Tàu Bình Minh 2 đã bị phía Trung Quốc cắt cáp hồi cuối tháng Năm ở vùng lãnh hải được cho là thuộc Việt Nam, khiến người dân Việt Nam giận dữ xuống đường biểu tình phản đối.
Các nguồn tin chưa được kiểm chứng từ Việt Nam cho BBC hay một tháng sau vụ tàu Bình Minh 2, phía Trung Quốc lại có hành động định 'cắt cáp' của một tàu thăm dò địa chấn Việt Nam ngoài Biển Đông.
Sự việc xảy ra với tàu của PetroVietnam nhưng không để lại hậu quả vì, theo mô tả của ba nguồn tin khác nhau, "các tàu hộ tống của Việt Nam đã vào kịp thời".
Tàu của phía Trung Quốc vì thế đã đổi hướng nên hai bên không gây ra va chạm.
Một số nhà báo tại Việt Nam tin rằng đây là một lần nữa, Trung Quốc "thử nắn gân" phía Việt Nam đúng lúc các lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chúc mừng "sinh nhật" 90 của đảng Cộng sản Trung Quốc.
BBC hôm 30/6 đã liên lạc với một quan chức PetroVietnam nhưng vị này từ chối trả lời điện thoại.
Cũng vì thời điểm bị coi là nhạy cảm, phía Việt Nam, theo một nhà báo giấu tên từ Hà Nội, không muốn công bố vụ việc cho báo chí.
Đến tối 1/7 giờ London, BBC cũng chưa ghi nhận được gì từ phía Trung Quốc xung quanh tin rằng chuyện này thực sự đến mức nào hoặc phía Trung Quốc coi đó là gì.
Lãnh đạo hai đảng cộng sản có vẻ như đang muốn làm giảm độ nóng của mối quan hệ sau hai vụ tàu Trung Quốc bị phía Việt Nam cáo buộc là "gây hấn".
Đặc biệt, một số nhà nghiên cứu Biển Đông tin rằng nơi xảy ra vụ "định cắt cáp" lần thứ ba gần với nơi tàu Viking của Việt Nam thuê bị phía Trung Quốc cắt cáp.
Trong các lần trước, phía Trung Quốc nói các vụ "va chạm" xảy ra trong vùng thuộc chủ quyền của họ, điều bị Việt Nam bác bỏ.
Mặt khác, phía chính quyền Việt Nam cũng lo ngại không khí bức xúc, đòi tiếp tục biểu tình phản đối Trung Quốc có thể diễn ra lần nữa vào cuối tuần này ở Hà Nội.
Vụ Bình Minh 02 xảy ra hôm 26/5 và vụ tàu Viking 09/6 đã gây ra nhiều phản ứng trong dư luận Việt Nam.
Trung Quốc hiện đang kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Báo Nhân dân cho hay Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam đã gửi điện mừng đến Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc nhân sự kiện này.
Tuy nhiên, bức điện của phía Việt Nam, trong các phần được trích đăng trên báo Nhân Dân, không thấy nhắc tới phương châm 16 Chữ Vàng cho quan hệ hữu nghị Trung-Việt.
Không rõ nguyên văn các trao đổi đối diện nhau của hai bên thời gian qua ra sao nhưng bản tin tiếng Anh của Tân Hoa Xã về chuyến thăm của Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn cũng không dùng chữ "đồng chí" để nói về Việt Nam.
'Đã đến lúc nói thẳng với Trung Quốc'
Tác giả cho rằng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ở TQ có nguồn gốc sâu xa từ trong lịch sử phong kiến Trung Hoa.
Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi tham lam bành trướng bá quyền Trung Quốc hiện nay là hiện thân của phong kiến Trung hoa từ ngàn xưa.
Trung Quốc, sau khi làm cách mạng dân tộc dân chủ tư sản thắng lợi 1949, đã định hướng (lý thuyết) tiến tới xây dựng xã hội chủ nghĩa đích thực nhưng theo quy luật tự nhiên, không thể bỏ qua giai đoạn phát triển Tư bản chủ nghĩa như đang diễn ra.
Sự chớ trêu là ở chỗ, các nước tư bản chính hiệu đã trải qua hết những giai đoạn phát triển sơ khai, tích lũy tư bản ban đầu từ thực dân cũ, thực dân mới, đến đế quốc, rồi chiến tranh dành giật thị trường, chia lại thuộc địa...
Họ cũng đã trải qua hết vinh, nhục, thắng, bại, phục hưng, suy thoái nhiều lần và nhiều dạng thức khác nhau, qua hai, ba thế kỷ, nay đã chuyển sang thời kỳ tư bản chủ nghĩa chín muồi, liên kết hội nhập toàn cầu trên nền tảng văn minh tư sản, dân chủ nhân quyền, kinh tế tri thức và xã hội hóa dần dần doanh nghiệp và lao động, hướng tới những nhiệm vụ cấp bách toàn nhân loại đang đòi hỏi giải quyết gấp rút và thiết thực hơn...
Trong khi đó thì Trung Quốc, to lớn gần 1 tỷ rưỡi dân, mới bước vào thời kỳ tích lũy tư bản ban đầu để tăng trưởng kinh tế, phát triển muộn theo con đường tư bản chủ nghĩa.
“Nông nổi, bồng bột”
Trong khi khủng hoảng thiếu nhiều mặt của loài người đang tới gần; tình trạng suy thoái đạo đức chính trị - xã hội, cùng những mâu thuẫn nội quốc nhiều mặt, vẫn đang nổi lên như một nguy cơ tiềm tàng có thể làm sụp đổ chế độ (TQ) từ bên trong
TS Vũ Duy Phú
Chính bởi vì là một nước quá lớn, nên Trung Quốc không thể đi tắt đón đầu bỏ qua các giai đoạn phát triển cổ điển cần thiết của tư bản chủ nghĩa.
Nhưng, một mặt, Trung Quốc lại có tham vọng rất lớn muốn chiếm đoạt vị trí đứng đầu thế giới một cách nhanh chóng.
Nên chủ trương của một bộ phận giới tinh hoa Trung Quốc nông nổi, bồng bột, nghĩ rằng, với số dân lớn, tổng sản lượng to, có thể xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh... giúp vượt qua nhanh chóng những khuyết tật của tư bản chủ nghĩa cổ điển, nhanh chóng bành trướng, chiếm đoạt để xoán ngôi cường quốc đứng đầu thế giới.
Mặt khác, vì trật tự thế giới từ lâu đã “an bài”, tài nguyên và các nguồn nhiên liệu chiến lược từ lâu đã được “phân chia” xong, trong khi khủng hoảng thiếu nhiều mặt của loài người đang tới gần; tình trạng suy thoái đạo đức chính trị xã hội, cùng những mâu thuẫn nội quốc nhiều mặt vẫn đang nổi lên như một nguy cơ tiềm tàng có thể làm sụp đổ chế độ (TQ) từ bên trong.
Những điều đó không chỉ đe dọa nghiêm trọng tham vọng bá chủ thế giới, mà còn đe dọa ngay sự ổn định và tồn tại của chế độ hiện tồn tại của Trung Quốc.
Đó chính là nguyên nhân quan trọng nhất thúc đẩy một bộ phận chính quyền và người dân Trung Quốc hoang mang, lo lắng, trở nên mất sáng suốt và thiếu nhân đạo, đã đang đưa ra hoặc thôi thúc lãnh đạo nước họ ra những chủ trương, chính sách và hành động mất khôn ngoan.
Thậm chí đây là những chính sách dã man, sảo quyệt, đe dọa hoặc tạo ra mối đe dọa tiềm tàng đối với nhiều vấn đề, nhiều khu vực, nhiều nước trên thế giới, mà cụ thể nhất là tại Đông Á và Đông Nam Á, trong đó điển hình nhất là đối với Việt Nam.
‘Cái khó và dở’
Trung Quốc cho biết sẽ tăng cường hải quân và các hoạt động hải giám và tuần duyên trên Biển Đông.
Cái khó và cái dở của Trung Quốc là ở chỗ, một mặt, chính vì là kẻ đến sau, phát triển Tư bản chủ nghĩa muộn, chưa từng trải nghiệm những “vinh quang cùng thất bại cay đắng” như những nước tư bản đi trước, nên mới dám đặt tham vọng sớm vươt qua các nước tư bản đi trước, bằng chính những công cụ bạo lực và thủ đoạn mà các nước đó từng sử dụng.
Trung Quốc đã quên tâm trạng hận thù trong quá khứ khi bị các cường quốc thời trước chèn ép.
Mặt khác, thời thế đã thay đổi rất nhiều, văn minh thế giới đã khác hẳn thời xưa, nên ý đồ bành trướng cho nhanh, chiếm đoạt cho nhiều, tích lũy tiềm lực kinh tế lớn để có đủ khả năng chèn ép các nước khác, xoán ngôi đứng đầu thế giới hòng đem lại nhiều “lợi ích to lớn” phi nghĩa cho bản vị dân tộc của mình, bây giờ đã không còn thích hợp.
Thế giới ngày nay không chấp nhận một nước đứng đầu trên nền tảng áp đặt, cường quyền, phi nhân tính và chủ yếu lại chỉ dẫn đầu về lực lượng vật chất.
Một mô hình chính trị văn hóa xã hội tiến bộ để được thế giới thừa nhận là điều kiện cần cho một nước đứng đầu thế giới, thì còn lâu Trung Quốc mới với tới.
Sự lệch pha rất lớn giữa phát triển kinh tế và chính trị xã hội vốn tạo ra nguy cơ tiềm tàng nội sinh chính là chỗ yếu nhất, là kẻ thù bên trong của Trung Quốc bá quyền hiện nay.
Và đấy lại chính là một trong những đồng minh tự nhiên của chúng ta giúp sức cản phá những ý đồ và hành động ngang ngược lộng hành, hướng khó khăn bên trong ra bên ngoài của Trung Quốc hiện thời.
‘Tư duy sai lầm’
Chủ trương tuyên truyền, vận động sâu rộng bản chất vần đề cho đông đảo nhân dân TQ và nhân dân thế giới biết bản chất sâu xa của vấn nạn bành trướng Trung Quốc hiện đại là vô cùng quan trọng
TS Vũ Duy Phú
Tuy nhiên, nên nhớ rằng, những hành động bạo hành, bất chấp luật pháp và dư luận thế giới hiện nay của Trung Quốc ở Biển Đông chính là kết quả của tư duy sai lầm từ gốc chỉ của một bộ phận giới lãnh đạo Trung Quốc hiện đại.
Chúng ta tin rằng, những tư duy kiểu ấy, những hành động nông nổi, nóng vội mang dáng dấp cuồng vọng hùng hổ phát triển ác tính kiểu Maoist Đại nhẩy vọt, Cách mạng Văn hóa, Gió Đông thổi bạt gió Tây.
Nay, thay vì đả đảo “Đế quốc Mỹ là con hổ giấy”, lại đang cố dựng lên một “Đế quốc Mỹ” mới trong lòng Trung Quốc nhưng sớm muộn sẽ bị chính nhân dân Trung Quốc và người dân thế giới chống lại, nên tất yếu những tư duy ngông cuồng ấy sẽ thất bại.
Trên cơ sở những trình bầy và nhận định như trên, thì chủ trương tuyên truyền, vận động sâu rộng bản chất vần đề cho đông đảo nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới biết bản chất sâu xa của vấn nạn bành trướng Trung Quốc hiện đại là vô cùng quan trọng.
Điều này phù hợp với chủ trương chung đa phương, hòa bình, giải quyết vấn đề Biển Đông mà hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước, trong đó có Trung Quốc, vừa đồng thuận.
Tuy nhiên, chúng ta (Việt Nam) tuyệt nhiên không nên có một chút chủ quan lơ là trong việc chuẩn bị tư tưởng và lực lương để tạo ra nhiều sáng kiến và tổ chức đối phó với những hành động bành trướng bá quyền đang lên hiện nay của Trung Quốc.
Mỹ-Việt tập luyện hải quân từ 15/07

Tin cho hay hải quân Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ bắt đầu đợt hoạt động chung từ ngày 15/07 tới ở ngoài khơi Đà Nẵng.
Tổng lãnh sự quán Mỹ tại TP Hồ Chí Minh nói trong một thông báo ra hôm thứ Sáu, rằng "Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ thực hiện các hoạt động trao đổi giữa hải quân hai nước tại thành phố Đà Nẵng bắt đầu từ ngày 15/07/2011".
Hoạt động này được gọi một cách danh chính ngôn thuận là "giao lưu hải quân".
Thông báo cũng cho biết sẽ có một lễ đón chính thức và một buổi họp báo trên tàu USS Chung-Hoon tại cảng Tiên Sa, Đà Nẵng vào ngày 15/07.
Trước đó, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã xác nhận tàu chiến Hoa Kỳ sẽ vào thăm Việt Nam và "tăng cường quan hệ" cùng hải quân nước chủ nhà nhưng không cho biết thêm chi tiết.
Theo cơ quan đại diện ngoại giao của Hoa Kỳ, khi ở Việt Nam các thủy thủ Mỹ sẽ tham gia hoạt động cộng đồng, các buổi huấn luyện về tìm kiếm và cứu nạn, kiểm soát thiệt hại, lặn và cứu hộ với hải quân Việt Nam.
Trước đó, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga nói việc tàu chiến Mỹ cập cảng Việt Nam là 'hoạt động bình thường'.
Bà nói: "Việt Nam có các hoạt động hợp tác, giao lưu giữa hải quân Việt Nam với hải quân của một số nước. Và việc tàu hải quân của các nước tới thăm cảng của Việt Nam cũng là việc bình thường và cũng đã được tiến hành trong một số năm gần đây".
"Những hoạt động sắp tới của Hải quân Hoa Kỳ và Hải quân Việt Nam cũng là hoạt động định kỳ hàng năm và cũng đã được trao đổi, thỏa thuận trước nhằm mục đích tăng cường quan hệ giữa hải quân hai nước".
Căng thẳng Biển Đông
Chưa rõ tàu chiến Mỹ sẽ ở Việt Nam trong thời gian bao lâu.
Tháng Tám năm ngoái, Hạm đội 7 của hải quân Hoa Kỳ đã có các hoạt động hợp tác với hải quân Việt Nam kéo dài trong một tuần.
Tuy nhiên sự kiện năm 2010 mang tính chất đặc biệt vì nó trùng dịp kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ giữa hai bên.
Sự kiện Hải quân Mỹ diễn tập với Philippines và sau là với Việt Nam đang được Trung Quốc quan sát kỹ
Trước đó tàu chiến của Mỹ đã có nhiều chuyến thăm đến Việt Nam, trong đó hai chuyến vào năm 2008, hai chuyến năm 2009.
Trong tháng 2 và 3 năm 2010, tàu tìm kiếm cứu hộ USNS Safeguard (T-ARS 50) và tàu USNS Richard E. Byrd (T-AKE 4) đã được sửa chữa tại xưởng đóng tàu Cam Ranh (cảng Hòn Khói, vịnh Vân Phong).
Hiện diện của Hoa Kỳ trong khu vực được nhiều người nhìn nhận như đối trọng với Trung Quốc và đã bị Bắc Kinh phản đối.
Lần này khu trục hạm thuộc loại tối tân USS Chung-Hoon sẽ tới Việt Nam sau khi đã tham gia cuộc tập trận chung CARAT kéo dài 11 ngày với hải quân Philippines.
Mỹ và Philippines đều tuyên bố rằng cuộc tập trận là hoạt động thường niên nhằm tăng cường quan hệ đồng minh, chứ không liên quan tới các tranh chấp chủ quyền cũng như quan ngại về Trung Quốc.
Tuy nhiên, giới quan sát nói chung đánh giá đây là hành động biểu thị sự liên kết giữa hai quốc gia đồng minh trong tình hình mới.
Thời gian qua, cả Philippines và Việt Nam đều đã bày tỏ quan ngại trước các hành động mà hai nước này nói là Trung Quốc gây hấn trong các vùng biển chủ quyền của hai nước gần Biển Đông.
Căng thẳng gia tăng ở Biển Đông đang khiến các quốc gia trong khu vực tăng cường hoạt động và nâng cao năng lực hải quân.
Ngày 28/06/2011, Trung Quốc đã kêu gọi Việt Nam thực hiện đầy đủ thỏa thuận trên vấn đề Biển Đông mà hai bên vừa đạt được. Theo giới quan sát, tuyên bố của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc mang ý nghĩa là một hành động gây sức ép của Bắc Kinh trên Hà Nội sau khi Việt Nam tỏ dấu hiệu hòa hoãn.
Trong một cuộc họp báo chiều hôm qua tại Bắc Kinh, ông Hồng Lỗi, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã nhắc lại rằng nhân chuyến viếng thăm của đặc sứ Việt Nam Hồ Xuân Sơn, ngày 25/06, hai bên đã thỏa thuận giải quyết tranh chấp thông qua các cuộc đàm phán và tránh những động thái có thể làm vấn đề trầm trọng hay phức tạp thêm.
Theo đại diện Trung Quốc, cả hai nước đều « phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam và cam kết sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn ngừa những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước ».
Sau đó, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã lên tiếng thúc giục Việt Nam thực hiện các cam kết trong thỏa thuận : « Chúng tôi hy vọng phía Việt Nam sẽ cùng với chúng tôi thực hiện đầy đủ sự nhất trí đã có được những nỗ lực gìn giữ hòa bình và ổn định trên Biển Hoa Nam (Biển Đông).”
Đối với giới quan sát, lời thúc giục của Bắc Kinh là một hành động gây sức ép mới, đặc biệt trong bối cảnh chính quyền Việt Nam đã có những dấu hiệu bị coi là nhún nhường, cho dù đã liên tiếp bị Trung Quốc bức bách ngay tại vùng biển vốn thuộc vùng đặc quyền kinh tế của mình trong thời gian gần đây.
Một trong những điểm mà Trung Quốc muốn Việt Nam thực hiện là đẩy mạnh các cuộc đàm phán song phương với họ để giải quyết tranh chấp, một điều mà bộ máy tuyên truyền của Bắc Kinh trong những ngày qua không ngừng nêu bật khi cực lực chỉ trích ý định của Mỹ muốn can dự vào hồ sơ Biển Đông.
Báo chí Trung Quốc đã đồng loạt nhấn mạnh đến sự kiện là nhân chuyến công du vừa qua của thứ trưởng ngoại giao Việt Nam Hồ Xuân Sơn, cả Việt Nam lẫn Trung Quốc đều « phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam ».
Theo nhà báo Mỹ David Brown, nguyên là một nhà ngoại giao, việc Việt Nam tham gia vào các cuộc ‘’đàm phán song phương’’ với Trung Quốc, ‘’có vẻ như là một bước lùi’’ sau hàng tháng trời nhấn mạnh rằng mọi cuộc thương thuyết nên được tiến hành trong khuôn khổ ASEAN. Theo ông Brown, động thái này có thể làm cho công luận Việt Nam thêm bất bình.
Một điểm khác mà Bắc Kinh muốn chính quyền Việt Nam thực hiện là ngăn cản các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở trong nước (mà chính quyền Việt Nam đã hạn chế đến mức tối đa) cũng như ở ngoài nước, vốn không tốt cho hình ảnh của Bắc Kinh trên trường quốc tế.
Câu hỏi mà giới quan sát đặt ra vào hôm nay là áp lực của Trung Quốc lúc này liệu có hữu hiệu hay không, khi mà trong thời gian gần đây, Bắc Kinh đã nhiều lần tuyên bố thiện chí, nhưng ngay sau đó lại có những hành động hù dọa Hà Nội.
Thí dụ gần đây nhất là vụ tàu Viking II bị tàu cá Trung Quốc sách nhiễu, chỉ vài ngày sau phát biểu hữu hảo của bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tại cuộc Đối thoại an ninh Shangri La ở Singapore vào thượng tuần tháng sáu.
Tham vọng của Bắc Kinh trước sau như một. Tân Hoa Xã vào hôm qua đã lại nêu bật rằng Bắc Kinh có chủ quyền không thể tranh cãi trên các đảo ở Biển Đông và những vùng biển xung quanh.
Hãng tin nhà nước Trung Quốc cũng không ngần ngại nhắc lại sự kiện mà họ cho là vào năm 1958, Bắc Kinh đã khẳng định các hòn đảo trên Biển Đông thuộc lãnh thổ quốc gia của Trung Quốc và chính cố Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao của mình gửi tới đồng nhiệm Trung Quốc khi đó.
Bí mật đồng thuận Việt Nam Trung Quốc?
Nam Nguyên, phóng viên RFA
2011-07-01
Trở về từ cuộc họp 25/6 ở Bắc Kinh với tư cách Đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao VN, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã trả lời báo chí nhưng lại là một văn bản hỏi đáp do TTXVN phổ biến hôm 27/6 và tất cả các báo đã đăng lại.
Khoảng 200 người Việt Nam sống tại Tokyo biểu tình tại một công viên, lên án Trung Quốc vào ngày 25/6/2011
Trước đó, truyền thông Việt Nam phổ biến thông tin báo chí chung Việt Nam Trung Quốc nhưng chẳng chứa đựng điều gì, trên các diễn đàn mạng dư luận rất bức xúc.
Văn bản thông tấn xã lần này có nhiều thông tin hơn về nội dung cuộc gặp gỡ giữa thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn và ông Đới Bỉnh Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Trung Quốc đặc trách đối ngoại.
Tuy nhiên dư luận lại càng xôn xao hơn với trích dẫn lời ông Hồ Xuân Sơn nói rằng: “Đề nghị hai bên thực hiện nghiêm túc thỏa thuận của cấp cao hai nước, không có những việc làm gây phức tạp thêm tình hình, không để vấn đề Biển Đông ảnh hưởng đến quan hệ hai nước.”
Công hàm Phạm văn Đồng
Tối 28/6, Tân Hoa Xã đưa lên mạng bản tin Anh ngữ, theo đó Bắc Kinh hy vọng Hà Nội sẽ thực hiện những gì hai bên đạt được trong chuyến công cán tại Trung Quốc của thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, được hiểu là Trung Quốc kêu gọi Việt Nam thực hiện điều gọi là sự đồng thuận.
Ngoài ra Tân Hoa Xã còn nhắc lại tư liệu lịch sử, theo đó năm 1958 khi Trung Quốc công bố chủ quyền các đảo ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam) Thủ tướng Việt Nam ông Phạm Văn Đồng đã gởi công hàm ngoại giao bày tỏ sự đồng thuận với Thủ tướng Trung Quốc lúc đó là ông Chu Ân Lai.
Có hay không sự đồng thuận Hà Nội-Bắc Kinh trong quá khứ cũng như hiện tại. Đây chính là điều người dân cần được thông tin.
Trả lời phỏng vấn của Nam Nguyên, Nhà sử học nhiều uy tín Dương Trung Quốc cũng là đại biểu Quốc hội Khóa 12 từ Hà Nội nhận định:
Còn nội dung thông báo chính thức hai bên có khác nhau, tôi nghĩ đối với TQ đây là chuyện bình thường họ là như vậy mà thôi.
Đúng là có một số chi tiết làm cho công luận bức xúc cần được xác minh xem là đúng hay không đúng, về việc có đúng nội dung hai bên thỏa thuận không thì tôi nghĩ hai bên thỏa thuận những vấn đề chung thôi, còn những cách đặt vấn đề như kiểu Trung Quốc nhắc lại thỏa thuận của ông Phạm Văn Đồng cách đây 50 năm, tôi nghĩ rằng Trung Quốc cố tình khai thác và lợi dụng chi tiết này.
Việc này không phải lần đầu, đã từng có thời kỳ văn bản này được phát tán ở vùng Chợ Lớn TP.HCM một cách khá rộng rãi và bừa bãi. Chúng tôi nghĩ là Trung Quốc luôn luôn lợi dụng chi tiết ấy để xuyên tạc.”
Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc thêm rằng, ông đã đọc bài trả lời của ông Lưu Văn Lợi, người từng hoạt động ngoại giao trong thời kỳ liên quan tới sự kiện này, theo đó đã giải thích rất rõ, đây chỉ là ý kiến của ông Phạm Văn Đồng đối với tuyên bố của Trung Quốc về lãnh hải của họ vào thời điểm đang có xung đột ở eo biển Đài Loan, chứ nó hoàn toàn không có một chi tiết nào mà nói đến Hoàng Sa và Trường Sa cả. Trung Quốc cố gắng giải thích theo cách của họ và đúng là một xuyên tạc.
Đại biểu Dương Trung Quốc nhấn mạnh:
“Hơn nữa về mặt pháp lý quốc tế thì cách đây hơn 50 năm, theo tinh thần hiệp định Geneve, thì ở phía Nam vĩ tuyến 17 là thuộc chủ quyền của chính phủ VNCH, cho dù lúc đó Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa đang xung đột đi chăng nữa, như thế không gian liên quan đến Hoàng Sa Trường Sa nằm trong không gian thuộc chủ quyền VNCH.
Như thế tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng đề cập tới Hoàng Sa Trường Sa về nguyên tắc mà nói chủ quyền và tuyên bố có giá trị pháp lý là không phải của Hà Nội mà là của Saigon.
Chuyện Trung Quốc bây giờ nhắc lại chuyện 50 năm trước thì hoàn toàn phải đặt cho đúng vào bối cảnh lịch sử lúc đó.
ĐB Dương Trung Quốc
Nói như thế hoàn toàn không có nghĩa phân chia lãnh thổ Việt Nam bởi vì Hiệp định Geneve qui định nước Việt Nam là một quốc gia thống nhất. Nhưng thực thi quyền hạn của mình theo luật quốc tế thì tôi nghĩ rằng Hoàng Sa Trường sa vào thời điểm đó nằm trong khu vực mà chính quyền VNCH là người phát ngôn có đủ tư cách pháp nhân nhất.
Vì thế chuyện Trung Quốc bây giờ nhắc lại chuyện 50 năm trước thì hoàn toàn phải đặt cho đúng vào bối cảnh lịch sử lúc đó."
Công khai minh bạch
Luật sư Trần Vũ Hải ở Hà Nội nói với chúng tôi là ông có đọc bản tin Tân Hoa Xã và người dân Việt Nam có quyền đòi Nhà nước phải thông tin minh bạch về các vấn đề sinh tử của đất nước. LS Trần Vũ Hải nói:
“Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao là phải giải thích rõ là khi trao đổi với Trung Quốc có đúng quan điểm như Tân Hoa Xã loan báo hay không. Trước mắt phải khẳng định điều đó hay là Tân Hoa Xã theo cái truyền thống làm như thế liên quan tới Biển Đông mà không phản ánh đúng quan điểm của Việt Nam đã trình bày trong buổi đó.
Chúng tôi nghĩ rằng người dân có quyền như vậy, có quyền thảo luận về những vấn đề chung của đất nước và đây là điều cá nhân tôi cho rằng phải giải thích.
Nếu không giải thích sẽ bị hiểu nhầm bất lợi về nhiều thứ. Nhưng tôi nghĩ rằng, sẽ có nhiều người đích thân yêu cầu Bộ Ngoại giao phải giải thích về vấn đề này, Tân Hoa Xã có nói đúng hay họ xuyên tạc để có quan điểm rõ ràng.”
Chúng tôi truy cập trên mạng và xem được cái gọi là Thư Ngoại giao ngày 14/9/1958 có đóng dấu ký tên của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mà Bắc Kinh từng kỷ niệm 50 năm sự kiện này hồi 2008. Chúng tôi xin trích đọc nguyên văn:
“Thưa đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mối quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.
Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng. Ký tên Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Chính phủ Nước Việt-nam Dân chủ Cộng hòa.”
Nhiều nhà phân tích cho rằng nội dung Thư Ngoại giao của ông Phạm Văn Đồng không đề cập tới vấn đề lãnh thổ, cũng không nói gì đến vấn đề các quần đảo ở Biển Đông Việt Nam.
Được yêu cầu nhận định về việc dư luận bức xúc đối việc Nhà nước không công khai chuyện có sự đồng thuận hay không đối với Trung Quốc về vấn đề chủ quyền Biển Đông. Luật sư lão thành Trần Lâm nguyên thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao từ Hà Nội phát biểu:
“Cái công hàm ấy tôi được đọc cách đây ba bốn năm rồi không phải mới đây, người ta bảo cái công hàm ấy không có giá trị. Bây giờ Trung Quốc cứ nói là có giá trị. Theo suy nghĩ của tôi Trung Quốc muốn song phương thôi, tức là nó và Việt Nam thỏa thuận với nhau thôi, rồi là nó làm cái giàn khoan 700 triệu USD thật ghê gớm lắm, nó bảo nó để ở Biển Đông, nó sẽ để vào quần đảo của ta chứ ở đâu nữa.
Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao là phải giải thích rõ là khi trao đổi với Trung Quốc có đúng quan điểm như Tân Hoa Xã loan báo hay không.
Luật sư Trần Vũ Hải
Chuyện này hiện nay cũng mắc mứu lớn lắm. Việt Nam nói chuyện ông Phạm Văn Đồng chỉ là một chuyện vui vẻ thôi chứ nó không có giá trị pháp lý gì. Bây giờ Mỹ không mạnh nữa, ngay với Philippines bây giờ Mỹ cũng nhẹ nhàng rồi.”
Theo VnExpress bản tin trên mạng ngày 30/6, ông Lê Văn Nghiêm Cục trưởng Thông tin đối ngoại nhìn nhận là đã học được bài học qua vấn đề Biển Đông. Đó là trong mọi trường hợp phải chủ động thông tin, không thông tin, hoặc thông tin không kịp thời, không đầy đủ thì coi như nhường trận địa thông tin cho đối phương.
Đảng Cộng sản VN trước giờ phút quyết định
Phan Nguyễn Việt Đăng viết cho RFA, Saigon
2011-06-30
Trên các trang mạng, sự thấp thỏm về chủ quyền biển đảo từ giới trí thức, sinh viên, blogger phản kháng...v.v có thể nhìn thấy rất rõ.
Bản đồ định vị quần đảo Trường Sa trong biển Đông.
Những ngày cuối cùng của tháng 6, bước qua đầu tháng 7, là những giây phút mà rất nhiều người nín thở chờ đợi kết quả của các vụ thương thuyết về chủ quyền Biển Đông giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Lo ngại chuyện “song phương”
Ở mạng xã hội Facebook, người ta cũng nhìn thấy nhiều tuyên ngôn nêu rõ ý nghĩa này, xuất phát từ các nhóm blogger ẩn danh yêu nước như Nhật Ký Yêu Nước, Talamot, Truyền thông Liên mạng...v.v Chẳng hạn như nhóm Talamot, ghi rõ trong hiển văn ngắn của họ là “Sự kiện lãnh đạo TQ và VN thỏa thuận riêng biệt với nhau về vấn đề Biển Đông cho chúng ta cảm giác bất an. Chúng ta cần phải đòi hỏi sự việc này được đem ra ánh sáng dư luận”.
Rõ ràng, cuộc thương thuyết giữa Trung Quốc và Việt Nam là một cái nồi đang đậy nắp kín, mà chỉ có số phận một dân tộc sẽ chịu thiệt thòi là Việt Nam. Ai quan tâm đến tương lai của đất nước, đều cảm thấy phập phồng, âu lo.
Nhưng quả thật, cũng có nhiều lý do để lo ngại và thấp thỏm. Nhất là một khi báo chí trong nước được lệnh hạ giọng chỉ trích Trung Quốc và và ém nhẹm những kết quả thương thuyết quan trọng.
Ngày 28.6, người Việt chỉ biết đến hiện tình đất nước của mình sau khi đọc được bản tin của Tân Hoa Xã, với nội dung hết sức bí hiểm là “Trung Quốc đã kêu gọi Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Hoa Nam [Biển Đông] vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước”.
Liệu các giá trị song phương còn đủ sức để áp dụng vào lúc nước sôi lửa bỏng này hay không? Thỏa thuận song phương là những gì? Trên trang điểm tin Ba Sàm, một trong những trang tin độc đáo nhất Việt Nam, có hàng triệu người xem và ủng hộ hiện nay, đã từng nhắc lại sự kiện tướng quân đội Đồng Sĩ Nguyên kêu gọi “2 Đảng hãy cùng ngồi lại với nhau” và chỉ trích gay gắt. Ít nhất là 2 lần, khi nhắc về sự kiện này, người điểm tin trên trang Ba Sàm đã gọi ông tướng này là một nhân vật “u mê”.
Có lẽ vì sự lo ngại cho một cuộc thỏa hiệp nào đó, mà bản tuyên cáo của giới văn nghệ sĩ, trí thức, sinh viên... cũng được ra đời. Ngày 25.6, bản tuyên cáo về hành động gây hấn, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam từ phía Trung Quốc lập tức có được sự hưởng ứng của nhiều quan vật quan trọng và quen thuộc trong, ngoài nước.
Ngày 26.6, Khối 8406 và nhóm linh mục Nguyễn Kim Điền cũng có tuyên cáo tương tự. Rõ ràng, các thông điệp này được đưa ra sau 3 cuộc biểu tình đầy giằng thúc trong các toan tính của Hà Nội nhằm thăm dò Bắc Kinh, người dân Việt Nam nói chung đều muốn nhấn mạnh một điều rằng họ đã quá mệt mỏi mối quan hệ mờ ám giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Điều mà người dân nào cũng hiểu rõ là Việt Nam cần minh bạch chấm dứt mối quan hệ gông cùm 16 chữ vàng ô nhục. Và đây là thời cơ vàng cho việc bước ra khỏi vòng tay ghê tởm đó của Bắc Kinh.
Đảng sẽ yêu nước?
Hãy hình dung khi dàn khoan dầu này được đặt sát nách Việt Nam, ít nhất là một lực lượng hải quân Trung Quốc không dưới 20 chiếc sẽ bao bọc dàn khoan này sẵn sàng nã đạn vào bất kỳ ai để bảo vệ chuyện cướp dầu trên biển.
Việt Nam sẽ mất dần, bị lấn dần biển và đảo, và chủ quyền, và vị thế... trong tiếng kêu thảng thốt và vô giá trị của người phát ngôn Bộ ngoại giao Việt Nam. Thậm chí các cuộc biểu tình phản đối của người Việt Nam dù được Nhà nước cho phép, cũng chỉ sẽ là một thứ trò vui cho Hệ thống cung đình Việt-Trung.
Năm 1987, khi nói về Việt Nam trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, ông Phạm Văn Đồng có tuyên bố rằng “Việt Nam chỉ là một con chim trong đàn chim xã hội chủ nghĩa”. Nay thì hệ thống đó, không những tan rã, mà còn bị Liên hiệp Châu Âu xác quyết (năm 2006) là một hệ thống tội ác đối với nhân loại, qua nghị quyết 1481 được thông qua ở Strasburg (Pháp).
Việt Nam và Trung Quốc rốt cục chỉ còn lại là một mối liên quan của quyền lợi 2 Đảng, bất chấp ý nguyện của dân tộc. Lâu nay, qua các sự kiện được khai thác bởi báo chí quốc tế và chính trong nước, dân Việt ai cũng có thể nhìn rõ được Đảng Cộng Sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ là mối giao hảo chia sẻ quyền lợi và quyền lực, mặc cả mua bán, chia chác tài nguyên, lãnh thổ... của tổ tiên người Việt Nam để lại.
Vào một thời điểm mà cả dân tộc đều nhìn ra chính quyền Trung Quốc không thể là bạn, liệu Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ cam đảm để làm lại, thay đổi thái độ và làm lại một quốc gia tự cường, độc lập khác hơn hay không?
Hay là Đảng Cộng Sản lại nhu nhược, bị thay máu, và sẵn sàng từ bỏ dân tộc, cội nguồn... để chấp nhận làm chư hầu tay sai cho Bắc Kinh?
Và Hà Nội cũng cần nên nhớ rằng, dù trong lịch sử hay tuyên truyền, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ra sức nhắc nhở rằng kẻ thù của người Việt là Anh, là Mỹ, là Pháp... nhưng triệu triệu người dân thì vẫn luôn tâm niệm rằng từ thời cha ông họ, cho đến tận hôm nay, kẻ thù đáng sợ nhất vẫn là từ phương Bắc.
cáo về việc Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam
Quỳnh Chi, phóng viên RFA
2011-06-28
Vào ngày 26 tháng 6 vừa qua, trên một số trang blog xuất hiện Tuyên cáo về tình hình Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam.
Tuyên cáo đặc biệt của giới nhân sĩ trí thức Việt Nam.
Đồng lòng ký tên
Bản thông cáo chung do một số nhân sĩ, trí thức khởi xướng cụ thể là do nhà nghiên cứu sử địa học Nguyễn Đình Đầu cùng soạn thảo với ông Lê Hiếu Đằng, nguyên phó chủ tịch UB MTTQ TP.HCM. Từ khi xuất hiện đầu tiên từ ngày 25 tháng 6, bản thông cáo đã được hàng trăm người tham gia ký tên từ giới trí thức cho đến thường dân trong và ngoài nước.
Trong danh sách 100 người ký tên đầu tiên, người ta thấy xuất hiện nhiều cái tên quen thuộc như thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, GS Nguyễn Huệ Chi, TS Nguyễn Quang A, GS.TS Nguyễn Minh Thuyết (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa giáo dục, Thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội)…. Phát biểu với đài RFA, GS.TS Nguyễn Minh Thuyết cho biết:
“Việc nhà cầm quyền Trung Quốc xâm hại lãnh hải của Việt Nam, phá hoại công ăn việc làm của ngư dân, đe dọa tính mạng ngư dân và thậm chí phá hoại các hoạt động thăm dò dầu khí của tàu Việt Nam…đã làm cho người dân hết sức phẫn nộ. Cho nên tôi cho rằng việc chúng tôi ký tên vào bản thông cáo chung ấy là một việc làm bình thường.”
Tình thế đang nguy hiểm. Nguy ở chỗ là “người ta” ra thông cáo và đồng ý thống nhất với nhau. Tuy nhiên, dân đã đồng ý chưa mà thống nhất? Thứ nhất, phải hỏi dân. Thứ hai, phải hỏi quốc hội. Ông thứ trưởng Hồ Xuân Sơn là cái gì mà dám thay mặt toàn dân?Nhà Giáo Phạm Toàn
Bản thông cáo chung đưa ra những nhận định về hành động xâm lược của Trung Quốc đối với Việt Nam điển hình qua các cuộc chiến năm 1974, 1979, 1988. Đồng thời, tố cáo những hành động gây hấn của Trung Quốc trên biển Đông cũng như vi phạm Luật biển và Công ước về Luật biển UNCLOS năm 1982 của Liên Hiệp Quốc cũng như tuyên bố về quy tắc ứng xử trên biển Đông được ký giữa ASEAN và Trung Quốc năm 2002.
Bản thông ra đời trong bối cảnh nhiều người nghi ngờ thái độ mềm mỏng quá mức của chính phủ đối với Trung Quốc, đặc biệt là sau khi Việt Nam và Trung Quốc ra thông tin báo chí chung về vấn đề biển Đông. Nhà giáo Phạm Toàn cho biết, cần thiết có bản thông cáo chung tập trung nguyện vọng của dân chúng vì đất nước đang bị đặt vào tình cảnh nguy hiểm. Ông nói:
“Tình thế đang nguy hiểm. Nguy ở chỗ là “người ta” ra thông cáo và đồng ý thống nhất với nhau. Tuy nhiên, dân đã đồng ý chưa mà thống nhất? Thứ nhất, phải hỏi dân. Thứ hai, phải hỏi quốc hội. Ông thứ trưởng Hồ Xuân Sơn là cái gì mà dám thay mặt toàn dân?”
Những căng thẳng biển Đông bắt đầu từ việc Trung Quốc 2 lần cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam ngày 26 tháng 5 và ngày 9 tháng 6, thậm chí trấn lột ngư dân Việt Nam chỉ sau đó 1 tuần. Sự việc đã làm nhiều người dân Việt Nam phẫn nộ, nhất là giới trí thức và thanh niên. Tuy nhiên, dù có những căng thẳng ấy, chính phủ Việt Nam vẫn tiến hành tuần tra chung trên Vịnh Bắc Bộ ngày 19 và 20 tháng 6. Mới đây nhất, ngày 25 tháng 6, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn đã gặp Ủy viên Quốc Vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc. Hai bên khẳng định vẫn theo đuổi giải pháp hòa bình hữu nghị và “tăng cường định hướng đúng đắn dư luận”.
“Mình thấy là nhà nước làm lơ đi, không quan tâm đến tiếng nói và nguyện vọng của người dân”.
Trách nhiệm với đất nước
Điểm đặc biệt của bản tuyên cáo này là đề cao vai trò của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Trong 4 điều tuyên bố của bản thông cáo, có đến 3 điều đề cao sức ý chí, nguyện vọng, sức mạnh của dân chúng. GS.TS Nguyễn Minh Thuyết cho biết:
Trung Quốc xâm hại lãnh hải của Việt Nam, phá hoại công ăn việc làm của ngư dân, đe dọa tính mạng ngư dân và thậm chí phá hoại các hoạt động thăm dò dầu khí của tàu Việt Nam…đã làm cho người dân hết sức phẫn nộ.GS.TS Nguyễn Minh Thuyết
“Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình và mong muốn được sống, lao động yên ổn. Tôi cho rằng đây là trách nhiệm của chính phủ. Tôi nghĩ rằng việc thứ trưởng Hồ Xuân Sơn thay mặt lãnh đạo cấp cao Việt Nam đàm phán với Trung Quốc để giải quyết vấn đề biển Đông trong hòa bình là đáng hoan nghênh. Nhưng điều đó không có nghĩa là người dân không được quyền tiếp tục thể hiện thái độ của mình”.
Bản thông cáo ra đời sau cuộc biểu tình thứ 4 tại Việt Nam để phản đối Trung Quốc. Sau những bắt bớ từ cuộc biểu tình, nhiều người quan ngại rằng những người ký tên vào bản thông cáo sẽ chịu chung số phận của những người bị bắt. Thế nhưng, một khi đã ký vào bản tuyên cáo, thì đây không phải là quan ngại của họ. Anh Lê Công Vinh, người vừa ký tên vào bản thông cáo cho biết:
“Trước lúc ký tên, tôi đã xác định là có thể gặp khó khăn với an ninh. Thế nhưng, tôi đã xác định ký tên vào bản tuyên cáo thì không ngại vấn đề đó bởi vì việc này hoàn toàn đúng với pháp luật Việt Nam, đúng với trách nhiệm, lương tâm của một người dân nên không có gì phải sợ”
“Không ai xúi giục kích động được bởi họ thừa biết là họ sẽ bị trả giá sau đó. Chẳng hạn, sau khi họ tham gia biểu tình thì cái giá mà họ phải trả là bị công an sách nhiễu, làm phiền hoặc gây khó khăn trong một thời gian dài. Điều này đã được chứng minh qua việc các blogger trong nước bị rắc rối. Mình thấy nhiều blogger trong nước cho rằng, cái câu đầu tiên mà công an thường hỏi họ là “Có bị đảng phái nào dụ dỗ hay thế lực nào cho tiền không?”. Mình nghĩ rằng một khi họ hỏi như thế thì họ đã quá coi thường người dân Việt Nam. Họ nghĩ rằng người dân bị dụ dỗ, thiếu hiểu biết và khi tham gia biểu tình mà không lường trước những gì sẽ xảy ra với chính họ. Mình không đồng tình với suy nghĩ đó”.
Kết quả bản thông cáo còn chưa rõ, nhưng đối với nhiều người, mục đích của họ khi ký tên vào những lời kêu gọi chung, cụ thể là bản thông cáo này, chỉ để nâng cao nhận thức người dân. Theo nhà giáo Phạm Toàn, họ không hy vọng chính quyền sẽ đối thoại, chỉ mong nhân dân ý thức hơn đối với sự nghiệp chung của dân tộc. Đây cũng là ý của đông đảo thanh niên yêu nước bao gồm anh Lê Công Vinh:
“Thực ra, tôi nghĩ tuyên cáo này cũng không tác động gì lớn đến chính quyền hiện tại, đến suy nghĩ hay đến cách giải quyết vấn đề của chính phủ. Nhưng nó là tiếng nói của tầng lớp trí thức và những người có lương tâm, có trách nhiệm với đất nước. Từ sự kiện kêu gọi ngừng khai thác Bauxite Tây Nguyên, sự kiện kêu gọi trả tự do cho LS Cù Huy Hà Vũ và đến lời tuyên cáo này sẽ tạo khuynh hướng cho nhân dân có trách nhiệm hơn với đất nước chứ không phải chỉ đứng bàng quan hưởng thụ như bây giờ đâu
Việt Nam-Trung Quốc: Sẽ bùng nổ xung đột vào tháng 7?
Phan Nguyễn Việt Đăng, viết riêng cho RFA từ Saigon
2011-06-27
Hạ tuần tháng 7.2011 là thời điểm căng thẳng nhất trong mối quan hệ Việt-Trung, kể từ sau cuộc chiến 1979.
Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt (phải) và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh trong nghi thức chào đón tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN và các đối tác từ Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản tại Hà Nội ngày 12 tháng 10 năm 2010.
Cuộc đối thoại và giằng co về biển Đông đã đến điểm gút cuối cùng, được sự theo dõi của mọi giới từ trong nước đến ngoài nước. Số phận của dân tộc Việt Nam có được một bước ngoặc mới hay không cũng là phụ thuộc vào bàn cờ Việt-Trung lúc này.
Người ta có thể nhìn thấy sự dè dặt của Hà Nội trong cuộc đối thoại này, do Tổng bí thư Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng chịu trách nhiệm, bằng cách công an, báo chí đã đổi một thái độ khác trước sự giận dữ của người dân Việt Nam về chuyện lấn áp của Trung Quốc trên biển Đông.
Sáng 26 tháng 6.2011, Saigon chịu một áp lực kinh khủng của ngành an ninh. Một nhân viên an ninh giấu tên cho biết rằng "lệnh cấp trên là triệt để không để bất kỳ một người biểu tình nào được xuất hiện, dù là cầm cò đỏ sao vàng hay hình Hồ Chí Minh cũng vậy".
Ngay tại Hà Nội, áp lực đó đè nặng đến mức chỉ có khoảng trên dưới 50 người đi bộ, mệt mỏi và sợ hãi và kết thúc trong khoảng hơn 1 giờ đồng hồ, thậm chí cũng đã có thanh niên bị áp giải về đồn khi biểu hiện có vẻ kích động và kêu gọi người khác tham gia tuần hành.
Là bạn hay là thù?
Nhiệm vụ của Tổng bí thư CSVN Nguyễn Phú Trọng lúc này là thuyết phục Trung Quốc hãy hòa hoãn hơn nữa về việc vươn vai, thẳng cân trên biển Đông. Người dự đoán rằng Việt Nam sẽ thuyết phục Bắc Kinh kéo dài thêm thời gian lấn biển, hoặc chấp nhận cùng Việt Nam chia sẻ khai thác tài nguyên trên biển.
Hoặc là cuộc thương thuyết không thành, sẽ là một cuộc trở mặt của Việt Nam, chấp nhận cho trò diễn đi dây mới, nhưng lần này sẽ nghiêng về phương Tây nhiều hơn.
Ve vuốt Bắc Kinh, cũng trong thời gian này, ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tạm thời im tiếng. Thay vào đó, tại Bắc Kinh, Thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã gặp Ủy viên Quốc vụ Trung Quốc Đới Bỉnh Quốc, "chuyển ý kiến của lãnh đạo Việt Nam" tới lãnh đạo Trung Quốc về quan hệ hai nước và tình hình Biển Đông thời gian gần đây.
Và cuộc gặp này được đánh giá chung là kết thúc với nụ cười hể hả, khẳng định phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
Trò 2 mặt của Trung Quốc vẫn diễn ra. một mặt thì vẫn xúc tiến thương thảo ngoại giao, nhưng một mặt thì vẫn có những ngôn ngữ hết sức chính thống, kiểu như tướng Trung Quốc Bành Quang Kiêm, phó tổng thư ký Ủy ban chính sách an ninh quốc gia, tuyên bố sẽ dạy thêm cho Việt Nam một bài học. Một cuộc hội luận ngày 22/6/2011 trên Đài Truyền Hình Trung Ương Trung Quốc, với những bình luận gia tên tuổi, cũng nói rằng hiện dân Trung Quốc có đến 85% đang "nóng lòng" muốn "đập" Việt Nam một trận cho hả.
Những người theo dõi thời sự ở Việt Nam đều nhìn thấy rõ cuộc trở cờ của ông Trương Tấn Sang, sau khi bí mật tổ chức tin tức cho báo chí tấn công mạnh mẽ vào thủ tướng qua vụ Vinashin, đã sớm nhận ra rằng phải đổi phe, mới có thể tồn tại. Và cuối cùng Nguyễn Phú Trọng, lại cô đơn hơn nữa.
Trọng là người được cho rằng là nhân vật thân Trung Quốc trong bộ ba Phùng Quang Thanh, Nguyễn Chí Vịnh, đã im lặng không nó một lời nào trong đợt phản ứng của cả nước về vụ xâm lấn của Trung Quốc. Nay lại phải đảm nhiệm vai trò báo cáo tình hình nội bộ và thương thuyết về số phận của Việt Nam - Trung Quốc, cũng như số phận của chính ông.
Là bạn hay sẽ là thù, tiếp tục là chư hầu hay sẽ là đối đầu, kết quả này sẽ phải được bộc lộ trong tháng 7 này.
Số phận Trường Sa?
Nếu thất bại trong cuộc thương thuyết đầy tính hoãn binh và hứa hẹn việc cùng chia sẻ quyền lợi khai thác biển Đông, chắc chắn, một cuộc đột kích vào Trường Sa trong tháng 7 này từ phía Trung Quốc rất có thể xảy ra.
Vì sao là tháng 7? Theo nhận định của nhiều người, đó là giai đoạn mà Việt Nam vẫn còn lập lờ chưa bắt tay hẳn với Mỹ để có thể có được một vai trò là đồng minh chiến lược và được bảo vệ. Và tháng 7, là tháng mà nội bộ của Hà Nội chưa kịp xếp đặt để thanh lọc các thành phần cấp cao thân Trung Quốc, trước khi súng nổ trên biển.
Người ta vẫn nhớ câu chuyện tranh chấp đảo Falkland giữa Anh và Argentina vào tháng 4 năm 1982. Cuộc chiến chớp nhoáng kéo dài 74 ngày đó đã biến hòn đảo này thuộc quyền của Anh cho đến nay. Bắc Kinh đang giở lại lịch sử và ngấu nghiến bài học này với nỗi thèm khát dược nuốt chửng Trường Sa.
Nếu có một cuộc chiến diễn ra, người ta dự đoán là khả năng chiếm đóng của Trung Quốc trong khoảng 1 tuần. Dĩ nhiên, chưa bàn đến là nỗ lực đánh trả có thật sự hết sức mình của hải quân Việt Nam, trong bối cảnh có quá nhiều quan chức cao cấp Việt Nam đang phụ thuộc quyền lợi và quyền lực vào Bắc kinh lúc này.
Tuy nhiên, mất Trường Sa như một cuộc chiến sòng phẳng và vạch mặt rõ kẻ thù, vẫn là đáng để xảy ra, hơn là để mất đảo, mất biển trong sự thỏa hiệp giả trá của những người cầm quyền Việt Nam trước Bắc Kinh. Đó sẽ là điều tồi tệ hơn tất cả, là một âm mưu lịch sử đầu độc, giết chết và bán rẻ một dân tộc.
Người yêu nước sẽ ra sao?
Chưa bao giờ người yêu nước, dù là những người tiếp tục ủng hộ chủ nghĩa Cộng sản cũng như những người chủ trương một chế độ tự do, đang rơi vào tình thế cheo leo nhất.
Những người yêu nước, vốn tự phát bằng bản năng của tổ tiên và lương tâm, đang bị Hà Nội lợi dụng và điều khiển vào việc họ muốn mặc cả với Bắc Kinh trong việc được và mất quyền lợi và quyền lực của riêng Đảng Cộng sản Việt Nam.
Việc sử dụng người yêu nước như một con cờ, lúc thì dọa dẫm Trung Quốc, lúc thì chà đạp và trấn áp khi Bắc Kinh ra lệnh, đang làm cho người dân Việt Nam mỗi lúc một tức giận, chỉ trích chính quyền Cộng sản Việt Nam nhiều hơn. Gần đây, người ta đang bắt gặp lại những từ ngữ rất quen thuộc trên các trang mạng như "Việt gian", "Ngụy quyền CSVN"... đang áp dụng cho chính chế độ hiện tại.
Trong một bản tin phát đi, như ngầm báo động, báo Dân Trí ngày 25 tháng 6.2011, cho biết rằng Trung Quốc đang mở hàng loạt các trường tình báo, nhằm tung đại trà vào các cộng đồng. Chắc chắn Việt Nam cũng sẽ không nằm ngoài tầm ngắm.
Năm 2007, khi Việt Nam có những cuộc biểu tình chống trung Quốc đầu tiên, nhiều nguồn tin tiết lộ rằng Việt Nam đã làm dịu cơn giận của Bắc Kinh bằng cách trao chính thức các danh sách những người biểu tình bị bắt giữ hay tình nghi.
Điều này được chứng minh là sau đó, khi Trung Quốc tổ chức Olympic vào tháng 8-2008. Rất nhiều người Việt cho biết họ bị ngăn cấm hoặc làm khó không cho đến Trung Quốc vì sợ sẽ tham gia biểu tình chống Olympic. Đó là những người từng bị an ninh Việt Nam bắt, thẩm vấn, sách nhiễu vì tham gia biểu tình vào tháng 12.2007.
Khi ông Võ Văn Kiệt còn sống, những người thân cận của ông nói rằng ông đã từng bác bỏ việc Trung Quốc đòi phải cho chi bộ tình báo người Hoa ở Việt Nam được quyền trang bị vũ khí và quyền bắt người trước khi thông báo cho an ninh Việt Nam. Tuy nhiên, điều này có thể đã bị phá bỏ, sau cái chết bí ẩn của ông Kiệt.
Nếu mất Trường Sa, và mất cả chủ quyền, liệu những người yêu nước sẽ còn được không gian sống an toàn ở ngay trên đất nước mình?
Phan Nguyễn Việt Đăng (Sài Gòn 27-06-2011)
Cuộc chơi chèn ép chủ quyền song phương của Trung Quốc ở Biển Đông
Sự chèn ép, hay tranh chấp song phương về chủ quyền biển đảo, quyền khai thác dầu và đánh bắt cá, chỉ là bước đi ban đầu, được lồng trong một tranh chấp lớn hơn về quyền kiểm soát đường hàng hải chiến lược đi qua Biển Đông.
>> Biển Đông: Giành thời cơ, thoát hiểm hoạ
Gây hấn, chèn ép nước nhỏ để vẽ lại bản đồ khu vực
Như đã nêu trong Phần 1, mục tiêu chính của Trung Quốc là nhằm kiểm soát con đường hàng hải quốc tế, đi từ Trung Cận Đông qua eo biển Malacca, đi qua Biển Đông, dọc theo Trường Sa (Spratlys), tiếp đến là qua Hoàng Sa (Paracels). [Xem Bản đồ 1]. Con đường biển này ngày càng trở nên có tính sống còn với Trung Quốc*. Nhưng nó cũng có tính chất sống còn với Mỹ, Nhật và các nước trong vùng. Một sự hợp tác an ninh hàng hải quốc tế giữa Trung Quốc với Mỹ, Nhật và ASEAN sẽ là lý tưởng cho sự ổn định và phồn thịnh của khu vực. Nhưng việc biến vùng biển quốc tế đó thành lãnh hải thuộc địa phận Trung Quốc, lại là một bảo đảm an ninh hơn cho Trung Quốc, với cái giá là chủ quyền của các nước nhỏ hơn trong khu vực bị xâm hại.
Nói khác đi, chúng ta đang chứng kiến một tiến trình mà Trung Quốc đang tìm cách chèn ép các nước nhỏ để vẽ lại bản đồ khu vực. Sự chèn ép, hay tranh chấp song phương về chủ quyền biển đảo, quyền khai thác dầu và đánh bắt cá, chỉ là bước đi ban đầu, được lồng trong một tranh chấp lớn hơn về quyền kiểm soát đường hàng hải chiến lược đi qua Biển Đông. Để tránh một cuộc xung đột về quyền tự do hàng hải trong tương lai, chúng ta phải hiểu rõ sự được mất của mỗi bên trong cuộc chơi chèn ép về chủ quyền song phương mà Trung Quốc đang tiến hành. Trung Quốc kỳ vọng gì? Và tại sao đó lại là các bước đệm ngắn hạn cho việc đạt mục tiêu dài hạn của Trung Quốc? Việc trả lời các câu hỏi như vậy sẽ cho phép tìm ra cơ chế thúc đẩy an ninh khu vực, thông qua các giải pháp thương lượng hòa bình.
Để cụ thể, hãy nhìn lại vụ Trung Quốc cắt cáp tham dò dầu khí của Tầu Bình Minh 02, Viking 02 của Việt Nam; hoặc việc Trung Quốc cho xây dựng cột sắt và thả phao ở bãi Amy Douglas, hay cho tàu bắn xuống nước, xua đuổi tàu đánh bắt cá của ngư dân Việt Nam hay Philippines ngay tại vùng biển của các nước này.
![]() |
Bản đồ 1 |
Trước các hành động gây hấn như vậy của Trung Quốc, phía Việt Nam và Philippines có thể có bốn lựa chọn chính: Thứ nhất, không có phản ứng gì. Thứ hai, ra công hàm phản đối hành động gây hấn của Trung Quốc trên các diễn đàn song phương hoặc đa phương, như tại Liên hiệp quốc. Thứ ba, đem vụ việc ra kiện ở Tòa án Quốc tế. Thứ tư, có hành động tự vệ một cách thích hợp, như việc Philippines cho nhổ các cột sắt, hoặc cho bắt giữ tàu đánh cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và đòi xử họ theo luật.
Cần phải nói rằng, nếu vụ việc chỉ gói gọn trong xung đột có tính song phương, thì việc ra công hàm phản đối cũng gần giống như không làm gì cả. Mặt khác, việc đem ra kiện tại tòa án quốc tế về tranh chấp đánh bắt cá hay khai thác dầu thường hết sức tốn kém, mất thời gian và dễ bị làm cho rắm rối, do luật quốc tế không thể đủ chi tiết để áp dụng ngay cho việc xử các vụ kiện như vậy. Thêm vào đó, khi xẩy ra một chuỗi các vụ tranh chấp liên tiếp, thì tính phức tạp của vụ việc chỉ có tăng. Điều đó dĩ nhiên chỉ có lợi cho bên lớn hơn, dùng sức mạnh mềm để chèn ép, hơn là bên nhỏ hơn, bị xâm hại và đem vụ việc ra kiện.
Như vậy, xét trên quan điểm của Trung Quốc, việc gây hấn về quyền đánh bắt cá hay khai thác dầu trong vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia nhỏ hơn trên Biển Đông sẽ có lợi ở chỗ: (i) Trung Quốc có thể giữ cho mức độ xung đột đủ nhỏ, để mâu thuẫn mang tính song phương, mà phía bị xâm hại ít làm được gì để thay đổi cục diện tình hình; và (ii) Chuỗi xung đột phải đủ liên tục và đều khắp ở các điểm chiến lược trên Biển Đông, để biến các sự việc đã rồi thành quyền kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc về việc khai thác các nguồn lợi mang tính loại trừ.
Nói rõ hơn, việc Philippines xua đuổi tầu cá Trung Quốc hay nhổ cọc ở bãi đá mà Trung Quốc vừa dựng lên chỉ làm tăng rủi ro bị Bắc Kinh tố cáo trên khắp các phương tiện đại chúng, mà tiền bạc và sức mạnh mềm làm cho tiếng nói của nó có hiệu lực, rằng Philippines sẽ phải hứng chịu các hành động "chấp pháp" của Trung Quốc. Sức mạnh quân sự vượt trội và ngày càng mạnh của Trung Quốc khiến cho nước nhỏ trong vùng phải đối mặt với rủi ro là sẽ chịu tổn thất rất lớn, nếu một mình dám cưỡng lại hành động "chấp pháp" của Trung Quốc**. Nhìn trước kết cục như vậy, nước nhỏ đó có thể phải ngồi yên không làm gì, ngoài việc ra công hàm phản đối, mà về thực chất cũng là không làm gì, như đã nói.
|
Tàu Viking 02 của Việt Nam bị tàu Trung Quốc cắt cáp trong vùng 200 hải lý tính từ đường cơ sở của Việt Nam. Ảnh: PVN |
Chính vì logic của sự chèn ép đó, mà Việt Nam ngồi yên, khi Trung Quốc ra lệnh cấm bắt cá trong thời gian dài, trên một vùng biển rộng lớn, bao gồm cả thềm lục địa của Việt Nam. Cam chịu sẽ dần biến thành sự buộc phải chấp thuận quyền kiểm soát trên thực tế của Trung Quốc đối với Biển Đông. Khi đó, việc có hay không các công ước về Luật Biển, bao hàm cả UNCLOS, thì cũng chẳng thể làm được gì nhiều để thay đổi một thực tế: Đường lưỡi bò đã được xác lập dần trên thực tế. Điều đó bao hàm rằng, đường hàng hải chiến lược đi qua Biển Đông, dần sẽ thuộc về Trung Quốc. Các nước khác sẽ buộc phải tuân thủ trật tự mới (unirule), được cưỡng chế bởi sức mạnh quân sự của Trung Quốc, theo dự đoán là có thể thách thức Mỹ ở Tây Thái bình Dương vào năm 2030.
Chiến lược chèn ép của Trung Quốc
Chiến lược chèn ép của Trung Quốc nhằm thôn tính Biển Đông có thể được tóm tắt như sau:
Ngay sau vụ việc Trung Quốc xâm hại quyền khai thác tài nguyên mang tính loại trừ, như đánh bắt cá hoặc khai thác dầu của Việt Nam/ Philippines. Cụ thể là vụ cắt cáp thăm dò dầu của tàu Bình minh 02. Nếu không gặp phải phản ứng gì, thì Trung Quốc sẽ ghi được 1 điểm trong chuỗi các bước chèn ép nhằm thôn tính Biển Đông. Trong hoàn cảnh đó, Việt Nam/ Philippines bị mất 1 điểm trong việc bảo vệ chủ quyền. Hay nói rõ hơn, Việt Nam/ Philippines đã bị tước mất một phần quyền được khai thác tài nguyên trên lãnh thổ, bao gồm biển đảo mà dân cư mình sinh sống.
Một lựa chọn khác là thay vì ngồi yên, Việt Nam/ Philippines có thể có phản ứng tự vệ một cách thích hợp, phù hợp với thỏa thuận khu vực và công ước quốc tế. Nhưng ngay sau khi vấp phải sự phản ứng tự vệ đó của Việt Nam/ Philippines, Trung Quốc có thể đáp lại bằng hai cách: Thứ nhất, tôn trọng cam kết của mình về nguyên tắc ứng xử Biển Đông (DOC) và Luật Biển quốc tế (UNCLOS). Khi đó, các bên đạt được sự hòa giải sau xung đột vừa xẩy ra. Trung Quốc không ghi thêm được điểm nào trong chuỗi các bước thôn tính Biển Đông (ghi điểm 0). Và Việt Nam/ Philippines cũng không bị mất điểm về chủ quyền (tức là "mất" 0 điểm).
Ngược lại, Trung Quốc có thể nuốt lời hứa tôn trọng thỏa thuận khu vực và Luật quốc tế. Cụ thể là Trung Quốc tô vẽ lại vụ việc xung đột vừa xẩy ra như mình là bên bị xâm hại và vì vậy, buộc phải có hành động "chấp pháp". Khi làm như vậy, Trung Quốc đã liên tiếp xâm phạm luật pháp quốc tế và chủ quyền của quốc gia nhỏ hơn. Với sự bất cân xứng về sức mạnh kinh tế và quân sự, phần thắng trong xung đột song phương sẽ thuộc về kẻ nào mạnh hơn, bất kể công lý. Cụ thể là, Trung Quốc ghi được 2 điểm liên tiếp trong chuỗi các bước thôn tính Biển Đông. Việt Nam/ Philippines bị mất 2 điểm.
Các tình huống trên được biểu diễn bởi lược đồ sau:
![]() |
Sơ đồ 1: Cuộc chơi chèn ép chủ quyền song phương do Trung Quốc tiến hành |
Ta có thể thấy là, nếu Việt Nam/ Philippines phản ứng tự vệ một cách đơn phương, thì sự thôn tính sẽ diễn ra nhanh hơn. Trung Quốc nhất định sẽ nuốt lời hứa, chà đạp lên các thỏa thuận DOC hay luật quốc tế UNCLOS. Vấn đề là Trung Quốc sẽ đẩy nhanh gấp 2 lần nhịp độ thôn tính Biển Đông, nếu phá thỏa ước hơn là tôn trọng thỏa ước. Nhìn trước kết cục như vậy, Việt Nam/ Philippines không được phép kỳ vọng rằng, Trung Quốc sẽ thực hiện những gì họ đã cam kết. Nhưng nếu vậy thì ngay từ đầu, khi vừa xẩy ra việc Trung Quốc gây hấn (cắt cáp thăm dò dầu, dùng súng bắn đuổi dân chài), Việt Nam/ Philippines sẽ chọn việc gửi công hàm phản đối, mà không có hành động tự vệ. Kết cục là Trung Quốc chỉ ghi được 1 điểm. Việt Nam/ Philippines chỉ bị mất có 1 điểm về bảo vệ chủ quyền. Dù sao đi nữa, Việt Nam/ Philippines vẫn bị xâm hại.
Dĩ nhiên Trung Quốc và Việt Nam/ Philippines có thể ký kết một thỏa thuận mang tính pháp lý mạnh hơn DOC. Theo đó, Việt Nam/ Philippines có thể đem kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế, nếu Trung Quốc tái vi phạm công ước pháp lý vừa được ký kết. Nhưng những thỏa thuận pháp lý kiểu như vậy không thể tính hết được mọi tình huống tranh chấp phức tạp, có thể xẩy ra trong tương lai (bounded rationality). Trung Quốc có thể lợi dụng những tình huống không được ghi rõ trong thỏa thuận như là một kẽ hở về xác định chủ quyền để tiếp tục chèn ép Việt Nam/ Philippines, bất chấp công ước đã ký kết.
Mặt khác, việc đạt được một thỏa thuận có tính pháp lý như vậy sẽ làm tăng tính đạo lý và cơ sở pháp lý (legitimacy) về chủ quyền của Việt Nam/Philippines với các vùng Biển đảo của mình. Nó sẽ là cơ sở cho việc thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược trong khu vực và trên trường quốc tế để bảo vệ chủ quyền chính đáng của Việt Nam/ Philippines. Nếu tính cả đến eo biển Malacca, mà nó sẽ là cái đích tiếp theo trong chiến lược Trung Quốc muốn kiểm soát đường hàng hải cho riêng mình, thì một liên minh phi chính thức bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam đã được hình thành.
Cuộc chơi tự nó đã có tính đa phương và sẽ phải giải quyết trong khuôn khổ hợp tác đa phương. Chính ở điểm này, nếu sự chèn ép của Trung Quốc trong quan hệ song phương càng thô bạo, thì hành động của họ càng đi ngược đạo lý và càng đặt ra những tiền lệ nguy hiểm cho tự do và an toàn hàng hải quốc tế. Trên quan điểm đa phương mang tính thực tiễn đó, sự chèn ép nhằm thôn tính Biển Đông của Trung Quốc sẽ vấp phải sự phản đối ngày càng mạnh mẽ hơn của cộng đồng quốc tế và khó có thể thực hiện được.
“Phố người Hoa” và lý luận của chủ đầu tư
Chủ đầu tư xây dựng khu đô thị cho người Hoa ở TP. Bình Dương mới cho rằng báo chí thông tin sai lệch vì Đông Đô Đại Phố không phải xây dựng dành riêng cho người Hoa. Nhưng đáng tiếc, chính trang web của công ty này khẳng định điều ngược lại.
>>Phố người Hoa ở Việt Nam - Chính sách hay tầm nhìn?
>>Khi người Việt Nam xây dựng phố dành riêng cho người Hoa
Phố người Hoa: Sự thật có hay không?
Ngày 29/06/2011, ngay sau khi đăng bài viết "Khi người Việt Nam xây dựng phố dành riêng cho người Hoa", Tuần Việt Nam nhận được công văn số 93A/ Becamex- PKD của Công ty Becamex IJC gửi báo điện tử VietNamNet cho rằng, báo đã đăng tải những quan điểm chủ quan, thiếu chính xác, không đầy đủ và gây nên những hiểu lầm đáng tiếc về dự án Đông Đô Đại Phố.
Theo đó, văn bản của công văn cho rằng:
Dự án Đông Đô Đại Phố được thiết kế nhằm cung cấp các dịch vụ dành cho những doanh nhân, doanh nghiệp châu Á đang sinh sống và làm việc tại tại Bình Dương, không phải dành riêng cho đối tượng là người Hoa như bài viết đã đề cập.
Nếu người nước ngoài muốn mua nhà cũng phải tuân thủ các quy định về quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở theo pháp luật Việt Nam ban hành. Đông Đô Đại Phố không phải là dự án được xây dựng để bán riêng cho người Trung Quốc nhập cư như quý báo so sánh.
Công ty không dành sự "ưu ái" riêng cho cộng đồng người Hoa, và khẳng định rằng đây là dự án bất động sản mang tính thương mại dịch vụ, không mang bất kỳ môt yếu tố màu sắc chính trị, tôn giáo hay sắc tộc nào.
Công ty Becamex IJC còn "phản đối việc suy diễn những thông tin về định hướng phát triển dự án theo các hướng khác ngoài hướng thương mại và dịch vụ vừa kể trên".
Trước văn bản kiến nghị của công ty Becamex IJC, chúng tôi buộc lòng phải truy cập đường link vào trang Web của chủ đầu tư. Tuy nhiên, rất đáng tiếc, những gì mà Tuần Việt Nam tìm hiểu được, không hề sai lệch so với những nội dung mà bài báo đã nêu, ngày 29/06/2011
Trang web của công ty Becamex IJC nói gì?
Để rộng đường dư luận và tôn trọng sự thật, Tuần Việt Nam chúng tôi xin trích đăng một số nội dung cơ bản, có ảnh kèm, mà trang web này đã quảng cáo cho chính dự án Đông Đô Đại Phố:
Đông Đô Đại Phố - China Town - TP mới Bình Dương. Phố người Hoa tại trung tâm Thành phố mới Bình Dương. Chủ đầu tư Becamex IJC. Thứ hai, ngày 30 tháng năm năm 2011 Becamex IJC: Khởi Công Xây Dựng Trung Tâm Thương Mại Đông Đô - TP Mới Bình DươngĐược đăng bởi Đông Đô Đại Phố vào lúc 12:00 ...Là tâm điểm nổi bật của dự án Đông Đô Đại Phố, trung tâm thương mại Đông Đô được xây dựng trên diện tích 8146 m2, có 3 mặt tiền giáp với đường lớn rộng 35m, cao 3 tầng với đầy đủ các dịch vụ kinh doanh thương mại như khu bán thời trang, đồ gia dụng, điện tử, nội thất khu ẩm thực và giải trí, được thiết kế sang trọng hài hoà giữa phong cách hiện đại mà vẫn mang đậm nét kiến trúc truyền thống của người Hoa.
Bên lề buổi lễ, rất nhiều khách hàng có mặt tại buổi lễ đã bày tỏ niềm tin tưởng vào một khu đô thị phồn thịnh và sầm uất bậc nhất tại thành phố mới Bình Dương sắp được hình thành trong tương lai không xa. Anh Quốc Tuấn- một trong những khách hàng đầu tiên đến tham dự cho biết " Tôi đã nghiên cứu và đầu tư rất nhiều dự án tại Thành phố mới Bình Dương. Nhưng lần đầu tiên, tôi nghe nói đến một dự án được thiết kế dành riêng cho người Hoa. Tôi đã quyết định đến tham quan và tìm hiểu thêm thông tin về dự án Đông Đô Đại Phố và đã thật sự bị thuyết phục bởi những lối thiết kế rất sang trọng mang phong cách truyền thống của người Hoa và trên hết những tiện ích xung quanh mà dự án đem lại" Với vị trí đắc địa - gần trung tâm hành chính- chính trị, trung tâm văn hoá, cách chùa Bà Thiên Hậu chỉ 80m, và nhiều dịch vụ tiện ích khác như phố đi bộ, khu ẩm thực, siêu thị, sau khi hoàn thành, Đông Đô Đại Phố sẽ là khu thương mại phồn thịnh và sung túc bậc nhất tại thành phố mới Bình Dương, góp phần làm thay đổi diện mạo khu vực và là cầu nối thương mại giữa Bình Dương và quốc tế. |
Những câu hỏi tại sao?
Nếu bạn đọc, đọc được những dòng quảng cáo trên, liệu họ sẽ nghĩ gì về bản chất của dự án Đông Đô Đại Phố- như chính website này tự quảng cáo, là "dành cho người Hoa tại thành phố mới Bình Dương". Xin lưu ý là ngay cái tên gọi dự án- Đông Đô Đại Phố- cũng khó có thể gọi là một cái tên thuần Việt, ngay trên đất nước Việt Nam.
![]() |
| Ảnh chụp màn hình lúc 17h ngày 30/6/2011, website của Becamex IJC. |
Cũng ngay sau khi đăng tải bài báo trên, rất nhiều bạn đọc của Tuần Việt Nam đã email và đặt câu hỏi: Tại sao phải xây dựng một khu phố người Hoa mà không phải của một dân tộc nào khác ở ngay trung tâm đô thị được giới thiệu là "trung tâm hành chính" trong tương lai của một tỉnh?
Và cũng trong thời buổi Internet đến tận từng ngõ ngách, mọi thông tin rất khó có thể dấu kín. Sự trung thực trong kinh doanh, không chỉ ở việc làm, mà còn ở ngay lời nói, một lần nữa lại được đặt ra. Có khi không cần phải trên bàn đàm phán giữa các đối tác làm ăn, mà chỉ cần trên một trang web nhỏ của một công ty, hay một công văn nhỏ gửi báo điện tử. |
Tại sao không để một khu phố rất đặc trưng như vậy hình thành theo quy luật sinh tồn như vốn có của nó từ hàng nghìn năm nay trên khắp thế giới? Liệu người Việt Nam có bị bắt buộc không được bén mảng đến đây (trên chính đất nước Việt Nam) như tại một Casino quốc tế ở Đà Nẵng, hay một sân gofl ở ngay địa đầu Móng Cái? Đây là những câu hỏi bình thường, chỉ là những nghi ngại vì đã từng có những sự việc tương tự xảy ra.
Tại sao chúng ta không để cộng đồng người Hoa sống hòa hợp và phát triển một cách tự nhiên cùng các cộng đồng người nước ngoài khác mà phải xây dựng khu dành riêng? v...v và v...v.
Đương nhiên, trong thời hiện đại này, kinh tế luôn gắn liền với văn hóa, giáo dục và an ninh xã hội. Đất nước ta đang sống trong thời điểm cực kỳ nhạy cảm. Những người làm doanh nghiệp không chỉ chạy theo lợi ích, mà còn phải khôn ngoan, và hiểu mình nên chọn lựa hướng kinh doanh như thế nào, để tránh những hệ lụy không đáng có.
Và cũng trong thời buổi Internet đến tận từng ngõ ngách, mọi thông tin rất khó có thể dấu kín. Sự trung thực trong kinh doanh, không chỉ ở việc làm, mà ngay lời nói, một lần nữa lại được đặt ra, có khi không cần phải trên bàn đàm phán giữa các đối tác làm ăn, mà chỉ cần trên một trang web nhỏ của một công ty, hay một công văn nhỏ gửi báo điện tử.

Các chuyên mục 









