tranh. Nhưng vì lãnh thổ Quảng Trị vẫn còn giao tranh và bom đạn, nên những người phu chỉ bằng lòng nhận lời với chi phí 1.600 đồng mỗi ngày, so với giá thuê mướn làm công nhật ở thành phố Huế lúc bấy giờ là 100 đồng/ngày, và giá vàng 1.600 đồng một chỉ. Sở dĩ giá cả cao như thế mà nhóm ST phải chấp nhận vì khu vực “Đại Lộ Kinh Hoàng” vẫn còn rất kinh hoàng, phu hốt xác ra đó để thu lượm xác không những phải làm việc giữa điều kiện mất vệ sinh giữa những xác chết, mà còn phải đưa lưng đội đạn pháo từ Trường Sơn bắn xuống. Những tay làm báo chúng tôi vì nghiệp dĩ của mình mà lăn lưng ra chốn tên bay đạn lạc, nhưng người dân họ có lý của họ, nhất là khi phải đổi bát máu lấy bát cơm để nuôi thân và nuôi gia đình. Khi tới bãi xác người, những phu lượm xác nầy mỗi người đều mang theo một lọ mắm ruốc. Họ đã lấy ngón tay chấm mắm ruốc bôi lên mũi, dùng mùi thối của mắm để mong át đi mùi thối của xác chết, và cũng để đánh lừa khứu giác của mình.

Sau những ngày đầu vừa làm vừa rút kinh nghiệm, đoàn hốt xác buổi tối về hay tập trung ở nhà từ đường của chị Tôn Nữ Mộng Nhiên ở số 100 đường thuận An, là nơi “đóng đô” của đám phóng viên ST trẻ Trần Tường Trình, Đoàn Kế Tường và NgyThanh. Nghe đám nhà báo bàn bạc chuyện lượm xác, ban đầu hai cô chủ nhà là chị Mộng Nhiên và chị Lẫm góp ý. Từ từ bén chuyện, hai cô tình nguyện tham dự trò chơi với đạn pháo kích. Thế là đoàn hốt xác có thêm hai khuôn mặt hoàng phái, đảm nhiệm việc ghi chép sổ sách và ghi số mỗi xác, cùng những giấy tờ hay di vật gì chúng tôi lấy được trên thi thể của họ̣. Những vật dụng và tư trang cá nhân ấy được cho vào bao nylon có ghi số trùng với số của quan tài, để về sau trả lại cho thân nhân người quá cố.

Công tác hốt xác kéo dài ròng rã tới bảy tháng mới hoàn tất.

Sau khi thu nhặt hết xác trên hai bãi cát dọc hai bên đoạn quốc lộ̣ mang tên “Đại Lộ Kinh Hoàng” và mai táng xong, anh em ST còn giữ lại nửa triệu, tức một phần sáu tổng số tiền lạc quyên được từ đọc giả hảo tâm, chúng tôi đã dùng số tiền nầy dựng một bức tượng Đức Địa Tạng rất lớn ngay chỗ có nhiều xác chết nhất, lập một đền thờ oan hồn, và tổ chức một lễ cúng do anh Lý Đại Nguyên từ Saigon đại diện tòa soạn ra chủ tọa. Đền thờ này vẫn còn cho đến ngày nay.

Lời cuối:

Cuộc chiến nào mà không có thảm sát, chiến tranh nào mà chẳng có nạn nhân. Nhưng hình ảnh của một đứa bé ngồi khóc bên xác mẹ giữa một chiến trường thảm khốc đầy xác thường dân như ở Đại Lộ Kinh Hoàng vẫn là một hình ảnh đau thương nhất mà chúng ta không thể nào quên được.

Vì vậy tôi cố tìm cho được câu chuyện của một nhân chứng đích thực, còn sống để kể lại hầu quý vị và riêng tặng cho đại tá Nguyễn Việt Hải, chỉ huy trung đoàn pháo Bông Lau của Quân đội Nhân dân của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Trong tác phẩm “Mùa hè cháy”, xuất bản năm 2005, tác giả đã viết thật rõ ràng là đơn vị của ông khai hỏa tập trung pháo 122, pháo 130 và pháo 155 mà ông gọi là trận địa pháo cường tập trên Quốc lộ 1 vào đám ngụy quân trên đường bỏ chạy.

Ông đại tá pháo binh tác giả của tác phẩm “Mùa hè cháy” đã đích thân quan sát trong vai trò tiền sát viên để trực tiếp chỉ huy bắn.

Bài báo ngắn ngủi và khiêm nhường hôm nay hy vọng sẽ đến tay các pháo thủ miền Bắc ngày xưa để họ nhớ lại thành quả vào ngày 1 tháng 5 trong chiến dịch Nguyễn Huệ 1972.

Ðịnh mệnh nào đã dành cho ông Phan văn Châu còn sống để định cư tại Hoa Kỳ với 11 người con thành đạt, hàng năm vẫn gửi tiền về giúp cho miền quê nghèo khổ xứ Nhan Biều. Bây giờ, những mộ phần tập thể của dân oan chết vì trận mưa pháo Bông Lau năm 72 đã chẳng còn dấu vết. Những đứa bé đói sữa nằm bên xác mẹ rồi cũng đã chết hết trên đại lộ kinh hoàng 37 năm về trước.

Nhưng mà sao tiếng khóc của em vẫn còn nghe văng vẳng đâu đây …

Ngy Thanh
---------------------------------------

Nhờ chiến thắng 75 miền Bắc trở nên giàu có trong khi nông thôn miền Nam bần cùng 

Nội thất dát vàng tại Hà Nội

Sản phẩm đắt giá nhất được trưng bày trong gian hàng nội thất nhập khẩu từ Đài Loan (Trung Quốc) là bộ giường tủ có giá niêm yết lên tới 1,1 tỷ đồng.
Theo nhà phân phối, toàn bộ các sản phẩm được làm từ đồng dát vàng 24K. Phần nguyên liệu gỗ được nhập khẩu từ Nam Phi.
Bộ sofa cầu kỳ cũng được bán với giá khoảng 1,05 tỷ đồng. Các sản phẩm nội thất cao cấp này được thiết kế bởi các nghệ nhân nổi tiếng thế giới, với các phong cách từ cổ điển Châu Âu (nội thất Italia, Pháp, Nga...) đến các thiết kế mang phong cách hiện đại (Đức, Nhật, Mỹ...).
Nhiều người tham quan nhận xét hoa văn trang trí của sản phẩm mang phong cách châu Âu cổ điển.
Bản thân nhà phân phối cũng thừa nhận bộ sản phẩm thực chất chỉ nhắm tới đối tượng khách hàng cao cấp. Tuy nhiên, hãng này cũng hy vọng thị trường này sẽ phát triển mạnh trong thời gian tới.
Bộ gương soi, ghế thư giãn và tủ kéo năm ngăn có giá tổng cộng hơn 450 triệu đồng.
Tay nắm ngăn kéo được mạ vàng, đính đá quý. Nét độc đáo trên các sản phẩm mang phong cách cổ điển của RICCO Lux là những họa tiết được đục chạm bằng tay và dát vàng thật 18k, bạc nguyên chất, hoặc gắn ngọc, mã não.
Bộ bàn ăn sang trọng cũng được mạ vàng với những chi tiết cầu kỳ. Nhà sản xuất cũng rất quan tâm tới yếu tố văn hoá như tính truyền thống, phong thủy trong từng sản phẩm.
Bộ bàn làm việc cũng có giá lên tới 250 triệu đồng. Ngoài sản phẩm dát vàng này, Riccolux cũng có nhiều sản phẩm cao cấp khác như nội thất làm từ da thật 100%, từ gỗ tự nhiên hàng trăm năm tuổi của Châu Phi, tham khảo .

Nhật Minh

Đời nông dân nghèo không đất


Doi nong dan ngheo khong dat
Vợ chồng anh Trung, chị Nhàn và đàn con nheo nhóc này phải ra đi vì “cư trú trái phép” trên mảnh đất mà họ đã từng canh tác qua trung gian của nhiều ông chủ
TTCN - Khách đến tìm tôi là một phụ nữ trạc tuổi 40, gương mặt khô cằn sạm màu nắng gió, bộ bà ba nhàu nát lấm tấm bụi đường, tay cầm chiếc nón lá bung vành úp lên đầu gối. Nhìn tôi, chị cười thân quen: “Anh không nhớ ra tôi sao?”. Tôi ngờ ngợ rất lâu mới nhận ra chị Nhàn ở U Minh Hạ. Mới có sáu năm mà trông chị già quá.

Sáu năm trước, chị mới 29 tuổi. Hồi ấy, tôi về U Minh Hạ gặp chị cũng vì chuyện đất đai, rồi bây giờ chị tìm đến tôi cũng thế. Chị móc túi lấy ra tờ đơn viết tay, nét chữ nguệch ngoạc đầy lỗi chính tả, lời văn thô kệch nhưng cháy bỏng nỗi khao khát đất đai của những người nông dân không đất. Chị nói: “Anh xem và tìm cách giúp bà con, tụi tui vô cùng biết ơn”. Mặt sau lá đơn là hàng chục chữ ký.

Trả lại chị thì tôi chẳng đành lòng, mà nhận thì chẳng khác nào mình gieo cho người ta một niềm hi vọng trong khi tôi thừa biết mình chẳng giúp được gì, kết cục thì cũng như chuyện của sáu năm trước mà thôi.

Quá khứ...

Hồi ấy, tôi gặp chị Nhàn ở kênh 29 thuộc Lâm trường U Minh I, lúc ấy chị đang mang thai, lại phải gồng gánh hai đứa con nhỏ trong căn chòi xiêu vẹo, chồng chị - anh Đinh Văn Trung - thì đang ở tù, chị sống trong sự đùm bọc của cha mẹ và bà con lối xóm. Rồi đất bằng dậy sóng, cả xóm chị, trên 20 hộ dân với cả trăm con người bị giải tỏa vì lý do cư trú trái phép trên đất của lâm trường...

Ngay từ lúc sinh ra chị đã nghèo, gia đình không ruộng đất. Lớn lên theo cha mẹ đi làm mướn, khi lấy chồng lại cũng gặp một anh chồng nghèo như chị. Gia đình bên chồng chị chỉ có mười công ruộng nhưng có đến 13 miệng ăn, chị lại phải cùng chồng đi làm thuê kiếm sống: đào đất, làm cỏ, gặt mướn, cấy mướn quanh năm.

Năm 1989, nhiều người trong xóm chị rủ nhau vào các lâm trường thuê đất ruộng, cả gia đình chị cũng kéo đi, tất cả mười người gồm cha mẹ, bốn đứa em, hai vợ chồng chị và hai đứa con mọn. Đến kênh 29 thuộc Lâm trường U Minh I, cha mẹ chị thuê được 4ha, vợ chồng chị thuê được 3ha với giá 500.000 đồng/ha/năm. Tổng diện tích khu đất này là 60ha do lâm trường cấp cho văn phòng UBND huyện U Minh để sản xuất tự túc với danh nghĩa là gây quĩ công đoàn.

Văn phòng UBND cho 20 hộ dân thuê lại nhưng chỉ được phép sử dụng mặt đất để trồng lúa và sử dụng bờ đê để trồng chuối, rau màu, tuyệt đối không được khai thác cá dưới mọi hình thức vì đó là nguồn lợi của văn phòng. Điều kiện ràng buộc khắt khe đến thế nhưng họ vẫn chấp nhận bởi đây là con đường sống duy nhất của những nhà nông không đất, dẫu sao thì họ cũng có được hạt lúa do chính mình làm ra.

Doi nong dan ngheo khong dat
Đào đất mướn là “nghề ruột” của anh Đinh Văn Trung
Đến năm 1994, hợp đồng hết hạn, văn phòng UBND huyện giao khoán lại toàn bộ diện tích đất cho ông Lê Thanh Liêm, một nông dân giàu có và là cháu ruột của ông chủ tịch huyện. Mức khoán của văn phòng UBND giao cho ông Liêm giá bao nhiêu thì không ai biết, nhưng ông Liêm nâng giá thuê đất cho các hộ này lên 1,5 triệu đồng/ha, trả trước 1 triệu, còn lại trả sau khi thu hoạch lúa. Điều kiện ràng buộc cũng như trước đây, nghĩa là ông Liêm trọn quyền thu hoạch cá, bà con không được bắt cá dưới mọi hình thức, ai vi phạm sẽ bị thu hồi đất.

Những người lớn tuổi như cha của chị Nhàn tỏ ra uất ức bởi cái thời của ông, làm tá điền dưới chế độ thực dân Pháp, thì mỗi công đất chỉ nộp tô hai giạ lúa tới mùa, bây giờ thuê đất của Nhà nước mà phải qua ba trung gian và với cái giá này thì qui ra mỗi công hơn sáu giạ, lại phải đi vay tiền để trả trước hai phần ba. Mâu thuẫn giữa ông Liêm và những người thuê đất từ đó bắt đầu.

Ngày ngày, người ta thấy ông ngồi trên vỏ lãi chạy dọc theo tuyến kênh một cách oai vệ như một tên chủ điền không hơn không kém. Có lẽ vì là cháu ruột của ông chủ tịch huyện nên ông Liêm được trang bị bốn khẩu súng AK, một khẩu cạcbin và một số lựu đạn để cho đám đệ tử của ông hằng đêm đi canh giữ cá đồng và cuối mùa đi đòi nợ những người thuê đất.

Năm 1996, hàng loạt cá chết, ông Liêm đi trình báo, công an huyện xuống điều tra, họ phát hiện có mấy chai thuốc trừ sâu dưới ruộng của chị Nhàn và anh Việt - cũng một người thuê đất. Ngay sau đó anh Trung (chồng chị Nhàn) và anh Việt bị bắt giam vì bị tình nghi thuốc cá của ông Liêm.

Trong một chuyến đi công tác về vùng U Minh Hạ, anh Đặng Huỳnh Lộc - phóng viên Báo Cà Mau - đã viết một phóng sự 11 trang dưới đầu đề “Những nhà nông không đất”, chủ yếu xoay quanh những số phận trong cái xóm của chị Nhàn và một số lâm trường lân cận. Bài viết của Lộc không báo nào dám đăng, anh bèn gửi Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Không ngờ việc làm liều lĩnh của Đặng Huỳnh Lộc lại khuấy động đất U Minh: ngày 16-9-1997, Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi công điện khẩn cho Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau: “Tôi nhận được phóng sự của nhà báo Đặng Huỳnh Lộc viết về đất đai, rừng tràm U Minh (gửi kèm theo). Nếu sự thật như phóng sự này phản ánh thì có thể nói tình hình rất nghiêm trọng. Tôi đề nghị đồng chí chủ tịch có quyết định lập ngay một đoàn thanh tra gồm Thanh tra nhà nước của tỉnh, Sở Địa chính, Sở Nông nghiệp & phát triển nông thôn và nếu tỉnh ủy đồng ý thì mời cả Ủy ban Kiểm tra Đảng của tỉnh tham gia, về tại chỗ kiểm tra, đối chiếu tình hình. Phải xử lý kỷ luật hành chính thật nghiêm mọi tổ chức, cá nhân nào vi phạm. Nếu có dấu hiệu hình sự thì phải cho tiến hành điều tra, khởi tố theo pháp luật.Đề nghị đồng chí chủ tịch UBND tỉnh trực tiếp giao nhiệm vụ, chỉ đạo đoàn thanh tra và báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ”.

Theo kết quả điều tra của Sở NN&PTNT tỉnh Cà Mau cuối năm 2002, Cà Mau có trên 14.000 hộ nông dân không có đất sản xuất.

Trong khi đó 125 cơ quan nhà nước và 1.022 cán bộ, nhân viên từ tỉnh đến huyện được cấp trên 8.000ha từ nguồn đất của các lâm ngư trường.

Hầu hết tổ chức và cá nhân này chỉ đứng tên nhận đất để khoán lại cho nông dân theo hình thức phát canh thu tô hưởng lợi, thậm chí người nông dân trực canh phải đội trên đầu hai ba ông chủ, tạo ra sự phân hóa giai cấp nghiêm trọng dẫn tới nhiều bi kịch trong đời sống nông thôn.

Trước thực trạng đó, đầu năm 2003 tỉnh Cà Mau chủ trương thu hồi toàn bộ diện tích đất nói trên để cấp lại cho nông dân.

Ông Nguyễn Quốc Việt, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, cho biết đến cuối năm 2003, nhiều cơ quan và cán bộ trong tỉnh đã làm đơn trả đất lại cho các lâm ngư trường trên 3.000ha. Đầu năm 2004, UBND tỉnh sẽ tiếp tục thu hồi và cân đối diện tích để cấp lại cho nông dân.

Hơn một tháng sau, Chánh văn phòng UBND tỉnh thông báo ý kiến kết luận của chủ tịch tỉnh về việc thanh tra đất rừng U Minh theo phóng sự của Đặng Huỳnh Lộc: thứ nhất: thu hồi 60ha đất tự túc của văn phòng UBND huyện U Minh giao lại cho Lâm trường U Minh I quản lý để trồng lại rừng tràm; thứ hai: thu hồi toàn bộ vũ khí của Lê Thanh Liêm sử dụng trái phép; thứ ba: trục xuất 21 hộ dân cư trú trái phép ra khỏi khu vực lâm trường.

Được sự giúp đỡ của một thầy giáo ở địa phương, đại diện 21 hộ dân làm đơn khiếu nại, họ đòi trả lại cho họ sự công bằng. Bởi lẽ, gần mười năm qua họ chấp nhận canh tác trên mảnh đất này qua ba tầng bóc lột, chẳng ai xem họ là người cư trú trái phép, bây giờ nếu như Nhà nước thu hồi đất từ tay kẻ bóc lột thì tại sao không giao quyền làm chủ lại cho họ?

Những ngày sau đó, thỉnh thoảng tôi thấy Đặng Huỳnh Lộc ngồi trong quán cà phê với vài anh nông dân áo quần lem luốc, có khi là mấy chị phụ nữ ngồi co ro, mặt buồn rười rượi, chiếc nón lá bung vành úp lên đầu gối. Tôi hiểu ngay đó là những nhà nông không đất đang tìm đến anh, một nhà báo. Mà một nhà báo như anh thì có thể giúp được gì cho họ?

Cuối năm ấy Lộc bỏ quê lên Sài Gòn làm cho một tờ báo khác, còn 21 hộ dân ở kênh 29 sau mấy tháng cầm cự đành phải ra đi dù chưa biết trước nơi nào là cái bến.

Chị Nhàn kể rằng chồng chị đang ở tù, còn chị thì oằn oại trong cơn đau chuyển dạ nhưng cũng bị buộc phải ký vào biên bản cam kết ra đi. Sau khi sinh được ba ngày, mẹ chị dìu chị xuống xuồng trong một cơn mưa gió. Không có áo mưa, chỉ có chiếc nón lá che cho đứa con còn đỏ hỏn. Mẹ chị bơi xuồng đưa chị đến ở trọ nhà của một giáo viên tốt bụng trong rừng.

Đến khi sức khỏe bình phục, mẹ con, bà cháu mới dắt díu về quê. Nhưng khổ nỗi cả gia đình chị và nhiều bà con khác đã không được quê hương thừa nhận, hộ khẩu bị cắt, nhà cửa, đất đai không có. Chị tìm về nhà chồng, nhưng gia đình bên chồng chị đang là đối tượng phải cứu đói của địa phương trong mùa giáp hạt. Chị dựng căn chòi bằng lá dừa trên một bờ mương làm nơi tạm trú để đi làm mướn nuôi con trong cảnh non ngày non tháng để chờ đợi chồng về.

Và hiện tại

Tiễn chị Nhàn ra về, tôi giữ lại lá đơn trong tay nhưng không biết phải làm gì để giúp chị và những người đã ký trong đơn. Cũng như sáu năm trước đây, Đặng Huỳnh Lộc đã không giúp được gì cho họ mà còn phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn.

Biết rằng là thế nhưng cũng không thể kềm chân được! Tôi xách Honda chạy một mạch xuống U Minh. Từ xã Khánh Lâm, tôi thuê chiếc đò đi thẳng vào kênh 89. Tôi gặp hàng chục người, hàng chục gương mặt, người tại chỗ có, người từ xa đến cũng có, mỗi người có những trang tiểu sử khác nhau, nhưng họ có một kết cục giống nhau là: những nhà nông không đất và đang khao khát đất.

Họ bảo với tôi rằng: “Nghe nói tỉnh Cà Mau có chủ trương thu hồi toàn bộ đất của các cơ quan và cán bộ sử dụng theo hình thức phát canh thu tô để cấp cho dân nên họ đang chờ đợi để xin đất. Bà con cho biết trên tuyến kênh này có trên 200ha, Lâm trường U Minh I cấp cho các cơ quan của huyện làm tự túc, các cơ quan khoán lại cho cán bộ, cán bộ khoán lại cho dân mỗi ha 60 giạ lúa tới mùa, còn nếu trả tiền mặt thì mỗi ha 2 triệu đồng.

Doi nong dan ngheo khong dat
Bà Nguyễn Thị Hấn cùng đứa cháu ngoại sắp phải rời căn nhà này dù không biết sẽ về đâu
Tôi gặp lại bà Nguyễn Thị Hấn, mẹ của chị Nhàn, ở cái tuổi 70 mà bà vẫn còn bưng thau bánh ú đi bán dạo. Lưng còng, chân yếu với thau bánh nặng trịch, bà như bò lết qua những khối đất lổm chổm trên bờ đê. Bà kể: năm 1997 sau khi bị giải tỏa ở kênh 29, bà trở về quê nhưng cũng giống như tình cảnh chị Nhàn, không cách nào sống nổi.

Vợ chồng con cái lại chèo chống sang U Minh đi làm mướn để tìm cơ hội thuê đất. Đến đây, bà thuê 3ha đất của ông Hiệp - một cán bộ huyện - với giá 180 giạ lúa tới mùa. Nhưng làm một năm bị chuột cắn sạch, chỉ thu được 30 giạ. Không có lúa nộp tô, ông Hiệp lấy đất lại cho người khác thuê. Không có chỗ ở, bà phải thuê lại của người chủ mới một công để cất nhà và trồng mía, hằng ngày phải đi bán bánh ú để kiếm miếng cơm.

Nghe tôi đến, anh Đinh Văn Trung, chồng chị Nhàn, đang đào đất mướn cũng vội bỏ về. Những thước phim của cuộc đời anh sáu năm qua cũng chẳng có gì mới mẻ, khác chăng là bây giờ anh có đến sáu đứa con. Anh kể sau khi bị tạm giam 7 tháng 11 ngày, cơ quan điều tra không chứng minh được anh là thủ phạm trong vụ thuốc cá của ông Liêm nên thả về.

Về quê cũng không biết làm gì để sống nên vợ chồng con cái lại gồng gánh sang đây. Mùa hạn thì ngày đi đào đất mướn, tối soi chuột đồng cho vợ mang ra bán ở chợ U Minh. Mùa mưa, đến kỳ khai thác rừng thì vô rừng làm mướn, rồi xin cành ngọn tràm chặt khúc bó củi đi bán, cứ thế sống lây lất qua ngày.

Cách đây hai năm, anh thuê được 1ha đất của ông Hận - một cán bộ huyện cũng nhận khoán lại đất của cơ quan - với giá 60 giạ lúa tới mùa. Nhưng làm ra chỉ được 35 giạ. Khi chở lúa về sân, ông Hận qua thu lúa ruộng. Anh năn nỉ ông Hận: “Tôi làm cực khổ chỉ được có bấy nhiêu đó, anh lấy phân nửa, còn lại năm sau tôi trả, chớ anh lấy hết chắc tôi phải tự tử mà chết chớ làm sao nhìn cảnh vợ con tôi đói”. Ông Hận thông cảm chừa lại anh mười giạ, nhưng mùa sau ông Hận lấy đất lại cho người khác thuê với giá 2 triệu đồng tiền mặt.

Thế là cuộc đời của vợ chồng anh Trung, sau 15 năm lang thang làm cuộc mưu sinh dưới tán rừng U Minh Hạ, họ chẳng được gì ngoài sự ra đời thêm bốn đứa con. Nhìn gia đình anh trước căn chòi xiêu vẹo, nhìn gương mặt hồn nhiên của những đứa trẻ, lòng tôi lại xôn xao. Mong sao với quyết tâm của UBND tỉnh qua chủ trương thu hồi đất của cán bộ cấp cho dân, đời chúng sẽ không như bố mẹ mình nữa. Ngày nào đó không xa nữa chúng sẽ canh tác trên mảnh đất của mình.

VÕ ĐẮC DANH

Việt Báo (Theo_TuoiTre)



Công an Trung quốc đã bắt nhiều người và đóng 16 trang web sau khi có tin đồn về chiến xa xuất hiện trên đường phố Bắc kinh...

http://www.cbc.ca/news/world/story/2...up-rumour.html

http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-china-17570005

http://www.washingtonpost.com/world/...HnS_story.htm



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
💔 Tố Hữu và Mối Tình Đầu Định Mệnh: Lời Tố Cáo Đau Thương trở thành mối thù giai cấp muôn đời! [Đã đọc: 508 lần]
💔 Lời Nguyền Hận Thù: Phế Phẩm Độc Hại Trong Văn Hóa Giao Tiếp Việt thời đại HCM CSVN [Đã đọc: 452 lần]
Mức lương cụ thể và thủ tục nhập cư để các bạn VN được thuê làm chồng [Đã đọc: 399 lần]
CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN ĐỐI PHÓ VỚI BIÊN GIỚI – AN NINH KHU VỰC CAMPUCHIA 2025 [Đã đọc: 382 lần]
Sự im lặng đồng lõa – khi lãnh đạo miền Bắc đứng nhìn Trung Quốc nuốt Hoàng Sa [Đã đọc: 378 lần]
Đạo Đức và Cái Bẫy Tự Tôn của dân tộc VN- Mẹ Thứ Anh Hùng - Bi kịch của Thuyền nhân Việt Nam [Đã đọc: 361 lần]
Giữa Mạc Tư Khoa Nghe Câu Hò Ví Dặm [Đã đọc: 316 lần]
Bẫy thu nhập trung bình của VN [Đã đọc: 294 lần]
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [Đã đọc: 276 lần]
Constitution of the Federal Republic of VCL [Đã đọc: 276 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.