Tuy nhiên, khi chiều theo sức ép của Trung Quốc, nước chủ trương chiến dịch tuần tra chung, ba nước Đông Nam Á tham gia thỏa thuận đã mặc nhiên công nhận quyền can thiệp võ trang của Bắc Kinh vào lãnh thổ của mình.
Nhận định về việc Trung Quốc phát động chiến dịch tuần tra chung trên sông Mêkông vào hôm qua, phóng viên hãng tin Mỹ AP đã nêu bật tính chất khác thường của sự kiện này khi nhấn mạnh rằng : “Từ lâu nay, Trung Quốc đã từng cung cấp cảnh sát cho các chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc ở hải ngoại, nhưng có lẽ đây là lần đầu tiên mà nước này hoạt động trên lãnh thổ một quốc gia khác mà không theo sự ủy nhiệm của Liên Hiệp Quốc”.
Đối với AP, chiến dịch tuần tra được tiến hành, đã phản ánh thực tế là ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc luôn đi kèm theo sự xâm nhập kinh tế của họ vào khu vực, đặc biệt là vào các nước nghèo như Lào và Miến Điện. Theo nhiều nguồn tin trùng hợp, sau khi 13 thủy thủ Trung Quốc bị thảm sát trên sông Mêkông, Bắc Kinh đã gây sức ép để cả ba nước, Miến Điện, Lào và Thái Lan, phải đồng ý ký thỏa thuận về tuần tra hỗn hợp.
Tuy nhiên, theo AP, cho dù vậy, việc công an võ trang Trung Quốc được quyền hoạt động trên lãnh thổ các láng giềng Đông Nam Á không phải là không hàm chứa rủi ro chính trị đối với Bắc Kinh, với nhiều quốc gia trong vùng vốn rất cảnh giác đối với sự thống trị của Trung Quốc.
Bắc Kinh như đã ý thức được điều này. Phát biểu vào hôm qua, thứ trưởng Công An Trung Quốc Mạnh Hoành Vĩ đã khuyến cáo lực lượng tuần giang Trung Quốc trên sông Mêkông là cần phải tôn trọng và quan tâm tới các tập tục quốc tế, cũng như tranh thủ sự ủng hộ của các tàu buôn hay những người dân sống dọc theo hai bên bờ sông.
Nhiều câu hỏi chưa có lời giải đáp
Tuyên bố trấn an của quan chức Trung Quốc kể trên được đưa ra vào lúc nhiều câu hỏi liên quan đến hoạt động của công an võ trang Trung Quốc tại ba nước Đông Nam Á có liên can chưa có lời giải đáp thỏa đáng.
Cho đến nay, chính quyền Bắc Kinh chưa cho biết thông tin về cách thức phối hợp giữa lực lượng công an võ trang Trung Quốc với các đồng nghiệp tại ba nước còn lại, liệu các bên có tuần tra chung với nhau hay không, hay là mạnh bên nào bên ấy làm.
Quy mô của chiến dịch tuần tra sẽ đến mức nào ? Đó cũng vẫn là ẩn số, cũng như là giới hạn địa lý của chiến dịch tuần tra, có nghĩa là công an Trung Quốc sẽ được quyền xuôi dòng Mêkông đến tận chỗ nào ở phía Nam ?
Một câu hỏi rất nhạy cảm cũng chưa có lời giải đáp thỏa đáng : Đó là liệu lực lượng an ninh của nước này sẽ có thể tiến hành bắt giữ nghi phạm tại vùng sông của nước khác hay không ? Và khi bị tấn công, có quyền đổ bộ lên lãnh thổ nước khác để phản công hoặc truy đuổi hay không ?
Dẫu sao thì theo một bài báo trên tạp chí The Economist hồi trung tuần tháng 11 vừa qua, một số thông tin từ Trung Quốc cho biết là Bắc Kinh có thể tung đến 1000 người vào chiến dịch tuần tra trên sông Mêkông, một lực lượng võ trang lớn chưa từng thấy được triển khai ngoài biên giới Trung Quốc.
Tuần báo Anh Quốc ghi nhận : Dư luận tại một số nước Đông Nam Á đang lo ngại rằng chủ quyền đất nước họ có nguy cơ bị thương tổn một khi công an Trung Quốc được quyền can thiệp ở bên ngoài biên giới Trung Quốc. Một doanh nhân Thái Lan nghi ngờ rằng thỏa thuận tuần tra chung sẽ cho phép Bắc Kinh gửi lực lượng an ninh riêng của họ ra nước ngoài để bảo vệ lợi ích cục bộ Trung Quốc.
Dẫu sao thì với thỏa thuận đã ký kết với Lào, Thái Lan và Miến Điện, kể từ nay Trung Quốc đã có quyền đưa lực lượng võ trang vào trong lãnh thố ba láng giềng Đông Nam Á. Trên danh nghĩa, công an biên phòng chỉ là một lực lượng bán quân sự, nhưng cho đến nay, Bắc Kinh nổi tiếng là hay dùng danh nghĩa của các lực lượng bán quân sự can thiệp chống các nước khác. Hành động của lực lượng hải giám hay ngư chính của Trung Quốc ngoài Biển Đông là ví dụ điển hình.
Ý nghĩa chuyến đi thăm VN của Phó Chủ Tịch TQ Tập Cận Bình
Gia Minh, biên tập viên RFA
2011-12-18
Phó chủ tịch Trung Quốc, Tập Cận Bình, vào ngày 20 tới đây sẽ có chuyến thăm chính thức Việt Nam.
AFP Photo/Feng Li
Phó chủ tịch TQ Tập Cận Bình trong buổi lễ đón tiếp PTT Nam Phi Kgalema Motlanthe tại Đại Sảnh Đường Nhân Dân ở Bắc Kinh hôm 28/09/2011.
Chuyến đi này mang ý nghĩa gì trong bối cảnh quan hệ Việt - Trung có một số trở ngại về tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông, cũng như hoạt động lấn lướt của Trung Quốc tại vùng biển đó?
Gia Minh hỏi chuyện giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, khoa Bang giao Quốc tế, Đại học George Mason tại bang Virginia, Hoa Kỳ. Trước hết ông đưa ra nhận định về chuyến đi Việt Nam sắp đến của ông Tập Cận Bình.
Thủ tục ngoại giao
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Một số nhà bình luận đã cho biết việc đưa ông Tập Cận Bình sang Việt Nam là để ‘đánh bóng’ cho ông ta. Lý do vì sang năm ông Tập Cận Bình trở thành chủ tịch nước Trung Quốc. Họ để ông đi Việt Nam, Thái Lan và sau đó chuẩn bị cho ông đi Mỹ nữa nhằm vừa thử thách vừa nêu cao ông lên.
Theo tôi chuyến đi của ông Tập Cận Bình còn liên quan đến thủ tục ngoại giao nữa. Tôi nhớ sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam (hồi tháng giêng năm rồi), Việt Nam có cử một người sang Trung Quốc và đưa lời mời chủ tịch và tổng bí thư Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Phía Trung Quốc chờ ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm để rồi họ đáp lễ; nhưng ông Trọng chỉ là tổng bí thư đảng thôi; còn tổng bí thư Đảng CS Trung Quốc còn là chủ tịch nước nữa. Trong khi đó chủ tịch nước Việt Nam lại thăm Ấn Độ chứ chưa sang thăm Trung Quốc. Nên họ cử ông phó chủ tịch nước Tập Cận Bình sang, và cũng theo lời mời của bà phó chủ tịch nước Việt Nam, và của Trung ương Đảng VN.
Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama duyệt hàng quân danh dự khi đến Úc. 16/11/2011. AFP photo.
Theo tôi nghĩ điều quan trọng nhất là Trung Quốc cũng muốn phản ứng lại trước một loạt những cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo Mỹ sang Châu Á như của bà ngoại trưởng Hillary Clinton, rồi tổng trưởng quốc phòng Leon Panetta, và của cả tổng thống Barack Obama.
Lần này Trung Quốc đưa ông Tập Cận Bình sang thăm Việt Nam, Thái Lan và đồng thời ông Đới Bỉnh Quốc sang thăm Miến Điện. Đặc biệt trong tháng này ông Đới Bỉnh Quốc lại đi gặp bà Aung San Suu Kyi nữa. Điều đó cho thấy Trung Quốc liệu theo chiều phát triển ở Á Châu mà đi theo họ chứ không còn cưỡng lại như xưa nữa.
Gia Minh: Có ý kiến cho rằng Việt Nam là nước nhỏ bên Trung Quốc, và lâu nay Trung Quốc có chính sách bành trướng xuống phía nam, ‘nam dụ’. Giáo sư thấy ý kiến đó chính xác thế nào?
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Khuynh hướng bành trướng ảnh hưởng, không phải chiếm đất, quốc gia lớn nào cũng có. Trung Quốc là nước lớn ở Á Châu nên họ muốn đóng vai trò chủ yếu, không nói là vai trò độc tôn tại Á Châu. Việt Nam ở sát nách Trung Quốc mà lại là nước cộng sản nữa; cho nên Trung Quốc tập trung rất nhiều vào Việt Nam. Việt Nam ở vị trí chiến lược rất quan trọng giữa Trung Quốc và Đông Nam Á.
Theo tôi nghĩ điều quan trọng nhất là Trung Quốc cũng muốn phản ứng lại trước một loạt những cuộc viếng thăm của các nhà lãnh đạo Mỹ sang Châu Á.
GS Nguyễn Mạnh Hùng
Nếu họ khống chế được Việt Nam họ sẽ khống chế được Đông Nam Á. Dĩ nhiên họ không hy vọng khống chế được Việt Nam; nên họ tìm cách ảnh hưởng rất nhiều đến Việt Nam. Do đó làm các nước Đông Nam Á phải đi theo, đó là mục tiêu, vì thế các quốc gia Đông Nam Á muốn Việt Nam cứng rắn hơn, tức độc lập hơn với Trung Quốc.
Những tuyên bố gần đây của những nhà lãnh đạo Việt Nam cho thấy họ khó có thể nhượng bộ hơn được nữa. Nhất là trong chuyến thăm của ông thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh để tham gia hội nghị đối tác chiến lược lần thứ hai với Trung Quốc, ông cũng nói rõ khi đến thăm trường đại học Quốc Phòng tại Trung Quốc rằng hai đảng phải liên hệ và khác biệt giữa hai phía là biển đảo. Căn cứ để giải quyết khác biệt đặt trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và độc lập của nhau dựa trên luật quốc tế, dù hai nước có cùng lý tưởng.
Tại Việt Nam trong mùa hè rồi có những cuộc biểu tình chống Trung Quốc, thì tôi nghĩ Việt Nam không thể có những nhượng bộ hơn nữa với phía Trung Quốc.
Tận dụng cơ hội
Gia Minh: Sau những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam như thế, và nay có cuộc viếng thăm của nhân vật sắp trở thành chủ tịch nước và tổng bí thư đảng Trung Quốc như thế, Việt Nam có thể tận dụng cơ hội này để đạt được những điều mong muốn ra sao?
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Tất nhiên Trung Quốc muốn xoa dịu Việt Nam vì sợ Việt Nam đi gần với Mỹ. Vấn đề là họ xoa dịu bằng cách nào và Việt Nam đòi gì? Gần đây chúng ta thấy có người như ông Jerome Cohen tuyên bố tại Hong Kong rằng Trung Quốc có thể nhượng bộ về vấn đề Hoàng Sa vì ông Tập Cận Bình biết luật.
Tàu ngầm loại kilo 636 Việt Nam mua của Nga. RFA-Screen cap/ hoangsa.org.
Quan hệ về vấn đề Hoàng Sa là quan hệ về pháp lý, về chủ quyền của Việt Nam và Trung Quốc. Tôi nghĩ, trừ khi ông này có tin tức đặc biệt trong Trung Quốc, đây chỉ là một mơ ước viễn vông mà thôi. Bởi vì nếu chúng ta nhìn vào những chuyện xảy ra trên thế giới thì ta thấy chuyện khó xảy ra.
Như chuyện vào năm 1967 Do Thái chiếm cao điểm Golan của Syria, mà cao điểm này thuộc Syria rõ ràng, họ vẫn không trả lại. Rồi trong trường hợp hồi Đệ nhị Thế chiến Mỹ ‘dụ’ Nga tham dự vào đánh Nhật, Mỹ để cho Nga chiến bốn đảo phía bắc của Nhật. Nhật đòi hoài Nga không trả, chỉ có một lần khi ông Yeltsin định sang Nhật hứa trả hai đảo, đổi lại sự viện trợ rất lớn của Nhật. Nhưng rồi ông Yeltsin cũng không sang thăm được, vì có chống đối, rồi chẳng có gì xảy ra.
Giữa Trung Quốc và Việt Nam, trong cuộc chiến tranh năm 1979, sau đó năm 1984 Trung Quốc chiếm núi Lão Sơn mà đến bây giờ Trung Quốc đâu trả; huống chi Hoàng Sa Trung Quốc cho thuộc chủ quyền của họ. Cái thuộc chủ quyền của mình mà họ không trả thì nói gì đến cái mà họ cho là chủ quyền của họ. Đó là nói về vấn đề lý mà chúng ta thấy trên thế giới. Còn về tình, trong tình trạng dân tộc chủ nghĩa đang lên ở Trung Quốc, còn ông Tập Cận Bình sắp làm chủ tịch rồi, thì ông không có khả năng chính trị để làm chuyện ấy.
Vấn đề đặt ra nếu Việt Nam đòi, thì đòi được gì? Tôi nghĩ nếu Trung Quốc bằng lòng nhượng bộ, thì có một số chuyện mà họ có thể làm.
Việt Nam có thể yêu cầu Trung Quốc điều thứ nhất là ra lệnh cho tờ Hoàn Cầu Thời Báo chấm dứt những luận điệu và đe dọa đánh Việt Nam. Thứ hai, trong điều đình họ có thể định lại một cách bán chính thức vùng đánh cá gần đảo Hoàng Sa.
GS Nguyễn Mạnh Hùng
Thứ nhất trong cuộc gặp giữa ông Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào, họ ký thông cáo chung nói để làm giảm căng thẳng - dân chúng không còn tạo căng thẳng hơn, Việt Nam đã dẹp biểu tình rồi, báo chí Việt Nam không chỉ trích Trung Quốc nhiều nữa. Nếu có thể được, Việt Nam có thể yêu cầu Trung Quốc điều thứ nhất là ra lệnh cho tờ Hoàn Cầu Thời Báo chấm dứt những luận điệu và đe dọa đánh Việt Nam. Ít nhất đây là chỉ dấu có thể làm được.
Thứ hai, trong điều đình họ có thể định lại một cách bán chính thức vùng đánh cá gần đảo Hoàng Sa; bớt đòi hỏi của Trung Quốc kéo dài ra, để cho ngư dân Việt Nam có thể đánh cá, kiếm sống gần Hoàng Sa hơn, khỏi bị bắt bớ. Đó là hai điều mà Trung Quốc nếu có thiện chí thì có thể làm được.
Gia Minh: Điều gì có thể thúc đẩy để họ có thiện chí khác với thái độ và hành động mà họ làm lâu nay?
GS Nguyễn Mạnh Hùng: Tại vì Việt Nam đã cứng rắn hơn rồi. Ít nhất Việt Nam cũng làm được ba bốn việc. Thứ nhất Trung Quốc không muốn Việt Nam công khai hóa, thì Việt Nam công khai hóa; Trung Quốc không muốn Việt Nam đa phương hóa, thì Việt Nam đa phương hóa, chỉ có bảo Hoàng sa là vấn đề riêng giữa hai nước nên ‘nói’ song phương, còn Trường Sa là nhiều nước nên phải đa phương. Trung Quốc không muốn Việt Nam đi gần với Mỹ, thì Việt Nam đi gần với Mỹ. Việt Nam còn đi mua vũ khí để củng cố khả năng quốc phòng của mình.
Đối với việc biểu tình chống Trung Quốc nếu Việt Nam nhất định đàn áp cũng được, nhưng họ cũng để cho biểu tình. Trung Quốc thấy nhu cầu của chính phủ Việt Nam hiện nay không thể nào làm nhiều nhượng bộ hơn được. Nếu họ muốn có cảm tình của Việt Nam, muốn Việt Nam còn thân hữu với Trung Quốc, dĩ nhiên họ phải mềm dẻo lại. Chúng ta thấy Trung Quốc rất giỏi, họ tính chuyện rất lâu dài, ‘mềm nắn, rắn buông’. Nếu Việt Nam ‘rắn’, họ có thể hòa hoãn lại, có thể làm một số nhượng bộ nhỏ thôi.
| Thursday, 15 December 2011 16:56 |
Tuần qua mạng Phòng tuyến số 2 Hoa Kỳ có bài viết cho rằng, hiện nay hải, không quân Mỹ đang hợp tác nghiên cứu vấn đề làm thế nào để ngăn chặn chiến tranh (đặc biệt là chiến tranh ở khu vực Thái Bình Dương). Cuộc nghiên cứu này lấy đánh thắng một cuộc chiến tranh làm nền tảng.  Máy bay chiến đấu F-35A của Hoa Kỳ Bài viết cho rằng, Mỹ và các đồng minh Thái Bình Dương có thể giành thắng lợi trong chiến tranh Thái Bình Dương. Hải, Không quân và Lính thủy đánh bộ Mỹ cùng với quân đồng minh được trang bị đầy đủ máy bay chiến đấu F-35 là nhân tố giành chiến thắng. Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, công tác nghiên cứu phát triển tên lửa hành trình siêu âm đã bước vào giai đoạn cuối cùng, cần phải đưa nó vào trong kế hoạch tác chiến. Do tiêu diệt tên lửa hành trình siêu âm có độ khó rất lớn, cho nên chú trọng nghiên cứu lĩnh vực này có lợi cho giải quyết mối đe dọa của máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm J-20 của Hải quân Trung Quốc. Hơn nữa, khi đối mặt với mối đe dọa tên lửa hành trình siêu âm cao, quân đội Mỹ và đồng minh có thể sử dụng máy bay chiến đấu F-35 có tính năng tốt hơn để thực hiện nhiệm vụ tấn công và phòng thủ.  Máy bay chiến đấu F-35B có khả năng cất/hạ cánh thẳng đứng C4ISR-D “Z-Trục” của khoang điều khiển máy bay chiến đấu F-35 có thể xây dựng một mạng lưới “Tổ ong” ISR ở Thái Bình Dương, cung cấp khả năng nhận biết môi trường mạnh, phòng ngừa mối đe dọa của tên lửa hành trình siêu âm và tên lửa đạn đạo tầm trung, hoặc thực hiện nhiệm vụ tấn công. Tuy nhiên, tất cả mọi sự phát triển đều cần có thời gian, Mỹ và đồng minh cần có thời gian để phát triển công nghệ cho tác chiến hợp nhất không-hải quân trong thế kỷ 21. Hơn nữa, tiền đề cho việc thực hiện thành công tác chiến tấn công và phòng thủ “tổ ong” là trang bị đầy đủ máy bay chiến đấu F-35. 
Trong khái niệm tấn công và phòng thủ mới này, máy bay chiến đấu F-35A của Không quân Mỹ, máy bay chiến đấu F-35B của Lính thủy đánh bộ Mỹ và máy bay chiến đấu F-35C của Hải quân Mỹ là chủ lực, tàu Aegis hoạt động như một “cầu thủ chạy cánh”, còn tàu ngầm hạt nhân đóng vai trò “tàu chi viện hỏa lực”. Việc sử dụng của máy bay chiến đấu F-35 của Không quân, Hải quân, Lính thủy đánh bộ Mỹ và các nước đồng minh châu Á-Thái Bình Dương sẽ có thể tạo dựng thành công mạng lưới “Tổ ong” ISR. Máy bay F-35 của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản, Australia, Singapore, Hàn Quốc đặc biệt quan trọng. Nếu máy bay chiến đấu F-35 không tồn tại, chỉ huy tác chiến hợp nhất không-hải quân Mỹ cần phải tiếp tục nghiên cứu chế tạo hoặc cải tiến rất nhiều hệ thống đắt giá, phụ trách hoàn thành nhiệm vụ mà một máy bay có thể hoàn thành. Giai đoạn đầu, máy bay chiến đấu F-35 có thể tạo thành mạng lưới chung với các hệ thống khác, trên thực tế trong tương lai, “hệ thống khác” sẽ phát triển xoay quanh sử dụng các khả năng của máy bay chiế đấu F-35. Vấn đề then chốt hiện nay là ở chỗ, Mỹ cần xoay quanh khả năng C4ISR-D “Z-Trục” của máy bay chiến đấu F-35, nghiên cứu chế tạo vũ khí và hệ thống kiểu mới, tăng cường khả năng tấn công tác chiến điện tử cho quân Mỹ, giám sát tên lửa bay đến tấn công, đồng thời các loại vũ khí động năng phóng từ máy bay, tàu chiến… để ngắm trúng tên lửa bay đến. |
Gia Minh: Cám ơn Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng về những phân tích đối với chuyến đi Việt Nam sắp đến của ông Tập Cận Bình.