Hai lao động người Việt chết và mất tích tại Malaysia Cập nhật lúc 31/10/2011 08:02:20 AM (GMT+7) Hai gia đình tại huyện Đăkrông, Quảng Trị vừa nhận tin dữ, con trai họ đi lao động xuất khẩu sang Malaysia, một người chết, một người mất tích. Người chết là anh Hồ Văn Văn (21 tuổi, trú tại thôn Ruộng, xã Hướng Hiệp). Gia đình anh Hồ Văn Văn cùng chính quyền địa phương đã trực tiếp gặp Công ty CP Cung ứng Nhân lực và Thương mại Vietcom Human (trụ sở quận Ba Đình, Hà Nội) - đơn vị đưa Văn đi xuất khẩu lao động - để xin nhận lại thi thể. Theo ông Phạm Hoài Minh - Phó Tổng Giám đốc công ty này, anh Văn được công ty đưa đi làm việc tại Malaysia từ ngày 28.7.2010, tại Nhà máy Điện tử JCY HDD ở bang Johor. Tuy nhiên, vào tháng 8.2011, anh Văn đã bỏ trốn khỏi nhà máy và ra ngoài làm việc. Đến tháng 10.2011, anh Văn được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Kualar Lumpur với nguyên nhân anh đã tự đâm dao vào bụng. Đến ngày 23.10.2010, anh Văn lại dùng tấm vải nệm trong bệnh viện để làm dây thắt cổ và qua đời. Gia đình anh Văn thuộc diện hộ nghèo. Do mẹ mất sớm, anh Văn phải bỏ học sớm để lao động phụ giúp gia đình. Gia đình anh Văn vay ngân hàng 23 triệu đồng làm lệ phí để anh xuất khẩu lao động. Theo người nhà anh Phan Văn Thế (21 tuổi, ở thôn Laoang Hạ, xã Ba Lòng), anh Thế sang Malaysia từ tháng 6.2011, đơn vị trực tiếp đưa đi cũng là Vietcom Human. Đi cùng đợt với anh Thế còn có 9 người nữa (cùng trú tại địa phương), trong đó có cô họ là Phan Thị Hương. Cách đây 20 ngày, chị Hương điện thoại về nhà cho biết, anh Thế hiện đang làm trong một nhà hàng. Đến cuối tháng 9, chị Hương lại nhận được thông tin là anh Phan Văn Thế đã bỏ đi khỏi nhà hàng. Vài hôm sau, Hương lại điện thoại về nói rằng, vừa nghe tin Thế bị rơi từ nhà cao tầng. Đến nay, tung tích về anh Phan Văn Thế vẫn chưa được làm rõ. (Theo Dân Việt)
Việt Nam: Hơn 11.000 người chết vì TNGT mỗi năm Thứ Hai, 31.10.2011 | 15:19 (GMT + 7) Theo thống kê của Ủy ban ATGT Quốc gia, tại Việt Nam trung bình mỗi năm toàn quốc xảy ra hơn 14.400 vụ TNGT, làm chết hơn 11.400 người và hơn 10.600 người bị thương. ATGT hiện đang là vấn đề không chỉ Việt Nam và Hà Nội đặc biệt quan tâm mà đã trở thành vấn đề toàn cầu. Hà Nội, 11 năm có hơn 6000 người chết vì TNGT | | Một vụ tai nạn thảm khốc tại Hà Nội. (ảnh: Đạt Lê). |
Theo báo cáo hiện trạng an toàn giao thông (ATGT) đường bộ toàn cầu của WHO, hàng năm có khoảng 1,3 triệu người chết và từ 20 – 50 triệu người bị thương do TNGT đường bộ. Tai nạn giao thông (TNGT) đã để lại gánh nặng cho nhiều gia đình và xã hội. Tại Hà Nội, tính từ năm 2000 đến hết tháng 8.2011 xảy ra 15.818 vụ TNGT làm 6.635 người chết và gần 13.000 người bị thương. Trong buổi hội thảo về quy hoạch đô thị và ATGT vừa qua, đại diện Văn phòng Ban ATGT (Sở GTVT TP. Hà Nội), ông Nguyễn Minh Trực cho rằng: Một trong những nguyên nhân gây TNGT và ùn tắc là do ý thức chấp hành luật giao thông của người dân vẫn chưa cao; Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải còn nhiều bất cập và yếu kém, thiếu một mạng lưới khung hoàn chỉnh về hạ tầng giao thông vận tải. Trong hơn 20 năm qua, chính sách mở cửa đã thúc đẩy phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ đã khiến nhu cầu vận tải hành khách và hàng hóa tăng nhanh. Trung bình vận tải hàng năm vận tải hành khách tăng 12%, vận tải hàng hóa tăng 9%, tốc độ tăng trưởng vận tải cao đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình ATGT, tăng nhanh về số lượng xe cá nhân. Theo báo cáo của Phòng CSGT TP. Hà Nội, hiện nay hệ thống hạ tầng giao thông không được phát triển trên cơ sở quy hoạch tổng thế thống nhất nên còn lạc hậu, thiếu đồng bộ và chưa tương xứng với tốc độ phát triển của phương tiện và tốc độ đô thị hóa của thành phố. Phần lớn các tuyến đường có mặt đường nhỏ, hẹp (80% có mặt cắt dưới 11m) được tổ chức giao thông hỗn hợp, nhiều điểm giao cắt đồng mức. Về công tác quy hoạch còn nhiều bất hợp lý: hàng loạt nhà cao tầng được xây dựng bám sát các đường phố nhỏ hẹp; các khu đô thị, khu dân cư được triển khai nhiều song lại thiếu những cơ sở dịch vụ thiết yếu như chợ, trường học… đã làm tăng tần suất hoạc động của các phương tiện giao thông. Một vấn đề đáng quan tâm nữa là hiện nay số lượng phương tiện cá nhân liên tục tăng nhanh. Hiện toàn thành phố có khoảng 368.000 xe ô tô và 3,7 triệu xe mô tô – xe máy… Giảm TNGT, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp 
| TNGT vẫn là nỗi ám ảnh của người dân. (ảnh Đạt Lê). |
Nhằm kiềm chế và tiến tới giảm thiểu TNGT, ùn tắc giao thông, Thạc sĩ Huỳnh Tấn Nam, đại diện phòng CSGT Hà Nội cho biết: Đây không phải là vấn đề một sớm một chiều mà cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, có lộ trình. Quan trọng nhất và cũng không thể thiếu được đó là ý thức chấp hành của người tham gia giao thông, sự đồng thuận, ủng hộ của họ đối với các giải pháp, đề xuất có tính khoa học và thực tiễn để giải quyết ùn tắc, giảm thiểu TNGT. Qua công tác điều tra cơ bản, Phòng CSGT xác định những tuyến đường thường xuyên có nguy cơ ùn tắc giao thông theo các khung thời gian để bố trí lực lượng một cách phù hợp; kết hợp chặt chẽ giữa chỉ huy điều khiển giao thông bằng hiệu lệnh của CSGT với hệ thống đèn tín hiệu giao thông, các nút bị sư cố hoặc không phù hợp sẽ được thu hồi sửa chữa trong thời gian sớm nhất. Đồng thời, sẽ tăng cường hoạt động tuần tra kiểm soát, xử lý các nhóm vi phạm thường dẫn đến tai nạn như chạy quá tốc độ, sai làn đường, xe chở quá tải, quá người quy định; xử lý các nhóm xe chở hàng cồng kềnh, dừng đỗ sai quy định, vượt đèn đỏ; đồng thời thường xuyên rà soát các điểm đen về TNGT để tăng cường tuần tra, xử lý, phòng ngừa tai nạn. “Hà Nội sớm quy hoạch giảm dần đối với một số loại phương tiện theo khu vực, phê duyệt đề án quy hoạch điểm đỗ, bãi đỗ, đồng thời tổ chức phân tách làn phương tiện trên các tuyến đường, thu phí lưu hành vào khu vực nội địa…”. – Ông Nam kiến nghị. Đại diện Văn phòng Ban ATGT (Sở GTVT Hà Nội), ông Nguyễn Minh Trực cũng cho biết, Sở GTVT chủ trì phối hợp với các UBND các quận, huyện, thị xã tuyên truyền Luật giao thông đường bộ cho người dân và vận động thực hiện tốt luật giao thông. “Cần xây dựng chính sách ưu tiên phát triển các loại hình vận tải hành khách công cộng như xe buýt, xe điện… theo một lộ trình thích hợp; mở rộng mạng lưới vận tải hành khách công cộng đến các khu đô thị mới để hạn chế sử dụng xe cá nhân. Cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp một lúc thì mới hi vọng giảm thiểu được ùn tắc và giải quyết vấn nạn ATGT như hiện nay”. – Ông Trực nói. Nạn vô cảm ở Việt Nam Câu chuyện liên quan đến cái chết của bé Duyệt Duyệt (Yue Yue) ở Trung Quốc được truyền bá khá rộng ở Việt Nam. Đó cũng là một điều hay: Nó khiến nhiều người giật mình nhìn lại chính mình. Trung Quốc thì thế; còn Việt Nam thì sao?
Câu trả lời hình như không lấy gì đáng vui cho lắm: Ở Việt Nam, căn bệnh vô cảm cũng tràn lan khắp nơi. Chỉ liếc sơ qua vài bài báo về sự vô cảm ở Việt Nam vào cuối tháng 10 vừa qua, chúng ta cũng thấy có vô số ví dụ. Cũng tai nạn giao thông và người bị thương ngay giữa đường và cũng hàng chục hay hàng trăm người đứng nhìn, không ai ra tay cứu giúp cả. Cách đây hai năm, ở Thủ Đức có một thanh niên bị xe tải tông, cán nát nửa người. Anh kêu cứu, nhờ những người chung quanh gọi điện thoại báo tin giùm cho gia đình. Không ai có phản ứng gì cả. Sau đó, anh chết. Mới đây, vào ngày 7 tháng 10, một chiếc “xe điên” do một bác sĩ lái tông hết người này đến người khác, khiến 2 người chết và 17 người khác bị thương. Nhiều người không những không cứu mà còn xông vào hôi của, cướp ví tiền và nữ trang của các nạn nhân. Có nạn nhân bị chết nhưng mãi đến ba ngày sau gia đình mới biết. Lý do: toàn bộ túi xách gồm tiền bạc và giấy tờ tùy thân của chị đã bị cướp mất nên bệnh viện không thể biết chị là ai và ở đâu để liên lạc với gia đình. Báo chí gọi đó là những “kẻ hôi của máu lạnh”.
Đó là chuyện ở Sài Gòn. Ở Hà Nội cũng thế. Ngày 23 tháng 7, hai cha con anh Nguyễn Công Vinh bị bọn cướp móc ví tiền và đánh đập ngay ở trạm xe buýt. Cả hàng trăm người chung quanh đứng nhìn. Chỉ đứng nhìn. Không ai có phản ứng gì cả. Báo chí gọi đó là thái độ “sống chết mặc bay”.
Thái độ “sống chết mặc bay” và “máu lạnh” như thế cũng xuất hiện nhan nhản trong các bệnh viện, nơi bác sĩ và y tá, theo truyền thống, vẫn thường được ví như “từ mẫu”. Các “từ mẫu” hiện nay thì theo một nguyên tắc rất đơn giản: Trả tiền trước, chữa bệnh sau. Mà tiền trả thì qua nhiều chặng lắm. Muốn khám bệnh? – Trả tiền! Muốn có giường nằm trong bệnh viện? – Trả tiền! Muốn thay ra giường mỗi ngày? Trả tiền! Muốn chích thuốc? – Trả tiền! Mấy tháng vừa qua, ở Cà Mau, dân chúng phẫn nộ về việc cô Dương Thị Thu Huyền (16 tuổi) bị thương nằm bất tỉnh ngoài đường và được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Câu đầu tiên bác sĩ hỏi là: Có tiền không? Những người chở Huyền vào bệnh viện đều không có tiền. Mãi đến khi thân nhân của Huyền biết tin, chạy đến bệnh viện, làm giấy tờ cam kết trả tiền xong, các bác sĩ mới bắt đầu ngó đến bệnh nhân. Tuy nhiên lúc ấy đã quá muộn. Mấy tiếng sau, cô gái mới 16 tuổi đầu ấy chết.
Tất cả những chuyện vừa kể, thật ra, không mới. Cách đây mấy năm, các trang mạng xã hội tại Việt Nam từng tung lên đoạn phim ngắn cảnh một số nữ sinh nhào đến đánh đập tàn nhẫn một nữ sinh khác. Điều khiến người xem kinh ngạc đến sững sờ không phải chỉ là cảnh bạo động mà là thái độ dửng dưng của các nữ sinh khác chung quanh. Các em cũng chỉ đứng nhìn. Không có phản ứng gì cả. Hoàn toàn dửng dưng. Rồi một bức ảnh khác, chụp cảnh bố chồng trói ké người con dâu vất ra đường. Cô nằm như một con thú, quằn quại, đau đớn. Ngay giữa đường. Mọi người, từ hàng xóm đến công an, cũng đều dửng dưng.
Hàng xóm dửng dưng. Công an dửng dưng. Ngay giới lãnh đạo cũng dửng dưng trước nỗi khổ của đồng bào. Điển hình nhất là chuyện, cũng cách đây mấy năm, Hà Nội bị ngập lụt nghiêm trọng. Có đến mấy chục người chết hoặc do bị điện giật hoặc do bị nước cuốn trôi. Hàng ngàn gia đình lâm vào cảnh khó khăn, thậm chí, không có cả thực phẩm để ăn. Ông Phạm Quang Nghị, bí thư Thành ủy Hà Nội, không những không làm gì mà còn lên tiếng trách dân là quen thói ỷ lại, không biết chủ động tự cứu mình. Lúc ấy (năm 2008), nhiều người, trên các trang mạng xã hội, lên tiếng mắng ông Nghị là vô cảm.
Sự vô cảm của giới lãnh đạo Việt Nam đã được nhiều người ở Việt Nam nói đến. Hàng chục ngàn người Việt Nam lao động xuất khẩu ở nước ngoài bị bóc lột, thậm chí, bị đánh đập tàn nhẫn ư? Ai lên tiếng thì lên tiếng, giới lãnh đạo vẫn im lặng, xem đó như không phải việc của mình. Hàng chục ngàn cô gái Việt Nam bị bán ra nước ngoài làm điếm ư? Chính quyền vẫn im lặng. Ngư dân Việt Nam bị “tàu lạ” đe dọa, tấn công, cướp bóc, giết hại ư? Ai lên án “tàu lạ” thì lên án, họ vẫn im lặng. Ai đau xót thì đau xót, họ vẫn im lặng. Không có dấu hiệu gì chứng tỏ có sự đồng cảm giữa giới lãnh đạo và những khổ đau mà dân chúng đang gánh chịu.
Mà đâu phải bây giờ mới có sự vô cảm ấy. Nhớ cuốn phim tài liệu “Chuyện tử tế” của đạo diễn Trần Văn Thủy cách đây mấy chục năm. Máy quay phim cứ quét đi quét lại những sự đối lập đến khủng khiếp: Trong khi cán bộ thì đi xe xịn, bước xuống có người mở cửa, gót giày bước lộp cộp trên những chiếc thảm đỏ sang trọng thì ở các bến xe, hàng ngày người ta chen chúc xô lấn nhau mua vé, dành cho được một chỗ ngồi trên những chiếc xe đò cũ kỹ, chật chội, hôi thối. Trong khi một số người có tiền và có quyền ăn uống phủ phê thì trên đường phố bao nhiêu người nghèo đói, ốm yếu, quặt quẹo. Có chút thương cảm nào không? – Không. Cái gọi là “tử tế” chỉ là một giấc mơ xa vời dù ở đâu người ta cũng nói đến đạo đức cách mạng, đến khẩu hiệu “mình vì mọi người và mọi người vì mình”, đến câu thơ của Tố Hữu “Có gì đẹp trên đời hơn thế / Người với người sống để yêu nhau”.
Nhìn vấn đề một cách bao quát, từ dân chúng đến giới lãnh đạo, từ hiện tại đến quá khứ, như vậy, chúng ta sẽ thấy ngay những cách lý giải của một số nhà giáo dục và tâm lý học trên báo chí ở Việt Nam về tình trạng vô cảm là không chính xác. Nói chung, họ nêu lên hai lý do chính: Một là sự “yếu kém của lực lượng chức năng”, ví dụ: "Như trong vụ tai nạn, nếu lực lượng cảnh sát, dân phòng dẹp ngay thì làm gì có chuyện hôi của.” Hai là do sự “khủng hoảng niềm tin”. Sự khủng hoảng ấy xuất phát từ hai nguyên nhân chính.
Thứ nhất là do “tốc độ đô thị hóa ngày một nhanh, lối sống theo kiểu ‘đèn nhà ai nấy sáng’, hàng xóm sát vách cũng không biết mặt nhau; đi cùng với nó là sự phân hóa giàu nghèo, sự lên ngôi của chủ nghĩa vật chất, tính vị kỷ, khiến mọi người chỉ chăm chăm lo cho hạnh phúc của bản thân hoặc gia đình mình.”
Thứ hai là "Những vụ tham nhũng, hối lộ, tiêu cực của một bộ phận quan chức nơi này nơi kia cũng khiến người dân càng mất lòng tin vào cộng đồng. Rồi ngay cả trong ngành giáo dục cũng có những tiêu cực học giả, bằng giả, tiến sĩ giấy... nên người dân không còn biết đặt niềm tin vào đâu.”
Trong hai nguyên nhân tạo nên “khủng hoảng niềm tin” và dẫn đến sự vô cảm nêu trên, có vẻ như nhiều người muốn tập trung vào nguyên nhân thứ nhất nhiều hơn. Họ xem sự vô cảm như một hậu quả không thể tránh được của sự phát triển. Mà ngay chính ở Trung Quốc, trong các cuộc thảo luận liên quan đến bé Yue Yue vừa rồi cũng vậy. Nhiều người cũng đổ lỗi cho quá trình hiện đại hoá và đô thị hóa.
Tuy nhiên, nếu theo cách nhìn và cách giải thích như vậy thì nước nào càng phát triển bao nhiêu lại càng trở nên vô cảm bấy nhiêu.
Liệu cách nhìn như vậy có đúng không? |