Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Hai 2026
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 9
 Lượt truy cập: 28533238

 
Văn hóa - Giải trí 02.02.2026 19:21
CHINA TOWN ĐANG ĐƯỢC THIÊN TRIỀU ĐẠI HÁN XÂY DỰNG TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG
01.06.2011 00:56

Một tiểu vương quốc của Thiên Triều của Mao Xếnh Xáng: “China Town” đầu tiên vừa được bác Hồ Cẩm Đào cho khởi công xây dựng tại tỉnh Bình Dương, Việt Nam vào hôm 22 tháng 5 vào đúng dịp bầu cử quốc hội bù nhìn của chư hầu Nam Man.

Phác thảo thiết kế Chinatown tại tỉnh Bình Dương. (Hình: tài liệu của Becamex)

CHINA TOWN ĐANG ĐƯỢC THIÊN TRIỀU ĐẠI HÁN XÂY DỰNG TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG: BAO GIỜ DÂN VIỆT TRỞ THÀNH NGƯỜI THIỂU SỐ TRÊN CHÍNH QUÊ HƯƠNG MÌNH..

Báo lề phải cho biết công trình này là một trung tâm thương mại có tên Ðông Ðô được xây dựng tại thành phố Bình Dương trên một diện tích hơn 8,000 m2, cao 3 tầng, “mang đậm nét kiến trúc truyền thống của Trung Hoa Mẫu Quốc”.

Cũng theo lề phải, Trung Tâm Thương Mại Ðông Ðô là trung tâm điểm của dự án “Ðông Ðô Ðại Phố” – khu thương mại đầu tiên dành cho người Hoa tại Bình Dương, rộng 26 ha với tổng vốn đầu tư lên hơn 6,000 tỉ đồng, tương đương 300 triệu đô la Mỹ.

Mặc dù chưa xác định chừng nào thì công trình xây dựng hoàn thành nhưng nguồn tin này nói trước rằng Ðông Ðô Ðại Phố sẽ là “khu thương mại phồn thịnh và sung túc nhất của thành phố Bình Dương và là cầu nối thương mại giữa tỉnh Bình Dương và Bắc Kinh, đây là một nổ lực của chính quyền trung ương Bắc Kinh nhằm kéo dài lãnh thổ của Thiên triều xuống tận Vĩ Tuyến 10”.

Từ xa xưa, khu vực Chợ Lớn được coi là vùng đất qui tụ đông đảo người Việt gốc Hoa đến sinh sống, làm ăn từ trước năm 1975. Sau cuộc chiến tranh giữa mẫu quốc Trung cộng và Việt Nam cộng sản hồi năm 1979 tạo ra một thảm cảnh “nạn kiều – bài Hoa” và các chiến dịch “bài trừ tư sản mại bản” của chế độ Cộng Sản Việt Nam đã đẩy hàng vạn người Hoa cùng với người Việt ào ạt xuống tàu vượt biên đi tìm tự do ở khắp các châu lục.Gần đây, cháu con của Mao Chủ Tịch từ Mẫu Quốc Trung Cộng được chính quyền trung ương Bắc kinh đưa đi xây dựng kinh tế mới ở khắp các tỉnh thành của Việt Nam từ ải nam Quang đến tận mũi Cà Mau, với số lượng ngày một đông dần. Người ta ước tính tại tỉnh Bình Dương hiện có khoảng 120,000 “người Hoa mới” đến làm ăn sinh sống, đông nhất là vùng Lái Thiêu, thị xã Thuận An, thị xã Thủ Dầu Một, Tân Uyên…
Với dân số trên 1 tỷ 300 triệu người như hiện nay, chính quyền Trung Ương Bắc Kinh đang có kế hoạch mở rộng lãnh thổ Đại Hán xuống Đông Dương bằng cách di dân đường dài đến xây dựng các khu kinh tế mới tại hầu khắp các tỉnh thành của Ai Lao, Cam Bốt và An Nam. Với việc khởi công xây dựng khu China Town tại Bình Dương vào sáng 22 tháng 5 vừa qua, lãnh thổ Đại Hán của Bác Hồ Cẩm Đào đã kéo dài xuống tận vĩ tuyến 10.

BAO GIỜ DÂN VIỆT TRỞ THÀNH NGƯỜI THIỂU SỐ TRÊN CHÍNH QUÊ HƯƠNG MÌNH


Nguyễn Phúc Bảo Ân

Chuyện Xứ Người:

Thật khó ai có thể hình dung được rằng vào tháng 10 năm 1949, khi vệ binh Trung Cộng cưỡng chiếm một quốc gia hoàn toàn độc lập chủ quyền – Cộng Hòa Đông Thổ- East Turkistan – của người Duy Ngô Nhĩ – Uyghur để sát nhập vào nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa của Mao Chủ tịch, thì tỷ lệ người Hán trên cả xứ Tân Cương này chỉ xấp xỉ 4% vậy mà chỉ với 60 năm cai trị và áp đặt chính sách Hán hóa trên lãnh thổ tự trị Tân Cương này, đến nay, tỷ lệ người Hán đã lên đến 46%, nghĩa là chiếm gần một nữa dân số của xứ tự trị này.

Từ một dân tộc độc lập, sống trên một lãnh thổ với toàn vẹn chủ quyền của mình kể từ khi giành được độc lập vào năm 1933, thế rồi sau khi nước Trung Cộng ra đời vào năm 1949, thì chỉ sau một đêm ngủ, người Duy Ngô Nhĩ thức dậy và đã trở thành một dân tộc thiểu số trên chính quê hương của mình. Nhiều người Duy Ngô Nhĩ thấy được nỗi nhục mất nước và nguy cơ diệt vong của giống nòi do chính sách Hán hóa với nhiều biện pháp kìm hãm của chính quyền cộng sản Bắc kinh, đã phải đào thoát đi tỵ nạn chính trị ở các nước tự do ở phương tây và cũng không ít những cuộc nổi dậy của người dân trong nước đấu tranh giành độc lập và chủ quyền lãnh thổ cho dân tộc họ. Mà với nền chuyên chính vô sản, với bạo lực cách mạng như những nước cộng sản khác, chính quyền Bắc kinh đã đàn áp đẫm máu và dễ dàng dập tắt ngay những ngọn lửa đấu tranh này của người Duy Ngô Nhĩ ngay khi nó vừa khởi phát.

Bạo loạn ở Tân Cương7/2009

Vụ gần đây nhất là vào ngày song thất 07 tháng 7 năm 2009 vừa qua, tại thủ phủ Urumqi của xứ tự trị này với hàng ngàn người Duy Ngô Nhĩ xuống đường biểu tình chống lại các chính sách Hán hóa và đòi lại độc lập cho dân tộc, và cũng như những cuộc nổi dậy trước đó, những người Duy Ngô Nhĩ yêu nước đã bị quân đội cộng sản Bắc Kinh đàn áp đẫm máu, khiến hơn 160 người bị giết chết tại chổ, hơn 1,000 bị trọng thương, hơn 1,400 người bị bắt giữ bị kết án lên đến 10 năm tù giam và vào hôm 10 tháng 11 vừa qua đã có 9 người “nổi loạn” này đã bị đưa ra hành quyết ngay sau khi bị tòa án tuyên phạt với mức án tử hình, nhưng vẫn chưa hết, nhằm dằn mặt những người Duy Ngô Nhĩ dám yêu nước thương nòi, ngày 03 tháng 12 vừa qua lại thêm 5 người yêu nước Duy Ngô Nhĩ nữa vừa bị đem ra hành quyết.

Trông Người Mà Nghĩ Đến Ta…

Với một ngàn năm Bắc thuộc cũng với chính sách cai trị vô cùng hà khắc, rợ Hán đã áp đặt chính sách Hán hóa lên tộc người Nam Việt chúng ta, và hàng ngàn người dân Nam cũng đã từng bị rợ Hán bắc phương hành quyết vì họ đã dám yêu nước, thương nòi, dám đứng lên đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, và ông cha chúng ta đã giữ vững được cõi bờ không bị sát nhập vào đế quốc Đại Hán, tổ tiên chúng ta đã giữ vẹn toàn quốc túy quốc hồn nhờ tướng sỹ luôn một lòng chống ngoại xâm để giữ nước. Nhờ hào khí Diên Hồng mà vó ngựa của quân Nguyên Mông dẫu đã chinh phạt muôn phương từ Á sang Âu đành phải chùn bước trước tinh thần quyết chiến của vua tôi Nam Việt và 50 vạn quân Mông cổ đã bị quân dân Nam Việt đánh cho tan tác cho hồn tiêu phách lạc mỗi khi nghe đến hào khí của dân Nam. Những trang sử vàng dân tộc còn lưu danh một Lý Thường Kiệt phá Tống bình Chiêm, một Ngô Quyền, một Hưng Đạo Đại Vương đã hai lần nhuộm đỏ dòng Bạch Đằng Giang bằng máu xương của hàng vạn quân cướp nước Nam Hán và Nguyên Mông. Lịch sử Việt tộc vẫn còn những trang lẫy lừng với chiến thắng Xuân Kỷ Dậu 1789 với 20 vạn quân Thanh không còn một manh giáp, với một Tôn Sỹ Nghị phải quăng cả ấn tín để chạy tháo thân về cố quốc, với một Sầm Nghi Đống phải treo cổ tự vẫn ở gò Đống Đa… Trong hầu hết các cuộc chiến chống ngoại xâm quân dân Nam chúng ta đã luôn luôn chiến thắng dẫu ta phải thường lấy yếu để đánh mạnh, lấy ít để địch nhiều… bởi ông cha ta đã biết vì nợ nước, quên thù nhà và luôn đặt lợi quyền của quê hương, của dân tộc lên trên lợi quyền của chế độ, của giai cấp.

Nhưng than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu khi tinh thần quốc gia, tinh thần dân tộc bị thay thế bởi tinh thần quốc tế cộng sản, khi lòng yêu nước phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, khi “quan san muôn dặm một nhà, bốn phương vô sản đều là anh em” để từ khi nắm quyền cai trị đất nước từ năm 1945 đến nay, “Bác” và Đảng đã hữu hảo cắt dâng hết các hải đảo đến thềm lục địa rồi cả nhiều vùng đất liền Việt nam cho rợ Hán của “Bác Mao” và “ Ngài” thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại tiếp tục dâng bán cả Tây Nguyên cho Hán tặc và đón hàng vạn cháu con của Mã Viện, của Tô Định đến để tàn hại môi trường thiên nhiên lẫn môi trường văn hóa của dân tộc, khiến nhân tâm ly loạn, bởi ý đảng đang chống lại lòng dân, bởi quyền lợi của đảng, của giai cấp thống trị đang được đặt lên trên quyền lời của dân tộc. Trong Nam ngoài Bắc ngày nay đâu đâu cũng thấp thoáng bóng dáng của con cháu bác Mao.

Do áp lực dân số đã vượt hơn 1,3 tỷ người, trong suốt 4 thập niên qua nhà nước Trung cộng đã nghiêm khắc áp đặt một chính sách về dân số và kế hoạch hóa gia đình là “mỗi gia đình chỉ có một con” lên phạm vi cả nước. Bởi chính sách này cùng với tư tưởng trọng nam khinh nữ cố hữu của người Hán mà ở Trung cộng hiện có hơn 20 triệu thanh niên không thể nào lấy được vợ do nạn gái thiếu trai thừa. Nhằm tạo điều kiện cho các thanh niên ế vợ này tại cố quốc có điều kiện “làm chồng”, có điều kiện cấy hạt giống đỏ lên các thiếu nữ Nam phương, Trung Nam Hải đã có chính sách bảo hộ cho các công ty xây dựng công trình nhà máy của Trung cộng bằng mọi giá với mục đích là họ liên tục thắng từ gói thầu này đến gói thầu khác để rồi những làng công nhân quốc phòng Tàu nối đuôi nhau mọc lên khắp miền xuôi lẫn miền ngược mà theo đó những hàng quán ăn uống giải khát, những quán bia ôm, những dịch vụ mát-xa tươi mát cũng liên tục phát triển khiến cho đến nay đã có hàng ngàn thiếu nữ Tây nguyên và hàng ngàn chị em ở miền xuôi khác, sau một thời gian phục vụ nhu cầu “vui chơi” của các công nhân “Hán Chệc” đó, thì “bụng đã tấn công, mông đã phòng thủ” và đã nhiều, quá nhiều những chú “Chệc con” lần lượt ra đời để giúp gia tăng tỷ lệ cháu con của “Bác Hồ Cẩm Đào” trên mãnh đất hình cong chữ S vốn đã nghèo nàn, chật hẹp và đông người này. Khắp các phố thị từ miền ngược đến miền xuôi, từ Đồng Xuân của Hà Nội đến An Đông của Sài Gòn nơi nào cũng đầy đặc những gian hàng của tiểu thương Hán Chết kinh doanh đủ loại ngành hàng nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ các sản phẩm độc hại để hủy diệt nhanh chóng những người “đồng chí tốt” “ láng giềng tốt” Nam man. Ngay cả ở khu làng sinh viên HACINCO tại phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân Hà Nội, là khu liên hợp cao cấp chủ yếu làm nơi ký túc cho sinh viên các trường đại học, thì hiện nay cũng đã có trên 500 “công nhân quốc phòng” của Hán Chệt đến thuê ở, cát cứ và chiếm giữ luôn các thang máy để bài bạc, để đùa nghịch suốt ngày không cho bất cứ ai sử dụng và cũng đã không ít nữ sinh viên Việt nam trong làng sinh viên này đã từng bị các công nhân quốc phòng là cháu con của “Mao Xếnh Xáng” cưỡng hiếp để gieo hạt giống đỏ ngay trong những chiếc thang máy này.

Sau một ngày làm việc căng thẳng tại công sở, với chút thời giờ nhàn rỗi sau lúc tan tầm, nếu quyết định đi thư giãn vào các trung tâm thương mại, các quán xá, hay ngay cả vào các khu giải trí của làng sinh viên HACINCO này, người ta sẽ hốt hoảng khi tưởng rằng đang đi lạc vào một đô thị nào đó ở Thượng Hải, ở Bắc Kinh bởi đâu đâu cũng nghe tiếng khạc nhổ, tiếng chào mời, cười nói bô bô theo đúng phong cách của Hán Chệt “ Nị Hảo Ma? Shen ma? Nị Shuo shen ma?” .

Với tinh thần 16 chữ vàng mà lãnh đạo của hai nước cộng sản Việt-Trung đã thống nhất:

“Láng giềng khốn nạn,
Cướp đất toàn diện
Lấn biển lâu dài
Thôn tính tương lai”

Trong thời gian vừa qua có nhiều ngư phủ Việt Nam bị hải quân Tàu cộng trấn cướp hết ngư cụ, bị bắt giam đòi tiền chuộc, hoặc bị bắn chết khi họ đang khai thác hải sản trên vùng biển của tổ quốc mình, rồi có nhiều người Việt nam yêu nước thương nòi mà lên tiếng khẳng định chủ quyền về các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, đã bị cơ quan an ninh của nước nhà tịch thu tài sản, bị tra tấn, bị giam cầm… tất cả chỉ mới là khúc dạo đầu của chính sách Hán hóa mà Bắc Kinh đã áp dụng hết sức thành công trên hai xứ tự trị Tây Tạng và Tân Cương… Rồi ngày đó cũng sẽ đến với dân tộc Việt nam như những gì đã đến với người Tây Tạng và người Duy Ngô Nhĩ… Rồi dân Việt cũng sẽ trở thành một dân tộc thiểu số trên chính quê hương của mình… và những người yêu nước thương nòi cũng sẽ không chỉ bị các “đồng chí” công an Việt nam đánh đập giam cầm hay bị các tòa án của Việt nam xét xử như hiện nay… mà rồi đây họ sẽ bị xét xử và hành quyết bởi chính quyền trung ương Bắc Kinh như những người Duy Ngô Nhĩ vừa bị hành quyết trong tháng 11 và tháng 12 vừa qua.

Ôi tổ quốc tôi bao giờ sẽ trở thành một tỉnh Việt Nam nằm bên cạnh tỉnh Vân Nam của Đại Hán?

Ôi dân tộc tôi không còn bao lâu nữa thôi sẽ trở thành người thiểu số trên chính quê hương của mình?

Huế, trước ngày Đông chí 2010

 HOA LÀI CUỘC CÁCH MẠNG THẦN TIÊN

Cách mạng Hoa Lài chính là bão lửa,

Ta hãy châm mồi cho lửa cháy bùng lên.

Kìa lửa thiêng như tiếng trống vang rền,

Làm nung nấu ngàn trái tim dũng liệt.

Cách mạng Hoa Lài chính là tiếng thét,

Hun đúc ta bầu nhiệt huyết Ông Cha.

Thúc giục ta bừng dậy cứu Sơn Hà,

Dân tộc thoát can qua cơn quốc nạn.

Cách mạng Hoa Lài có tôi bên bạn,

Đứng lên đi hỡi tuổi trẻ Việt Nam.

Hoa Lài đó bạo quyền đang run sợ,

Hoa Lài kia nhân loại ở cùng ta.

Đừng sợ nữa toàn dân hãy đứng dậy,

Đừng sợ nữa Hoa Lài khắp đó đây.

Hoa Lài đó trào lưu của thế giới,

Hoa Lài ơi ! Tổ quốc gọi ta đi.

Bao năm sống cuộc đời ô nhục,

Bao năm rồi sông núi ngả nghiêng.

Bao năm dài tang thương vì bạo quyền,

Bao năm dân máu lệ chảy triền miên.

Trịnh Xuân Tùng chết trong tay bạo quyền,

Lê Xuân Dũng, Nguyễn Hữu Nam chết oan khiên.

Và lớp lớp dân oan trong xích xiềng,

Đây Hoa Lài cuộc cách mạng thần tiên.

 

LÊ CHÂN

Đứng Lên Việt Nam!

Đứng Lên Việt Nam!

TIẾNG KÊU TỪ ĐẤT MẸ

Tiếng kêu từ đất Mẹ,

Đang rên xiết quặn đau.

Tiếng kêu từ đất nước,

Sôi sục máu dâng trào.

Tiếng kêu hồn dân Tộc,

Đạp sóng dử trùng dương.

Xóa cuộc đời tăm tối,

Bừng lên ánh thái dương.

Mẹ ! Mẹ Việt Nam ơi!

Tiếng kêu vang đất trời.

Tiếng Mẹ kêu quật khởi,

Hãy trổi dậy con ơi !

Mẹ gọi con nữ kiệt,

Mang dòng máu Trưng vương.

Mẹ gọi con chiến sĩ,

Hãy mau tiếp lên đường.

Ôi ! trái Tim của Mẹ,

Là biển trời bao la

Mẹ Việt Nam rướm máu,

Trong con lệ sót xa

Tuổi trẻ Việt Nam ơi !

Giờ lịch sử đến rồi,

Cờ vàng bay phất phới,

Hồn sông núi rạp trời.

Hãy trổi dậy con ơi !

Hãy khắc ghi trong đời

Quốc gia là tất cả

Đây xương máu Ông Cha.

Nhìn non sông nghiêng ngả

Ai vò nát tim ta.

Vì tương lai thế hệ

Là ước vọng vươn xa.

 LÊ CHÂN

http://www.youtube.com/watch? v=5MDYMN7DqIk

 



Google tố cáo Gmail bị tấn công từ Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh phủ nhận

Một biểu tượng của Google tại Bắc Kinh, 12/1/2011.

Một biểu tượng của Google tại Bắc Kinh, 12/1/2011.
REUTERS/Christina Hu

Thụy My / Trọng Thành

“Các tin tặc có lẽ là Trung Quốc đã tấn công hàng trăm tài khoản Gmail của các nhà ly khai Trung Quốc và các nhà báo, các viên chức Mỹ”. Phản ứng lại lời tố cáo trên đây của Google được đưa ra hôm qua, ngày hôm nay 2/6 Bắc Kinh đã cho rằng “Việc đổ trách nhiệm cho Trung Quốc là không thể chấp nhận được”.

Một thông cáo của ông Eric Grosse, một trong các lãnh đạo của Google, được phổ biến trên internet hôm qua đã tố cáo một chiến dịch nhằm đánh cắp mật mã của những người sử dụng Gmail đã được tung ra từ Tế Nam (Jinnan), một thành phố ở miền đông Trung Quốc.

Theo tập đoàn Google, sau khi phát hiện, vụ tấn công đã bị chận đứng. Hãng tin AFP dẫn lời tuyên bố của phát ngôn viên Nhà Trắng Tommy Victor: “Chúng tôi đang cố gắng thu thập các dữ kiện liên quan. Chúng tôi không có lý do nào để tin rằng tin tặc có thể xâm nhập được vào hộp thư của một viên chức chính phủ Mỹ”.

Tuy thông cáo của Google không hề quy trách nhiệm cho chính quyền Bắc Kinh, nhưng hôm nay ông Hồng Lôi (Hong Lei), phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã lên tiếng phản bác. Trong cuộc họp báo ngày hôm nay, ông này tuyên bố, xin trích: “Cái gọi là thông cáo khẳng định rằng chính phủ Trung Quốc ủng hộ các vụ tấn công tin học, là hoàn toàn bịa đặt và có ẩn ý”.

Từ Washington, thông tín viên của RFI, Raphael Reynes cho biết thêm chi tiết:

"Theo thông tin của Google, các viên chức cao cấp Hoa Kỳ, các nhà ly khai Trung Quốc, các chỉ huy quân sự và các nhà báo nằm trong nhóm những người bị cuộc tấn công tin học mới đây nhắm vào. Mục tiêu của hoạt động ngày « dường như là nhằm kiểm soát nội dung chứa trong các tài khoản thư điện tử của những người sử dụng », một người phụ trách của Google giải thích như vậy.

Trong bản thông cáo tối ngày hôm qua thứ Tư 1/6, ông Eric Grosse, một giám đốc kỹ thuật của Google, đã nhắc đến « phishing », một thủ đoạn rất thịnh hành trong giới tin tặc. Thủ đoạn này được dùng để đánh lừa những người sử dụng internet, thuyết phục họ giao lại các dữ kiện cá nhân. Cũng theo Google, nơi xuất xứ của đợt tấn công mới được phát hiện là Tế Nam, thủ phủ tỉnh Sơn Đông, miền Đông Trung Quốc.

Hàng trăm tài khoản của Gmail đã bị ảnh hưởng, tuy nhiên các máy chủ và các hệ thống tin học của tập đoàn Google đều không bị tác động. Thông cáo của Google cho biết « đã nhận dạng được và đã ngăn chặn được cuộc tấn công ». Bản thông cáo cũng cho biết thêm, các nạn nhân đã được cung cấp thông tin và các tài khoản điện tử của họ đã được bảo vệ."

Trước mắt thì không thể nào khẳng định được vụ “tin tặc” lần này có liên quan đến các cuộc tấn công tin học vào Google năm ngoái, cũng từ Trung Quốc hay không. Vào lúc đó Bắc Kinh cũng đã chối bỏ hoàn toàn trách nhiệm, cho rằng các lời tố cáo là “vô căn cứ"

CHU TRI LỤC 3 CƯƠNG LĨNH CÁCH MẠNG VIỆT

CHU TRI LỤC 3
CƯƠNG LĨNH CÁCH MẠNG VIỆT

Nền tảng và điều kiện khách quan tạo thành đời sống thế giới của nòi giống phải được xét nét lại trên suốt cả lịch trình xưa, nay cho đến mai, lấy đó làm một tiêu chuẩn và một cột mốc cho sự đo ngắm con đường chính trị của nòi giống trong xã hội loài người. Đấy là cương lĩnh thứ nhất: Quốc tế biên tế phát triển.

Nòi giống coi là một chính thể mà chính thể ấy trên sự vận hành, tự có nền tảng và điều kiện của nó, ta có thể gọi là nền tảng và điều kiện trung gian ở giữa khách thể là quốc tế và chủ thể là dân tộc coi trên nội dung, trong suốt cái dòng sống ấy, trên một vị trí nào, bị những ảnh hưởng gì, phản ứng thế nào, thành công hay thất bại đều là những bài học lịch sử của chính trị quốc gia; sự vận hành của cái chính thể ấy không lìa cái trục trung tâm của mình, đấy là cương lĩnh thứ hai: Dân tộc căn bản lập trường.

Cái lập trường cỗi gốc của dân tộc bao giờ cũng đôi, như hình với bóng với sự phát triển bờ cõi của quốc tế. Lập trường từ muôn năm về trước đến nay trên đại vận biểu hiện bước đi của Totem biện chứng về Tiên Rồng đã, rồi mỗi giai đoạn trên lịch sử Tiểu Việt đều có thể quy nạp vào một lập trường với sự xử trí của người đương thời tự đắc thất mà định lẽ hưng suy, tồn vong, có thể ở đó mà định lẽ khen chê; rồi tất cả một chuỗi những lập trường đó kết lại với nhau thành một khí mạnh và có lý tắc nhất quán từ tối cổ đi theo một trật tự lịch sử, suy diễn cho đến lập trường tối cận từ 1856 cho đến 1885, lại từ 1885 đến 1918, từ 1918 đến 1939, từ 1939 đến 1950 cho tới tương lai 2000, ở đấy ra một thức vận số kỷ hà học:

1) (1939-1950) -  Dẫn một vạch tới bờ cõi phát triển của quốc tế (50-2000) mà thành ra con đường sống quốc dân của dân tộc.

2) (1939-1950) -  Dẫn một vạch tới bờ cõi phát triển của quốc tế (50-2000) mà thành ra con đường sống thế giới của dân tộc.

Nền tảng và điều kiện chủ quan trên đời sống dân tộc trong kết cấu xã hội và quan hệ kinh tế của nó làm xuất phát điểm cho sự quyết định một phương châm với kế hoạch rõ rệt trên cách mệnh, kiến thiết và chính trị của quốc gia, nó tức là nền người của mỗi cử động và mỗi chế độ. Đó là cương lĩnh thứ ba: Xã hội kết cấu của dân tộc.

Hiệu suất và hiệu quả của sự hô hào và vận dụng được tâm lý và yêu cầu của dân chúng, tâm lý bình diện của dân chúng từ đó dẫn một vạch tới tâm lý lập thể của dân chúng hoàn thành một trình thức lập phương của kỷ hà học, nó phản chiếu tất cả cái hình ảnh chế độ với sự nghiệp cách mạng và kiến thiết thật vững chắc, đó là đời sống xã hội của dân tộc. Đấy là cương lĩnh thứ tư: Dân chúng yêu cầu của dân tộc.

Tom góp bốn cương lĩnh trên mà thành một chương trình của cách mạng phải tiếp liền với những nền tảng và điều kiện bây giờ, sau khi cách mạng vừa thành công và tương lai kiến thiết. Cái mực độ của cuộc sống biểu hiện trên văn hóa loài người thành một chính thể từ bây giờ cho tới tương lai quy định cuộc sống chế độ về mọi mặt chính trị, quân sự, xã hội, kinh tế và nhân chủng của toàn thế giới là một mục tiêu để đạt tới cuộc sống cho dân tộc. Đấy là cương lĩnh thứ năm: Thời đại văn hóa của quốc tế.

Nhưng mà xuất phát điểm của cuộc kiến thiết quốc gia đứng ngay trên mực độ đời sống văn hóa của dân tộc, từ đó dẫn một vạch tới thời đại văn hóa của quốc tế hình thành con đường sống kiến thiết của dân tộc, chủ quan phối hợp với khách quan. Đấy là cương lĩnh thứ sáu: Thủy chuẩn văn hóa của dân tộc.

Tất cả sáu cương lĩnh trên, dưới một nghiên cứu thật đích đáng vạch tỏ rõ rệt những nguyên tắc tối cao và chắc chắn nhất, hiện thực nhất, làm chỉ nam cho cách mạng, chính trị và kiến thiết của dân tộc, đem tất cả con đường sống kỷ hà học chắp vào một con đường biện chứng thống nhất tính với một con số thống kê mà nắm thắng hiện thực và giả định chắc chắn hay diễn dịch đích đáng mà thành. Đấy là cương lĩnh thứ bảy: Chính trị phương châm quốc gia.

Sự thực hành những nguyên tắc chỉ đạo trên kia phải y cứ vào một hiện đồ có con số và điểm tuyến mà thi thố ra bằng những chương trình thực tiễn, xác thực và bách chân. Đấy là phần ứng dụng quan hệ nhất. Phải đem một biện chứng đúng xác nó dẫn dắt và một quan sát trọn vẹn nó giữ lại, mới khỏi sai lầm trên sự lĩnh đạo trong trận thế. Đấy là cương lĩnh thứ tám: Đấu tranh cương lĩnh.

Lại một khi cách mạng thoạt thành công, sự nhập thủ vào kiến thiết với sự đưa dắt sự kiến thiết ấy lên một bả ác để đem vào một quỹ đạo xã hội cho thành công, còn trông ở cái triết học, khoa học và thuật học trọn vẹn tỏa ra một dự biết, dự đoán đó mà thành công trước khi thành công. Đấy là cương lĩnh thứ chín: Kiến quốc qui mô.

Chín cương lĩnh trên trong nghiên cứu và phát hiện phải nhờ dựa vào một thức học đem quy nạp vào biện chứng của chủ nghĩa, sự thâu thái được cái hiệu quả lý luận thống nhất với thực tiễn, con số thống nhất với lý tắc của lịch sử thống nhất với biện chứng, đó là do sự trăm phần trăm đúng xác của chủ nghĩa.

Chủ nghĩa trên tiêu cực tác dụng mới để tuyên dương và hiệu triệu, nhưng cái tác dụng tích cực của nó là ở trong sự thành lập đời sống đích xác của loài người, tức là ở sự nghiên cứu, phát minh, kiến thiết và vận dụng thực tiễn. Chủ nghĩa vừa sinh ra trước 9 cương lĩnh này để nghiên cứu nó mà còn vừa sinh ra sau nó để lấy nó chứng minh trên lý luận và thực tiễn cho sự đúng chắc của chủ nghĩa, cái ấy bảo đảm cho hành động chúng ta thành công.

19. CƯƠNG LĨNH 1

Quốc tế biên tế phát triển.

Thời kỳ thành thục rồi hủ bại của một văn minh đưa dắt đến cuộc vỡ lở của toàn đời sống thế giới, ở đó sản sinh ra con đường quặt của vật chất và tinh thần, nó tu chỉnh lại con đường nhân loại học của tiến hóa gọi là kỳ chuyển hình từ đó.

Như ta thường nói, từ 1862 trở về trên, trước 1856 là thời kỳ mà đời sống quốc tế và khách quan của dân tộc ta chỉ hạn chế trong lòng thiên hạ nòi Hán. Sự gặp gỡ Đông Tây đã đem trận 1870 và 1918 thế giới hóa mà trải qua giai đoạn 49 năm đó tới thời kỳ 1919-1939 là thời kỳ rõ rệt nhất của loài người trong cuộc đấu tranh của ba trận doanh quốc tế (dân chủ tư bản, cực quyền chủng tộc, cộng sản thống trị). Cuộc hỗn chiến 1939­1945 quyết định cái mầm mống của vỡ lở và chuyển hình, nó đặt để thời kỳ hướng tâm với một chế độ thế giới mới từ 1950 trở đi.

Dân tộc nhân tố, giai cấp hình thể và tâm lý trào lưu của thế giới trong khoảng hỗn chiến này đã quyết định xu hướng tương lai của chúng ta; để mà thành công, chỉ chiếu ứng vào cái hiện đồ mà xếp đặt công cuộc cách mạng của dân tộc.

20. CƯƠNG LĨNH 2

Dân tộc căn bản lập trường.

Lập trường 1940 và lập trường 1950 là hai điều cần biết. Hãy nói trước về lập trường 1940 đối Tàu, Nhật, Thái, Pháp, quốc tế và tự thân.

1) ĐỐI TÀU

Muốn biết lập trường của mình đối với người và người đối với mình, sự tự xem mình một mặt đã cần, sự xem người trên hết các xu hướng của phát triển lịch sử cùng là chính trị lộ tuyến của người về phía mình một mặt còn rất cần.

Trung tâm của quy luật lịch sử Tàu là: “Hữu đức giả hữu thổ”; hữu đức đây không phải là đạo đức, nhưng lấy ý nghĩa nghiêm ngặt của nó trong kinh sử Tàu mà giảng giải thì nó là lấy tài hóa thu nhân tâm. Cái quy luật đó đem phối hợp với ý chí của dân tộc ấy là “hưng Hoa diệt Di”, hình thành một cái định nghĩa của một tấm lịch sử xâm lược. Cái nguyên tắc chủ yếu ấy từ cổ tới nay đã từng thực hành mà còn có thể nói có chứng cớ rằng vẫn thực hành. Bằng cớ sự đem ra thực tiễn các kho nguyên tắc này là kinh sử vẫn thấy nhan nhản. Kinh sử vốn là miệng lưỡi của cái thanh giáo nhà nho làm trung kiên cho xã hội quan liêu dân chủ, trung lưu tư sản phong kiến của cái thiên hạ đại đồng chủ nghĩa lối Hán, mà vũ khí và thủ đoạn chủ yếu là chủng tộc xâm lược. Chủng tộc được suy tiến theo lối “tam niên dưỡng nhi giáo chi tất giai ngô dân”, văn hóa được suy tiến sau chủng tộc làm sự duy hệ và thế thủ sau thế công: “tuần tuyên văn giáo, thủ tại tứ Di”, kinh tế theo sau nữa: “hữu đức giả hữu thổ” mà chính trị chiếm lĩnh là cần yếu hơn “phổ thiên chi hạ, mạc phi vương thổ”, tất cả đều phục tòng dưới lưỡi lê: “nhưỡng Di Địch, phạt Man Khương”.

Nếu không tin mà còn tin vào Khổng Mạnh. xin hãy giở pho sử muôn năm của ta với tất cả thảm thương sỉ nhục của sự bị đè nén, bị xâm lược, bị hiếp tróc; lại xin tham khảo lịch sử của các dân tộc Man Di bốn phía Tàu. Quốc dân, chính trị gia và cách mạng gia hãy giở lại cái quan hệ của sự giúp đỡ cách mạng lẫn nhau giữa nòi giống ta và nòi giống Hán, hãy thể nghiệm cái sầu hận đời Hậu Trần và Lê Chiêu Thống, hãy tiếc róc cái đối đãi tốt của ta đối với lũ Hậu Tống, Hậu Minh.

Còn có kẻ thân Tàu, sùng bái Khổng Mạnh, ủng hộ Tôn Văn, nói rằng việc cũ bỏ đi, trăm điều phải trông vào xu hướng mới. Cái xu hướng mới của Cách Mạng Tân Hợi (1911) tức là sự chuyển hình của một đế quốc lối Á Đông phong kiến, sang lối dùng những tinh thần và vật chất vũ khí của các đế quốc tư bản lối Âu Châu.

Hãy xem Đảng Quốc Dân Tàu hiện làm chủ trào lưu của chính trị lộ tuyến và xu hướng nước ấy. Sự quyết định chính sách của mỗi đảng hay mỗi nước còn căn cứ vào cái thành phần xã hội của đảng hay nước ấy, tự nó giải nghĩa hết và quy định hết các hành vi hay tâm lý để rồi hãy xem đến quốc sách với chủ trương sau. Nền tảng của Quốc Dân Đảng Tàu bao gồm một giai cấp từ trung tư bản đến đại tư bản trở lên cầm đầu bởi lũ quân phiệt tư bản nho sĩ đè nén tiểu tư sản và vô sản giai cấp, mua chuộc sự thỏa hiệp với đế quốc bên ngoài, mong học đòi cái kết cấu ấy quyết định con đường tư bản đế quốc chủ nghĩa, phối hợp với chủng tộc thiên hạ chủ nghĩa cũ mà nảy nở ra một hình thức đế quốc chủ nghĩa Tam Dân. Tam Dân chủ nghĩa chỉ là một chủ nghĩa chủng tộc xâm lược, hơn nữa là một chủ nghĩa xâm lược thế giới. Đã biết rằng Tam Dân chủ nghĩa là thủ đoạn đó, sự phân tích dân tộc chủ nghĩa là đặc biệt cần yếu (chú ý: dân tộc chủ nghĩa của Tam Dân).

Dân tộc chủ nghĩa ấy tóm tắt 5 yếu điểm này:

A. Trung Quốc dân tộc tự cầu giải phóng hay là nòi Hán tự cầu đổi lốt.

B. Quốc nội dân tộc nhất luận bình đẳng.

Khoảng năm 1885 cách mạng Tôn Văn ra đời, cực lực chủ trương chủng tộc. Lúc bấy giờ y đề xướng ra nòi Hán diệt nòi Mãn, rồi lãnh đạo nòi khác ở Á Đông, chưa bị hay hiện bị dưới ách của Tàu. Sự dập gẫy làm y giảm bớt sự quá khích mà đề xướng Ngũ Tộc Cộng Hòa (khoảng Tân Hợi 1911). Ngũ Tộc Cộng Hòa chỉ là một liều thuốc độc bọc bánh ngọt, bởi vì nếu kể về nhân khẩu trong đất Tàu thì 90% là Hán còn 10% là các nòi Mãn, Mông, Tạng và Miêu (Việt núi). Như thế thì chế độ Ngũ Tộc Cộng Hòa dung túng cho số đông nuốt số ít mà số đông ấy càng được đông người và thêm đất, hợp với mục đích lập quốc lắm. Nhưng bệnh quá khích lại nổi dậy để Tôn Văn (khoảng năm 1916) đề xướng ra luận quốc tộc. Quốc tộc là gì? Để Tôn Văn tự giải nghĩa. Là: đúc các dân tộc vào một lò mà thống nhất thế giới. Sự yêu cầu đồng hóa bằng áp bách và hiếp tróc các dân tộc chung quanh là như thế. Còn một điểm cần chú ý trong tập “Kiến Quốc Đại Cương” nó bày tỏ cái mâu thuẫn của dã tâm đó càng bộc lộ là đã nói để các dân tộc nhỏ yếu trong nước được bình đẳng, tự quyết mà nguyên tắc kiến quốc tối cao lại quy định đem chia toàn quốc ra tỉnh, quận, huyện. Sự quy định ấy giá trị một lò đồng hóa người.

C. Liên hiệp nhược tiểu, cộng kháng cường quyền, nó là một bãi nhỗ chua chát vào mặt các nòi giống nhỏ yếu toàn thế giới, bằng sự liên hợp ấy làm dưới Đại Á Tế Á chủ nghĩa của Tôn Văn (khoảng năm 1921-1922). Tôn Văn nói: “Ta phải đem các dân tộc Thái, Việt… liên hợp lại cùng chống đế quốc” (chú ý đến chữ “đem” và “liên hợp”). Ấy đấy sự liên hợp như vậy, nghĩa là đem mà thôn tính vào, tất nhiên cái truyền thống “thủ tại tứ Di” với cái thuật ngữ “sinh tồn không gian” làm cho người Hán ngớp đất Nam Dương nhiều nhất.

D. Hưng diệt kế tuyệt, cứu nhược phù khuynh, gọi là lý tưởng ngoại giao của lễ vận đại đồng của họ, nhưng đó chỉ là một chiêu bài giả đạo đức bao trùm cái sự thực can thiệp đến đời sống người khác và bắt ép các nòi giống nhỏ yếu thế nhập đảng Tàu và tôn phù chủ nghĩa Tam Dân để mà đi đến mục đích cuối cùng là:

Đ. Hoàn thành kiến thiết thế giới đại đồng, nghĩa là xâm lược thế giới là bước cuối cùng của chủ nghĩa. Dân Sinh với Dân Quyền là những hộc lương, xẻng đất và súng ống đeo lên lưng Dân Tộc chủ nghĩa để đi trên con đường năm chặng trên kia, bất tất luận.

Nhưng nếu có người trách tôi là nhiễu sự và moi móc thì nên hiểu rằng ta phải cùng lý để mà tri ngôn, lời nói đa số là mặt nạ, phải dò đến bối cảnh và động cơ của các lời nói ấy mới biết rõ cái hành động tiềm tàng trong bản vị. Còn nhớ Tôn Văn nói với cụ Phan: “Các ông bất tất phải làm, Việt Nam chỉ là một tỉnh của Tàu, chúng tôi làm xong thì xong”. Cũng như họ Tưởng bây giờ nuôi mấy đứa Việt gian và nói rằng: Việt Nam là Tàu, Việt Nam để người Tàu làm giúp cho”. Thử hỏi khi Tàu đổ bộ trên đất này, bao nhiêu quyền hành về tay Hoa kiều cả, binh sĩ bị hỗn hóa với lính Tàu thì thi hành kế gì để đuổi chúng về?

Nhưng nếu lại còn nghi nữa, cho rằng đấy chỉ đứng về lý luận mà quan sát, cần biết rõ những hành động thực tế của chính phủ ấy thì những chứng cớ thực tiễn, ta lại bày tỏ ra đây để cùng chứng minh cho sự thực là sự thực, phải là sự thực hay sẽ là sự thực:  Dư luận dưới sự chỉ đạo của đảng Quốc Dân Tàu, nói về vấn đề Việt Nam chỉ có hai câu trên trăm nghìn muôn miệng là: Việt Nam là thuộc địa của Tàu, ta phải thu phục lại đất mất cũ của ta là Việt Nam.

- Giáo dục để nuôi cái xu hướng chính trị trong mầm mống nòi giống cũng chỉ có hai câu đó suốt từ ấu học đến đại học.

Học thuật và lý luận chỉ đạo của lịch sử học tiến từ “Quốc Tộc Luận” và “Hán tộc ưu việt” đến “Quốc quân sử luận” một ngày một tăng tiến đến lĩnh vực của dã tâm.

-  Chính Trị Địa Lý Bộ, tức là bộ tham mưu chính trị quy định chính lược và chiến lược. Bộ ấy ở Trùng Khánh năm 1940 lên tiếng ra bộ “Đông Á Địa Lý” quy định tám con đường phát triển của nòi Hán sau này:

1) Tây Bá Lợi Á.
2) Tây Tạng, Ba Tư.
3) Tân Cương.
4) Ấn Độ.
5) Việt, Thái, Miến, Tân Gia Ba.
6) Nam Dương liệt đảo.
7) Úc Châu.
8) Thái Bình Dương Đông liệt đảo, Hàn.

Nhưng mà sự chuẩn bị quân sự để nhập Việt có thể moi móc cái tim ruột, cái mục đích của cuộc hành quân này, mặc dầu là đi giải phóng, bằng sự phát quật các chiến lệnh trong quân, ngoài dân do bộ tuyên truyền và quân chính bí mật phát bố ra: 1) Lộ ố Nàm phồ (lấy vợ An Nam). 2) Dìu ố Nàm sìn (tiêu tiền An Nam). 3) Chì ố Nàm tì (ở đất An Nam).

-  Kiều Vụ Chính Sách: tức là tiền phong của ngoại giao xâm lược. Ngày 1 tháng 5 năm 1933, tờ Đại Lộ Nguyệt San ở Thượng Hải đăng một cuộc “Nam Dương Hoa Kiều Cộng Hòa Quốc vận động” chủ trương lấy Hoa kiều làm chủ lực lập quốc, xâm lược lấy toàn đất Nam Dương lập thành Hoa kiều Cộng Hòa Quốc, trong đó có quy định về Việt Nam: Bắc Kỳ quy về mẫu quốc, Trung Kỳ và Nam Kỳ thuộc về Hoa kiều thống trị. Nước ấy sau khi đồng hóa hết thổ dân rồi sẽ hợp nhất với mẫu quốc. Cái suy luận ấy suy động bởi Quốc Dân Đảng Tàu, cũng như hồi 1942, tháng 11, ngày 26 trên tờ Quảng Tây Nhật Báo một nhà Kiều Vụ Ủy Viên Trung Ương có tiếng đề xướng ta “Hoa kiều thổ hóa vận động” quy định rằng bề mặt phải thổ hóa, nghĩa là người Hoa kiều phải ăn mặc theo người thổ dân, nói tiếng người thổ dân, ảnh hưởng văn hóa người thổ dân để bề trong tăng mạnh thêm tác dụng Hoa hóa.

Chính sách chiến hậu của người Tàu theo đúng như mục tiêu chính trị trên, đối trong hết sức tăng gia quân bị, trọng công nghiệp và đào tạo một quốc dân hoàn toàn Ban Siêu và Mã Viện thực dân, khi ấy đối ngoài phải tranh đòi quyền lợi Hoa hóa cho Hoa kiều và đối đãi với các nước phiên thuộc cũ theo một chế độ mới. Sự Tôn Khoa yêu cầu ở Hoa Thịnh Đốn chiếm lĩnh Việt với Hàn chứng thực rằng họ muốn nối gót đế quốc, xây đắp một liên hiệp “Thập quốc” đòi đứng làm môi giới giữa Đông Tây (ngoại giao tay trên) và làm sức an định (tiếng thuật ngữ của đế quốc Anh) cho Đông Á (nghĩa là bá chiếm), đồng thời đòi thực hành bảo hộ mậu dịch chính sách (ăn cắp chính sách bloc).

Họ hiện nay đang dang hai chân, một chân đứng về đế quốc, một chân đứng về nhược tiểu để mà đóng vai “con trời” trên thế giới. Sự giúp đỡ De Gaulle và nể sợ Pétain đi đôi với sự ngược đãi cách mệnh Việt tỏ rõ rằng họ muốn làm cường quốc và đứng về phe liệt cường để quay giáo lại các nước nhỏ yếu. Đối riêng Việt Nam, họ đang nghiên cứu cách nào lập thành một tỉnh, nuôi Việt gian thế nào, diệt chữ quốc ngữ thế nào, tiễu trừ dân tộc ý thức cách nào, làm sao cho người Việt tưởng mình là Hán, khôi phục chữ nho thế nào, truyền bá Tam Dân chủ nghĩa thế nào, thống trị thế nào? Hỡi người Hán! Hãy quay lại mà dùng cách thực dân truyền thống nhà Minh đã văn minh chán, thử xem người Việt sẽ biết đối phó cách nào?

Chúng ta hãy quay về mình xem hình thể của tự mình. Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về tự thủ muôn thuở, bất cứ trên chính trị, quân sự, kinh tế, chiến lược, văn hóa đều đứng vào thiên hiểm của trung tâm. Cho nên tự phần ta nên hiểu: đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ thì tất diệt. Lại đời nay, diệt tức là toàn diệt đó. Ta chớ nên hòng làm Hòa Lan hay Thụy Sĩ; bọn thân Tàu tất cũng diệt hết đi chớ để nó làm tay trong như Phần Lan với Nga. Ta còn nguy hiểm hơn Phần Lan đối với Nga nhiều. Phần Lan chỉ có một Nga, ta còn phải phòng cả thế giới, vì thế giới kẻ nào chiếm được ta mới xưng bá được lâu dài; tiện nhất và thẳng đường nhất là Tàu, ta là cái xương hóc giữa cổ họng chú chiệc, phải hiểu thế.

Hiện giờ đây nòi Hán đã và đang còn tiếp sẽ uy hiếp đến sinh mệnh ta. Chúng ta thử tính xem số Hoa kiều trong nước ngoài 60 vạn, hợp với số minh hương hơn 2 triệu, một số 3 triệu nội gián ấy trên mặt nhân chủng quen thói lấy vợ người mà giữ gái mình, ảnh hưởng tới sinh lý của nòi giống là thế nào? Sức lũng đoạn kinh tế của bọn Hoa kiều mới lớn, từ đô thị đến ngõ hẽm, từ tầu biển đến ghe sông, từ mỏ quặng đến đồng ruộng, từ bán gạo đến lạc rang, nhất nhất nằm trong tay bọn chiệc cả. Lấy sức tiền ấy mà giẫy thì dân chủ hay cộng sản, ba phần tư nghị viện với nội các giao tay người Tàu. Sự ngoại giao tay trên của người Tàu đi với các điều kiện xâm nhập muốn làm mưa gió thì làm trong ta, đủ cho chính trị của ta không phải chính sách Việt nữa, uy hiếp quân sự càng lớn với nội ứng, ngoại hợp trên các chiến thuật tối tân ngày nay. Sự đồng hóa càng dễ về văn hóa, một khi nó lợi dụng được bọn thân Tàu và đồ nho. Ấy chỉ riêng một cái ám ảnh Hoa kiều, mặc dầu cuộc chiến tranh này Nhật Bản đã làm tổn hại và giảm đi chút ít, cũng đủ làm cho ta thấy sự diệt vong trước mắt, nói chi đến cả sức của chính quốc.

Huống chi Nhật, Pháp chỉ là quân địch trước mắt chớp qua và quá độ, Tàu mới là quân địch sau cùng, tức là kẻ có thể quyết định diệt vong được mình. Chúng ta phải nghiên cứu, quan sát và đề phòng kỹ lưỡng quân địch tối hậu và sự đấu tranh với họ mới hẳn quyết định cái vận mệnh của mình. Những sách lược của chúng ta phải tính tới và tập trung vào vận mệnh tối hậu, nghĩa là vào quân địch tối hậu. Chúng ta phải biết bắn vượt tầm con mắt chúng ta qua khỏi cái trước mắt chúng ta, như thế mới nắm được sự sống còn trong tay chúng ta. Cho nên kể đường trường ra, chúng ta mắc vào tay quân Tàu trong ba tháng thì toàn dân đói khát, cái dũa không còn mà dùng, trong sáu tháng thì ruộng bỏ hoang, đường hết người đi, đàn bà tự tử quá nửa, trẻ con chết ba phần tư, đàn ông chết hai phần ba và trong mười năm thì nòi giống hoàn toàn diệt vong. Nhưng có thể trông thấy Tưởng và Uông từ năm 1944 đều xuống cả. Nước Tàu từ năm 1945 trở đi trong 20 năm nội loạn và ngoại hoạn ê chề còn đến để trừng phạt cái dã tâm muôn thuở ấy. Quân của nó sang ta mảnh giáp không còn mà về dưới sức lan tràn sùng sục của sóng đáy.

2) ĐỐI NHẬT

Những kẻ thân Nhật chỉ trông thấy cái sướng chợp qua của cái thân ô trọc một mình, hoặc bị huyễn hoặc bởi cái cảnh tượng một lúc lên như diều của dân tộc Phù Tang. Thực tại lý luận Đại Đông Á chỉ là một chủ nghĩa tư bản đế quốc trần truồng muốn thực hành tái sinh sản, mà tinh thần Thần Đạo, Võ Sĩ Đạo, Bảo Giáo trên cái để uẩn lịch sử của Nhật Bản, suy động cái lý tưởng tám tường một mái kia, Điền Trung đã thay ta và thế giới mà cắt nghĩa rõ rệt rồi, bất tất phải nghi ngờ và bàn bạc cho rờm.

Một điều cần biết là Nhật Bản sẽ đối đãi ta bằng cách nào trong bốn cách sau:

a) Vẫn để Pháp thống trị chăng? Pháp chỉ bị lợi dụng một khi Vichy còn ngoại giao quan hệ với phe đồng minh, làm lá chắn cho Nam Dương. Pháp được để yên khi Nhật chưa được Đức đồng ý về vấn đề Đông Dương. Pháp chỉ còn được ăn ở khi Nhật chưa tìm được nguyên cớ triệt thủ sau cùng, không thể có khi nào Nhật dung Pháp được cho vướng chân và bận ý mình, khi chiến tranh lan tràn đến đất này. Lúc ấy là thời cơ rất dễ.

b) Nhật tự thống trị chăng? Mục tiêu to nhất ngày nay trong 20 năm cho Nhật là xong cuộc lũng đoạn Tàu và kiến thiết Nam Dương; ta chỉ là đất liên lạc trạm và hậu phương cơ địa, chưa cần có chính trị chiếm lĩnh.

c) Để cho Uông Tinh Vệ chăng? Uông với Tàu chỉ là con cá trên thớt của Phù Tang, không phải là giúp đâu.

d) Để cho Cường Để chăng? Cường Để có thể về làm chủ đất Việt. Nhật thắng sẽ giúp 20 năm trên một trình độ cho ta đủ làm chư hầu và phên che mặt Nam Tàu cho Nhật Bản để sau 20 năm, thỏ săn chết thì chó săn diệt. Nghe nói đã có bí mật lâm thời chính phủ ở Đài Loan đi đôi với cái mật ước là Cường Để được từ Nam Ninh trở về, nhưng Nam Kỳ phải nhượng cho Nhật với cả quyền lợi đường sắt, mỏ quặng và buôn bán.

Nhưng quốc dân thử xem và nghiệm có những sự biến loạn từ bốn bề đưa lại, để Cường Để có về đành lại phải ra đi, mà cơ đồ Nhật Bản cũng như đế quốc sắt mà chân đất sét, từ trong nội bộ vỡ lở ra mà sụp đổ.

3) ĐỐI THÁI

Đại Thái chủ nghĩa tức là Đại Việt chủ nghĩa đẻ non và đồng hóa vào trận doanh cực quyền. Thái chỉ là tay sai của Nhật Bản. Số phận của Thái đã hết tự chủ, chỉ còn là phụ thuộc của Nhật. Nhật thắng thì đưa Thái lên trình độ cắt của ta đôi chút đất; Nhật bại, Thái sẽ thành chiến trường. Lập trường Thái lúc ấy sẽ thành lập trường ta và Đại Nam Hải. Nhật và Thái lúc ấy sẽ thành những bạn bí mật cho cuộc phục hưng và phục hoạt Việt.

4) ĐỐI PHÁP

Chính quyền Pétain hiện đang thống trị tại Việt Nam; chính sách Pétain cố nhiên là đế quốc mong sự chuyển mình ngóc dậy bằng cách tự lực và truyền thống. Sự đi thân với Trục tâm thực lòng của Laval đã làm lạc lối cho Pétain. Số phận Pháp Vichy bây giờ đây chỉ là phụ thuộc với Trục tâm và chính quyền Decoux cũng theo với cử động của Nhật mà mất còn, bất tất phải luận nhiều.

Bên ngoài và đối đầu với Vichy, còn cái chiến đấu Pháp quốc của De Gaulle mới thỏa hiệp với với Giraud trên một nền tảng thực èo ẹp và sau cái kết quả tranh giành nhau ở Bắc Phi lấy thế lực của Anh, tận cùng bằng sự ám sát Darlan và sự nhượng bộ một cách hậm hực của Mỹ. Dầu sao chính sách của nhóm này, tức là chính sách của De Gaulle, mà 90% De Gaulle tức là cái đuôi của Luân Đôn, trên sự ủng hộ của đế quốc Anh trọn vẹn mong nhờ đó mà đế quốc Pháp chết dở cũng được sống lại không sây sát. De Gaulle đã tuyên bố rõ rệt là khôi phục hiến pháp 1875 với cả đế quốc trọn vẹn không sây sát một ly. Những hoạt động của De Gaulle hiện nay về ngoại giao rất đáng chú ý, nhất là người Tàu rất nể sợ y. Đó là một lẽ đáng để người Việt phải cảnh tỉnh với tụi De Gaulle đóng ở bên Tàu, phái đảng De Gaulle ở trong nước, tụi chó săn Việt thân với De Gaulle, hoạt động của y và sự phù trợ của Tàu. Nhưng mâu thuẫn của dã tâm Tàu đối với Việt xung đột với những tham vọng của De Gaulle, vì đó thêm vào sự can thiệp của Mỹ, Anh và các vấn đề nội bộ mà chuyển hình thế và thời cục Việt Nam sang một phương hướng khác, nếu có thể tự chuyển được, nghĩa là nếu người Việt có chủ lực và có thể nắm giữ được số mệnh trong tay mình, trong một thời cơ mình đã chắc chắn biết trước.

Hỡi người Việt! Chúng ta không sợ gì những thế kỷ tương lai là đen tối, nếu ta biết giác ngộ và cố gắng.

5) ĐỐI QUỐC TẾ

Quốc tế phải chia làm hai phe: phe Đồng Minh và Trục tâm. Chúng ta có thể bị một trong hai phe công quản được và sự công quản nghĩa là cho chúng ta tụt xuống địa vị bán thực dân, năm cha ba mẹ, một cổ bốn năm tròng, chúng ta phải liệu cảnh tỉnh mà liệu cầm lái lấy chủ lực.

Chúng ta nên hiểu rằng nhiệm vụ thời đại của chúng ta là làm trọn vẹn cho dân tộc được cội gốc độc lập và dân chúng được cội gốc giải phóng mới thôi.

Sự vạch một con đường từ lập trường 40 đến lập trường 50 tỏ rõ các phương hướng chính lược và chiến lược của cách mạng, chính trị và kiến thiết của dân tộc trên thời đại. Có một điểm cần đặc biệt và thân thiết chú ý là lập trường 50 trở đi phải là một lập trường chung của các dân tộc nhỏ yếu Đại Nam Hải, một mặt trên số phận nó là công cộng cho tất cả các dân tộc nhỏ yếu Đại Nam Hải, và một mặt vì số phận các dân tộc ấy dù có đại đồng tiểu dị, song vì sự sinh tồn lâu dài của tự mình đứng trước sóng trào của quốc tế, mà tự thấy mình cần phải liên lạc số mệnh mình với số mệnh chung kia; nhưng nếu đứng trên một nhỡn quang íck kỷ một cách thấp kém, chỉ lo đến sự giải phóng riêng một mình, cái cử động ấy dù có thành công cũng mang liền đến sự thất bại đi sau năm năm hay mười năm sau mà thôi.

Phải biết rằng độc lập riêng một mình có vững chắc hay không là nhờ ở sự đoàn kết của các độc lập riêng của các dân tộc trong một độc lập chung. Vì lúc bấy giờ Thái Bình Dương sẽ là một nước có một vận mệnh chung giữa sự xâu xé của các mặt Anh, Nga, Mỹ, Tàu, Nhật, Úc, Gia Nã Đại, Pháp.

Tàu trên nguyên tắc đã đứng ra làm công địch của Thái Bình Dương rồi, bất tất luận nhiều.

Anh không chịu bỏ một ly trong đế quốc, nghĩa là quyền lợi về thương mại và thế lực hải quân chưa rút ra khỏi đây.

Mỹ không còn nơi nào bổ béo như Tàu mà hưởng chung nữa, tất tập trung chú ý vào đất này (trừ những gắng sức ở Âu Châu) mà chèn với Anh ra.

Nhật với chính sách quang vinh cô lập (splendide isolation) và đại lục quân thế (équilibre continental) của Anh Mỹ tất chưa bị, hết sức phát triển ra ngoài mà lúc ấy chỉ còn ở đây.

Nga có năm lối quốc sách là: Baltique, Hắc Hải ra Dardanelles, Thái Bình Dương qua Sibérie, Đông bộ Caucasie xuống Arménie và Cận Đông, Turkestan sang Viễn Đông. Trong năm lối ấy, chiến hậu tất có cơ hội nhúng tay vào Thái Bình Dương.

Úc với Gia Nã Đại trên chính sách kinh tế quốc gia chủ nghĩa, được đề bạt của Mỹ trên ngoại giao cho được nửa độc lập, rồi sẽ hoàn toàn độc lập, dần dà thấy cần phải phát triển vào Nam Dương.

Pháp tuy sẽ rất muộn màng mới khôi phục lại sức khoẻ được, nhưng mấy cù lao ở Ấn Độ Dương còn làm được căn cứ phát triển.

Sự đấu tranh cho nền độc lập phải tự một nơi mà tỏa ra bốn bề, phải liên kết thành một khối Đại Nam Hải, phải đẩy sức gốc các dân tộc nổi dậy lên một cuộc bùng nổ nó giành lại sống còn về với ta.

Bấy giờ chủ lực cách mạng của chúng ta là đáy tầng đại đa số dân chúng, bởi chỉ có một sức ấy mới hoàn thành được toàn dân chiến lược và toàn diện cách mạng, nó cần yếu cho một cuộc đấu tranh sống còn suốt mặt. Cái sức ấy tính vào nguyên tắc lịch sử mới thấy nó hiển nhiên bộc phát, sẽ không phải ngờ.

21. CƯƠNG LĨNH 3

Xã hội kết cấu.

Cái chủ lực ấy gọi là đáy tầng, là sức gốc, là mặt trận gốc, gồm có 98% dân chúng trung kiên của xã hội Việt, nó sẽ đồng hóa và chỉ có nó mới lãnh đạo được hết hai giai cấp kỳ hình phát triển là vô sản 1% và tư bản 1%. Mao Trạch Đông nói về xã hội Tàu “hai đầu nhỏ, bụng to, chỉ có đảng nào tranh thủ được giai tầng giữa ấy mới thắng nổi”.

Cái giai tầng trung kiên về chủ lực kia hình thành từ đời Vạn Thắng, trải qua một ngàn năm bền giai tranh đấu và ngưng kết thành tinh hoa đời Lý, Trần, chập chững dưới Lê, Nguyễn, phủ phục ẩn tàng dưới đế quốc Pháp, đấy là lý tắc Tiên Rồng của Totémisme.

22. CƯƠNG LĨNH 4

Dân chúng yêu cầu.

Tất cả đáy tầng và mặt tầng chỉ có một yêu cầu là “cứu quốc với tồn chủng” (như đã nói rõ trong Tuyên Ngôn).

23. CƯƠNG LĨNH 5

Quốc tế văn hóa thời đại.

Văn hóa, khoa học, quân sự và kinh tế tư bản chủ nghĩa, quân hóa công nghiệp qua một thời kỳ chuyển hình dưới áp lực của hướng tâm cách mạng tất sẽ hình thành một thế giới mới trên nền tảng văn hóa ấn định có bốn tính chất:

Quốc tế tập đoàn an toàn (bloc mà không phải sécurité collective), dân tộc hướng tâm vận động, quốc dân dân chủ chính trị hóa với quốc dân kinh tế xã hội hóa.

Ba vấn đề của thời đại và sáu vấn đề của thế giới và nhân loại ở trên sự ấn định mới đó mà giải quyết một khoé trời, mở ra thời đại Đại Việt và thiên hạ Đại Nam Hải.

24. CƯƠNG LĨNH 6

Dân tộc văn hóa thủy chuẩn.

Thời đại Đại Việt mở màn ra bằng một văn minh Viêm mới là kết tinh của muôn năm bồi thêm chút tinh hoa của đời nay, một tinh thần khoa học chủ nghĩa kết hợp với Tam Giáo triết học cũ, di sản nối liền tự đó vào văn hóa trình độ quốc tế bằng Thắng Nghĩa, tất cả một thể hệ và một tiệp kính của đời sống.

25. CƯƠNG LĨNH 7

Chính trị phương châm.

Như đã nói trong Tuyên Ngôn, căn cứ học thuật trong chính trị phương châm còn nên dãi bày trên sự thành lập của nó bằng tất cả các công việc phát triển và nghiên cứu đạo lý của cách mạng, của kiến thiết, đạo lý của chính trị, tất cả triết học, khoa học, thuật học và sử học tập đại thành dưới học thuật của biện chứng pháp.

26. CƯƠNG LĨNH 8

Đấu tranh cương lĩnh.

Dự kế cách mạng đã từng kê định rõ rệt từng ly, từng tí, cần nói thêm chỉ là biện chứng của quốc vận ta trên hai kỳ:

1)      Các đế quốc tự chối bỏ nhau trên mặt tầng.

2)      Toàn dân nòi giống đáy tầng phục hưng và phục hoạt trên các cơ sở cách mạng đặc biến, đột biến và thuế biến.

27. CƯƠNG LĨNH 9

Kiến quốc quy mô.

Tất cả pho “Quốc Sách” quy định cái quy mô đó, cần nói thêm chỉ là biện chứng pháp của kiến thiết nước ta trên mười năm đầu, chú toàn lực vào quốc phủ khu là cái trục tâm cho kiến thiết hướng thượng lại làm cái kho tàng cho kiến thiết toàn diện, đồng thời còn làm cái vốn liếng của chính phủ cho cuộc kiến thiết trên phương châm chủ nghĩa được triệt để. Một chương trình cách mạng ba mươi năm sẽ thực hiện thắng lợi bằng triết học, khoa học, thuật học của dự kế cách mạng đi đôi với một quy mô kiến quốc 500 năm sẽ thực hiện thành công bằng chế độ của thiên tài giáo dục làm cho ra hữu hình.

Người cách mạng trong sự tính toán cái mệnh hệ của dân tộc không những là không để một ly tư kiến và vũ đoán nào vào, lại còn không được đem vị trí riêng của mình đặt lẫn vào bàn toán ấy, đó là yếu điểm duy nhất của nhà lãnh đạo trong sự chỉ huy vận mệnh của dân tộc, của cách mạng và của Đảng.

THÁI DỊCH LÝ ĐÔNG A
1/11/4822 tuổi Việt (1943)

Lời cảnh báo về nguy cơ Hán Đại Đông Á

Lý Đông A, một tư tưởng gia thâm viễn của Việt tộc, từ những năm 1940, trong tập Chu Tri Lục (bàn về sự biết chu toàn) tập 3, đã phân tích và trưng ra những nguy cơ của kế hoạch Đại Hán của Tầu, dù là Tầu Quốc hay Tầu Cộng.

Lý Đông A đã nhìn rõ, từ 1943, sau đệ nhị Thế chiến, thế giới 1950-2000 sẽ chuyển mình sang chế độ mới, với các liên minh quốc tế. Tại thời điểm 1940, Căn bản lập trường dân tộc qua Cương Lĩnh 2, đối Tầu, gồm vài điểm quan trọng sau:

1- Quy luật lịch sử Tầu là : Lấy Tài Hoá Thu Nhân Tâm (thoát nghĩa Hữu đức giả hữu thổ), Hưng Hoa diệt Di, thiên hạ đại đồng theo lối Hán mà vũ khí và thủ đoạn chủ yếu là chủng tộc xâm lược.

2- Tam Dân chủ nghĩa của Tôn Văn cũng là một chủ nghĩa đế quốc: Tôn Văn từng nói với cụ Phan Bội Châu: “Các ông bất tất phải làm, chỉ là một tỉnh của Tầu, chúng tôi làm xong thì xong”, và sau này Tưởng Giới Thạch cũng nói: “Việt Nam là Tầu, Việt Nam để người Tầu làm giúp cho”.

3- Năm 1911, Tôn Văn đề xướng Ngũ Tộc Cộng Hoà, gồm 90% là nhân khẩu Tầu, 10% là Mãn, Mông, Tạng, Miêu (là Việt núi). Năm 1916 Tôn Văn luận Quốc Tộc tức đúc các dân tộc vào một lò mà thống nhất thế giới, chia toàn quốc ra Tỉnh, Quận, Huyện, khoảng 1921-22, Tôn Văn nói: Ta phải đem các dân tộc Thái, Việt… liên hợp lại cùng chống đế quốc.

4- Năm 1940, Chính Trị Địa Lý Bộ của chính phủ Trùng Khánh, ra tập Đông Á Địa Lý, quy định 8 con đường phát triển của nòi Hán sau này:
-1/Tây Bá Lợi Á- 2/ Tây Tạng, Ba Tư- 3/Tân Cương- 4/Ấn Độ- 5/Việt, Thái, Miến, Tân Gia Ba- 6/Nam Dương liệt đảo- 7/Úc châu- 8/Thái Bình Dương liệt đảo & Hàn quốc.

Để đạt mục đích, Tầu dùng cách:  (lấy vợ An Nam) – (tiêu tiền An Nam) -(ở đất An Nam).

Lý Đông A còn trưng rõ: tờ Đại Lộ Nguyệt San ở Thượng Hải, số ngày 1-5-1933 đã đăng bài Nam Dương Hoa Kiều Cộng Hoà Quốc Vận Động, chủ trương lấy Hoa kiều làm chủ lực xâm lược, biến Nam Dương thành Hoa kiều Cộng hoà quốc. Về Việt Nam: Bắc kỳ quy về mẫu quốc, Trung kỳ và Nam kỳ thuộc về Hoa kiều thống trị. Trên tờ Quảng Tây Nhật Báo số ngày 26-11-1942 đề xướng “Hoa kiều thổ hoá vận động” qui định bề mặt phải thổ hoá nghĩa là Hoa kiều ăn mặc theo thổ dân, nói tiếng thổ dân, ảnh hưởng văn hoá thổ dân để bề trong tăng tác dụng Hán hoá.

Lý Đông A còn nhấn mạnh: “Đối riêng VN, họ đang nghiên cứu cách nào lập thành một Tỉnh, nuôi Việt gian thế nào, diệt chữ quốc ngữ thế nào, tiễu trừ dân tộc ý thức cách nào, làm sao cho người Việt tưởng mình là Hán, khôi phục chữ Nho thế nào… thống trị thế nào…”

5- Tầm quan trọng của đất nước Việt Nam đã được viễn kiến Lý Đông A kết tinh hùng hồn như sau: “Đất ta là đất cơ sở của Thái Bình Dương, trung tâm của Đông Nam Á, tư lệnh đài của quốc tế, được ta thì tiến lên xưng bá loài người, lui về thì tự thủ muôn thuở… đứng vào thiên hiểm của trung tâm… đời nay nếu ta muốn sống phải hết sức mạnh mà ta hững hờ là thì tất diệt. Lại đời nay, diệt tức là toàn diệt đó, Ta chớ hòng làm Hoà Lan hay Thuỵ Sĩ… ta là cái xương hóc giữa cổ họng chú chiệc…”

LẠM BÀN

1- Đối Tầu, phân tích cặn kẽ của Lý Đông A, 70 năm sau, vẫn còn nguyên vẹn giá trị và vẫn làm kim chỉ nam cho cuộc vận động toàn dân sinh tồn phòng vệ. Nhật, Pháp chỉ là đối thủ chóng qua, Tầu trước sau vẫn là đối thủ truyền kiếp.

2- Trung Cộng đã chiếm Tân Cương, Tây Tạng, từng đánh Ấn Độ 1962, mưu toan ở Nam Dương 1965… đúng như dự liệu của Lý Đông A, và so với tiết lộ của Wikileaks gần đây, thì mưu lược của Tầu trước sau vẫn là mở đường xuống Đông Nam Á, qua VN, lối tằm ăn dâu, thuê đất thuê rừng, khai Bâuxít, mỏ quặng, lấn đảo, biển, dùng tài hoá đầu tư khắp VN nhất là đang nhắm vùng biên giới Móng Cáy (ngũ niên kế hoạch đầu tư hơn 400 tỷ từ nay tới 2015). (1)

3- Lý Đông A nhìn rõ thế giới từ 1950-2000, hậu Thế chiến II, đổi mới theo hướng quốc tế liên minh, mà VN trong liên minh Đại Nam Hải, phải thật mạnh để đối kháng Tầu.

4- Cảnh báo về âm mưu Hán hoá: nuôi Việt gian, làm sao cho người mình tưởng mình là Hán, diệt trừ chữ quốc ngữ, khôi phục chữ Nho thế nào… vẫn còn nguyên giá trị. Hiện tại vẫn không thiếu người vì lòng yêu chữ Nho-chữ Nôm, vô tình tuyên truyền cho âm mưu đó mà quên rằng, cổ ngữ như LaTinh, Hy Lạp vẫn chỉ là cổ ngữ và quốc ngữ abc mới là nét đặc sắc của Văn hoá linh động cấp tiến Việt, tách rời bóng trùm Hán học.

***

Tiếc rằng Lý Đông A đã khuất bóng sớm, từ 1946, không kịp nhìn thấy những chuyển biến rất lớn của thế giới: Tầu Cộng chiếm Hoa lục từ 1949, Tưởng chạy ra Đài Loan, Quốc Cộng VN 1954, VN 1975, Nga sô Đông Âu xụp đổ 1990, thế giới Hồi giáo bừng dậy, cuộc cách mạng điện tử mở rộng thông tin toàn cầu từ 1980….

Nam Dương, nhờ 90% Hồi giáo đã đẩy ngã Cộng sản Hoa kiều xuống biển.

Hàn, Nhật, trở thành cường quốc kinh tế, đối kháng mạnh mẽ với tiềm năng kinh tế của Tầu.

Ấn Độ cũng trở thành một cường quốc, không dễ gì Tầu có thể xâm chiếm (2)

Úc châu, Tân Tây Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, Singapore, Đài Loan… những đảo quốc này với hải quân và hạm đội Hoa Kỳ, không dễ gì hải quân mới lớn của Tầu có thể áp đảo, Tầu chưa từng có kinh nghiệm về hải chiến và đại chiến.

Hai khâu yếu nhất hiện tại là Lào và Việt Nam. Nếu VN biết nghiêng hẳn sang khối ASEAN và đại cường Hoa Kỳ, vận động yểm trợ của quan thầy cũ là Nga Sô tạo áp lực miền Tây-Tây Bắc Trung Hoa, thì VN có thể thoát hiểm và làm chùn chân hồ đội lốt hổ Tầu.

Tại sao Tầu lại là hồ đội lốt hổ? Phân tích ta thấy dân Tầu 1.3 tỷ là loại dân hỗn tạp, nam Dương Tử vốn là giống Bách Việt, cả 56 bộ tộc, dân Hán từng bị Mông Cổ đô hộ 99 năm, Mãn Thanh thống trị 300 năm, binh hùng tướng mạnh, Tống, Minh… sang đánh VN lần nào cũng tan tành đại bại, đầu thế kỷ XX Nhật Bản vũ bão đánh chiếm Mãn Châu, Trung nguyên Tầu, Bát quốc xâu xé bắt nhượng địa, vì sao? có thể kê ra những nhược điểm của Tầu như sau:

* Dân Tầu không phải là loại dân chiến sĩ -warriors- như Nhật, Mông, đa số là dân buôn bán, trí thức nhào nặn trong Nho Khổng cả ngàn năm, ô hợp, cúi mình theo cấp trên, làm việc lấy lệ, dối trá cho yên thân, trọng tiểu lợi, đầy dẫy những tiểu nhân tài bất cập chí, đầu óc còn phong kiến lạc hậu, chưa nhìn ra thế toàn cầu, vẫn lúi húi trong trò chơi chính trị Chiến quốc Tam quốc. Dân tình dân trí như thế làm sao bá chủ hoàn cầu?

* Khối người Tầu theo hướng Tự Do Dân chủ, chống Cộng, khá đông vòng quanh thế giới, Đài Loan, Tân Gia Ba, Mỹ, Gia Nã Đại… Lý Quang Diệu từng cảnh tỉnh Đặng Tiểu Bình về đầu óc thực dân lấy mạnh hiếp yếu của Tầu Cộng. Khối này, cộng với những người đối kháng thức thời trong Hoa lục, không để Trung Cộng yên ổn khi có đại biến cố xẩy ra.

* Vũ khí nguyên tử mới không còn nể sợ biển người của Tầu, chưa kể loại quân Tầu phù, ngay cả 200 năm trước cũng đã bị Nguyễn Huệ phá tan trong một tuần lễ. Miếng ăn, nạn đói luôn luôn ám ảnh dân Tầu, dân xấu xí uý tử tham sinh hơn là bền gan sắt đá.

* Âm mưu của Trung Cộng lấy kinh tế bao vây Âu Mỹ, không qua mặt được bậc thầy kinh tài Nữu Ước Luân Đôn, bậc thầy chứng khoán, bonds Do Thái. Giỏi về thương mại, quen hối lộ, gian thương, sau 30 năm canh tân từ 1979 tới nay Tầu vẫn chưa có nổi một thương hiệu quốc tế như Đại Hàn với Samsung, Hyundai, LG…có nghĩa là một nền kinh tế chậm tiến gia công cho Nhật, Âu, Mỹ… Cựu thủ tướng Anh, M.Thatcher từ 2002 cho rằng phải mất 40 năm nữa Tầu mới tân tiến, giải quyết xong cấu trúc hạ tầng xã hội. Hiện tại Tầu công kích Mỹ lấy Đô La làm loại tiền thống trị thế giới, nhưng đến bao giờ đồng Yuan của Tầu mới có uy tín bằng đô la để được quốc tế chấp nhận?

* Trước trào lưu dân chủ tự do lan tràn toàn thế giới, sách lược Tâm Công của Nguyễn Trãi, từng làm quân Minh tan hàng, có thể dùng để làm rã ngũ quân cán Trung Cộng nếu phối hợp được với các lực lượng đối kháng của chính người Tầu trên thế giới và người Bách Việt, người trí thức khát vọng tự do dân chủ ngay trong đất Tầu.

CHÚ THÍCH

1- Năm 1965, cùng với chiến tranh VN, đảng CS Nam Dương với 3.5 triệu đảng viên và 20 triệu người ủng hộ, là đảng mạnh nhất trong 18 đảng, họ toan nắm quyền ở Nam Dương. Khi ấy TT Sukarno lại bỏ Âu Mỹ, nghiêng về Trung Cộng, với lạm phát 650% kinh tế kiệt quệ, Sukarno từng chửi rủa Mỹ: “Go to Hell with your aid ” đuổi đoàn thiện chí Peace Corp Mỹ, ông bị bệnh, không chịu giải phẫu ở Vienna mà lại quay về với Đông Y Tầu… May nhờ giới quân nhân chống Cộng quyết liệt và khối Hồi giáo thuần thành vốn chống vô thần, đảng CS Nam Dương bị triệt hạ, quần chúng nổi lên giết người Hoa mà họ cho là đứng sau đảng CS (CS Tầu đã chuyển vũ khí cho CS Nam Dương), họ trả lại đất cho điền chủ bị CS địa phương tước đoạt… Theo Đại sứ Mỹ năm 1966 cho biết khoảng 400,000 CS và thân CS bị tàn sát, Đại sứ Thuỵ Điển cho rằng số bị giết ít nhất là 1 triệu người. Hoa Kỳ khi ấy quyết tâm chặn đứng sức bành trướng của Trung Cộng ở biển Đông, từ Mã Lai-Nam Dương-tới Nam VN. Ngày nay, khu Tầu ở Nam Dương không dám đề chữ Hán trên bảng hiệu ! (Sukarno bị truất 1967, mất năm 1970-tướng Suharto lên thay).

2- Xung đột biên giới Ấn-Tầu 1962 làm Thủ Tướng Nerhu tỉnh ngộ: Huynh đệ Ấn-Tầu-India-China Brothers- chỉ là trò hề, ngay sau đó Ấn tăng cường quân đội gấp đôi để phòng Tầu, cùng vụ hoả tiễn ở Cuba năm ấy, Mỹ và Âu châu nhìn ra tham vọng bành trướng của CS và riêng Nga cũng bắt đầu nghi ngại mối hoạ láng giềng Tầu (tài liệu tra cứu từ Google).

Nguồn: Hạ Long Bụt Sĩ, Diễn Đàn Thế Kỷ




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Cải Tạo! [27.04.2025 10:06]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
💔 Tố Hữu và Mối Tình Đầu Định Mệnh: Lời Tố Cáo Đau Thương trở thành mối thù giai cấp muôn đời! [Đã đọc: 504 lần]
💔 Lời Nguyền Hận Thù: Phế Phẩm Độc Hại Trong Văn Hóa Giao Tiếp Việt thời đại HCM CSVN [Đã đọc: 449 lần]
Mức lương cụ thể và thủ tục nhập cư để các bạn VN được thuê làm chồng [Đã đọc: 396 lần]
CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN ĐỐI PHÓ VỚI BIÊN GIỚI – AN NINH KHU VỰC CAMPUCHIA 2025 [Đã đọc: 378 lần]
Sự im lặng đồng lõa – khi lãnh đạo miền Bắc đứng nhìn Trung Quốc nuốt Hoàng Sa [Đã đọc: 375 lần]
Đạo Đức và Cái Bẫy Tự Tôn của dân tộc VN- Mẹ Thứ Anh Hùng - Bi kịch của Thuyền nhân Việt Nam [Đã đọc: 357 lần]
Giữa Mạc Tư Khoa Nghe Câu Hò Ví Dặm [Đã đọc: 313 lần]
Bẫy thu nhập trung bình của VN [Đã đọc: 289 lần]
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [Đã đọc: 271 lần]
Constitution of the Federal Republic of VCL [Đã đọc: 271 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.