Tàu HQVN đuổi ép tàu TQ xâm phạm hải phận - Thủ thủ Việt đánh hải tặc cứu tàu Đài Loan
07.11.2011 01:44
Video hiếm hoi: Tàu VietNam "dám" bám sát và "đuổi" tàu Tàu cộng “China Marine Surveillance" trong hải phận VN
Các trang mạng tiếng Việt đang xôn xao thông tin về một đoạn video trên YouTube chiếu hình được nói là 'tàu Việt Nam đâm vào tàu hải giám Trung Quốc'. Clip được tải lên trang mạng chia sẻ video YouTube hôm Chủ nhật 06/11 nhưng không rõ quay khi nào và ở đâu cho thấy hình một chiếc tàu với thủy thủ đoàn nói tiếng Việt Nam, đang chạy song song một tàu hải giám của Trung Quốc. Trên thành tàu Trung Quốc có dòng chữ tiếng Anh màu xanh dương 'China Marine Surveillance' (tiếng Anh: Hải giám) như thường thấy trên các tàu tuần tra của Trung Quốc. Tàu Việt Nam không rõ thiết kế và số hiệu, nhưng những người bên trên mặc áo phao màu da cam và sử dụng điện thoại di động để thu hình. Trên clip dài 3'44, các thủy thủ người Việt nói chuyện với nhau khi ghi hình tàu hải giám Trung Quốc. Tàu của Việt Nam đuổi theo, ghé sát và đâm vào thành bên trái của tàu Trung Quốc lúc đó đang đi thẳng. Âm thanh trên băng cho thấy các thủy thủ cảnh báo nhau: "Bám chặt vào" trước khi hai tàu đụng vào nhau khá mạnh ở phút 1'47. Trước đó, những người này cũng chia sẻ thông tin như trên tàu Trung Quốc "có cả con gái" và "mình quay nó, nó quay mình", ý nói cả hai bên đang thu hình của nhau. Sau khi va chạm, hai tàu tách khỏi nhau trong khi vẫn tiếp tục phóng tới. Nếu chỉ xem đoạn video cũng khó có thể xác định đây là một vụ va chạm hay cố ý đâm vào nhau. Song song với clip trên, người ta cũng thấy một clip khác dài 2'42 với hình ảnh tương tự, có lẽ là cùng một vụ, nhưng quay ở góc độ khác. Video clip này cho thấy nhiều chi tiết về tàu Việt Nam hơn, dẫn đến đồn đoán đây có thể là một tàu tuần tra của cảnh sát biển Việt Nam. Hải giám Trung QuốcSau khi video clip trên được đăng tải trên YouTube, chỉ sau vài tiếng đồng hồ đã xuất hiện hàng trăm bình luận của người xem Việt Nam. Tuy chưa xác định được ngày giờ cũng như hoàn cảnh cụ thể, nó cho thấy tình hình khá căng thẳng trên Biển Đông. Hiện chưa thấy bình luận gì từ truyền thông chính thức ở hai nước về vụ được ghi lại và đăng trên YouTube này. Nhiều nguồn tin nói với BBC các vụ đối mặt, thậm chí va chạm giữa tàu tuần tra Việt Nam và tàu Trung Quốc, diễn ra thường xuyên nhưng không được công bố. Dư luận Việt Nam còn nhớ vụ ba tàu hải giám Trung Quốc bị PetroVietnam tố cáo đã "vi phạm lãnh hải của Việt Nam, phá hoại thiết bị và cản trở hoạt động của tàu khảo sát Bình Minh 2" hôm 26/05, cách mũi Đại Lãnh (tỉnh Phú Yên) chỉ khoảng 120 hải lý. Sau đó, Việt Nam lên tiếng phản đối mạnh mẽ, đồng thời một làn sóng biểu tình chống Trung Quốc bùng lên ở trong nước. Tuy nhiên sau đó lại có cáo buộc tàu Trung Quốc tiếp tục "gây hấn" và cắt cáp của Việt Nam một vài lần khác. Lần cáo buộc thứ ba, mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều không chính thức xác nhận, xảy ra chỉ một tháng sau vụ tàu Bình Minh 2. Tàu của PetroVietnam được nói cũng bị đe dọa, nhưng chưa bị cắt cáp vì "các tàu hộ tống của Việt Nam đã vào kịp thời". Việt Nam gần đây đã tăng cường tuần tra biển để bảo vệ ngư dân và các hoạt động dầu khí trong bối cảnh căng thẳng gia tăng tại Biển Đông. Cũng từ giữa năm, Trung Quốc điều nhiều tàu hải giám, phần lớn là tàu quân sự cải biên, xuống phía nam để 'tuần tra ngư trường'. Tổng đội tàu hải giám Nam Hải đặt tại đảo Hải Nam có 13 tàu được trang bị hiện đại, kèm thêm ba máy bay và nhiều xe chuyên dụng. Các vụ va chạm trên biển Thái Bình Dương giữa tàu Trung Quốc và các nước khác đều thu hút sự chú ý của dư luận châu Á. Chẳng hạn như vụ mới nhất xảy ra cuối tuần qua giữa Bấm thuyền cá Trung Quốc và tàu tuần tra biển của Nhật đang gợi lại căng thẳng hai bên tháng 9/2010. Chiến thuật quân sự của Trung Quốc tại Biển Đông Ngày 29/6 Mạng Eastasia.org có đăng bài China’s Militant Tactics in South China Sea của tác giả David Arase, giáo sư Chính trị tại Đại học Pomona tại Claremont, California, cho rằng hiện nay Trung Quốc đang đi theo cách thức gọi là “sử dụng cơ bắp đơn phương” nhằm bảo đảm lợi ích của chính mình bất chấp lợi ích của các nước nhỏ khác. Có bốn nguyên nhân chính giải thích cho sự điều chỉnh chiến sách này: Các đội tàu đánh cá của Trung Quốc hiện đang trở thành một “công cụ” của hải quân nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc tại các khu vực tranh chấp của Biển Hoa Đông và Biển Đông. Điều này đã làm dấy lên khủng hoảng khu vực. Hồi tưởng lại sự việc ngày 7/11, khi tàu đánh cá Trung Quốc cố ý va chạm với tàu tuần duyên Nhật Bản. Sự việc này đã buộc Mỹ phải bảo đảm với Nhật rằng Hiệp ước An ninh và Hợp tác chung Mỹ - Nhật năm 1960 sẽ áp dụng đối với quần đảo Điếu Ngư (Senkaku). Lại một lần nữa vào tháng 12/2010, xung đột lại nổ ra giữa các tàu đánh cá Trung Quốc và tàu tuần duyên Hàn Quốc tại Biển Hoàng Hải. Các tàu đánh cá Trung Quốc đã bị bắt sau khi cố tình đâm vào tàu Hàn Quốc và 2 thủy thủ Trung Quốc đã thiệt mạng. Tiếp theo tháng 3/2011, Philippines đã phàn nàn việc hải quân Trung Quốc liên tục xâm phạm các đảo ở Trường Sa và sau đó Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng một số căn cứ tại Bãi Amy Douglas Bank, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines (EEZ) - một hành động rõ ràng vi phạm DOC năm 2002 mà Trung Quốc ký với các nước ASEAN. Đáng chú ý là gần đây nhất, hai vụ việc xảy ra vào cuối tháng 5 giữa tàu thăm dò dầu khí Việt Nam và tàu đánh cá Trung Quốc đã khiến Việt Nam phản ứng đáp trả lại bằng các cuộc tập trận bắn đạn thật trên biển và đẩy mạnh nguy cơ tại Biển Đông. Tất cả những vụ va chạm này đều xảy ra trong vùng được công nhận EEZ, nếu không muốn nói là thuộc ranh giới lãnh thổ của các nước láng giềng của Trung Quốc . Những cơ chế pháp lý hiện nay không có vấn đề gì nhưng Trung Quốc tuyên bố chủ quyền lại dựa trên giả định về sự chiếm đóng của các chế độ Trung Quốc thời cận đại. Trung Quốc cũng đã từng cam kết “khái niệm an ninh mới” khi tham gia vào tuyên bố DOC năm 2002 và Hiệp ước thân thiện và Hợp tác với ASEAN 2003. Các nhà ngoại giao và học giả Trung Quốc luôn giải thích về việc Trung Quốc trỗi dậy hòa bình thế nào và sử dụng các khái niệm an ninh và hợp tác chung để định hướng các tiến trình đa phương nhằm bảo đảm sự hài hòa của khu vực. Nhưng hiện nay, chính Trung Quốc lại đi theo cách thức gọi là “sử dụng cơ bắp đơn phương” nhằm bảo đảm lợi ích của chính mình bất chấp lợi ích của các nước nhỏ khác. Sự thay đổi lớn trong hành động của Trung Quốc có thể được giải thích bởi 4 đặc điểm cơ bản trong chiến thuật phát triển của Trung Quốc thập kỷ qua: (1) PLA Trung Quốc đã cảm thấy đủ mạnh để tạo sự kiểm soát trong “chuỗi đảo thứ nhất”. Mục đích kiểm soát các vùng biển bên trong quần đảo phạm vi gồm có Nhật Bản, ĐL, Philippines và Indonesia. Theo tầm nhìn chiến lược của PLA, bước tiếp theo có thể kiểm soát vùng biển bên ngoài thậm chí xa hơn của “chuỗi đảo thứ 2”. (2) Sau nhiều thập kỷ trở nên phồn thịnh do sự thành công của chính sách tăng trưởng, ĐCS Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều vấn đề nghiêm trọng: (i) sự bất bình đẳng thậm chí còn tồi thệ hơn cả thời Trung Quốc trước Cách mạng, (ii) tham nhũng, (iii) ô nhiễm môi trường, (iv) sự bất bình của những người thất nghiệp trẻ và cả những người nông dân bị tước đất. Một trong số những người đó gần đây đã đánh bom tự sát để phản đối cách đối xử bất công của chính quyền. Tranh chấp tại Biển Đông có thể là lý do khiến người dân quên đi sự tức giận hiện nay và tập hợp liên minh xung quanh chính quyền nhằm bảo đảm danh dự và vị trí của Trung Quốc . (3) Nguồn cung cấp năng lượng đang giảm dần là áp lực đẩy giá và lạm phát tăng cao của Trung Quốc, ảnh hưởng đến sự ổn định trong nước của Trung Quốc . Bắc Kinh cần các tài nguyên năng lượng dưới Biển Đông càng sớm càng tốt để cung cấp cho sự phát triển kinh tế. (4) Nhân tố mang tính kiềm chế Mỹ, nhân tố không rõ ràng và rắc rối nhất so với 3 nguyên nhân trên. Đánh giá những hành động của Mỹ hiện nay Trung Quốc có thể tin rằng Mỹ và các đồng minh có thể chỉ phản đối miệng và không có hàng rào nào không thể vượt qua trong việc thiết lập khả năng kiểm soát hiệu quả của Trung Quốc tại Biển Đông. Có một kịch bản mà Trung Quốc đang tin tưởng là: Trung Quốc có thể tin rằng Nhật Bản, Hàn Quốc và Australia sẽ không chiến đấu với Trung Quốc vì lợi ích của Việt Nam hay Philippines. Các thành viên ASEAN cũng không muốn khiêu khích sự tức giận của Trung Quốc bởi họ có quan hệ kinh tế quá phụ thuộc vào Trung Quốc do đó hầu hết các thành viên này sẽ không tham gia trực tiếp vào xung đột. Đồng thời, Washington sẽ không thể tìm được bất kỳ nước nào tại châu Á (hoặc rất ít tại chính Mỹ) để yêu cầu họ chống Trung Quốc hay tham gia một cuộc chiến tranh với Trung Quốc . Tuy nhiên, gần đây tại Đối thoại Shangri-La, BTrung Quốc P Mỹ Robert Gates đã nói các tranh chấp cần được giải quyết theo luật quốc tế và ông sẵn sàng cá cược rằng trong 5 năm tới Mỹ sẽ tiếp tục hiện diện mạnh mẽ tại khu vực CÁ - TBD. ASEAN sẽ tiếp tục phối hợp hành động và nếu không thể có điều đó thì Mỹ vẫn có một số đồng minh sẵn sàng đứng lên chống Trung Quốc . Chỉ cần sự thay đổi một trong hai chính sách mang tính động lực của Trung Quốc có thể đủ để làm thay đổi quỹ đạo của các sự kiện hiện nay. Vấn đề tài nguyên mang tính cấp bách của Trung Quốc có thể được giải quyết bằng cách sử dụng cơ chế phát triển đa quốc gia đối với các đảo Trường Sa và Hoàng Sa đang được quản lý bởi các bên tranh chấp. Phiếu bầu đối với ban quản lý này sẽ được xác định bởi tỷ lệ tham gia góp vốn. Sức mạnh tài chính của Trung Quốc mang tính áp đảo về bản chất do đó sẽ có hẳn một chương nhằm bảo vệ quyền lợi của những nước nhỏ hơn để họ có lợi ích và thị phần trong khai thác tài nguyên vùng biển này. Việc cùng phát triển như vậy cần và có thể sẽ bắt đầu nhanh mà không phải giải quyết các quyền đánh bắt cá và hàng hải.
Ứng phó với chiến thuật dùng tàu dân sự quấy nhiễu của Trung QuốcTác giả: Nguyễn Đức Hùng
Ngay bên lề Hội thảo quốc tế về biển Đông tại Jakarta (Indonesia) và Đối thoại Shang-ri La 10 ở Singapore, Trung Quốc đã liên tiếp cho các tàu hải giám, ngư chính và tàu đánh cá giả dạng vào quấy nhiễu và cắt cáp tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 2 và Viking 2 ngay trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Bài viết này trình bày khái quát về các lực lượng tuần tra và giám sát biển của Trung Quốc và đề xuất một số biện pháp đối phó. Các lực lượng tuần tra và giám sát biển của Trung Quốc Dưới vỏ bọc tàu dân sự, các tàu hải giám, ngư chính, và tàu đánh bắt cá Trung Quốc ngày càng tăng cường hoạt động gây hấn và xâm phạm sâu vào vùng biển chủ quyền của Việt Nam và của các nước khác. Vụ việc tàu Bình Minh 2 (thuộcTập đoàn dầu khí Việt Nam, PVN) đang hoạt động khảo sát địa chấn ở vị trí chỉ cách bờ biển Việt Nam chưa đầy 120 hải lý (khoảng 222 km) bị ba tàu hải giám Trung Quốc quấy nhiễu cắt cáp khảo sát vào ngày 26/5 chưa kịp lắng xuống và Đối thoại Shang-ri La 10 ở Singapore chưa kịp kết thúc thì ngày 9/6 tàu ngư chính và tàu đánh cá giả dạng của Trung Quốc với thiết bị cắt cáp khảo sát chuyên nghiệp đã lại quấy nhiễu và cắt cáp của tàu Viking 2, cũng thuộc PVN, đang khảo sát địa chấn ở vị trí chỉ cách mũi Vũng Tàu về phía đông nam chưa đầy 180 hải lý (khoảng 333 km), nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Cả hai trường hợp này vị trí tàu bị quấy nhiễu không thuộc bất kỳ khu vực biển có tranh chấp theo UNCLOS 1982. Vậy thực chất đội tàu hải giám và ngư chính cũng như các tàu đánh cá liên tục xâm phạm và quấy nhiễu các vùng biển của Việt Nam là những loại tàu gì và chúng hoạt động ra sao? Đội tàu hải quân và các loại tàu tuần tra giám sát biển của Trung Quốc có thể phân chia thành các loại như sau: 1. Lực lượng hải quân Trung Quốc (PLAN, Bộ Quốc phòng): khoảng 740 tàu các loại từ tàu ngầm, tàu sân bay và các loại tàu lớn nhỏ phục vụ cho hải quân; 2. Hải giám (trực thuộc Cục Hải dương Quốc gia, Bộ Quốc thổ và Tài nguyên, (trực thuộc Quốc vụ viện) - thực hiện giám sát các khu vực Trung Quốc cho là vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và các hoạt động khai thác tài nguyên trên biển; 3. Ngư chính (Bộ Nông nghiệp) - quản lý các hoạt động đánh bắt cá và khai thác thủy hải sản; 4. Cảnh sát biển (Bộ Công an) - cảnh sát tuần tra biển (liên quan đến các vấn đề dân sự); 5. Tổng cục An toàn Hàng hải (Bộ Giao thông) - chịu trách nhiệm an toàn hàng hải, tìm kiếm và cứu nạn trên biển; 6. Hải quan (Tổng cục Hải quan) - giám sát ngăn chặn buôn lậu, và giám sát, kiểm tra, theo dõi các vùng biển, hải phận thuộc Trung Quốc; và 7. Các lực lượng khác - điều tra khảo sát biển (trực thuộc Bộ Giáo dục và các đại học, viện nghiên cứu). Đội tàu thuộc lực lượng hải quân Trước hết, đội tàu mạnh nhất và dữ tợn nhất của Trung Quốc phải kể đến là đội tàu hải quân, trực thuộc lực lượng Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN), Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Lực lượng hải quân Trung Quốc bao gồm tổng số 250 ngàn binh lính, 26 tàu khu trục hạm (destroyers), 50 tàu khinh hạm (frigates), 3 tàu ngầm hạt nhân mang tên lửa đạn đạo (SSBN), 7 tàu ngầm hạt nhân tiến công (SSN, Ship Submersible Nuclear), 56 tàu ngầm thông thường (SSK), 58 tàu quân vụ đổ bộ, 80 tàu quân vụ ven bờ (có tên lửa), 27 tàu đổ bộ cỡ lớn, 31 tàu đổ bộ cỡ trung bình và khoảng 200 xuồng tấn công cao tốc. Ngoài ra còn có một tàu sân bay (airplane carrier). Tổng cộng khoảng chừng 740 tàu các loại. Một số tàu hải quân Trung Quốc được minh họa trong Hình 1. Lực lượng hải quân Trung Quốc được cho là hùng mạnh hàng thứ 2. Căn cứ hải quân (tàu ngầm) Tam Á thuộc hạm đội Nam Hải nằm ở phía đông của đảo Hải Nam[1].  |
Ngoài lực lượng hải quân, Trung Quốc phái đội tàu tuần tra trên Biển Đông được gọi tên bằng "5 con rồng khuấy động Biển Đông" bao gồm hải giám, ngư chính, cảnh sát biển, an toàn hàng hải và hải quan[2]. Hai đội tàu gây sóng gió cho các tàu thuyền đánh bắt cá và tàu thuyền thăm dò khảo sát khai thác tài nguyên biển Việt Nam là đội tàu hải giám và ngư chính. Đội tàu hải giám Đội tàu hải giám Trung Quốc trực thuộc Cục Hải dương Quốc gia (State Oceanic Adminstration, Bộ Đất đai và Tài nguyên) của Trung Quốc. Cơ quan Giám sát Hàng hải Trung Quốc (China Marine Surveillance) được thành lập vào ngày 19/10/1998. Cơ quan này có các chi nhánh rộng khắp các tỉnh thành phố ven biển Trung Quốc. Các tàu hải giám này là loại tàu bán quân sự nhằm mục đích tuần tra các vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và bờ biển của Trung Quốc. Các tàu này cũng làm nghiệm vụ bảo vệ môi trường biển, các nguồn tài nguyên, các thiết bị dẫn đường và công trình biển, khảo sát biển và trong trường hợp khẩn cấp tham gia việc tìm kiếm và cứu trợ[3]. Nếu đội tàu hải giám này hoạt động trong các vùng nước của Trung Quốc phù hợp với UNCLOS 1982 thì không có gì đáng nói, nhưng đội tàu này hoạt động ra ngoài phạm vị vùng nước phù hợp UNCLOS 1982, quấy nhiễu và cản trở các hoạt động khai thác tài nguyên biển của các nước khác.  | | Tàu hải giám 84, 1 trong 3 tàu đã cắt cáp tàu Bình Minh 2 |
Với sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật đóng tàu ở Trung Quốc và sự đầu tư của chính quyền nhiều cấp, đội tàu hải giám đã tăng thêm số tàu và máy bay. Tính đến năm 2008, sau 10 năm thành lập, đội tàu này đã phát triển thành đội tàu gồm 200 tàu tuần tiễu (patrol vessels) và 9 máy bay. Các tàu hải giám này có tên Trung Quốc Hải Giám + số tàu, ví dụ Trung Quốc Hải Giám 84 là tàu mới được bổ sung cho đội tàu nam hải (đóng năm 2009). Đến thời điểm 2011 đội tàu hải giám có 300 tàu (với 30 tàu có trọng tải hơn 1000 tấn) và 10 máy bay (trong đó có 4 máy bay trực thăng). Năm 2011 đội tàu hải giám này tuyển mộ thêm 1000 nhân viên mới, nâng số nhân viên làm việc lên tới trên 10 nghìn người có kỹ năng sử dụng vũ khí. Cơ quan hải giám tiếp tục tăng số tàu trong những năm tới, nhằm mục tiêu tăng thêm 36 tàu trong năm năm tới[4]. Đội tàu hải giám được phân thành 4 cấp bao gồm 3 đội tàu cấp khu vực, 10 đội tàu cấp tỉnh, 46 đội tàu cấp thành phố, và 142 đội tàu cấp quận huyện[5]. Ba đội tàu cấp khu vực bao gồm: đội tàu bắc hải (hoạt động trong các vùng biển phía đông bắc của Trung Quốc), đội tàu đông hải (hoạt động trong các vùng biển phía đông và đông nam Trung Quốc), và đội tàu nam hải (hoạt động ở vùng biển phía nam Trung Quốc - Biển Đông Việt Nam). Đội tàu hải giám Trung Quốc bao gồm nhiều tàu phân hạng từ 500 tấn đến 4000 tấn, và một số tàu trong đội tàu này có trang bị cả máy bay trực thăng và máy bay quân sự. Bảng 1 Thông tin về một số tàu hải giám Trung Quốc thuộc Đội tàu hải giám Nam Hải (Biển Đông)[6] Tên, năm đóng và đội tàu trực thuộc | Thông số chính | Tàu Hải Giám 84 (2009) (Hình 1(a)) Đội tàu hải giám Nam Hải | Lượng dãn nước 1740 tấn Chiều dài tổng thể: 88 mét Chiều rộng: 12 mét Mớn nước: 5.6 mét Vận tốc: 18 hải lý/giờ Tầm hoạt động 5000 hải lý, 40 ngày liên tục | Tàu Hải Giám 17 (2005) Đội tàu hải giám Nam Hải | Lượng dãn nước: 1150 tấn Chiều dài tổng thể: 73.9 mét Chiều rộng: 10.2 mét Tầm hoạt động: 5000 hải lý | Tàu Hải Giám 72 (1991) Đội tàu hải giám Nam Hải | Lượng dãn nước: 898.8 tấn Chiều dài tổng thể: 65 mét Chiều rộng: 9.40 mét Mớn nước: 4.5 mét | Tàu Hải Giám 75 (2010) Đội tàu hải giám Nam Hải | Lượng dãn nước 1290 tấn Chiều dài tổng thể: 77.39 mét Chiều rộng: 10.4 mét Động cơ hai kỳ, công suất 2380 mã lực Tốc độ: 20.6 hải lý/giờ Thuyền viên: 43 Tầm hoạt động: 5000 hải lý, 30 ngày liên tục | Tàu Hải Giám 71 (2005) Đội tàu hải giám Nam Hải | Lượng dãn nước: 1111 tấn Vận tốc: 16 hải lý/giờ Tầm hoạt động: 5000 hải lý, 30 ngày liên tục | Tàu Hải Giám 83 (Hình 1(b)) Đội tàu hải giám Nam Hải | Lượng dãn nước trên 3000 tấn |
 |
Đội tàu ngư chính Ngư chính là cơ quan quản lý giám đốc nghề cá thuộc các bộ phận chủ quản hành chính nghề cá của chính quyền các cấp. Cơ quan giám đốc nghề cá của Trung Quốc là Cục Ngư nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp. Cũng có địa phương đặt Ngư chính vào bộ phận thủy sản. Chức trách của Ngư chính trên biển là[7]: Tổ chức quản lý cho phép việc đánh bắt cá trong vùng phụ trách; Bảo hộ nguồn tài nguyên cá; Kiểm tra các hành vi vi phạm pháp luật phá hoại tài nguyên cá và trật tự sản xuất nghề cá; Cứu trợ các động vật dã sinh trong nước; Điều tra xử lý các sự cố gây ô nhiễm vùng nước, vùng biển nuôi đánh bắt cá; Phụ trách quản lý giám sát việc sản xuất sử dụng các loại thuốc dùng trong nuôi trồng thủy sản; và Điều tra xử lý các tranh chấp về đánh bắt cá, duy trì trật tự sản xuất ngư nghiệp.
 |
Đội tàu ngư chính có nhiều tàu lớn hoạt động trên nhiều vùng biển khác nhau, vừa làm nhiệm vụ giám sát và bảo vệ tàu đánh cá của Trung Quốc và các nước khác vừa làm nghiệp vụ quấy nhiễu và sử dụng tàu đánh cá trá hình với trang thiết bị phá hoại dùng để phá hoại các công trình khai thác dầu khí. Trong vụ Viking II ngày 9/6/2011, có nhiều tàu ngư chính và tàu đánh cá Trung Quốc tham gia phá rối và cắt cáp ở tọa độ cách mũi Vũng Tàu chưa đầy 200 hải lý. Trong đó có tàu Ngư Chính 311 thuộc hạng tàu 4500 tấn, là tàu hải quân thay đổi hình dáng chuyển sang làm tàu Ngư Chính năm 2006. Vận tốc tàu Ngư Chính 311 đạt tới 22 hải lý/giờ, cự ly hoạt động 8000 hải lý (Hình 3). Cảnh sát biển (Bộ Công an) - cảnh sát tuần tra biển (liên quan đến các vấn đề dân sự); Cảnh sát biển (Hải Cảnh) là lực lượng chấp pháp của Bộ Công an, có nhiệm vụ duy trì trị an trên biển. Trước mắt, cảnh sát biển được trang bị chủ yếu tàu tuần tra cao tốc "Báo Biển" và tàu tuần tra kiểu 218. Tàu 218 dài 41,03m; rộng 6,2m; sâu 3,4m; lượng choán nước 130 tấn, biên chế 23 người, trang bị một bộ súng máy cao xạ hai nòng 14,5mm. Tàu cao tốc "Báo Biển" HP1500 kiểu 22 dài 14,5m, máy chủ do Đức chế tạo, động cơ 1400 mã lực, chạy liên tục 220 hải lý, biên chế 6-8 người, có hệ thống định vị dẫn đường bằng vệ tinh. Cảnh sát biển là lực lượng được chuẩn hóa quân sự nhất trong các lực lượng chấp pháp trên biển của Trung Quốc. Năm 2007, Hải quân Trung Quốc bàn giao cho cảnh sát biển hai tàu lượng choán nước 1.700 tấn: "Hải Cảnh 1002" và "Hải Cảnh 1003". Trước đó đã có "Hải Cảnh 1001" loại 1.000 tấn, những tàu này đã nâng cao năng lực chấp pháp trên biển của Trung Quốc. Cán bộ sĩ quan chỉ huy quản lí, nhân viên kĩ thuật của Cảnh sát Biển Trung Quốc được đào tạo duy nhất tại trường Đại học chuyên ngành Cảnh sát Biển Công an - Triết Giang. Từ tháng 8-1983 trường chuyển từ Tổng bộ Vũ Cảnh về Bộ Công an trực tiếp quản lí và lãnh đạo. Tổng cục An toàn Hàng hải Lực lượng tổng cục An toàn Hàng hải trược thuộc Bộ Giao thông Trung Quốc chịu trách nhiệm an toàn hàng hải, tìm kiếm và cứu nạn trên biển theo quy định của IMO (Tổ chức Hàng hải Thế giới). Lực lượng thuộc Tổng cục An toàn Hàng hải chính là cảnh sát trị an trên biển, và theo tên tiếng Trung Quốc là Hải Tuần. Nhiệm vụ chủ yếu của Hải Tuần là quản lý, giám sát an toàn giao thông trên biển. Công việc chính trên biển của tổ chức này chủ yếu là phụ trách công tác an toàn cứu sinh trên biển, kiểm tra giám sát an toàn trên nước, phòng chống ô nhiễm và kiểm nghiệm tàu bè và các công trình thi công trên biển. Tàu "Hải Tuần 31" lượng choán nước 3.000 tấn là tàu hiện đại nhất thuộc lực lượng này, có nhiều chức năng tác nghiệp trên biển, trang bị máy bay trực thăng hiện đại, sự ra đời của "Hải Tuần 31" đã nâng cao năng lực cứu trợ, tuần tra an toàn giao thông trên vùng lãnh hải và vùng kinh tế đặc quyền của Trung Quốc[10]. Cho dù có nhiệm vụ như trên nhưng các tàu thuộc lực lượng an toàn hàng hải cũng phải hoạt động tuân thủ theo UNCLOS 1982. Hải quan (Tổng cục Hải quan) Tổng cục Hải quan Trung Quốc thuộc Quốc Vụ viện. Theo luật Hải quan, chức năng của Hải quan gồm 4 nhiệm vụ: Giám quản, thu thuế, chống buôn lậu, thống kê hải quan. Trong đó Giám quản là chức năng quan trọng của Hải quan, tiến hành giám sát và quản lý hàng hóa, vật tư, phương tiện trong xuất nhập cảnh. Thu thuế chính là thu thuế xuất nhập khẩu hải quan. Chống buôn lậu là chức năng mà Bộ Công an ủy quyền. Ở Tổng cục Hải quan có Cục Chống buôn lậu. Thống kê hải quan là việc Hải quan tiến hành thống kê tình hình xuất nhập khẩu trong từng khoảng thời gian nhất định, báo cáo các đơn vị liên quan của Nhà nước, để Nhà nước ra quyết sách về xuất nhập khẩu mậu dịch. Đối với Hải quan thì nhiệm vụ chấp pháp trên biển chính là đánh vào các hoạt động buôn lậu trên biển[11]. Các lực lượng khác Ngoài các lực lượng kể trên, ở Trung Quốc còn có các cơ quan có tàu điều tra và nghiên cứu. Đội tàu điều tra nghiên cứu cũng góp phần đáng kể trong việc quấy nhiểu các vùng biển không thuộc Trung Quốc theo UNCLOS 1982 (Hình 6 và 7). Như vậy cho thấy ngoài lực lượng hải quân, 5 lực lượng tuần tra giám sát biển của Trung Quốc tạo thành 5 con rồng quậy phá Biển Đông. Bảng 2 tóm tắt số tàu chính của 5 lực lượng này. Việt Nam nên ứng phó thế nào?[12] Như trên đã trình bày năm đội tàu tuần tra giám sát của Trung Quốc vẫn tiếp tục được củng cố và phát triển cả về số lượng tàu, nhân viên và chất lượng. Bằng việc sử dụng các tàu thuyền mang vỏ bọc dân sự, người Trung Quốc dùng thủ thuật tạo một bộ mặt hòa bình để phục vụ những mục đích bành trướng của mình đến khắp nơi trên vùng biển đông bắc Thái Bình Dương (Biển Nhật Bản, Biển Hoàng Hải), Biển Đông Việt Nam và sang cả Ấn Độ Dương[13]. Những quốc gia liên quan cần có những đối sách thích hợp để tránh sự bất cân xứng khi Trung Quốc lạm dụng đội tàu tuần tra và giám sát biển cho những mục đích quân sự của mình (trang bị cả AK 59, AK 81 và súng trường tự động 95). Các đội tàu tuần tra giám sát biển (đặc biệt hải giám và ngư chính) của Trung Quốc liên tục xâm phạm các vùng biển Việt Nam và quấy nhiễu các hoạt động khai thác tài nguyên trên biển, gây thiệt hại nhiều cho Việt Nam. Do vậy Việt Nam cần có những biện pháp đối phó bao gồm cả một chiến lược dài hạn và các biện pháp ngắn hạn. Trong phần này, các tác giả đề xuất một số biện pháp đối phó đội tàu hải giám và ngư chính trên Biển Đông nhằm bảo vệ an ninh quốc phòng, bảo vệ các nhà đầu tư và ngư dân Việt Nam hoạt động trên Biển Đông. Bảng 2 Các tàu của 5 lực lượng tuần tra giám sát biển của Trung Quốc[14] | Vịnh Bắc Bộ | Biển Đông Trung Quốc | Biển Hoàng Hải | Vịnh Bột Hải | Biển Đông | Tổng số | Tàu lớn (3500 tấn) | - | 4 | - | - | 4 | 8 | Tàu vừa (1500 tấn) | 2 | 6 | 5 | 1 | 5 | 19 | Tàu nhỏ (500 tấn) | 20 | 30 | 30 | 26 | 43 | 149 | Thuyền nhỏ (100 tấn) | 26 | 95 | 103 | 80 | 304 | Tỗng số toàn bộ | 480 |
Tăng cường tuần tra và giám sát trên Biển Đông Vạch ranh giới và vẽ bản đồ ranh giới biển theo UNCLOS 1982 có các vị trí chính xác, nhanh chóng soạn thảo, bàn bạc tại Quốc Hội và nếu cần cho phép tham gia rộng rãi bên ngoài xã hội để thông qua bộ luật biển và công báo với quốc tế về các chủ trương của Việt nam về ranh giới trên biển, các khu đặc quyền kinh tế biển, phổ biến cho ngư dân khi đánh bắt cá xa bờ cũng như cho các cơ quan tổ chức và cá nhân làm kinh doanh trên biển. Việt Nam cần liên tục tăng cường đội tàu tuần tra và giám sát vùng duyên hải và biển xa, đặc biệt các vùng Việt Nam tuyên bố vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam và các khu vực Việt Nam đang khảo sát địa chấn và khai thác dầu khí. Đội tàu tuần tra và giám sát biển thực hiện các nhiệm vụ giám sát các hoạt động của tàu thuyền khác trong khu vực chủ quyền của mình cũng như trong các khu vực hợp tác quốc tế khác. Thành lập một đội tàu tuần tra giám sát biển (thuộc Tổng cục biển đảoViệt Nam) tai5 đảo: Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Cù lao Chàm. Và tại các đảo này cần có thêm các tàu tốc độ cao và máy bay trực thăng, và khi cần thiết có thể huy động cả máy bay quân sự từ các sân bay quân sự trực thuộc tỉnh ven biển.
Bổ sung thêm tàu tuần tra và giám sát biển thường trực tại các vùng trọng yếu thuộc khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, các khu vực có các công trình khai thác tài nguyên trên biển, ví dụ các đảo nổi và giàn khoan dầu khí dân sự cố định. Song song với việc bố trí tàu tuần tra và giám sát riêng của chính quốc gia mình, Việt Nam cần đề nghị thành lập một lực lượng có vai trò cảnh sát biển quốc tế hoặckhu vực, gồm các nước có bờ biển quanh và nhu cầu hải hành trên Biển Đông để giữ bình an cho khu vực này theo đúng luật quốc tế, và theo đúng các hiệp ước đã ký kết. Việt Nam sẽ có sĩ quan của mình làm việc đồng đẳng với các nước bạn trên những tàu tuần tra giám sát hải dương nàỵ Tăng cường các đội trực thăng tìm kiếm và cứu nạn hiện có ở các tỉnh ven biển và trang bị thêm một số máy bay trực thăng có thêm chức năng giám sát và bảo vệ vùng biển ở quanh các khu vực trọng yếu mà Việt Nam đang tiến hành khảo sát và khai thác dầu khí, các khu vực có nhiều tàu thuyền đánh bắt cá Việt Nam hoạt động. Trong khả năng tài chính có thể được cần tăng cường thêm một số tàu ca nô có tốc độ cao để có thể có mặt nhanh chóng tại hiện trường có ngư thuyền gặp nạn và đang kêu cứu để giải quyết các khó khăn cho ngư dân và các doanh nghiệp đang hoạt động trên biển. Cho các huyện đảo quản lý phạm vi rộng hơn kèm ranh giới tọa độ cùng với các phương tiện thông tin liên lạc đầy đủ. Cần xem xét lại chiến lược phát triển các đảo, bao gồm cả các đảo trong quần đảo Trường Sa, để có thể khuyến khích và hỗ trợ các nhà kinh doanh đầu tư phát triển kinh tế trên các đảo. Việc phát triển kinh doanh trên các đảo mang lại nhiều lợi ích trong đó có lợi ích quan trọng là làm cho người dân gắn liền với đảo và ổn định cuộc sống ở trên đảo hơn, tạo ra mối quan hệ chặt chẽ với đất liền. Thành lập quỹ xây dựng lực lượng giám sát biển Việt Nam. Kêu gọi các cơ quan, tổ chức và cá nhân có các hoạt động kinh doanh trên biển đóng góp thành lập quỹ xây dựng lực lượng giám sát biển Việt Nam. Quỹ này chắc chắn phải lớn vì cần phải dùng cho việc đóng tàu giám sát, thực hiện các đề tài nghiên cứu (kết hợp với việc bảo vệ các công trình trên biển) v.v... Tăng cường hệ thống cảm biến từ xa, hệ thống giám sát vệ tinh, máy bay giám sát vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tàu phải có thiết bị ghi lại các sự xâm phạm vùng biển chủ quyền, quyền tài phán của Việt nam; hồ sơ hóa các vụ xâm phạm của tàu nước ngoài (nhất là các tàu hải giám, ngư chính và hải quân) để dùng cho các công bố quốc tế, đàm phán,tranh cãi, kiện tụng về sau.
Ngư dân Cần có chính sách khuyến khích và bảo vệ ngư dân, đặc biệt các ngư dân đánh cá xa bờ. Mỗi tàu đánh cá cần được trang bị hải đồ tổng thể có ranh giới biển theo UNCLOS 82, khi đánh cá trên biển cần xác định vị trí tàu liên tục để biết mình đang ở vùng biển nào và giữ liên lạc với các tàu tuần duyên và giám sát biển của Việt Nam. Nếu gặp tàu tuần tra, tàu hải giám và tàu ngư chính của Trung Quốc thì trước hết cần liên lạc và thông báo vị trí của mình cho các tàu tuần duyên và giảm sát biển của Việt Nam, nếu nhân viên các tàu này tràn lên tàu mình thì chỉ cho họ bản đồ ranh giới biển và khẳng định rằng vị trí đánh bắt cá đó vẫn thuộc về Việt Nam. Khi ra biển tập cho ngư dân đi theo từng đội, có tổ chức và có đủ thiết bị vô tuyến liên lạc với nhau và các đội tuần tra biển Việt Nam. Cần tổ chức các đội tàu thuyền đánh cá có một tàu mẹ (tàu lớn) có nhiệm vụ cung cấp kỹ thuật đánh bắt cá, thông báo ngư trường, giữ liên lạc với các tàu thuyển tuần duyên, cảnh sát biển Việt Nam, thông báo thông tin về bão cũng như sự xâm nhập của các tàu thuyền nước ngoài vào khu vực đánh bắt cá thuộc chủ quyền Việt Nam. Cần tăng cường các biện pháp an toàn cho ngư dân Việt Nam. Khuyến khích ngư dân trang bị đồ dùng an toàn cá nhân (áo phao) khi làm việc trên biển, lắp đặt đầy đủ trang thiết bị an toàn và thông tin hàng hải,lắp đặt radar trên các tàu đánh bắt cá, hoặc trong một đội tàu đánh bắt cá cần có một vài tàu có radar quan sát các tàu mục tiêu lạ xuất hiện để có thể thông tin và có biện pháp xử lý kịp thời.
Kết luận Ngoài lực lượng hải quân, năm đội tàu tuần tra giám sát biển của Trung Quốc là năm lực lượng hùng hậu hoạt động rộng khắp trên các vùng biển phía tây Thái Bình Dương. Các đội tàu tuần tra giám sát này thuộc dạng tàu bán quân sự giả danh tàu dân sự, có trang bị vũ khí và đội thuyền viên biết sử dụng vũ khí thành thạo nhằm xâm phạm các vùng biển, quấy nhiễu các hoạt động khai thác tài nguyên và phá hoại các công trình thiết bị trên biển của các nước khác. Qua các hoạt động của các đội tàu tuần tra giám sát biển của Trung Quốc, chúng ta thấy rằng Trung Quốc sẽ tiếp sẽ tiếp tục cho nhiều loại tàu giả dạng tàu dân sự xâm phạm sâu vào vùng biển của Việt Nam, gây hấn và gây thiệt hại cho Việt Nam. Việt Nam cần có những biện pháp đối phó phù hợp nhằm bảo vệ lợi ích cho các công ty khai thác dầu khí, các công ty Việt Nam và nước ngoài đầu tư trên Biển Đông, và bảo vệ ngư dân Việt Nam đánh bắt cá và khai thác thủy hải sản trên Biển Đông.
Đài Loan: Các thuỷ thủ người Việt đã cứu tàu khỏi hải tặc Chiếc tàu đang chạy ở ngoài khơi quốc đảo Seychelles, sau khi thoát khỏi tay hải tặc. Theo báo chí Đài Loan, 5 thủy thủ trên vốn là bộ đội xuất ngũ, được tuyển vào làm thủy thủ trên tàu Chin Yi Wen của Đài Loan. Chiếc tàu này có trọng tải 290 tấn, với thủy thủ đoàn gồm 28 người trong đó có 9 người Trung Quốc, 8 người Philippines, 6 người Indonesia, và 5 người Việt Nam. Theo cơ quan ngoại giao Đài Loan, thủy thủ đoàn đã bị mất liên lạc từ hôm 4/11, khi đang đi về vùng biển Somalia. Hãng tin Đài Loan CNA dẫn lời chủ nhân chiếc tàu Chin Yi Wen đăng ký ở Cao Hùng, Đài Loan cho biết, 5 thủy thủ Việt Nam đã bất ngờ lao vào tấn công bọn hải tặc khi chúng đang ăn cơm. Họ đã buộc được 6 tên hải tặc Somalia có vũ trang phải nhảy qua mạn tàu xuống biển, và giành lại quyền kiểm soát con tàu. Sau đó, dường như các tên hải tặc đã được đồng bọn đi trên một chiếc tàu nhỏ vớt lên, bỏ chạy đi nơi khác. “Chủ tàu hứa sẽ thưởng cho 5 thủy thủ gan dạ này, cũng như các thủy thủ có liên quan”, CNA đưa tin. “Ông chủ tàu cũng cho biết, có ba thủy thủ đã bị thương nhẹ khi chiến đấu với hải tặc và tàu sẽ phải lưu lại quần đảo Seychelles ở Ấn Độ Dương trước khi quay về Đài Loan”. Cơ quan Ngư nghiệp Đài Loan cũng lên tiếng cảm ơn đội đặc nhiệm chống hải tặc của Anh vì đã nhanh chóng đến hỗ trợ và bảo vệ cho tàu. Theo Ecoterra International, tổ chức chuyên giám sát các hoạt động hàng hải trong khu vực, thì cho đến nay, có ít nhất 47 chiếc tàu nước ngoài với trên 500 thủy thủ còn đang bị hải tặc bắt giữ. Hai thập kỷ vô luật pháp đã khiến nạn cướp biển diễn ra tràn lan ở vùng biển Somalia. Đài Loan tuyên dương 5 thủy thủ VN đánh bại hải tặc Hải tặc Somali đầu hàng tàu Hải quân Mỹ sau khi định tấn công một tàu của Ấn Độ. Ảnh chụp năm 2009. Reuters Hãng tin AFP cho biết, Đài Loan hôm nay (7/11) đã hoan nghênh hành động dũng cảm của năm thủy thủ Việt Nam xuất thân là lính, đã bất ngờ tấn công sáu tên hải tặc có vũ trang, và giành lại được tàu sau khi bị cướp tại Tây Phi. Năm thủy thủ trên vốn là bộ đội xuất ngũ, được tuyển vào làm thủy thủ trên tàu Kim Ức Ổn của Đài Loan. Chiếc tàu này có trọng tải 290 tấn, với thủy thủ đoàn gồm 28 người trong đó có 9 người Trung Quốc, 8 người Philippines, 6 người Indonesia, và 5 người Việt Nam. Theo Bộ Ngoại giao Đài Loan, thì thủy thủ đoàn đã bị mất liên lạc từ hôm thứ Sáu, khi đang đi về vùng biển Somali. Hãng thông tấn chính thức của Đài Loan Central News Agency tức Trung ương Xã, dẫn lời ông Lưu, chủ nhân chiếc tàu Kim Ức Ổn đăng ký ở Cao Hùng, Đài Loan cho biết, năm thủy thủ Việt Nam đã bất ngờ lao vào dùng võ cỗ truyền VN tấn công bọn hải tặc khi chúng đang ăn cơm. Nhũung cú đá song phi tung lên , họ đã buộc được sáu tên hải tặc Somali có vũ trang phải nhảy qua mạn tàu xuống biển, và giành lại quyền kiểm soát con tàu. Sau đó dường như các tên hải tặc đã được đồng bọn đi trên một chiếc tàu nhỏ vớt lên, bỏ chạy đi nơi khác. Hãng tin Đài Loan nói thêm, ông Lưu hứa sẽ thưởng cho năm thủy thủ gan dạ này, cũng như các thủy thủ có liên quan. Ông chủ tàu cũng cho biết, có ba thủy thủ đã bị thương nhẹ khi chiến đấu với hải tặc, và tàu sẽ phải lưu lại quần đảo Seychelles ở Ấn Độ Dương trước khi quay về Đài Loan. Cơ quan Ngư nghiệp Đài Loan cũng lên tiếng cảm ơn đội đặc nhiệm chống hải tặc của Anh (UKMTO – United Kingdom Maritime Trade Operation), vì đã nhanh chóng đến hỗ trợ và bảo vệ cho tàu Kim Ức Ổn, khi được kêu gọi trợ giúp hôm Chủ nhật. Theo tổ chức Ecoterra International, chuyên giám sát các hoạt động hàng hải trong khu vực, thì cho đến nay, có ít nhất 47 chiếc tàu nước ngoài với trên 500 thủy thủ đang bị hải tặc bắt giữ. Việt Hà Theo AFP, BBC Cuộc chạy trốn của nhà đối kháng TQCập nhật: 16:18 GMT - thứ hai, 7 tháng 11, 2011  Ông Wang Weimin đã trốn sang Việt Nam, hy vọng xin tị nạn chính trị Một nhà đối kháng Trung Quốc trốn sang Việt Nam với mong muốn xin tị nạn chính trị, rồi lại sang Thái Lan, nhưng sau gần nửa năm, ông vẫn tiếp tục chờ đợi. Từ Hà Nội, nhà báo Ian Timberlake kể lại câu chuyện của nhà bất đồng chính kiến đã qua tuổi 30, từng là sinh viên ngành vật lý. Ông đã vượt biên giới Trung Quốc và đến thủ đô Hà Nội trong chuyến hành trình tìm tự do. Nhưng khi đến nơi, vừa đói lại thiếu tiền, ông Wang Weimin (tên giả - AFP đã đổi tên vì an toàn của ông và gia đình) mới hay cả sứ quán nước ngoài và cơ quan tị nạn Liên Hiệp Quốc (LHQ) đều không chấp nhận yêu cầu tị nạn chính trị của ông. Tháng Sáu năm nay, ông quyết định mình sẽ phải đến Thái Lan, "một xứ sở tự do". Một nguồn tin nói với AFP những người trốn khỏi Trung Quốc ngày càng ngại chọn hành trình tương tự kể từ khi 20 người Hồi giáo Uighur trốn khỏi Tân Cương để vào Việt Nam rồi sang Campuchia, nhưng đã bị trục xuất tháng 12 năm 2009. Phnom Penh xem những người này là tị nạn bất hợp pháp và đã trả họ lại cho Trung Quốc. Theo AFP, ông Wang Weimin, mới ra tù cuối năm 2010, là một trong hơn 1000 công dân Trung Quốc mà các tổ chức theo dõi nhân quyền tin rằng đã bị bỏ tù vì quan điểm chính trị và tôn giáo. Cầm tù Ông Wang nói ông đã ở tù hơn 10 năm - lần đầu là vào giữa thập niên 1990 khi bị cáo buộc dẫn đầu một nhóm nhỏ sinh viên đòi dân chủ. Đầu thập niên 2000, ông lại bị bắt vì phân phát tài liệu phản đối các chính thể độc đoán, và ông nói khi đó đã bị án tù 9 năm. Sau khi ra tù, vào tháng Năm năm nay, ông bỏ trốn khỏi nhà để đến Quảng Châu. Tại đó ông không vâng lời cảnh sát, những người đã gọi điện thoại yêu cầu ông trở về. Ông lại đi tiếp đến Quảng Tây ráp biên giới Việt Nam.  Bà Kitty McKinsey là phát ngôn nhân cho UNHCR "Vì tôi là tội phạm và bị tước quyền chính trị, tôi không có được hộ chiếu, nên phải bí mật đi qua biên giới." Theo lời kể của Wang, một người bạn giới thiệu ông với một phụ nữ Việt Nam. Bà này đưa ông đi qua biên giới, mà tại đó công an biên phòng Việt Nam bắt ông nộp 2000 tệ (khoảng 314 đôla). "Từ đó, bạn tôi đã đưa tôi đến Hà Nội," ông kể. Mang một văn bản viết tay với tiêu đề "Yêu cầu Tị nạn Chính trị", ông đến một vài sứ quán nước ngoài ở Hà Nội, nhưng ông nói họ không thể giúp ông. Cao ủy tị nạn LHQ (UNHCR) cũng vậy. Bà Kitty McKinsey, phát ngôn nhân khu vực của UNHCR, nói với AFP: "Chúng tôi chỉ có thể chấp nhận và giải quyết đơn tị nạn nếu chính phủ chủ nhà đồng ý, và chính phủ Việt Nam thì không cho phép." Tiếp tục ra đi Không có kết quả gì tại Hà Nội, ông Wang đón xe buýt vào TP. HCM, hướng về phía Campuchia và từ đó đi sang Thái Lan. Sau nhiều ngày cố tìm cách qua biên giới, một người Trung Quốc chỉ cho ông cách băng qua một con sông nhỏ. "Tôi bỏ hành lý và lên thuyền, đi qua sông. Một lính người Campuchia yêu cầu tôi xuất trình hộ chiếu. Tôi nói không có và tưởng rằng toi đời rồi." Tiền hối lộ giúp giải quyết vấn đề. "Anh ta bắt tay tôi và nói bằng tiếng Hoa rằng tôi có thể đi." Ông đón xe buýt đi Phnom Penh nhưng không ở lại lâu vì "chính phủ Campuchia luôn trả người tị nạn chính trị về Trung Quốc". Xe buýt thả ông xuống biên giới với Thái Lan. Tại đó, một người lái xe ôm giúp ông tìm một kẻ buôn người. "Tôi cho hắn 40 đôla và ông ta đưa tôi đến Thái Lan." Đó là ngày 1 tháng Bảy. Thêm một chuyến xe buýt cuối cùng, và ông có mặt ở Bangkok. Như vậy, hơn một tháng sau khi bỏ trốn khỏi nhà, và khoảng hai tuần sau ngày rời Hà Nội, ông Wang đã đến "xứ sở tự do". Chờ đợi Nhưng tự do chỉ đem lại tuyệt vọng, phẫn uất và bất an. Ông kể rằng đã hết tiền và phải ngủ bên ngoài văn phòng UNHCR nhiều ngày trong khi gửi đơn xin tị nạn. "Có thể tôi đi tìm việc, nhưng sẽ phải làm lậu...Có nhiều người Hoa ở đây, có lẽ họ giúp tôi được."
Wang Weimin, người xin tị nạn Quyết định ban đầu của họ có thể mất mấy tháng và đến cuối tháng Bảy, ông Wang viết thư cho AFP nói rằng "không thể sống ở đây". Nhờ được nhiều người giúp đỡ, kể từ ấy, tinh thần ông đã khá hơn. "Có thể tôi đi tìm việc, nhưng sẽ phải làm lậu...Có nhiều người Hoa ở đây, có lẽ họ giúp tôi được." "Tôi không thể nói sẽ đi nước nào. Tôi không biết." Tính đến tháng Giêng năm nay, UNHCR đang giải quyết hơn 7.700 đơn tị nạn của các công dân từ Trung Quốc. Đa số đi bằng máy bay, và phần lớn xin đi Mỹ, Pháp, Nam Phi, Canada, Úc hay Anh. Một nhân viên tị nạn của một tổ chức giúp ông Wang, nói nếu ông kiên nhẫn, có thể ông sẽ được chấp thuận, mà điểm đến có thể là nước Mỹ. Bà nói trường hợp của ông "là một trong những vụ đáng chú ý nhất mà tôi thấy...nhưng sẽ phải mất thời gian"
| Nhật Bản bắt giữ thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc (Dân trí) - Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản hôm qua đã bắt giữ thuyền trưởng một tàu đánh cá Trung Quốc bị cáo buộc xâm nhập vùng biển Nhật Bản, báo chí nước này đưa tin. Tàu tuần tra của Nhật Bản giám sát một tàu cá Trung Quốc gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư. Hãng tin Jiji Press trích dẫn một nguồn tin từ lực lượng bảo vệ bờ biển nói thuyền trưởng 47 tuổi bị bắt với cáo vi phạm luật đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Nhật Bản. Theo lực lượng bảo vệ bờ biển tại thành phố Nagasaki, tàu tuần tra Nhật Bản đã phát hiện 2 tàu đánh cá trong vùng biển gần đảo quần đảo Goto, ngoài khơi bờ biển đông nam Nhật Bản. Sau khi 2 tàu trên từ chối yêu cầu dừng lại để kiểm tra, tàu tuần tra đã rượt đuổi 1 tàu cá trong 4 tiếng rưỡi. Quan hệ Nhật Bản-Trung Quốc đã rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều năm hồi tháng 9/2010 khi một tàu cá Trung Quốc va chạm với 2 tàu tuần tra của lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản gần quần đảo tranh chấp giữa hai nước ở vùng biển phía đông Trung Quốc mà Nhật Bản là Senkaku còn phía Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản đã bắt giữ thuyền trưởng 2 tàu Trung Quốc và giam giữ ông này trong 14 ngày. Trung Quốc đã phản ứng giận giữ, gửi thư phản đối, huỷ các cuộc gặp gỡ và các sự kiện văn hoá trong một cuộc tấn công ngoại giao vốn tiếp diễn thậm chí sau khi Nhật Bản thả thuyền trưởng, trong khi tinh thần dân tộc đã làm bùng phát các cuộc biểu tình đường phố ở cả 2 nước. Hồi đầu năm nay, 2 nước đã đồng ý cải thiện quan hệ sau vụ việc trên. Nhưng hồi tháng 9, tân Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Koichiro Gemba đã bày tỏ những lo ngại về sức mạnh hải quân ngày càng gia tăng của Trung Quốc và hành động của Trung Quốc gần các đảo tranh chấp. Cộc tranh cãi lãnh thổ trở nên căng thẳng hơn hồi tháng 8 sau khi Nhật Bản phản đối Trung Quốc về việc 2 tàu ngư chính Trung Quốc đi vào vùng biển thuộc quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Senkaku/Điếu Ngư gồm 5 đảo nhỏ nằm giữa đảo Okinawa ở cực nam Nhật Bản và Đài Loan. Quần đảo không có người ở - hiện do Nhật Bản kiểm soát nhưng Trung Quốc và Đài Loan tuyên bố chủ quyền - thường xuyên gây ra căng thẳng trong khu vực. An Bình Theo AFP Cập nhật lúc :3:12 PM, 08/08/2011 "Thiếu kinh nghiệm vận hành, khả năng làm chủ trang bị thấp, thiếu các phương tiện hỗ trợ liên quan"... là những gì mà báo Trung Quốc nhận xét về hạm đội tàu ngầm tương lai của Việt Nam
"Hạm đội 6 tàu ngầm Kilo là lực lượng không nên xem nhẹ"
Ngay sau khi Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố Việt Nam sẽ xây dựng hạm đội tàu ngầm trong 6 năm tới, các trang mạng quốc phòng Trung Quốc, trong đó sôi nổi nhất là trang Junshijia lên tiếng bàn luận, bình phẩm, đánh giá về hạm đội tàu ngầm tương lai của Việt Nam.
Dù Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh nhấn mạnh rằng “Hạm đội tàu ngầm của Việt Nam là để tự vệ và không phải là mối đe dọa cho các nước láng giềng” nhưng các thành viên trên mạng của Trung Quốc lại cho rằng "được sử dụng đúng cách hạm đội tàu ngầm này sẽ là một mối đe dọa với tàu sân bay của Trung Quốc.  | | Tàu ngầm Kilo của Nga thực sự là mối đe dọa lớn đối với bất kỳ tàu chiến nào. |
Tàu ngầm Kilo 636 biệt danh là “Hố đen” đây được xem là tàu ngầm có độ ồn khi hoạt động thấp nhất hiện nay. Được trang bị 6 ống phóng ngư lôi 533mm, vũ khí trang bị đi kèm có ít nhất 4 tên lửa chống hạm Club-S, 18 ngư lôi và 24 quả mìn.
Thành viên mạng quân sự Trung Quốc tin rằng, đây là một khả năng không nên bỏ qua, theo quan điểm của họ “nếu các chiến thuật được sử dụng đúng cách, có thể gây rắc rối không nhỏ cho đối thủ”.
Các hệ thống vũ khí của tàu ngầm Kilo được thiết kế cho mục đích chống tàu nổi và tàu ngầm, đặc biệt hệ thống tên lửa chống hạm Club-S, với phạm vi tác chiến rất rộng.
Tên lửa chống hạm phóng từ tàu ngầm 3M14E được phóng từ ống phóng ngư lôi 533mm, tương tự như tên lửa chống tàu C-602 của Trung Quốc. Tên lửa có tầm bắn tối đa 300km, tốc độ pha cuối của tên lửa lên đến Mach-2,9, rất khó để đánh chặn. "Nếu các tàu ngầm này được sử dụng cho chiến thuật phục kích, đó là mối đe dọa chết người đối với các tàu mặt nước", một ý kiến được đăng trên mạng quân sự Trung Quốc.
Dân mạng quân sự Trung Quốc đánh giá rất cao năng lực tác chiến của tàu ngầm Kilo, bởi chính Hải quân Trung Quốc cũng đang sử dụng ít nhất là 12 chiếc tàu ngầm Kilo với nhiều biến thể khác nhau. Trung Quốc cũng đã sao chép tàu ngầm Kilo của Nga thành tàu ngầm Type-041 lớp Nguyên (Yuan). Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam: “Chính sách quốc phòng của Việt Nam là tự vệ, chứ không nhằm vào nước khác và không bao giờ đi xâm lấn bờ cõi của nước khác. Chúng tôi xây dựng quân đội mạnh nhằm bảo vệ hòa bình, để ai có ý đồ xâm chiếm Việt Nam cũng phải tính đến nhân tố này”.
Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam: "Sức mạnh của chúng ta là chính nghĩa, là tinh thần yêu chuộng hoà bình của nhân dân thế giới, và lòng yêu nước, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta". |
| |
"Trong tay Việt Nam không phải là điều lo ngại"
Tuy nhiên, một bài viết trên trang mạng Junshijia cho rằng, tàu ngầm lớp Kilo ở trong tay Việt Nam không phải là điều quá lo ngại. Tác giả bài viết này tin rằng, Hải quân Việt Nam sẽ phải mất từ 1-2 năm cho công tác đào tạo lái tàu ngầm và các hệ thống vũ khí. "Nhưng điều đó không có nghĩa là các thủy thủ sẽ lái tàu ngầm một cách khéo léo, khó có khả năng để chiến đấu tốt trước một đối thủ hùng mạnh. Để vận hành một hạm đội tàu ngầm không phải là điều đơn giản", một ý kiến trong bài viết.
Bởi theo tác giả, các hệ thống và thiết bị trên tàu ngầm thuộc loại cực kỳ phức tạp, cùng với đó là rất nhiều các vấn đề liên quan. Đầu tiên là xây dựng cơ sở hạ tầng cho tàu ngầm, hệ thống bảo vệ cho các tàu ngầm, hệ thống thông tin truyền thông giữa sở chỉ huy mặt đất và tàu ngầm, hệ thống liên lạc giữa tàu ngầm và tàu mặt nước, hệ thống chỉ thị mục tiêu và dẫn đường cho tàu ngầm trên biển, công tác bảo trì, tiếp tế nhiên liệu, vũ khí.
Tuy nhiên, với "Hải quân Việt Nam hiện nay những yếu tố trên gần như bằng không". Ngoài ra, hệ thống bản đồ định vị cho tàu ngầm dưới nước rất khó mua và sử dụng, hệ thống định vị dưới nước này là cơ sở rất quan trọng để đảm bảo an toàn và khả năng chiến đấu cho các tàu ngầm khi hoạt động ở bất kỳ vùng biển nào trên bản đồ định vị.
"Hiện tại Việt Nam gần như không có khả năng trong lĩnh vực này. Hạm đội tàu ngầm này chẳng những không làm tăng khả năng tấn công mà còn dễ bị tổn thương trước các phương tiện chống ngầm của đối phương", tác giả nhắc lại bình luận về khả năng của Hải quân Việt Nam.  | | Dân mạng quân sự Trung Quốc cho rằng, tàu ngầm Kilo ở trong tay Việt Nam không phải là điều quá lo ngại. |
Cũng theo bài viết, nếu tàu ngầm Kilo muốn phát huy năng lực tối đa của các tên lửa chống hạm Club-S, tên lửa cần thiết phải có sự hỗ trợ dẫn hướng chuyển tiếp và chỉ thị mục tiêu từ bên ngoài sau khi rời khỏi mặt nước, cụ thể là các máy bay trực thăng, nếu không có hệ thống dẫn hướng chuyển tiếp và chỉ thị mục tiêu, tên lửa Club-S chỉ có tầm hoạt động tối đa là 30-40km. "Năng lực dẫn hướng chuyển tiếp và chỉ thị mục tiêu cho tên lửa phóng từ tàu ngầm của hải quân Việt Nam gần như không có".
"Hệ thống sonar trang bị trên Kilo do Nga sản xuất không phải là những hệ thống xuất sắc, một khi tàu ngầm Kilo bị mất khả năng chỉ thị mục tiêu và dẫn hướng từ bên ngoài, hoặc sự gián đoạn thông tin liên lạc. Tàu ngầm Kilo rất dễ rơi vào tình trạng “mù mục tiêu” và biến thành mồi ngon cho hệ thống chống ngầm của đối phương. Thậm chí với tình hình như hiện nay, tàu ngầm Kilo còn bị tiêu diệt ngay khi chưa kịp khởi hành", bài viết có đoạn.
Kết thúc bài viết, tác giả này kết luận, 5-6 năm để xây dựng một hạm đội tàu ngầm là có thể. Nhưng việc hình thành khả năng chiến đấu toàn diện là điều rất khó xảy ra trong thời gian tới. TS-LS. Lưu Nguyễn Đạt TÂM THƯ - Kính Gửi Đồng Bào, Đồng Hương Việt Nam Trong và Ngoài Nước;
- Qua Thiện Tâm Tôn Kính của Quý Trưởng Thượng Dân Tộc, Tôn Giáo, Cộng Đồng, Trí Thức, Chuyên Gia, Doanh Nghiệp;
- Qua Công Tâm của các Nhà Tranh Đấu Cho Độc Lập, Quyền Lợi, Tự Do, An Sinh, Hạnh Phúc và Tiến Bộ của Dân Tộc Việt Nam, nhất là Quý Vị trong Lực Lượng Quốc Gia Chân Chính và Thành Phần Ly Khai của Lực Lượng Cộng Sản và Ngoại Vi;
- Qua Kinh Nghiệm Sống và Tri Thức của Toàn Thể Đồng Bào đã chịu đựng mọi thử thách văn hoá, xã hội, lịch sử trong hơn 70 năm qua;
- Qua Tinh Thần Hào Kiệt, Lý Tưởng Anh Minh, Sáng Tạo của Thế Hệ Trẻ Việt Nam Trong và Ngoài Nước;
- Qua sự Công Bình và Công Lý Toàn Cầu của các Tổ Chức và Chính Quyền Quốc Tế Bảo Trọng Nhân Quyền và Vận Mệnh Sinh Tồn của Nhân Loại, Trong đó có Dân Tộc Việt Nam.
XÉT RẰNG: - Nạn ngoại xâm bởi Đế quốc Hán Cộng là một thực trạng lịch sử, gần đây thêm sôi động bởi những hành vi hống hách của bá quyền Bắc Kinh nhằm thôn tính Biển Đông và toàn bộ Khu Đông Nam Á, trong đó có chư hầu ý thức hệ là CSVN;
- Nạn ngoại xâm bởi Đế Quốc Hán Cộng chỉ là hậu quả thanh toán nợ nần quân bị chiến lược giữa những chế độ chuyên trị cướp đất, cướp dân, giữa những tên đầu nậu quốc tế buôn bán súng đạn, ranh giới, đảo rừng, và quyền thế đảng phiệt;
- Nạn Đế quốc Hán Cộng, dù trầm trọng tới mấy, vẫn chỉ là "hiện tượng" hay phản xạ tàn phá ngoài da cơ thể Tổ Quốc Việt Nam. Căn bệnh thật tại nội tạng là CSVN, một thứ ung thư mà Dân Tộc chúng ta cần phải loại trừ bằng đủ mọi cách, vừa điều trị vừa đề phòng.
- Nhà cầm quyền Hà Nội vốn không có chính danh vì nhiều lần cướp đoạt chính quyền bằng bạo lực, lừa lọc, phản bội minh ước đã cam kết và nhất là không hề có chính nghĩa vì luôn luôn chủ mưu bán nước, hại dân bằng mọi thủ đoạn tiêu diệt, tù đày, cướp bóc tàn ác, nên không có tư cách, khả năng và uy tín cần thiết để bảo vệ nền độc lập căn bản cũa dân tộc và sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc;
NAY TRÂN TRỌNG ĐỀ NGHỊ TOÀN DÂN VIỆT NAM - Với 90 triệu người trong và ngoài nước, sau hơn 70 năm bị sát hại, hành hạ, ngược đãi, bị thiệt thòi, tha hoá, lý tán, chậm tiến, suy nhược
- Kết lực đảm nhận trách nhiệm lịch sử Tổng Khởi Nghĩa giải thể chế độ CSVN, lỗi thời, bất tài tham nhũng, bán nước hại dân;
- Và lập tức khai sáng, tạo dựng lại Chính Nghĩa Dân Tộc trên nền tảng Dân chủ Tự do Tiến Bộ thực sự của dân, bởi dân, vì dân, trên căn bản [a] pháp trị hiến định đa nguyên, cân bằng; [b] quản trị quốc gia kết sinh thế lực chính đáng và trách nhiệm công minh; [c] song song với một hệ thống Xã Hội Dân Sự và Đảng Phái chân chính; [d] xuất phát từ một dân tộc có nguồn gốc văn hoá đạo đức, có giáo dục nhân bản, có thực lực, quyền lợi và trách nhiệm trong một xã hội cầu tiến, công bình, ôn hoà.
- Vậy, muốn chống ngoại xâm hãy dẹp tai ương CSVN và xây dựng lại chính danh và chính thống dân tộc:
QUA TRỌNG TRÁCH KHAI TRIỂN VÀ THỰC THI:
I. Nền Pháp trị Hiến định Đa nguyên, Cân bằng
1. Hiến pháp mà Việt Nam cần lựa chọn phải là một hệ thống quy ước thành văn, dưới hình thức luật căn bản của lãnh thổ, xác định rõ thế lực kết sinh của ba thành tố: chính quyền, xã hội, và người dân. [a] Trong khu vực chính quyền, hiến pháp bao gồm những nguyên tắc căn bản thiết lập kiến trúc, thủ tục, quyền hành và trách nhiệm của một chính quyền đa nguyên, đa nhiệm, có trọng trách bảo vệ an ninh xứ sở, phát triển đất nước thịnh vượng, đồng thời bảo trọng quyền lợi, an sinh, phẩm giá của mọi người dân v.v. [b] Trong khu vực xã hội, hiến pháp bao gồm những "nguyên tắc tổ chức" cộng đồng, hiệp hội, đảng phái; định hướng kinh tế tư hữu; giáo dục phổ thông, cấp tiến, nhân bản; tín ngưỡng độc lập v.v. [c] Trong khu vực cá nhân của người dân, hiến pháp phải hạn chế mọi áp lực của chính quyền và xã hội để "bảo đảm và thực thi" những quyền bẩm sinh [1] bất khả xâm phạm, bất khả khước từ của người dân, mà quan trọng nhất, gồm có quyền sinh sống [xứng đáng nhân bản, an ninh, hạnh phúc], quyền tự do [tư tưởng, sáng tạo, ngôn luận, hội họp, tín ngưỡng, thờ phụng, khước từ] quyền tư hữu [vật chất và tinh thân]. Như vậy, với tư cách một khế ước xã hội,[2] Hiến pháp xác định liên hệ thích hợp, thích đáng giữa cá nhân, xã hội và chính quyền. Cá nhân hội nhập xã hội dân sự và xã hội chính trị trên căn bản thuận nhận song phương [3] trong tinh thần hỗ tương, bảo vệ lẫn nhau, với những quyền hành và trách nhiện tương xứng. Luật lệ và trật tự chính trị không có tính cách tự nhiên, bất dịch, và chỉ có tính cách khả chấp, khi có chính nghĩa, khi thuận hoà với ước vọng chung [4] của toàn dân có chủ quyền tối hậu – gây áp lực công dân, thuận hay chống, trong việc thi hành, bổ túc, điều chính, thay đổi, bãi bỏ một khế ước xã hội, một thể chế chính trị.
2. Nguyên tắc cai trị mà theo đó mọi người dân, tổ chức, pháp thể, tư cũng như công, kể cả Chính quyền, Nhà Nước đều phải tôn trọng, thi hành một cách công minh, công bằng là nguyên tắc pháp trị [5], hay thượng tôn luật pháp [không ai đứng trên pháp luật] v.v. phải được suy diễn từ những quy định gốc sẵn có trong hiến pháp. Mọi đạo luật, thủ tục ứng dụng luật pháp, hay cả điều khoản trong hiến pháp nếu soạn thảo "ngoài phạm vi"[6] hay ngược lại một trong ba khu vực quyền hành và trách nhiệm quy định trong hiến pháp đều coi là vi hiến và vô hiệu.
3. Trong trường hợp đặc biệt cần bổ túc, cập nhật, điều chỉnh, sửa sai, hiến pháp có thể được tu chính, hoặc thay đổi toàn diện, bằng những thủ tục trọng thể, kỹ lưỡng. Hiến Pháp mới cần đem trưng cầu dân ý hay được soạn thảo bởi một quốc hội lập hiến, do dân cử.
II. Quản trị quốc gia trên bình diện kết sinh thế lực chính đáng và trách nhiệm công minh
1. Quyền hành quản trị đất nước không nên tập trung trong tay một cá nhân hay kiêm nhiệm bởi một đảng phiệt chuyên chính, mà cần phân công phân nhiệm tới thành phần dân cử, công chức, chuyên viên, cán sự đa nguyên, đa dạng.
2. Dù là đại nghị hay tổng thống chế, căn bản vẫn là nhà cầm quyền phải được dân bầu từ gốc. Riêng, với thể chế tổng thống, chính phủ trung ương, ở cấp lãnh đạo hay chuyên ngành, phải được dân lựa chọn theo quyền đầu phiếu mở rộng và thủ tục bầu cử minh bạch. Chính quyền trung ương thường được phân nhiệm thành ba ngành chuyên biệt: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong tương lai, tại Việt Nam, có nên thêm ngành giám sát/công tố để phanh phui và truy tố cấp thời mọi vi phạm, lạm quyền, sai quấy, tham nhũng trong chính quyền và các khu vực giáo dục, quản trị, doanh nghiệp, vụ lợi hay bất vụ lợi? Trên căn bản phân ngành độc lập, với quyền hạn và trách nhiệm đặc định, chuyên biệt, tuy liên kết phục vụ quyền lợi chung của đất nước, dân tộc, nhưng vẫn ở thế liên kiểm, nên chính phủ có cơ đồ duy trì mức độ cai trị quân bình, không lạm quyền, không độc đoán, không suy thoái tập thể.
3. Thành phần công chức [7] hay công vụ [8], muốn hội nhập công minh guồng máy quản trị đất nước, phải được tuyển chọn và tiến cử trên căn bản chuyên cần, tài đức [9] — hơn là do bè phái hay màu cờ sắc áo đảng phiệt [10] — để một mặt tăng trưởng hiệu lực công vụ, mặt khác, giảm thiểu nạn độc tải, lạm quyền, tham nhũng.
4. Thành phần công chức, đang thi hành công vụ, không được "làm chính trị", để giữ thái độ trung kiên phục vụ người dân, mà không bị áp lực đảng phái chi phối. Muốn ứng cử, tham gia phụ giúp bầu cử, người công chức phải tạm ngưng công vụ trong chính quyền hay nhiệm sở, để tránh tình trạng xung đột quyền lợi công vụ và chính trị.[11]
5. Công chức, giáo chức, chuyên viên, cán sự, thuộc thành phần chuyên cần, trọng yếu trong guồng máy hành chính, giáo dục, quản trị, công cũng như tư, cần phải được đối đãi, tiến thưởng xứng đáng với nghiệp vụ giao phó. Như thế sẽ giảm thiểu quốc nạn tham nhũng, làm ăn bất hợp pháp, chạy chọt, phí phạm tài sản và nhân lực.
III. Tổ chức Xã Hội Dân Sự: Nẩy Mầm Dân Chủ từ Hạ tầng Cơ sở
Trong hệ thống dân chủ chân chính nhằm bảo vệ và phát huy quyền lợi chung của toàn dân, Việt Nam cần thực thi nhiệm vụ xã hội dân sự đặt trọng tâm trên quan hệ hỗ tương, hỗ trợ để thực hiện lợi ích chung, hữu hiệu, mở rộng.
Thế nào là Xã Hội Dân Sự [XHDS]?
Xã Hội Dân Sự [XHDS][12] tự nguyện đoàn ngũ hoá dưới hình thức các tổ chức bất vụ lợi,[13] độc lập, hoặc tổ chức phi chính phủ,[14] để hoạt động trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế, từ thiện, giáo dục, tôn giáo, nghề nghiệp, điều nghiên, văn học, nghệ thuật, các phong trào dân vận bảo trọng nhân quyền v.v. Sinh hoạt hợp pháp của tổ chức XHDS cũng cho phép lượng giá hệ thống pháp trị hiện hữu là dân chủ cởi mở nếu tôn trọng hoạt động chính thống và hợp hiến của XHDS, còn không sẽ phải coi là chuyên chế, phản dân chủ, bất hợp hiến, khi cấm đoán, kiềm chế các tổ chức tập thể này. XHDS phải được minh thị tôn trọng như một nhu cầu chính đáng của dân, do dân, vì dân. Mọi hình thức tổ chức XHDS khác, "phản dân sự", đều có tính cách trá hình, lươn lẹo, vừa phản động ngược chiều, vừa vô hiệu, phí phạm nhân lực, tài lực, vì không gây được hào khí chí nguyện độc lập, tự kiểm, tự duy. 1. Khu vực XHDS khác với khu vực cá nhân, gia đình, nhóm phiệt khi những thành phần này hành động vì quyền lợi, mục tiêu riêng rẽ của cá nhân, gia đình, bè nhóm, nhằm bảo vệ lợi ích thu hẹp của họ. Trái lại, các tổ chức thuộc lĩnh vực XHDS hoạt động theo tiêu chuẩn "tập thể mở rộng" như thành lập hội văn học, hiệp hội từ thiện, cơ sở bảo vệ nhân quyền. Kể từ những năm 1990, với sự hình thành của các Phong Trào Tân Xã Hội, [15] sinh hoạt XHDS đã đột phát mạnh để trở thành khối thế lực quản trị thứ ba [16], giữa chính phủ và doanh nghiệp tư bản [kinh tế thị trường], nhằm thực thi chiến lược xây dựng trật tự xã hội toàn cầu, trong một không gian nhân bản không ranh giới. Sinh hoạt chính của XHDS đã chuyển hướng, đặt trọng tâm vào các chương trình kết sinh thuần xây dựng của XHDS. Mức độ tranh đấu chính trị còn lại nay tụ tập thành Xã Hội Chính Trị, [17] gần gũi với các tổ chức tranh đấu về ý thức hệ, chống đối các tai ương cai trị chuyên chế, các bạo hành công lực, công quyền. Nhưng tại các quốc gia mà mực độ tự do công dân còn quá thấp, với cơ cấu công quyền chuyên chế còn lấn át quá mạnh, thì khía cạnh chính trị khó có thể tách ra khỏi mục tiêu sinh hoạt của các tổ chức XHDS: [a] vừa giúp đỡ xây dựng xã hội thiếu thốn về mặt vật chất, kinh tế, giáo dục, [b] vừa bênh vực xã hội lâm nạn, bị ngược đãi tinh thần, mất tự do, mất phẩm giá con người, bị chuất quyền công dân, chuất quyền sở hữu.
2. Khu vực XHDS khác với khu vực vụ tư lợi kinh tế thị trường.[18] Trong khi các doanh nhân, các pháp nhân sĩ nghiệp, công ty thương mại đều sinh hoạt mong lấy lời vì đầu tư sáng kiến, vốn liếng, máy móc, tổng hợp thành "vốn tư bản",[19] thì các hiệp hội từ thiện, hiệp đoàn, các tổ chức khuyến học, bảo tồn văn hoá, bảo vệ nhân quyền v.v. lại là những pháp nhân thiện nguyện, bất vụ lợi, sinh hoạt với mục đích cung cấp ích lợi chung theo nhu cầu hơn là theo khả năng. Căn bản trao đổi của XHDS không tùy thuộc vào yếu tố cung cầu trên thị trường mà căn cứ vào thực trạng ưu tiên, mức độ khẩn cấp của nạn nhân, của kẻ thất thế, cũng như căn cứ vào nhu cầu tinh thần của lý tưởng và phẩm giá con người, của giá trị tư tưởng. Vốn liếng của XHDS là "vốn xã hội", [20] hay "vốn công dân thiện chí" là những đóng góp tự nguyện về nhân lực và kiến thức của người dân . Mọi sinh hoạt bất vụ lợi cũng cần phương tiện cụ thể, tiền bạc, cơ sở sinh hoạt. Nhưng chỉ khác là những hạ tầng cơ sở tài lực và điều hành đó không làm lợi cho thành viên các tổ chức hiệp hội, mà phải được phân minh, để riêng thành các chương mục phục vụ tập thể cần cung phụng, theo tiêu chuẩn của nội quy của hiệp hội và đường hướng chung của XHDS. Có ngân quỹ mới có dịch vụ cộng đồng, mới có các dự án bảo vệ nhân phẩm, bình quyền, đa dạng trong nghề nghiệp, giúp đỡ từ thiền, cải tiến môi sinh, bảo vệ môi trường. Có tài chính mới có dự án nghiên cứu y tế công cộng, mới thực hiện được những chương trình sáng tạo văn nghệ, phát huy giáo dục v.v. Nhưng mọi thủ tục tài chính, thu và chi phải được thực hiện theo đúng thủ tục minh bạch, đúng tiêu chuẩn công bằng, không lạm quyền tư lợi, không a tòng tham nhũng.
3. Khu vực XHDS khác với khu vực công quyền [chính quyền, chính phủ, nhà nước],[21] vì XHDS tự nguyện xây dựng căn bản công dân quyền trên các trụ lực hiến định như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do sáng tạo, tự do phê phán công quyền v.v. Rõ rệt, XHDS giữ thế đứng hiến định của cộng đồng, xã hội, trong việc xây dựng & bảo trì nền tảng dân chủ. Ngày hôm nay, những ai có lương tri và lương tâm đều công nhận rằng XHDS, với "Vốn Xã Hội" và đặc tính văn hoá tân xã hội, đã [a] một mặt tạo dựng sức mạnh liên đới phát huy và bảo trọng nền dân chủ chân chính, [b] mặt khác tiếp tục tìm phương thức giảm thiểu xung đột, va chạm, và các mâu thuẫn, đối kháng trong xã hội. Cái ưu điểm của XHDS là tính cách năng động của các tổ chức dân sự tự nguyện trong việc ảnh hưởng, định hướng chính sách đối nội vá đối ngoại; thay đổi, phát huy đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá giáo dục; tăng cường mức độ an ninh trong nước và ngoài nước. Đó là sự nẩy mầm dân chủ từ hạ tầng cơ sở, từ ý dân, sáng kiến, yêu sách, đòi hỏi, khuyến cáo của dân lên tới thượng tầng cơ sở của hệ thống chính quyền [Nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp] có trách nhiệm đối với dân, đối với đất nước.
4. Trái lại, tại các chế độ cộng sản, kể cả cái gọi là "nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [NCHXHCNVN], đã nhập nhằng bày đặt một số tổ chức tập đoàn, cũng dâng cao danh nghĩa dân chủ trá hình. Đó là hiện tượng quái dị của các "tập đoàn dân sự" [sic] lấy tên là "Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam" [MTTQVN] từ cấp thành phố, tỉnh, tới cấp huyện, và các "Câu Lạc Bộ" đủ thứ [CLB, liên minh, liên kết với MTTQVN], đều được thành lập bởi đảng viên cộng sản hoặc chuẩn-đảng-viên-khăn-quàng-đỏ. Tốt nhất, nên gạt bỏ thuật ngữ Xã Hội Dân Sự [XHDS] đối với các "hội ma" này tại Việt Nam ngày nay, mà nên đặt các tổ chức đó vào thực trạng của nó, mà người viết mạn phép tạo một thuật ngữ mới là "Xã Hội Đảng Sự" [XHĐS], có thể dịch ra tiếng Anh-Mỹ là "Nomenklatura Society" [NS], với những quyền lợi riêng rẽ, ưu đãi, bất hợp pháp không khác mấy các "Xã Hội Đen", hoặc "Xã Hội Mafia-Đỏ".
IV. Tiêu Chuẩn Tổ Chức Đảng Phái Chính trị trong Thể Chế Dân Chủ Tự Do
Tuy hiện tượng đảng phái chính trị đã có từ lâu, nhưng hệ thống pháp chế của đảng phái mới được xác định gần đây.[22] Tiêu chuẩn tổ chức đảng phái chính trị đề cập ở đây chỉ có tính cách điển hình, căn cứ vào các nguyên tắc khả chấp của các thể chế dân chủ tự do trên thế giới.
Vậy đảng phái chính trị trong hệ thống dân chủ tự do có thể định nghĩa là [a] sự hội họp tự do của các công dân [b] nhằm tham dự vào guồng máy chính quyền [c] bằng cách đề cử ứng cử viên và [d] tham dự các cuộc tranh cử tự do liên hệ. Một cách rộng rãi hơn, đảng phái chính trị là địa bàn tập thể [a] thực hiện những quyền hạn căn bản, hiến định, bất khả khước từ của người dân, [b] là nhịp cầu liên kết thế lực giữa các ngành và các tổ chức trong chính quyền, và [c] khả năng chính đáng gây áp lực chính quyền với tư cách đảng đối lập trong một nền dân chủ đa nguyên nguyên, đa đảng.
Như vậy đảng phái chính trị được thành lập với những nguyên tắc và quyền hạn sau đây:
1. Quyền cá nhân kết hợp, hội họp một cách tự do, thuận hành, không bị cưỡng ép. Đảng phái chính trị cũng phải được tự do thành lập, không bị trở ngại, quấy rầy, không bị cấm đoán. Quyền hội họp còn có liên hệ phụ thuộc với quyền tự do ngôn luận, với tư cách cá nhân hay tập thể. Khi đảng phái chính trị được bảo vệ, thì tiếng nói của đảng, của thành viên đảng cũng phải được bảo vệ, không bị cấm đoán, hay hạn chế. Vì mục đích của đảng phái chính trị là chuẩn bị cho thành viên tranh cử, nên quyền ứng cử và bầu cử của thành viên đảng cũng phải được bảo vệ tương xứng, không bị cấm đoán, hay hạn chế.
2. Chính quyền có bổn phận ban hành luật pháp và các thủ tục pháp định bảo vệ người dân thi hành quyền tự do hội họp, lập đảng và những quyền liên hệ phụ thuộc của họ, bằng cách cấm đoán, giải trừ mọi trở ngại can thiệp, sách nhiễu của lực lượng công quyền hay các đảng phái đối nghịch, trên căn bản bảo toàn mọi sinh hoạt hợp pháp của người dân.
3. Về mặt pháp lý, mọi hình thức hạn chế quyền hội họp và những quyền liên hệ phụ thuộc của người dân đòi hội nhập hay thành lập đảng phái chính trị phải được minh định rõ ràng trong hiến pháp hay bằng luật pháp hiện hành, với lý do chính đáng, không thiên vị, căn cứ vào nhu cầu bảo vệ nền dân chủ tự do.
4. Mọi sự hạn chế quyền hội họp phải hội đủ tính cách cân xứng với sự phương hại đích thực cho nền dân chủ tự do.
5. Chính quyền không được cấm đoán cá nhân hay đảng phái hội họp trên căn bản kỳ thị sắc tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, tư tưởng, giai cấp xã hội, tư bản, khuynh hướng luyến ái v.v.
6. Cá nhân hay tập thể phải được quyền gia nhập hay thành lập đảng phái chính trị một cách công bình trước pháp luật, không bị kỳ thị, không được biệt đãi. Những trường hợp tạm thời nâng đỡ các thành phần thiểu số bị thiệt thòi trong quá khứ phải được coi là cần thiết, nên không có tính cách biệt đãi bất công.
7. Tính cách Chính trị Đa nguyên phải được coi là cần thiết cho môi trường sinh hoạt dân chủ tự do chân chính. Chính trị đa nguyên là phương thức cung cấp cho người dân nhiều cơ hội so sánh để lựa chọn đúng đảng và đúng người chấp chính theo ý muốn của họ.
8. Đảng phái chính trị khi tham chính, dù trong ngành lập pháp, hành pháp hay tư pháp, đều phải xác định lập trường trung trực, không thiên vị, thượng tôn luật pháp, bảo trọng công lý, quyền lợi chung của dân tộc, của đất nước, đặt trên quyền lợi và cương lĩnh của đảng phái.
9. Đảng phái chính trị trong chế độ dân chủ tự do [a] không được sử dụng bạo lực như phương tiện chính trị, [b] không được xúi giục bạo động, cũng như [c] không được phá quấy, cản trở quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, phát biểu chính trị của đảng phái đối lập. Quyền biểu tình chống đối không lấn quá mức đến độ cản trở, triệt hại quyền hội họp, phát biểu của đối phương. Sử dụng quyền chính trị phải có tính cách song phương, tương xứng, chứ không thể độc đoán, một chiều. Đảng phái chính trị ôn hoà cũng phải được đối xử tương xứng và được chính quyền bảo vệ khi có trường hợp vi phạm, sai quấy bởi đối phương.
10. Đảng phái chính trị khi vi phạm luật pháp hay lạm quyền đảng vụ phải được dành quyền bào chữa, sửa sai, đền bù theo đúng thủ tục luật pháp quy định.
11. Đảng phái chính trị cũng phải kê khai tình trạng tài chính liên quan tới sinh hoạt đảng vụ, tuyên huấn, tranh cử, trong quyền hạn và trách nhiệm pháp định.
V. TẠM KẾT: Nguồn Gốc Dân Tộc
Tất cả những "thế lực" trên chỉ vẹn toàn sứ mạng hay thực thị đầy đủ quyền hành và trách nhiệm nếu bắt nguồn từ một mội trường vững chắc, bắt nguồn từ một Dân tự tạo, tự duy trên ba trọng lực: [1] văn hoá đạo đức nhân bản, [2] giáo dục cấp tiến chân chính, [3] ý thức công dân và trách nhiệm nhân loại.
1. Về mặt văn hoá và đạo đức nhân bản
Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Đó là cũng là những mẫu mực mà con người mong muốn, hay thừa nhận trong môi trường sinh sống. Trong khi người dân dưới trướng xã hội chủ nghĩa có khuynh hướng chạy theo những mẫu mực giả tạo, thần thánh hoá, những bả vinh quang bịp bợm, những giá trị vật chất, lợi lộc tức thời, ngắn hạn, phù phiềm, thì đã tới lúc cả dân tộc phải tỉnh táo nhớ rằng văn hoá và truyền thống của người xưa để lại trong gia đình, làng ấp chúng ta còn gồm những chân lý hay tri thức về cái thật và cái đúng trong cách cư xử bao dung cuả con người Việt Nam tử tế. Đã tới lúc chúng ta về lại với bản thể xã hội nhân bản, với cơ cấu gia đình và con người có tâm thức, có đạo đức. Đã tới lúc chúng ta cần nghe ngóng kinh nghiệm máu mủ của các thế hệ trưởng thượng, những tri thức thiết thực, những nhắn nhủ giáo huấn xuất phát từ mẫu mực và tình thương gia đình. Nhần từ, nhân ái bắt nguồn từ đó. Từ những chân lý sâu sắc, ôn hoà. Trong khi văn hoá duy vật theo xã hội chủ nghĩa và lý thuyết cộng sản đặt trọng tâm vào các mô hình mâu thuẫn xã hội, cốt để duy trì sự thống trị của nhóm người này đối với nhóm người khác, qua những đợt thù hằn đấu tranh giai cấp, thì đã tới lúc chúng ta xoá bỏ những chia rẽ văn hóa, những bất công nhóm phiệt, những giá trị tạm bợ, màu cờ sắc áo, để tiến tới một mô hình văn hóa hợp nhất cho mọi công dân trong nước, căn cứ vào những mẫu số chung, những quyền lời và trách nhiệm đối xứng, trong cách chia sẻ, đối đãi công bình, ôn hoà, lương thiện, không mánh mung, không tham lam, không lừa lọc vị kỷ. Xã hội Việt Nam của 90 triệu dân không thể mãi mãi là một xã hội vô sản, bị tước đoạt mọi quyền sở hữu, bị lợi dụng, lường gát một cách tập thể và trường kỳ. Và chắc cũng không ai muốn sống trong một xã hội tài phiệt giả tạo gồm một thiểu số đại gia bá đạo, sống trong lâu đài, vàng bạc phung phí trong khi toàn dân sống cảnh điêu tan, cực khổ. Cái xã hội mà 90 triệu dân muốn có là một xã hội dân chủ tự do, công bằng, bình sản, đạo đức, thượng tôn luật pháp, mà con người có phẩm giá của con người.
2. Về mặt giáo dục cấp tiến chân chính
Giáo dục là đầu tư nhân sự, mà xã hội Việt Nam trước đây đã khơi mào góp tay từ truyền thống giáo huấn gia đình, từ những căn dặn chất phát, căn bản: "tiên học lễ , hậu học văn" — trước hết là học phép tắc, lễ nghĩa, học làm người tử tế, sau đó mới học chữ, trau dồi kiến thức. Đó là khởi đầu của nền giáo dục chân chính, với một chương chình học vân có căn bản: học thật, giáo huấn tử tế, văn bằng thật, kiền thức thật. Giao dực cấp tiến còn là cách hội nhập cái tinh thông, tân tiến, tinh tế hầu cập nhật với tiến bộ loài người, trên căn bản kỹ thuật tinh vi và kiến thức mở rộng, toàn diện, toàn năng. Nhưng thông thái không có nghĩa là mưu mô xảo quyệt, biết đủ mọi cách để lừa lọc, phát minh tai hoạ. Và cầu tiến không có nghĩa là phải ăn trên ngồi trốc, vượt bỏ thiên hạ, là tự cao tự đắc. Ngược lại tri thức và tiến bộ đích thực phải biết đo lường và vượt thắng ngay chính bản thân, để lúc nào cũng có thể học hỏi thêm, cập nhật và hài hoà với mình, với tha nhân, và môi trường sinh sống. Giáo dục chân chính giúp chúng ta đi hết con đường của đạo làm người tử tế, trung hậu, tự duy, tự kiểm. Nó cũng là mẫu mực thực thi quyền hành và trách nhiệm làm một công dân tốt, đầy đủ tư cách.
3. Về ý thức công dân và trách nhiệm nhân loại
Khi dân tộc Việt Nam chúng ta đã tái nhập một nền văn hoá có đạo đức của con người tử tế, công bằng, hài hoà; khi đa số con em chúng ta đã hấp thụ một nền giáo dục cấp tiến chân chính nhân bản thì chỉ cần thêm một bước nữa, chúng ta đã trở thành những công dân tự giác, tự tạo, tự giúp để lấy cái vốn xã hội làm trung gian vững vàng giữa những thế lực hiến định đôi khi chống đối nhau, trong những khó khăn giai đoạn. Ý thức công dân ngày hôm nay cũng có lúc biết vượt ra khỏi ranh giới của đất nước mình đệ chăm sóc, hỗ trợ, tranh đấu quyền lợi cho những dân tộc khác, cho cả nhân loại không kỳ thị nguồn gốc, sắc tộc, tôn giáo, văn hoá, văn minh. Vậy, tới giờ phút này, nếu dân tộc chúng ta chưa đứng dậy tự vệ, đòi lại quyền sống và phẩm giá cao quý của chính mình thì còn quy trách ai bây giờ? Mẹ Việt Nam vẫn bỏ bê lấy chính mình, vẫn để một lũ con gây tội ác mà không hề áy náy, bực tức. Mẹ Việt Nam hằng ngày vẫn thấy gần 90 triệu con mình bị đày đoạ, cướp bóc, hủy hoại từ thân thể tới tinh thần, mà vẫn vô cảm, không biết đứng dậy chống đỡ, bảo vệ. Giờ quy trách không còn nữa. Phải sòng phẳng, phân minh với chính mình. Tất cả chúng ta hãy nhận trách nhiệm làm người Việt Nam tử tế, không sống chung với kẻ bất nhân, phạm tội, nhưng sẵn sàng đón tiếp họ, nếu họ tự thú, tự giải, thật lòng quay về với Chính Nghĩa Dân Tộc.
Dẹp xong tai ương CSVN trong nước, Toàn Dân có đủ quyền tự quyết mới vững mạnh, mới đủ tự tin và tâm thức Đại Đoàn Kết để ra tay đánh đuổi kẻ thù ngoại xâm.
Trân trọng và Tâm nguyện, TS-LS. LƯU NGUYỄN ĐẠT
Ba cha con lưu trữ tài liệu chống phá Nhà nướcThứ Ba, 08/11/2011 18:00 (NLĐO) - Ngày 8-11, tại nhà bà Huỳnh Thị Hường (xã Tam Phú, TP Tam Kỳ), đoàn thanh tra Sở Thông tin và Truyền thông Quảng Nam đã phát hiện ba cha con ông Huỳnh Ngọc Tuấn (SN 1965), Huỳnh Thục Vy (SN 1985) và Huỳnh Trọng Hiếu (SN 1989) lưu trữ 5 quyển vở có các bài viết chống phá Nhà nước.Huỳnh Ngọc Tuấn vẫn thản nhiên khi đoàn kiểm tra phát hiện ba cha con ông ta lưu trữ nhiều tài liệu chống phá Nhà nước Các bài viết này là của Tuấn, Vy và Hiếu, có nội dung tương tự những bài mà họ đã tung lên internet. Ngoài ra, đoàn thanh tra còn phát hiện các phương tiện phục cho việc soạn thảo, phát tán bài viết gồm 1 bộ máy vi tính, 1 máy in và 1 USB. Năm 1992, Huỳnh Ngọc Tuấn đã bị bắt về hành vi chống phá Nhà nước và bị phạt tù 10 năm. Đến năm 2002, Tuấn ra tù và tiếp tục thực hiện hành vi chống phá Nhà nước.
Đoàn thanh đã lập biên bản và tạm niêm phong chứng cứ để tiếp tục điều tra làm rõ hành vi chống phá Nhà nước của 3 bố con Tuấn.
|
|