NHỮNG SUY NGHĨ SAI LẦM VỀ CÁC MÁC VÀ CỘNG SẢN Chu Tất Tiến, M.S.P. Cuối tháng 12 năm 2011, một vấn đề có tính cách nghiên cứu về chính trị và xã hội đột nhiên bùng nổ trên diễn đàn Internet: Các Mác (Karl Marx) và Cánh Chung Luận (eschatologie intra mondaine). Nhiều bài viết với các lập luận xung đột hay hỗ tương lẫn nhau đã được phổ biến tràn lan trên mạng. Cuộc tranh luận đã khởi đầu khi một tu sĩ Công Giáo, đã nhắc đến lý thuyết của Các Mác, trong một bài giảng, cho rằng lý luận về thời đại Cánh Chung do Các Mác chủ xướng là một điều thực tế, một hy vọng của nhân loại, “là một xã hôi cộng sản hoàn hảo trong đó: không còn cảnh người bóc lột người, mà mỗi một người trong anh chi em và tôi chỉ cần làm việc theo khả năng còn nhu cầu có bao nhiêu là cứ việc xài…” Ngay sau khi bài giảng này được phổ biến trên mạng, nhiều lập luận phản đối đã tràn ngập các diễn đàn, gây ra một làn sóng phản đối dữ dội. Những người chống lại việc phổ biến tư tưởng của Các Mác đã cho rằng Các Mác là một lý thuyết gia không những sai lầm từ căn bản khi đưa ra một mô hình xã hội không thể thực hiện được trên trần thế, mà còn là tai họa của cả nhân loại khi cổ võ cho bạo lực cách mạng, kêu gọi lật đổ toàn diện các mối quan hệ căn bản giữa con người với nhau, rồi sau đó lại áp đặt lên nhân loại một hệ thống cai trị sắt máu, tiêu diệt cả trăm triệu sinh linh cho một nhóm cầm quyền tham nhũng, khốn nạn hơn tất cả mọi chế độ trong lịch sử nhân loại. Nhiều vị thức giả đã chứng minh là Các Mác không nói gì về “thời đại Cánh Chung” cả, mà chỉ vẽ nên một thời kỳ không bao giờ có thật. Một Linh Mục Công Giáo đã giải thích rõ ràng và chi tiết hơn: “Theo nguyên ngữ Hy lạp eschaton là những sự sau và eschatos logos là lời về những sự sau. Eschatos logos trở thành eschatology trong tiếng Anh và eschatologie trong tiếng Pháp. Đây là môn học về những sự sau, gọi là tứ chung hay bốn sự sau, tức sự sống, sự chết, thiên đàng, hỏa ngục trong khoa thần học công giáo mà hiện nay người ta nói cách văn vẻ là cánh chung luận.” và, nếu gán ghép cho rằng lý thuyết của Mác đã chỉ ra một thời đại cánh chung thì “đó là một sự mạo nhận không mấy lương thiện, một sư gán ghép giả tạo, vì Mác-xít là một hệ tư tưởng vô thần cho nên không có cánh chung luận”. Nhận xét một cách khách quan, có rất nhiều người vẫn hay bàn luận về Các Mác mà không hiểu rõ toàn diện Các Mác và những tư tưởng của ông ta, cùng những hoang tưởng trong lý thuyết mà ông ta chủ xướng. Có lẽ ngay chính cả những đảng viên Cộng Sản cũng chưa hiểu rõ “chủ nghĩa Cộng Sản” ngoài ý chính là “tập trung tài sản của nhân dân vào một tay lãnh đạo của Đảng”. Nhiều đảng viên chỉ nói như “vẹt” vài điều lẩm cẩm về chủ thuyết của Mác, nhưng nếu truy xét tới cùng thì cũng chỉ lặp đi lặp lại những nhóm từ ngữ sáo rỗng “chuyên chính vô sản, Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân dân làm chủ….” Thực tế, nếu so sánh những điều mà Các Mác đã viết ra và những tiến trình của lịch sử, cho đến năm thứ 11 của thế kỷ 21, người ta nhận thấy một điều vô cùng quan trọng: -Chủ Nghĩa Cộng Sản hay Chủ Nghĩa Xã Hội chưa bao giờ được thực hiện trên trái đất cho dù đã từng có những chế độ vẫn tự nhận là chế độ của những người theo Mác (Marxist) để thực hiện chủ nghĩa Cộng Sản (Communism). Muốn chứng minh điều khẳng định trên đây, người ta phải đi ngược lại những điều căn bản của hai chủ nghĩa này mà Các Mác và Ăng gen (Karl Marx, Freidrik Engels) đã phổ biến: Theo Mác, chủ nghĩa Xã hội (Socialism) là ý tưởng hướng về một hệ thống kinh tế mà giới lao động, người tạo ra các sản phẩm, các loại tài sản, các phương tiện sinh hoạt… phải nắm quyền và điều hành mọi việc theo hướng tập trung, dân chủ, vì quyền lợi của đa số cũng là dân lao động. Mọi sản phẩm và dịch vụ sau khi tập trung, sẽ được phân phối theo nỗ lực của từng cá nhân. Còn Chủ nghĩa Cộng Sản (Communism) là ý tưởng mà xã hội không còn giai cấp, không còn tầng lớp khai thác và bị khai thác, không còn người bóc lột người. Chủ nghĩa Cộng Sản chủ trương tập trung vừa kinh tế vừa chính trị, không còn ai có của riêng tư, mọi sự đều là của chung; không còn quan niệm vợ chồng riêng tư lo vun đắp cho gia đình riêng của mình, yêu đương hay cưới hỏi đều phải được các lãnh đạo chỉ đạo. Các gia đình chỉ là những đơn vị thuộc vào một tập thể xã hội khổng lồ. Trong chế độ này, sản phẩm và dịch vụ được phân phối theo nhu cầu, vì một khi không còn giai cấp, mọi người đều làm việc theo khả năng của mỗi người, nhằm phục vụ xã hội mà không phục vụ cho cá nhân nữa. Như thế, sự phân chia quyền lợi theo nhu cầu là việc thích đáng. Trong chế độ Cộng Sản Chủ Nghĩa, một bộ máy sẽ được thành lập vì quyền lợi của quần chúng chứ không phải vì quyền lợi của những kẻ cầm quyền. (Nếu theo quan niệm này, vì không còn phân chia giai cấp, gia tộc, cá nhân, mà mọi người đều bình đẳng, thì XÃ HỘI CÁNH CHUNG của loài người sẽ trở thành một bầy đoàn y như một đàn bò, đàn heo, hay đàn cừu, cứ gục đầu làm việc, làm xong thì ăn, ăn xong rồi ngủ dưới cái còi hiệu của những người chăn bò, chăn heo, hay chăn cừu cầm roi quất loạn xạ.) Cũng theo Mác, vì sự tập trung tài sản và sinh mạng của nhân dân một cách đột ngột lại có thể đưa đến chống đối và cách mạng, nên giai đoạn đầu tiên sau khi giật sập chủ nghĩa Tư Bản, thì cách mạng phải theo Chủ Nghĩa Xã Hội trước. Sau một thời gian ổn định, mới tiến lên chủ nghĩa Cộng Sản là mục tiêu cuối cùng của nhân loại. Đó là những ý tưởng và những khẩu hiệu mà những kẻ theo Mác kêu gào cả một trăm năm nay. Vì những lập luận trong lý thuyết của Mác đã được viết dựa vào tình trạng Tây Phương cuối thế kỷ 19 là giai đoạn mà các chủ nhân ông đang lợi dụng sức lao động của giới thợ thuyền để làm giầu, nên đã được những người theo khuynh hướng xã hội hoan hô, mặc dù họ chẳng thể nào hiểu toàn bộ mớ lập luận rắc rối này. Đặc biệt là những kẻ cực đoan, quá khích và một số kẻ “chỉ có cái quần đùi và luôn mơ đến củ khoai bỏ vào miệng” thì thấy đây là cơ hội cho họ vùng lên, “được thì được tất cả, mà mất thì chẳng mất gì”. Từ đó, chiến tranh giữa những đệ tử của Mác và những người tự vệ đã xẩy ra liên tiếp, gây nên bao chết chóc, đau thương cho nhân loại. Tuy nhiên, thực tế lịch sử cho thấy chưa bao giờ các loại chủ nghĩa Xã Hội và Cộng Sản này được thể hiện. Hãy nhìn vào một số nước Cộng Sản tiêu biểu: 1-Liên Xô, U.S.S.R. (UNI0N of Soviet Socialist Republics), hoặc U.R.S.S. (“UNI0N des républiques socialistes soviétiques” bằng tiếng Pháp, “Unión de Repúblicas Socialistas Soviéticas” bằng tiếng Tây Ban Nha, “UNI0Ne delle Repubbliche Socialiste Sovietiche” bằng tiếng Ý.) Danh xưng này, dịch đầy đủ là “Liên Hiệp các nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Sô Viết” hay “Liên Bang Sô Viết”, đứng chủ đạo là nước Nga. Tại đây, Lê Nin đã làm rung động thế giới với những khẩu hiệu kêu gào cho một chế độ Cộng Sản đầu tiên được thiết lập, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, sự thật đã phơi bầy là những kẻ chiến thắng chế độ quân chủ Nga Hoàng đã lộ nguyên hình là một chế độ Phát Xít cực đoan, một chế độ độc tài còn man rợ gấp trăm lần chế độ quân chủ của Nga Hoàng. Ngay sau Cách Mạng 1907, Lê Nin đã biến cải chủ nghĩa Marxism thành Marxist-Leninism, sau đó, dưới bàn tay sắt của Stalin, đã trở thành Stalinism. Điều này chứng minh là chưa bao giờ chủ nghĩa Marxist thật sự được thể hiện. Chính Trotsky, một trong những người Cộng Sản tiên phong, đã phê bình gay gắt chủ nghĩa này và cho rằng chế độ Cộng Sản của Stalin “không phải là theo chủ nghĩa xã hội, mà chỉ là một quốc gia gồm những người lao động đã xuống cấp trở thành những kẻ lề mề hành chánh, một quốc gia mà trong đó sự khai thác được kiểm soát bởi môt nhóm độc quyền, một nhóm không sản xuất gì cả và không phải một nhóm xã hội với quyền lợi riêng của mình, lại tập trung một quyền lợi và sự ưu tiên trùm lên các tiêu pha của nhóm làm việc lao động.” Dưới chế độ Cộng Sản Liên Xô, thay vì để cho giới lao động làm chủ đất nước và tôn trọng nhân phẩm của con người như trong tuyên ngôn của đảng Cộng Sản, thì những kẻ cầm quyền đã vung tay chém giết chính những người lao động (chân tay và trí óc) là nhân dân của mình. Hơn 10 triệu người đã bị thủ tiêu, bắn giết, chưa kể nhiều triệu người đã bị đầy đi Siberia để chết đói, chết lạnh và chết bệnh trong các lò tập trung. Vì tính chất vô nhân đạo của chế độ man rợ này có đặc tính chống lại nhân loại, cho nên chế độ mệnh danh là Cộng Sản ấy đã cáo chung sau hơn 70 năm làm rung chuyển thế giới. Ngay tại nước Nga, trung tâm điểm của các chế độ Cộng Sản, hiện nay, đảng Cộng Sản đã bị loại ra ngoài vòng pháp luật. 2-People's Republic of China. Sau khi Liên Bang Sô Viết tan rã, Trung Cộng giữ ngôi bá chủ các nước Cộng Sản còn sót lại. Điều đáng quan tâm là quốc hiệu này không có chữ “Cộng Sản” hoặc “Xã Hội chủ nghĩa”. Cũng như Liên Sô, những kẻ theo Mác ở Trung Hoa hiện nguyên hình là những kẻ vô cảm, vô lương, tàn ác, dã man nhất lịch sử nhân loại. Những kẻ cầm quyền đã giết chết hơn 30 triệu người dân Trung Hoa, gây thương đau cho hàng trăm triệu người khác, và lật đổ mọi giá trị văn hóa Trung hoa cổ đại. Như vậy, chưa bao giờ lý thuyết Cộng Sản của Mác được áp dụng trên đất nước này, ngoài việc tập trung tài sản và sinh mạng của toàn thể nhân dân vào một Đảng cầm quyền hung ác và bạo ngược. 3-The Republic of Cuba. Tuy danh xưng của quốc gia này không có chữ Cộng Sản, nhưng những thủ lãnh của đất nước cũng là những chư hầu của hai nước Cộng Sản lãnh đạo: Liên Sô và Trung Cộng. Ngày nay, sau khi Liên Sô tan rã, Cuba chỉ còn tôn thờ và nhận viện trợ từ Trung Cộng, để bảo vệ quyền hành của những kẻ cai trị giải đất bé nhỏ này dưới lý thuyết Cộng Sản đã tan rã. 4-Chế độ Cộng Sản Pôn Pốt – Iêng Sary tại Campuchea: Đây mới chính là những giai đoạn khởi đầu của chủ nghĩa Cộng Sản, nghĩa là tập trung toàn bộ sinh mạng, tài sản, và dụng cụ sinh hoạt… vào tay bọn đầu lãnh để nhóm này tung hoành chém giết một cách rùng rợn. Để không còn giai cấp, bọn Cộng Sản Miên này cho giết các bác sĩ,trí thức, giáo sư, người có học, và thay vào đó là một tầng lớp ngu ngốc, vô học. Chế độ Cộng Sản này thực ra là một hình thức của thời đại hoang dã (Barbarian/Savage), trong đó, những kẻ lãnh đạo đảng Cộng Sản Campuchea đã hiện nguyên hình là lũ quỷ sống uống máu người không tanh. May cho nhân loại là chế độ này tan hàng rất sớm. 4-Cộng Sản Bắc Hàn: mặc dù vẫn lớn tiếng xưng là một nước Cộng Sản, nhưng ngoài việc tập trung tài sản và sinh mạng của nhân dân vào một tay lãnh đạo, rồi cha truyền con nối, không phải là những người lao động làm chủ, hoàn toàn đi ngược lại nguyên lý Cộng Sản hay Xã Hội Chủ Nghĩa. Gia đình họ Kim đã lãnh đạo nước này ba đời liên tiếp, gây ra những nạn đói khủng khiếp, khiến người phải ăn thịt người. -Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Với danh xưng dài dòng như thế, kèm theo một câu khẩu hiệu sáo rỗng: Độc Lập – Tự Do- Hạnh Phúc, những kẻ cầm quyền vẫn tôn thờ Mác như một Thánh Sống và vẫn khẳng định rằng đang áp dụng giai đoạn Xã Hội Chủ Nghĩa trước khi tiến lên Cộng Sản chủ nghĩa. Thực chất, Việt Nam Cộng Sản đã thi hành chủ nghĩa Xã Hội ra sao? Mác nói chủ nghĩa Xã Hội là: Giới lao động, người tạo ra các sản phẩm, các loại tài sản, các phương tiện sinh hoạt… phải nắm quyền và điều hành mọi việc theo hướng tập trung, dân chủ, vì quyền lợi của đa số cũng là dân lao động. Mọi sản phẩm và dịch vụ sau khi tập trung, sẽ được phân phối theo nỗ lực của từng cá nhân. Từ khi thành lập Đảng đến nay, đã có bao nhiêu người lao động chân chính được nắm quyền điều hành xã hội? Nhìn vào thành phần lãnh đạo hiện nay, bao nhiêu người từng là công nhân tận tụy với công việc của mình trước khi trở thành lãnh đạo, ngoài việc “cha truyền, con nối”, “con Vua thì lại làm Vua, con lão sãi chùa vẫn quét lá đa”? Trong hệ thống Bộ Chính Trị, Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, và Nhà Nước, có bao quan hệ chồng chéo, bao nhiêu là sự truyền ngôi công khai hay bí mật? Những đứa con rơi vãi của Hồ Chí Minh, biểu hiện cao nhất là Nông Đức Mạnh, có phải là công nhân thuần túy không? Trong danh sách Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, và các Bộ Trưởng và các kẻ nắm quyền lực cao nhất nước, có bao nhiêu bà con, họ hàng của Lê Duẩn, Lê Đức Anh, Lê Hồng Phong, Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh, Văn Tiến Dũng, Võ Nguyên Giáp, Lê Đức Thọ, Mai chí Thọ, Phạm Hùng,Tố Hữu, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh? Có anh chị Công Nhân lao động thuần túy nào lọt vào trong danh sách những kẻ nắm quyền lực cao nhất nước không? Hoàn toàn không! Toàn là “con cháu các cụ cả - CCCCC”! Giới giang hồ đang làm loạn xã hội đen, bây giờ không cần đấu dao, súng để tranh dành thị trường, nhưng đấu “gia phả” mà thôi. Hai phe gặp nhau, trao đổi danh sách các chú, các bác trong Bộ Chính Trị, trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, thế là xong, ai có cha, chú kém vế hơn thì chấp nhận làm đàn em! Một mục tiêu, một giấc mơ Việt Nam bây giờ là có “Nhà mặt phố, bố làm lớn”, chứ không phải mục tiêu học hành và thành đạt, vì học xong 7,8 năm đại học mà không có chục ngàn đô la hối lộ, thì không bao giờ có việc làm, dù là làm Công Nhân Lao Động! Thứ hai, các sản phẩm và dịch vụ có được phân phối theo nỗ lực của từng cá nhân không? Hoàn toàn không! Hiện nay, toàn bộ các lãnh đạo Nhà Nước đều là những tỷ phú đô la, đại diện là Nguyễn Tấn Dũng, KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG, là một trong những người GIẦU NHẤT ĐÔNG NAM Á, với tài sản rải rác khắp các công ty khổng lồ, nắm hết quyền lực chính trị, trong khi con gái, cũng không phải giai cấp công nhân, mà là một Tiểu Thư quyền quý được cho đi học nước ngoài, về nắm toàn bộ hệ thống Đầu Tư nước ngoài và một số công ty lớn khác với tài sản lên đến hàng tỷ đô la. Con trai, dù đầu óc ngớ ngẩn, cũng mới được bổ làm Thứ Trưởng, dần dần sẽ lên nắm quyền thay cha, một khi bố bị bệnh ung thư óc hay Alzheimer, Parkinson… Thứ ba, Các Mác chú trọng tính Dân Chủ trong Xã Hội Chủ Nghĩa, nhưng Cộng Đảng Việt Nam lại chú trọng tính Quân Chủ Tuyệt Đối! Cá nhà Lãnh đạo muốn bắt ai thì bắt, muốn giết ai thì thủ tiêu, muốn bán nước cho ngoại bang thì cứ tự nhiên, ngay cả việc nhốt giam các người yêu nước, chỉ đòi bảo vệ tổ quốc, cũng không cần phải hỏi ý nhân dân lao động bao giờ! Cái gọi là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc bây giờ, thực chất là một chế độ bóc lột dã man nhân dân lao động thời Trung Cổ nhưng bằng cách hình thức phong phú, linh động, và hiện đại hơn. Chế độ này còn tàn bạo gấp nhiều lần chế độ tư bản thế kỷ 19 vì tuy có các phương tiện thông tin nhanh gấp ngàn vạn lần khi xưa, khi mà quan hệ giữa các quốc gia được thực hiện bằng các kỹ thuật máy móc tinh vi, và sự hiểu biết của con người đã lên tới mức “không thể tưởng tượng được”, nhưng vẫn còn cảnh “người bóc lột người” dửng dưng! Trong khi đó, toàn bộ tài sản, đất đai, sinh mạng của nhân dân được tập trung tối đa vào tay các lãnh đạo, gồm một nhóm “cha truyền con nối”, hoàn toàn không phải vì quyền lợi của nhân dân lao động! Tóm lại, cho đến nay, lý thuyết về một xã hội không còn “người bóc lột người”, một xã hội công bằng và hợp lý của Mác, chưa bao giờ được thực hiện trên trái đất. Tất cả ý niệm về một thời đại “cánh chung của nhân loại” chỉ là những bánh vẽ mơ hồ, được tạo ra bởi một nhân vật hoang tưởng, bệnh hoạn, thông minh chưa đủ để tiên đoán những hậu quả khủng khiếp cho nhân loại, khi mà lý thuyết đó đã được một nhóm người lợi dụng và tô vẽ, nhằm che đậy một âm mưu kinh hãi hơn: thống trị toàn thể nhân loại dưới bàn tay sắt! Vì thế, tất cả những ai có lý trí, có tín ngưỡng, có niềm tin vào các đấng Thần Linh, vào Đức Phật, vào Thượng Đế, vào Thiên Chúa.. đều phải có nghĩa vụ lên tiếng hoặc hành động để tiêu hủy cái chủ nghĩa quái quỷ Vô Thần, Vô Tổ Quốc, Vô Gia Đình này,đang muốn tiêu diệt văn minh, văn hóa, và Tín Ngưỡng của nhân loại. Những ai đó, miệng nói là tin Chúa mà lại tin theo Cộng Sản thì đã trực tiếp và công khai phản bội Thiên Chúa rồi đó. Chu Tất Tiến.
Về Những Người Dân Bị Tàn Sát Dưới Chế Độ Cộng Sản Việt Nam
Diễn Đàn online Đối Thoại - Tự Do Dân Chủ Cho Tổ Quốc Việt Nam, ngày 11-7-07, đã dịch bản tin: Tổng thống Putin tôn vinh những nạn nhân của Stalin (Putin honors Stalin Victims 70 Years after terror) của hãng thông tấn Reuters ngày 10-30-07. Và cùng với bài dịch này, Đối Thoại đã ghi một câu hỏi: Bao giờ thì đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ nghiêng mình trước vong linh, oan hồn của nạn nhân cải cách ruộng đất và tết Mậu Thân? Từ bản tin Tổng thống Putin vinh danh nạn nhân của chế độ Cộng Sản Nga và câu hỏi của Đối Thoại, chúng tôi có vài cảm nghĩ, xin ghi lại như sau:
I. Về câu hỏi của Đối Thoại:
Theo chúng tôi hiểu thì Đối Thoại hỏi để mà hỏi, hỏi để nhắc lại tội ác hay hỏi để lên án chế độ Cộng Sản Việt Nam . Nhưng nhân câu hỏi này, chúng tôi xin phép được trả lời theo sự suy nghĩ của mình là đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không bao giờ có chuyện nghiêng mình trước vong linh những nạn nhân của chế độ Cộng Sản, vì với những người Cộng Sản thì họ đã tự cho họ là người nắm chân lý lịch sử theo chủ nghĩa Marx-Lenin, nên những việc họ làm là để thực hiện cuộc cách mạng vô sản theo chân lý của ông Marx vẽ ra và những người họ phải giết là kẻ thù của cuộc cách mạng ấy. Tất nhiên không bao giờ có chuyện đảng Cộng Sản nghiêng mình trước vong linh kẻ thù mà họ đặt cho cái tên theo sự sáng tạo của Stalin là “kẻ thù của nhân dân”, nhưng việc tàn sát người dân để thí nghiệm hết chính sách này đến chính sách khác được gọi là cách mạng vô sản theo suốt dọc chế độ là một tội ác sẽ được ghi lại, và rồi đây dân Việt sẽ có cơ hội để làm lễ tưởng niệm mấy trăm ngàn đồng bào xấu số của mình như những nước Cộng Sản cũ ở Đông Âu như Ba Lan, Hung Gia Lợi, Tiệp Khắc, Bảo Gia Lợi… và Nga đã thiết lập những đài tưởng niệm nạn nhân Cộng Sản khi những quốc gia này đã xóa bỏ chế độ Cộng Sản trên đất nước họ.
II. Về cách mạng vô sản:
Với nước Nga và các nước Đông Âu thì cách mạng vô sản đã là một thảm kịch mà dân tộc họ đã đi qua, nay họ đứng trước đài tưởng niệm hàng năm là để làm lễ tưởng niệm người chết và để nhắc nhở người sống một điều là đừng để thảm kịch đó tái diễn. Nhưng đảng Cộng Sản Việt Nam, đứa con của một tổ quốc xã hội chủ nghĩa đã chết, lại làm ngược lại là nhân ngày kỷ niệm cách mạng tháng 10 Nga, từ các cấp lãnh đạo đảng đến báo chí đã hết lời ca ngợi thành quả vĩ đại cuả cuộc cách mạng đó. Chẳng hạn ngày 7-11-07 tại cung văn hóa hữu nghị Việt Xô, ông Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đã đọc một bài diễn văn dài giảng giải về lẽ tất thắng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong đó có những câu: “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới đã không cáo chung vào cuối thế kỷ 20 như các thế lực thù địch từng mơ tưởng. Thực tế chứng minh đây chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình cụ thể của chủ nghĩa xã hội hiện thực chứ không phải sự sụp đổ của bản thân chủ nghĩa xã hội với tư cách là một nấc thang phát triển cao hơn chủ nghĩa tư bản trong tiến trình lịch sử… Chúng ta vẫn ở trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, được khởi đầu bằng cuộc cách mạng tháng Mười vĩ đại, trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch”. Còn ông chủ tịch Nguyễn Minh Triết thì viết những lời rất kiên định trên báo Sài Gòn Giải Phóng: “Càng nghiền ngẫm các văn kiện Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc lần thứ X của đảng, chúng ta càng nhận thức và chiêm nghiệm sâu sắc hơn chân lý của thời đại mới: Đi theo chủ nghĩa Mac-Lênin, đi theo con đường cách mạng Tháng Mười là sự lựa chọn sáng suốt và đúng đắn của Bác Hồ kính yêu. Đi lên chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh là con đường tất yếu của nước ta”.
Với ông Mạnh và ông Triết thì đảng Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn đúng đường: Đi theo chủ nghĩa Mac-Lênin và cách mạng tháng Mười. Nhưng với dân Việt thì không qua chiêm nghiệm của ông Triết mà qua thể nghiệm thực tế cuộc đời cả nửa thế kỷ qua thì nói rằng trên quá trình đấu tranh xây dựng chế độ, làm cách mạng vô sản và duy trì chế độ, đảng Cộng Sản đã bắt dân Việt đi theo 3 đường vòng của con đường gọi là cách mạng xã hội chủ nghĩa với những đổi thay cùng với chồng chất những xác người, nên dân Việt đã gọi đó là 3 đường vòng oan nghiệt. Nay nhân thời gian đảng Cộng Sản Việt Nam làm lễ chào đón cách mạng tháng Mười Nga, chúng tôi xin thuật lại ít điều về 3 đường vòng này:
1. Đường vòng cải cách ruộng đất:
Trên đường vòng ruộng đất, đảng Cộng Sản đã dẫn nông dân đi qua những đoạn vòng như sau
- Ở miền Bắc từ 1953 đến 1956, cao điểm là 1956, đảng Cộng Sản đã tiến hành cuộc cải cách ruộng đất gọi là cuộc “cách mạng long trời lở đất” để thực hiện mấy mục đích: Thứ nhất là tiêu diệt tầng lớp địa chủ, trung nông, cả tiểu nông để tịch thu ruộng đất của họ. Số nạn nhân bị tàn sát theo ước lượng lên tới trên 300.000 người. Còn số của đảng đưa ra trong sách “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000” là 172.008 người. Thứ nhì là truyền bá ý thức đấu tranh giai cấp, gây lòng căm thù để cho nông dân thấy mình được làm chủ qua việc đấu tố giết địa chủ và được phân chia đất ruộng của địa chủ, từ đó biến nông dân thành một lực lượng đi với đảng để đảng vận dụng. Thứ ba là sau khi chia đất cho nông dân một thời gian, đảng tiến hành truất hữu ruộng đất của họ qua các chương trình hợp tác hóa nông nghiệp, vô sản hóa nông dân và biến nông dân thành một loại tá điền mới (bị kiểm soát) của nhà nước.
Như thế là ở miền Bắc từ 1954 đến 1965, sau những chương trình hợp tác hóa, đảng Cộng Sản đã thực hiện xong cuộc cách mạng vô sản ở nông thôn. Kết quả là nông dân trở thành nghèo đói với những hợp tác xã cấp thấp, cấp cao, và lạc hậu như dân Việt cả hai miền đã biết sau 1975, nhưng đảng Cộng Sản đã đạt được ưu thế tuyệt đối là có thể kiểm soát nông dân từ đầu đến bụng và có thể vận dụng nông dân theo những gì đảng muốn.
Ở miền Nam :
Sau 30 tháng 4 năm 1975, đảng Cộng Sản đã để ra 2 năm nghiên cứu về nông dân và đất ruộng miền Nam . Tới năm 1977, đảng bắt đầu thực hiện chương trình hợp tác hóa nông nghiệp như đã làm ở miền Bắc. Nhưng có lẽ do nhiều yếu tố từ tinh thần nông dân đến tình trạng ruộng đất, vì miền Nam không còn giai cấp địa chủ và đa số đã trở thành tiểu nông qua hai cuộc cải cách ruộng đất thời đệ nhất cộng hòa và đệ nhị cộng hòa, nên đảng Cộng Sản đã không thể làm thêm một cuộc cách mạng long trời lở đất - đấu tố địa chủ và giết nhiều người – mà đã tiến hành bằng sách ôn hòa qua mấy giai đoạn với những biện pháp thuyết phục kèm với những áp lực bao vây cưỡng bách tầng lớp trung nông và tiểu nông có từ 2 đến 5 ha, gia nhập hợp tác xã và tập đoàn sản xuất. Kết quả là đến năm 1985, theo Thông Tấn Xã Việt Nam ngày 10-10-1985, ruộng đất miền Nam từ Thuận Hải đến Mũi Cà Mâu đã được tập thể hóa với 622 hợp tác xã và 35.853 tập đoàn sản xuất (Lâm Thanh Liêm – Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất Việt Nam – 1954-1994 - Nam Á, Paris – 1995, trg 136).
Trên tiến trình vô sản hóa dân miền Nam thì việc cải tạo công thương nghiệp đã được giải quyết nhanh qua 2 chiến dịch đánh tư sản vào tháng 9 năm 1975 và tháng 4 năm 1978, còn việc cải tạo nông nghiệp thì phải mất 10 năm. Nhưng trong 10 năm (1975-1986) trong khi miền Nam được xã hội hóa để theo kịp với miền Bắc thì nền kinh tế xã hội chủ nghĩa lụn bại, cả nông nghiệp lẫn công thương nghiệp. Kết quả là nông dân thiếu đói, hàng hóa tiêu dùng khan hiếm và chợ đen chợ đỏ phát triển ở khắp nơi. Vì thế chính quyền Cộng Sản đã phải lùi ở cả nông, công thương nghiệp để cứu vãn tình thế: Lùi ở nông nghiệp là cho xã viên mướn đất canh tác riêng theo thể thức khoán. Còn lùi ở công thương nghiệp (ở miền Nam) là phải mở cửa cho tư nhân xây dựng những cơ sở sản xuất để giải quyết hàng hoá tiêu dùng và cho phép buôn bán nhỏ. Và chính chuyện khoán này căn bản là trở về với truyền thống làm ăn cá thể, gia đình đã cứu nền nông nghiệp mang danh là xã hội chủ nghĩa. Từ đó với luật đất đai do Quốc Hội biểu quyết tháng 12-1986 và nghị quyết 10 của Bộ Chính Trị ngày 5 tháng 4 năm 1988, đảng Cộng Sản đã luật hóa chính sách khoán, hủy bỏ chính sách sản xuất tập thể xã hội chủ nghĩa, nới rộng thời gian cho thuê đất, và cho phép người thuê có quyền để lại cho con thừa kế phần đất ruộng của họ hoặc nhượng lại cho một nông dân khác.Việc thay đổi chính sách ruộng đất đã kích thích việc gia tăng năng xuất. Nhưng việc công nhận quyền làm ăn cá thể với quyền sử dụng và chuyển nhượng đất đã lập tức tạo ra một tầng lớp cường hào ác bá ở nông thôn là thành phần cán bộ Cộng Sản địa phương đã dùng quyền hành để chiếm những vùng đất màu mỡ cho gia đình và thân thuộc. (Martin Ravallion and Dominique Van de Walle, Breaking up the Collective Farm: Welfare Outcomes of Vietnam’Massive Land, World Bank).
Như thế con đường cải cách ruộng đất của đảng Cộng Sản từ 1953 đến nay là một đường vòng: Diệt làm ăn cá thể để tập sản hóa, rồi lại phải trở về kiểu làm ăn cá thể. Với đảng Cộng Sản thì khi bắt đầu con đường tập thể hóa, đảng gọi là cuộc cách mạng long trời lở đất, để tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Rồi khi phải trở về với kiểu làm ăn cá thể thì đảng lại gọi đó là Đổi Mới. Nhưng với nông dân thì con đường đó đã thấm đầy máu hận, tan nát và đói khổ, nên người dân đã gọi đó là đường vòng oan nghiệt.
2. Đường vòng công thương nghiệp
Với miền Bắc:
Sau khi tiêu diệt xong tầng lớp địa chủ, trung nông qua cuộc cách mạng long trời lở đất ở nông thôn, năm 1957, chính quyền Cộng Sản tính sổ tầng lớp tư sản thành thị bằng cuộc cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Ở đây đảng không đấu tố những nhà tư sản dân tộc mà sử dụng sách khuyến dụ là phát động chiến dịch bằng báo chí và những buổi tập họp những nhà tư sản nói về chính sách cải tạo, nói về tội của giai cấp tư sản và nói về sự tự giác cải tà qui chánh. Kết quả cuả chiến dịch tuyên truyền và đe dọa này là các nhà tư sản đã tự nguyện làm đơn xin hiến tài sản, xí nghiệp, nhà cửa cho nhà nước. Trận đánh này đã được tiến hành êm ả và hình như chưa có sách nào ghi lại đầy đủ về sự diễn tiến với những thảm kịch của nạn nhân. Nhưng kết quả thì ai cũng biết là chỉ trong 2 năm (1957-1958) chính quyền Cộng Sản đã xóa bỏ xong tầng lớp tư sản thành thị miền Bắc. Sau 1975, qua những tiết lộ của nhiều người miền Bắc thì trận đánh đó không êm ả mà đầy chết chóc, uất hận với những vụ tự tử, với những cái chết sau đó ít tháng vì u uất, hoảng loạn tinh thần. Đó là chưa kể đến những gia đình tư sản bị đưa lên vùng thượng du như kiểu đi kinh tế mới ở miền Nam mà về chuyện này thì nhiều sĩ quan bị tù cải tạo ở Hoàng Liên Sơn, Sơn La, Lai Châu… đã có dịp thực chứng, vì họ đã gặp nhiều người già hay con cái họ cho biết là gia đình họ đã bị đưa lên núi rừng sau 1954.
Với miền Nam :
Chương trình cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam được thực hiện qua 2 chiến dịch với những biện pháp áp chế khác với biện pháp tuyên truyền, thuyết phục ở miền Bắc.
Xin tóm tắt:
Chiến dịch thứ nhất vào tháng 9 – 1975 với những biện pháp: - Đổi tiền, 1 đồng mới ăn 500 đồng Việt Nam Cộng Hòa. - Giam giữ và tịch thu toàn bộ tài sản của các đại thương gia, kỹ nghệ gia. - Thực hiện chế độ hộ khẩu để kiểm soát từng người. - Bắt các gia đình tư sản đi lên những vùng kinh tế mới.
Chiến dịch thứ nhì vào tháng 4 – 1978 với những biện pháp:
- Đổi tiền đợt thứ nhì. - Bắt giam và tịch thu tài sản của tư sản mại bản. Mục tiêu chính của trận đánh nhằm vào thương gia gốc Hoa và bắt gia đình họ phải đi kinh tế mới trong vòng 1 tháng. - Cấm lưu thông hàng hóa giữa các tỉnh và từ các tỉnh vào thành phố để triệt đường tư thương giữa các tỉnh và tăng cường hệ thống độc quyền quốc doanh. - Để vét cạn tài sản chìm của giới tư sản, chính quyền đã ra lệnh tổ chức những cuộc vượt biên bán chính thức trong những năm từ 1987 đến 1980 với giá cho người Hoa từ 8 đến 10 lạng vàng, người Việt từ 10 đến 12 lạng. Do đường này mà hàng trăm ngàn người Việt, người Hoa đã thoát khỏi Việt Nam để đi Canada , Mỹ và Úc.
Theo nhiều tài liệu được ghi lại thì Đỗ Mười, lúc đó là phó thủ tướng, đã chỉ huy cả hai chiến dịch cải tạo công thương nghiệp miền Nam . Với những kinh nghiệm lão luyện thu được trong mấy năm làm Trưởng Ban Cải Tạo Công Thương Nghiệp ở miền Bắc (1957-58), Đỗ Mười đã sử dụng công an và bộ đội để triển khai trận đánh với những biện pháp:
- Bao vây, cô lập khu thương mại và những gia đình tư sản cỡ lớn nhiều ngày, và đã tận lực đào bới từ trong ra ngoài để tìm vàng ngọc, kim cương… - Cô lập những người trong gia đình tư sản để thẩm vấn, đe dọa, bắt khai tài sản gồm tất cả của nổi, của chìm. - Tịch thu tất cả tài sản trong nhà và trong cơ sở buôn bán hay sản xuất của những gia đình tư sản. - Bắt những gia đình tư sản phải đi vùng kinh mới trong thời hạn một tháng. Kết quả là sau mỗi trận đánh dân Sài Gòn và Chợ Lớn (có lẽ còn ở những thành phố khác nữa) đã chứng kiến nhiều gia đình tư sản tự tử: Có người treo cổ, có người nhẩy lầu, có người uống thuốc độc. Và trong 2 tháng (4 và 5/1978) 30.500 gia đình tư sản thành phố Hồ Chí Minh đã đi kinh tế mới (Lâm Thanh Liêm, đd, trg 96).
Như thế chỉ trong 2 chiến dịch, mỗi chiến dịch chừng vài tháng, là Đỗ Mười đã hủy xong tầng lớp tư sản công thương nghiệp miền Nam đã được xây dựng và tích lũy tài sản và kinh nghiệm từ lâu đời, để xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa chỉ có đảng, nhà nước xã hội chủ nghĩa và dân vô sản. Nhưng thực tiễn cho thấy là sử dụng chuyên chính vô sản để phá hủy thì dễ, còn xây dựng được một xã hội vô sản với con người vô sản theo ý muốn của đảng thì quá khó hay bất khả (muốn làm đúng như thế thì phải giết nhiều người). Thực chứng cho thấy là từ sau 1975, qua cải cách ruộng đất, qua những trận cải tạo công thương nghiệp tư doanh, nền kinh tế quốc doanh xã hội chủ nghĩa đã đi vào ngõ cụt. Với nông nghiệp thì sản lượng sút giảm, nên dân đói phải ăn độn sắn, khoai và bo bo. Còn công nghiệp thì nhà máy quốc doanh sản xuất quá ít mà phẩm chất của sản phẩm lại quá tồi, nên xã hội thiếu từ cái đinh, quyển vở, chiếc khăn mặt đến bánh sà bông, sản phẩm cao hơn một chút như chiếc lốp xe đạp thì khan hiếm như vàng… Nông và công đã thế thì thương không có gì để nói, ngoài hệ thống chợ đen và chợ trời.
Trong những năm này, theo lời của mấy ông cán bộ trong những bữa nhậu thì để cứu vãn một tình trạng kinh tế khác hẳn những điều đảng vẽ về tính ưu việt của kinh tế xã hội chủ nghĩa, hai ông Võ Văn Kiệt và Nguyễn Văn Linh đã phá đột phá hàng rào kinh tế giáo điều xã hội chủ nghĩa, bằng cách lùi ở cả nông, công, thương nghiệp:
- Lùi ở nông nghiệp là cho nông dân thuê đất khoán. - Lùi ở công thương nghiệp là bãi bỏ việc ngăn sông cấm chợ, khuyến khích phát triển kinh doanh theo phương thức 3 lợi ích là lợi ích nhà nước, lợi ích cơ sở và lợi ích cá nhân. Cho tư nhân lập cơ sở sản xuất và được phép bán giá tự do những sản phẩm trên mức chỉ tiêu kế hoạch, người Hoa được phép kinh doanh trở lại và trong các xí nghiệp dùng hình thức khoán sản phẩm để kích thích sức sản xuất của công nhân.
Không biết câu chuyện đột phá của hai ông Linh và Kiệt hư thực và qua mặt trung ương như thế nào, nhưng từ những năm đầu thập niên 1980 trở đi thì Sài Gòn, Chợ Lớn lại có nhiều thứ hàng hóa và dân làm ăn ở Sài Gòn đều biết là Võ Văn Kiệt đã dùng Ba Hòa, một cán bộ Hoa vận, người Triều Châu để thành lập công ty Cholimex, một công ty hoạt động theo kiểu tư bản. Ba Hòa đã liên lạc với một số thương gia Tàu còn ở lại và những người trung gian quan trọng như Triệu Vĩnh Thiệt có họ hàng điều khiển những cơ sở kinh tế ở Hongkong, Singapore, để khai thông việc xuất nhập cảng. Từ đó Cholimex đã nhập cảng nguyên liệu, hóa chất sản xuất, phụ tùng thay thế, máy móc để sản xuất hàng hóa tiêu thụ và đã xuất cảng một só hàng nông sản và hải sản như: Yến, vi cá, mực khô, tôm, cá, hột vịt, hạt sen và gạo ngon... Triệu Vĩnh Thiệt đã tái lập công ty Tân Tiến sản xuất đồ nhựa bằng plastic nhập cảng. Charles Đức, một tiến sĩ có quốc tịch Pháp cũng đã được Võ Văn Kiệt trọng dụng để giao dịch buôn bán với Pháp trong chức vụ Giám Đốc công ty Xuất Nhập Khẩu Nông Sản và Phó Giám Đốc công ty Imex.
Chính sách của Võ Văn Kiệt đã phục hoạt được một số nhà máy cũ, phát triển tổ hợp sản xuất, chế biến các loại hàng hóa tiêu dùng như dệt vải, đồ nhôm, đồ nhựa, đồ điện, sà bông, kem đánh răng, xe đạp, phụ tùng xe đạp… Người Hoa Chợ Lớn đã đi hàng đầu trong việc sản xuất và họ lại làm giàu được kể từ giai đoạn này. Từ 1980 trở đi, hàng hóa của các cơ sở tổ hợp và các nhà máy quốc doanh đã phục hoạt cùng với hàng hóa gửi từ ngoại quốc về đã tạo cho thị trường một màu sắc phồn thịnh. Nhưng giá hàng tăng liên tục và nhà nước với đủ thứ cơ quan kiểm soát vẫn không làm cách nào giữ vững được giá cả thị trường. Tuy vậy, chính sách gọi là phá rào của Võ Văn Kiệt đã đem lại không khí dễ thở cho dân Sài gòn và dân của những tỉnh B2. Sống khó khăn, nhưng còn có thể ăn uống tự do, có thể mua những thứ cần phải mua.
Sau Đại Hội V tháng 4-1982, Võ Văn Kiệt bị triệu ra Bắc làm phó thủ tướng đặc trách Ủy Ban Kế Hoạch Nhà Nước, thì Ba Hòa bị hạ tầng công tác, rồi chết. Triệu Vĩnh Thiệt vào tù và Cholimex không được làm ăn độc lập nữa mà phải sát nhập vào Tổng Công Ty Xuất Khẩu Miền Nam . Tuy vậy, khi Nguyễn Văn Linh thay Võ Văn Kiệt vẫn duy trì hệ thống tổ hợp sản xuất, phát triển cách làm ăn của ông Kiệt và trở thành một bộ mặt có giá của phe cải cách, được toàn thể các tỉnh B2 ủng hộ, mặc dù ở Đại Hội V, Nguyễn Văn Linh đã bị loại khỏi Bộ Chính Trị.
Nhưng từ 1983, khuynh hướng bảo thủ thắng thế ở Đại Hội V đã đề ra những chính sách cứng rắn, quyết tâm trở lại con đường xã hội hóa triệt để với những biện pháp xiết chặt cả nông, công, thương nghiệp đã lại đưa xã hội vào những khủng hoảng mới, và nghị quyết 8 về thay đổi giá, lương, tiền, chống quan liêu bao cấp với cuộc đổi tiền lần thứ ba tháng 9-1985 (1đồng mới ăn 10 đồng cũ) đã là một đòn chí tử đưa toàn quốc vào một tình trạng đại loạn giá cả. Sau khi đổi tiền, suốt ngày toà án nhân dân xử án tại chợ, kết những bản án tù 6 tháng, 12 tháng, 1 năm, 2 năm… về tội loan tin thất thiệt, bán quá giá một con gà, một ký gạo, vài quả trứng mà số tiền bán quá giá chỉ khoảng vài đồng hoặc vài chục và loa phóng thanh khắp thành phố loan tin sáng, trưa, chiều những án tù này. Trong khi đó cửa hàng nhà nước tăng giá vô tội vạ. Xin kể vài thí dụ: Một chiếc giỏ chợ bằng nhựa giá từ 75$ tăng lên 150$, rồi 200$, một trứng vịt từ 8$ tăng lên 15, rồi 18$, bó rau muống 5$ tăng lên 10, 15$, một chiếc lốp xe đạp Đồng Nai giá 150$ tăng lên 250$. Thêm một điều nữa là tất cả cửa hàng đại lý bán lẻ (bán hàng nhà nước ăn hoa hồng) đã làm giàu nhanh chóng, vì họ đi lấy hàng về giấu đi, chỉ bán tượng trưng, chờ 2, 3 tuần sau, giá tăng lên gấp mấy lần mới tung ra bán. Các xí nghiệp ngưng sản xuất, không dám xuất hàng. Các cấp lãnh đạo tỉnh kêu than là Trung Ương đã đem đến cho họ sự hỗn loạn, đình đốn không thể nào giải quyết được. Đảng viên nghe loan tin những bản án thì phẫn nộ chửi thề: Kết án mà không biết xấu hổ, chỉ biết bỏ tù người ta, còn sự tăng giá của nhà nước như thế toà án nào xử?
Trước tình trạng suy sụp đại loạn đó, nhà nước Cộng Sản không thể lý luận bào chữa, đổ lỗi cho những yếu tố khách quan như họ vẫn thường làm mà đã nhận sai lầm. Từ đó chiến dịch phê bình, học tập sự sai lầm này đã được phát động trên toàn quốc. Trong chiến dịch học tập, Nguyễn Văn Linh đã có một bài nói chuyện phân tích về sự sai lầm trong đường lối lãnh đạo kinh tế (bài nói chuyện không phổ biến ra báo chí). Trong đó, ông phê phán đường lối lãnh đạo kinh tế của Trung Ương đã đưa nền kinh tế Việt Nam tới vực thẳm, đưa đến sự khốn cùng cho nhân dân và cán bộ, làm mất niềm tin vào đảng. Theo ông Linh, trong cải cách ruộng đất, vì theo kiểu làm của Trung Quốc, Trung Ương đã phạm sai lầm (ám chỉ phê phán Trường Chinh). Đi theo con đường làm ăn cũ, Trung Ương đã tiếp tục phạm nhiều sai lầm khác. Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã đổi mới đường lối lãnh đạo kinh tế. Liên Sô cũng đã thay đổi đường lối kinh tế. Đã đến lúc chúng ta cũng phải thay đổi. Xin dẫn một câu nguyên văn trong bài “Nền kinh tế này không phải còn ở bên bờ vực thẳm mà thật sự đã ở dưới vực thẳm. Chúng ta phải tìm cách nhảy lên không sẽ chết”.
Như thế chính từ trong cơn khủng hoảng này mà chuyện đổi mới tư duy thành cao trào trong đảng, chẳng hạn đến như Trường Chinh, tổ sư của hàng lãnh đạo giáo điều bảo thủ mà trong Đại Hội Đảng Bộ Hà Nội ngày 19-10-1986 cũng lớn tiếng phê phán những thứ gọi là sai lầm ấu trĩ tả khuynh, duy ý chí, làm trái quy luật khách quan, lên án cách nghĩ, cách làm cũ và kêu gọi đổi mới. Từ đó đảng Cộng sản đã đem đường lối đổi mới vào Đại Hội VI (12-1986) được gọi là Đại Hội Đổi Mới và Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí Thư để theo gương Gobachev, thực hiện đổi mới ở Việt Nam . Vì thế từ sau Đại Hội VI, Đại Hội Đổi Mới Kinh Tế, thì đảng Cộng Sản đã bớt dùng những thủ đoạn xiết rồi buông – buông rồi xiết ở kinh tế, như ở nông nghiệp thì trước đó chế độ khoán cũng đã chịu số phận thăng trầm theo hướng tăng lợi cho đảng. Đặc biệt về công thương nghiệp thì đảng đã quay một bước lớn là đối nội thì khuyến khích làm ăn cá thể, hủy bỏ ngăn công cấm chợ để thông thương hàng hóa, còn đối ngoại thì chính thức mở cửa giao thương với các quốc gia không Cộng Sản bằng bộ luật đầu tư được Quốc Hội biểu quyết tháng 12-1988. Với luật đầu tư 1988, chính quyền đã kêu gọi tư bản nước ngoài vào đầu tư và dành cho xí nghiệp nước ngoài nhiều đặc quyền như cho phép làm chủ xí nghiệp đến 100% vốn đầu tư và không bị quốc hữu hóa. Từ đó, luật đầu tư 1988 được nâng cấp dần để thu hút tư bản nước ngoài và đảng Cộng Sản đã độc chiếm quyền làm ăn với tư bản nước ngoài, thiết lập một hệ thống tư bản của thành phần cán bộ cao cấp để thành giai cấp tư bản đỏ, rồi tiến tới việc chính thức cho phép đảng viên phát triển kinh doanh tư nhân.
Nhìn lại những việc thay đổi này, chúng ta thấy khi đảng sử dụng chuyên chính vô sản xóa bỏ công thương nghiệp tư nhân, vô sản hóa dân thành thị với những trận đánh đào tận nền, tận móng, rồi chính sách theo dõi toàn thể xã hội để không cho mầm mống tư sản ngóc đầu dậy trong suốt trên 30 năm (trồng vài chục cây thầu dầu ở khu vườn nhỏ sau nhà để nuôi gà cũng bị kết tội là nẩy mầm tư sản) thì đảng gọi là làm cách mạng vô sản, là cách mạng xã hội chủ nghĩa. Rồi từ năm 1986, phải trở về với công thương nghiệp tư nhân, phải mở cửa làm ăn với những quốc gia tư bản hạng nhì như Đài Loan, Singapore và Đại Hàn mà trước đó đảng đã mạt sát là bọn tay sai tư bản, thì đảng gọi là Đổi Mới. Chỉ với một quyết định lật bàn tay từ giã kiểu làm ăn cũ là đảng xoa tay hân hoan chào đón kiểu làm ăn tư nhân, chào đón tư bản thế giới, nhưng với dân Việt thì mấy chục năm đó là mấy đời người bị làm tình làm tội, chết đi sống lại, đói khổ và tù đày, còn với đất nước thì con đường vô sản của đảng đã hủy diệt nhiều tầng lớp tư sản, tiểu tư sản tinh hoa của dân tộc. Vì thế dân Việt gọi đó là đường vòng oan nghiệt.
3. Đường vòng vô sản:
Con đường này đảng Cộng Sản đã đi những bước như sau: Thứ nhất, trên nền tảng chủ nghĩa Marx-Lenin, đảng Cộng Sản đã tiến hành cuộc cách mạng vô sản ở miền Bắc từ 1954 đến 1975 với những chính sách vô sản hóa toàn thể xã hội như đã nói trên. Như thế ở miền Bắc thời gian ấy chỉ còn hai thứ giai cấp là giai cấp đảng và giai cấp vô sản gồm nông dân, thị dân và trí thức vô sản. Tất cả đã được vô sản hóa nên toàn xã hội đã lệ thuộc vào đảng và nhà nước. Ở nông thôn thì đảng chấm công điểm, còn ở thành phố thì đảng cấp tem phiếu. Xã hội chỉ có một ông chủ duy vật chuyên chính lấy hận thù giai cấp làm động cơ phát triển, nên cơ chế chính trị và kinh tế vô sản đã tàn phá con người, ác hóa con người như chúng ta đã thấy ở xã hội miền Bắc trước 1975 hay trên cả nước ngày nay.
Thứ nhì, sau khi chiếm xong miền Nam thì tình thế thay đổi. Đảng vẫn dương cao ngọn cờ tiến mau, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội như mấy việc tập thể hóa ruộng đất và quốc doanh hóa công thương nghiệp như trên đã nói, nhưng đó là đối với dân: Phải làm cho dân thành vô sản, còn đối với đảng viên thì khác. Vào miền Nam, choáng ngợp trước một xã hội giàu có, và nhân cái thế của kẻ chiến thắng, cán bộ Cộng Sản đã dùng quyền để chiếm đoạt nhiều thứ, từ phụ nữ tới nhà cửa, đất đai. Vơ cho thật nhiều, nhưng vẫn nhân danh là người vô sản đang xây dựng cuộc cách mạng vô sản.
Thứ ba, từ sau Đại Hội VI (12-1986), với chính sách đổi mới thì cán bộ Cộng sản đã cùng lật bàn tay với đảng, không cần đeo mặt nạ vô sản nữa mà từ tổ chức đảng đến đảng viên đã liên kết với tư bản nước ngoài, vừa bán tài nguyên, bán đất đai, vừa khai thác bóc lột đám dân vô sản vô quyền trên đất nước mình, và giai cấp đảng đã trở thành giai cấp được gọi tên là giai cấp tư bản đỏ. Vì thế hiện tại Việt Nam vẫn là một trong một số nước nghèo nhất trên thế giới với lợi tức tính theo đầu người là 400 Mỹ kim, nhưng giai cấp tư bản đỏ thì đã trở thành triệu phú, tỷ phú mà ký giả Pháp Michel Tauriac trong tác phẩm “Viet Nam: Le Dossier Noir du Communisme” đã dẫn lại ít con số như sau:
“Tạp Chí Hongkong Far Eastern Economic Revue cho biết vào năm 1997 trong số đảng viên của đảng Cộng Sản Việt Nam có 1000 người tài sản từ 500 triệu đến 1 tỷ Mỹ kim. Năm 1995, một nhân viên của Phòng Thương Mại Việt Mỹ tiết lộ theo ước lượng thì số tư bản của đảng Cộng Sản lên đến 20 tỷ Mỹ kim. Con số này ngày nay (2001) phải tăng lên gấp đôi. Các tư bản đỏ cẩn thận dấu đút của cải ở những nơi bí mật, tận các khung trời khác. Theo nguồn tin đáng tin cậy, tạp chí Nhân Quyền, cũng báo cáo vào năm 1996, trong năm năm cuối cùng, các cán bộ cao cấp của đảng đã chuyển ra ngoại quốc đến 10 tỷ Mỹ kim trong các trương mục mở dưới tên của vợ con họ. Và lấy thí dụ một người thân trong gia đình của Đỗ Mười, tổng bí thư đảng, đã có trương mục lên đến nhiều triệu Mỹ kim ở Vancouver , Gia Nã Đại”. (Hồ Sơ Đen Cộng Sản Việt Nam , Nguyên Văn chuyển ngữ, Văn Mới, 2002, trg177-78).
Những con số trên đây là chuyện bình thường, vì bây giờ là kỷ nguyên đổi mới với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thời đảng viên làm giàu như ông Võ Văn Kiệt, thời làm thủ tướng đã khuyên: “Chúng ta phải khuyến khích mọi người lo làm giàu”. Và các ông đảng viên đã làm giàu dễ dàng với nhiều cách làm ăn như quan chức nhà nước thì tham nhũng, đục khoét các công trình xây dựng đất nước xã hội chủ nghĩa, còn kinh doanh thì có bửu bối “Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa” cho phép họ giữ độc quyền tung hoành ở bất cứ loại kinh doanh gì. Từ đó chúng ta mới thấy những hiện tượng:
- Chỉ với cấp thứ trưởng như Nguyễn Việt Tiến mà tài sản lên tới 350 triệu đô la. - Chỉ là con của thủ tướng Phan Văn Khải mà Phan Thanh Hoàng đã trở thành một trong những người giàu nhất Việt Nam . - Chỉ với cấp tổng giám đốc công trình xây dựng PMU mà Bùi Tiến Dũng chơi cá độ tới 7 triệu đô la và trong bữa tiệc khao mừng được thăng chức, tổng Dũng đã đãi trên 100 quan vô sản bằng 4 vại bia ngâm mỹ nhân mà ông Mai Chí Thọ đã lên án là sự sa đọa làm nhục đất nước. - Chỉ mới làm chủ tịch nước ít năm như Trần Đức Lương mà tài sản nổi đã có 4 khách sạn 5 sao với hằng trăm hectare đất ở Hà Nội (Cách đây vài năm ông Mai Chí Thọ trong một bài viết nói về sự xuống dốc của đảng có một câu: Vợ Trần Đức Lương xây nhà to, con Phan Văn Khải làm ăn lớn). Rồi khi bị một đảng viên lão thành chất vấn, chủ tịch Lương đã cười mà rằng: Đảng khuyến khích đảng viên kinh doanh, nên tôi cũng phải lo trước một ít cơ sở làm ăn để về hưu.
Và như thế thì những ông Võ Văn Kiệt, Lê Đức Anh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Phú Trọng… tài sản còn tới mức nào nữa? Ta hồ! Cách mạng vô sản.
Như thế là trên nửa thế kỷ nay, khi đảng Cộng sản lấy ý thức vô sản của chủ nghĩa Marx-Lenin làm kim chỉ nam cải tạo người dân thành con người mới xã hội chủ nghĩa để thực hiện cách mạng vô sản thì đảng bảo đó là cách mạng xã hội chủ nghĩa, giải phóng con người khỏi những áp bức, bóc lột, nhưng tới khi tổ quốc vô sản sụp đổ, và nền kinh tế vô sản nghèo đói quá, đảng phải trở lại với ý thức tư hữu, làm giàu thì đảng nói là Đổi Mới. Với đảng thì chỉ cần lật bàn tay từ Vô qua Hữu là đảng xóa nửa thế kỷ xây dựng cách mạng vô sản không có tội lỗi gì cả. Nhưng với dân Việt thì nửa thế kỷ đó là nửa thế kỷ núi xương, sông máu, nửa thế kỷ tàn phá hết cơ cấu và tinh thần văn hóa dân tộc. Vì thế dân Việt gọi đó là vòng vô sản oan nghiệt.
III. Về người sống đối với người chết
Nhìn lại nửa thế kỷ xây dựng cách mạng vô sản, chúng ta biết rằng dân Việt đã phải chết qua mấy vòng cho những chương trình cách mạng xã hội chủ nghĩa của đảng Cộng Sản, mà vòng nào cũng đã kèm theo lớp lớp những xác người oan khiên. Nhưng chỉ vòng cải cách ruộng đất là tàn sát dã man nhất, rõ nhất và nhiều nhất trong một thời gian ngắn, nên còn những con số để các nhà nghiên cứu ước lượng, và theo những bài tính phỏng thì con số không dưới 300.000 người. Vì thế bao lâu nay sách vở chỉ nói nhiều về sự tàn sát trong cải cách ruộng đất năm 1956, đến nỗi bộ “Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam 1945-2000” xuất bản ở Hà Nội, cũng đành phải ghi con số người bị giết được gọi là nạn nhân là 172.008, trong số đó theo sách có tới 123.266 là những người bị giết oan. (Chuyện Dài Dân Oan, Nguyễn Minh Cần, Thế Kỷ 21, # 222, 10/07).
Từ chuyện nhận là giết oan ở cải cách ruộng đất, rồi tiếp tục giết nữa theo suốt dọc cuộc cách mạng vô sản, rồi từ câu hỏi của Đối Thoại, chúng tôi có ý nghĩ là những người dân chết dưới chế độ Cộng Sản cần có một ngày giỗ chung của đất nước. Không cần phải đợi tới lúc chế độ toàn trị của đảng Cộng Sản đã cáo chung, chúng ta mới tổ chức ngày giỗ này mà ngay bây giờ cũng có thể làm được. Đây là một Đại Lễ Tưởng Niệm Những Nạn Nhân Của Chế Độ Cộng Sản Việt Nam mà trong và ngoài nước có thể cùng nhau thực hiện. Chuyện làm chung là khả thi, vì trong nước đã có những tổ chức đấu tranh dân chủ với những tờ báo trên mạng. Còn ngoài nước trên toàn thế giới, chúng ta có tổ chức cộng đồng, tổ chức chính trị với nhiều tờ báo. Chỉ cần thống nhất với nhau về ngày và nội dung buổi tưởng niệm là lễ đó có thể được tiến hành với phương thức: Trong nước thì những tờ báo đấu tranh dân chủ viết bài lên tiếng về lễ tưởng niệm, còn ngoài nước thì các hội đoàn ở từng thành phố ngồi chung lại làm lễ như đã cùng nhau tổ chức nhiều lễ khác trong năm.
Trong những lễ tưởng niệm nạn nhân Cộng Sản ở các nước Đông Âu, người ta chiêu hồn những người đã bị tàn sát oan ức, và nhắc nhở thế hệ sau tránh tái phạm. Chẳng hạn như trong lễ tưởng niệm ở Butovo ngày 30-10-2007, theo bản tin của Reuters thì Tổng Thống Putin “Đã tỏ lòng kính nhớ đến hàng triệu nạn nhân bị sát hại dưới bàn tay của nhà độc tài Sô viết Josef Stalin và đồng thời kêu gọi cả nước Nga hãy đoàn kết lại để ngăn ngừa không để cái thảm họa của quá khứ được lập lại”.
Nhưng đó là chuyện tưởng niệm nạn nhân Cộng Sản ở những quốc gia không còn chế độ Cộng Sản. Còn chúng ta thì làm lễ tưởng niệm khi đảng Cộng Sản vẫn đang thống trị đất nước. Vì thế, lễ tưởng niệm ngoài việc tưởng nhớ, cầu nguyện cho vong linh đồng bào xấu số được siêu linh, còn có thêm một ý nghĩa khác là nhắc cho đồng bào, nhất là thế hệ trẻ biết lịch sử của đảng Cộng Sản là lịch sử của những chặng đường giết người để thử nghiệm những chính sách gọi là cách mạng vô sản, mà ở mỗi chặng đường thử nghiệm khi thấy không xong phải thay kiểu khác thì đảng nói là sửa sai hay đổi mới để sau đó tiếp tục tạo thêm những thảm họa khác./.
Việt Dương
|