Võ Đại Tôn: “Sao anh đi mà không bảo gì nhau”?
01.05.2010 23:20
Ðường về quê hương: Ðường đời trăm vạn nẻo, Đâu lối về quê hương? Giao-Chỉ Nhân dịp 35 năm nhìn lại con đường, mời quý vị trở lại với thời kỳ đầu thập niên 80 tại San Jose. Những anh bạn trẻ Ðỗ Hùng, Nguyễn Trung Cao và Hồ văn Sinh….. tổ chức đón người khách từ Úc Châu qua. Ông Võ Ðại Tôn đang đi khắp năm châu bốn bể đã ghé lại San Jose hô hào tìm đường Phục Quốc,. Thời kỳ đó không ai nói chuyện đấu tranh chính trị. Không ai nói hòa hợp hòa giải. Tại Hoa Kỳ và Nhật Bản, các tổ chức đang kết hợp để hình thành mặt trận Kháng chiến. Lãnh đạo là vị đề đốc hải quân. Bên Pháp nhiều nhóm cách mạng cũng bàn chuyện ngồi lại với nhau. Trong đó có phi công Mai Văn Hạnh. Thời đó, chống Cộng là phải tìm đường về Ðông Nam Á. Giải phóng quê hương là phải chiến đấu vũ trang.
Ban Thùy Dương cất tiếng hát: Này em, anh sẽ về bên kia biên giới, Đèn nhà ai hay đốm lửa quê người.
Võ Ðại Tôn là đóm lửa quê hương về từ Úc Châu. Hoàng Cơ Minh là đốm lửa của Mỹ Châu và Trần Văn Bá là đốm lửa Âu Châu. San Jose không ai biết nhiều về Võ Ðại Tôn. Một vài người nhắc đến tên thi sĩ Hoàng Phong Linh qua bài thơ “Mẹ Việt Nam ơi!”. Tuy nhiên, với niềm hưng phấn trong không khí phục quốc, San Jose đã đón tiếp ông Võ Ðại Tôn hết sức nồng nhiệt. Tờ San Jose Mercury tường thuật tin tức và hình ảnh trên 1 trang báo lớn. Sau đó, anh em tiễn đưa người Kinh Kha thời đại lên đường. 
Võ Đại Tôn trong cuộc họp báo Hà Nội, 1982 Bẵng đi 1 năm sau, chợt thấy hình ảnh cuộc họp báo hào hùng của Võ Ðại Tôn tại Hà Nội trên TV toàn thế giới. Lúc đó hải ngoại mới biết tin ông bị bắt, bị tra tấn, rồi ông trá hàng và lừa CS Hà Nội trong một cuộc đấu tranh chính trị đâu ra đấy. Vào tháng 7 năm 1982, Bắc Cali tổ chức ngày biểu dương tinh thần Võ đại Tôn hết sức rầm rộ. Rồi từ đó không còn tin tức gì nữa. Người vợ đợi chờ: Ngay lúc ông Võ Ðại Tôn đến San Jose, khi tửu hậu trà dư, chúng tôi thường tự hỏi ông này gia đình ra sao mà lại bỏ nhà đi khơi khơi như thế. Vợ con ở đâu? Kịp đến khi ông bị bắt, câu hỏi thường tình cũng vẫn đặt ra và không có câu trả lời. Vợ con ra sao? Nhân dịp gia đình con chúng tôi đổi qua Úc làm việc 2 năm. Con gái sanh cháu đầu lòng. Bà ngoại qua Sydney nuôi cháu. Ông ngoại Giao Chỉ tháp tùng qua cái xứ mệnh danh là miền dưới của địa cầu. Chúng tôi có dịp ghé thăm và tìm hiểu chuyện gia đình của anh chị Võ Ðại Tôn. Lúc đó là vào đầu năm 1990, chị Tôn đã trải qua gần 10 năm đợi chờ bươn trải nuôi con trong cô đơn và gần như tuyệt vọng tin chồng. Trong gian nhà đơn chiếc, chúng tôi còn thấy tấm hình sơn dầu thật lớn của anh Tôn ngay tại phòng khách. Hỏi thăm chị chuyện gia đình, người vợ trẻ chung thủy với nét mặt xa vắng và dè dặt cho biết rằng vẫn không biết tin tức chính xác của chồng từ lúc anh ra đi. Chị nói rằng vào thời gian 10 năm trước anh vẫn thường đi đó đây rồi lại trở về, Lúc đó vợ con chỉ trông cậy vào mình anh. Gia đình mới định cư ỏ Úc Châu. Con còn nhỏ, vợ không biết lái xe, nhà không có lợi tức gì chắc chắn. Sao anh đi mà không bảo gì nhau? Chúng tôi ngồi nói chuyện nhưng ai cũng biết rằng làm sao người chồng ra đi như thế mà lại nói thật mọi điều cho vợ. Chúng ta cũng có thể nghĩ rằng chính người đi cũng đang lần dò đường về mịt mù tăm cá. Có gì chắc chắn mà giãi bầy? Ðâu có phải như ngày nay đi máy bay nên biết rõ ngày giờ chia tay và giây phút tái ngộ khi trong tay có sẵn vé khứ hồi. Chuyện tình Tuyết Mai. Người vợ trẻ của anh Võ Ðại Tôn sinh ra tại Lào nhưng trưởng thành tại miền Nam. Cô học Văn Khoa rồi sang Luật khoa của đại học Saigon. Ði dạy trung học và làm xướng ngôn viên đài truyền hình số 9 đọc tin thời sự buổi tối. Bản tin cuối cùng, cô giáo trung học duyên dáng và trẻ trung của TV Việt Nam đã đọc vào đêm 28 tháng 4-1975. Tuyết Mai của đài số 9 lập gia đình với anh Võ Ðại Tôn năm 1972 khi anh Tôn là Trung Tá Giám Ðốc nha công tác của Bộ Chiêu Hồi. Sau tháng 4-75 cả 2 vợ chồng tìm đường vượt biên qua Mã Lai trong khi thân phụ của cô ở lại đi tù “cải tạo”. Về sau ông chết trong tù. Bà Võ Đại Tôn bế cháu trai trước Quán Cà Phê, Sách Nhạc Cu Lỳ tại Úc
Hai vợ chồng vượt biên đã được Mã lai chấp nhận định cư ngay tại thủ đô Kuala Lumpur. Với khả năng Anh ngữ và kinh nghiệm về tình báo, anh Tôn được nhận vào làm tại Bộ quốc phòng Mã Lai. Qua năm 1976 gia đình chính thức xin về định cư tại Úc Châu. Con trai đầu lòng và duy nhất của anh chị sinh ra năm 1978 tại Úc với tên Võ Ðại Nam và lúc nhỏ gọi là Cu Lỳ. Sau này, khi ra đi anh Tôn có để lại cho vợ con quán cà phê Cu Lỳ, bán sách báo và cũng là nơi chiến hữu tới lui, liên lạc. Anh đi một thời gian thì chị cũng dẹp tiệm để tìm công việc vững chắc hơn. Nhật ký đoạn trường: *Tháng 2 năm 1981, Võ Ðại Tôn đã ra đi. *Từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1981, chỉ nhận được vài tin tức từ Bangkok gửi về cho biết là anh Tôn đã vào mật khu kháng chiến Lào Tự Do của Tướng Vang Pao ở Ðông Bắc Thái Lan, sau đó thì bặt tin luôn. *Cuối năm 1981,Tuyết Mai tập lái xe, xin việc làm ở bưu điện Úc, nuôi con chờ chồng vẫn biền biệt tăm hơi. *Ngày 13 tháng 7 năm 1982 được điện thoại từ Mỹ của Ông Việt Ðịnh Phương, chủ bút báo Trắng Ðen gọi qua Úc lúc 12 giờ khuya. Báo cho biết là Võ Ðại Tôn đã bị bắt và bị đưa ra họp báo quốc tế tại Hà Nội. Khi nghe điện thoại, nhận tin lần đầu tiên kể từ ngày anh Tôn ra đi, Mai khụyu xuống gần như bất tỉnh. Sau đó cũng không được tin tức gì nữa. *Tiếp tục sống cô đơn chờ tin của chồng, nuôi con ăn học và đi làm vất vả. Hoàn cảnh sống như góa phụ. Có nhiều đêm đang ôm con ngủ, nghe điện thoại, mừng quá, tưởng rằng có tin tức của chồng. Nhưng đầu giây có khi là tiếng ai đó chửi bới, hoặc tán tỉnh sàm sỡ. Lại âm thầm khóc trong bóng đêm cô đơn. *Năm 1983 hai mẹ con qua Thụy Sĩ vào văn phòng Liên Hiệp Quốc để vận động nhờ hỏi thăm tin tức của VÐT nhưng cũng không ai biết. *Năm 1985, một buổi trưa xin sở làm cho nghỉ bệnh, tình cờ bật tivi đài số 7 của truyền hình Úc lên coi, thấy có hình của anh Tôn họp báo ở Hà Nội. Ðài này đang chiếu cuốn phim về “10 năm sau ngày chấm dứt chiến tranh Việt Nam, 1975-1985”. *Gọi điện thoại ngay vào đài truyền hình số 7, hỏi thăm về cuốn phim tài liệu này và tin tức của Võ Ðại Tôn. Ðài truyền hình cho biết đó là cuốn phim thời sự do phóng viên truyền hình tên là NEIL DAVIS, thực hiện cho NBC, hiện nay Neil ở Bangkok, Thái Lan. *Tuyết Mai xin nghỉ việc một tuần lễ, bay qua Bangkok tìm gặp NEIL DAVIS. Ký Giả DAVIS đã kể lại việc ông ta tham dư buổi họp báo quốc tế tại Hà Nội của Võ Ðại Tôn, nhưng sau đó thì không biết thân phận Võ Ðại Tôn sẽ ra sao. NEIL DAVIS có cho Tuyết Mai một copy cuộn phim họp báo đó, và nói rằng thái độ bất khuất của Võ Ðại Tôn đó là sự kiện hi hữu trong đời làm phóng sự của ông ta. (Sau này NEIL DAVIS chết trong một cuộc đảo chánh ở Thái Lan khi đi quay phim). Với cuốn phim, Tuyết Mai có được hình ảnh của chồng qua cuộc họp báo ở Hà Nội, và chỉ biết âm thầm khóc. *Kể từ ngày VÐT ra đi vào năm 1981 cho đến 1991 là đúng 10 năm dài, TM phải đơn độc đi làm nuôi con và vẫn thủy chung đợi chờ. Không có tin tức sống chết của chồng ra sao. Ði vận động với chính giới Úc Châu, với Quốc Hội Úc, nhưng không ai biết tin tức và các cuộc vận động cũng không có kết quả. *Ðến tháng 12 năm 1991, bộ Ngoại Giao Úc Ðại Lợi bất ngờ cho biết là Võ Ðại Tôn sẽ được thả về Úc, qua sự vận động của chính giới quốc tế và của Úc Châu. Sững sờ, không tin vì đã quá mỏi mòn chờ đợi. Bộ Ngoại Giao Úc lại nói đây là tin tức nhận được từ Việt Nam. Nhưng cho đến khi nào Võ Ðại Tôn đặt chân lên đất Úc thì mới chắc chắn, vì mọi quyết định từ phía Việt Nam có thể thay đổi vào phút chót. *Sau cùng, họ lại thông báo thêm, và qua tin tức loan báo của đài phát thanh BBC, VOA, thì Võ Ðại Tôn bị tù đúng 10 năm 1 tháng 17 ngày.Sẽ về đến Sydney vào ngày 11 tháng 12, năm 1991. Ðó là ngày Quốc tế Nhân Quyền. *Tuyết Mai cùng một số đồng hương đã tụ tập tại phi trường quốc tế Sydney từ sáng sớm 11.12.1991. Nhưng chờ đợi trong hồi hộp đến trưa mới thấy một ông già khẳng khiu từ máy bay bước ra. Ðứa con trai nhỏ ngày nay đã thành một thiếu niên, không nhận ra cha mình. Ông Võ Đại Tôn sau hơn 10 năm tù trở vê
*Sau hơn 10 năm biền biệt tăm hơi. Tuyết Mai nghẹn ngào không còn nước mắt để khóc khi thấy thân xác nguời chồng tàn tạ thảm thương. Ngày ra đi là một đàn ông trung niên, ngày trở về là một ông già tàn tạ, bước đi không vững. Con không biết cha là ai, vợ thì ngỡ ngàng trước thực tế hình hài, mặc dù trong lòng rộn ràng bao cảm nghĩ thương yêu nhưng vẫn không còn nước mắt để khóc mừng ngày đoàn tụ. Ðoạn kết của chuyện tình, đoạn kết của con đường Phục quốc Khi anh chị Võ Ðại Tôn qua Hoa Kỳ tìm cách định cư thời kỳ 90, chúng tôi có dịp tiếp xúc nhiều lần. Quả thực con đường hội nhập muộn màng của anh chị có khi còn khó khăn hơn cả đường về quê hương thuở trước. Gia đình không có hoàn cảnh hợp lệ để hưởng trợ cấp. Người chiến sĩ phục quốc về già không tìm được công việc thích hợp tại Hoa Kỳ. Cô vợ trẻ đi may thuê gặp toàn chuyện nham nhở buồn phiền. Giữa một cộng đồng đông đảo, nhiệt thành, tích cực nhưng phân hóa. Không có chỗ đứng cho người anh hùng thấm mệt. Gia đình nhỏ bé của anh chị lại phải từ giã Mỹ Quốc trở về Úc Châu, tìm lại sự thông cảm anh em với chút tình xưa nghĩa cũ. Ðó là những dữ kiện và tin tức của mặt nổi bên ngoài. Đón tiếp tại San Jose năm 1991
Từ bên trong, chiến sĩ Võ Ðại Tôn ngày nay bỏ kiếm cung trở lại với thi sĩ Hoàng Phong Linh, cầm bút viết những vần thơ cảm khái. Còn người vợ. Cô Sinh viên Saigon ngày xưa, cô giáo trẻ dạy trường trung học Long Khánh, cô nữ xướng ngôn viên đài TV số 9 Saigon, ngày nay thực sự cô nghĩ gì? Với tình yêu đầu đời năm 72, qua 3 năm hạnh phúc của đoạn cuối chiến tranh Việt Nam, thoát đi được năm 75 đã là điều may mắn. Những năm đầu định cư, trong khi ai nấy đều lo xây dựng cuộc sống trên quê hương mới thì người chồng còn trăn trở với giấc mơ trở về. “Rồi anh đi mà không bảo gì nhau.”
Vinh quang không thấy và ngày về cũng xa dần, chỉ còn lại những lời ong bướm tán tỉnh suốt năm tháng dài cô đơn mòn mỏi. Rồi thêm vào đó là những tin đồn đau thương đứt ruột từ những trại giam khổ sai bên Việt Nam. Những tiếng thị phi của đồng hương và tin tức đánh phá trên báo chí. Người chồng yêu quý họ Võ anh hùng đã thành tay Võ đại Bịp. Cả những người bạn cũng gọi anh là kẻ háo danh và ngu đần. Võ đại Tôn trở thành người yêu nước cuối cùng của thế kỷ thứ 20 mang tiếng bạc tình, chạy theo ảo ảnh, không lo cho vợ con. Sau cùng, chung quanh cô vợ trẻ hẩm hiu chỉ còn toàn là những người khôn ngoan, thông minh và hết sức thực tế. Sau khi anh trở về, chẳng mấy ai còn quan tâm đến vụ họp báo quốc tế làm cộng sản thâm gan tím ruột tại Hà Nội năm 82. Có lá thư gửi đến cho người chiến sĩ trở về đã đang tâm hạ bút viết rằng: “Bác Võ đại Tôn, sao bác không chết đi ?” Nhưng trải qua bao nhiêu đau thương, bác vẫn còn sống, và người chồng đã trở về. Anh không chết đâu em. Anh về như một phép lạ, dù hình hài tiều tụy. Ta nhìn nhau ánh mắt chưa quen. Khi ra đi vẫn không một lời trăn trối. Nếu khi đi thì phải nhiều năm em mới quen dần với đau thương. Thì ngày về cũng phải có thời gian em mới quen dần với sự vui mừng. Bây giờ đôi vợ chồng xum họp bên nhau gây dựng lại một niềm ước mơ rất nhỏ.
Vợ chồng ông bà Võ Đại Tôn ngày nay Một gia đình định cư dang dở, một công việc phục quốc dở dang. Chỉ còn cố hàn gắn lại niềm hạnh phúc về chiều.Tháng 4 nghiệt ngã 35 năm sau, năm 2010 gia đình Võ đại Tôn trở lại San Jose và nước Mỹ. Nối lại cái bắt tay muộn màng trong tình chiến hữu lúc hoàng hôn. Tuyết Mai vẫn mãi mãi là Cô gái Việt và Hoàng Phong Linh vẫn còn là người thi sĩ trẻ một thời đã viết bài ca bất hủ. “Mẹ Việt Nam ơi! chúng con vẫn còn đây… “ © Giao Chỉ © Đàn Chim Việt
Đi đấu tranh làm viên gạch lót đường Anh xứng đáng là anh hùng nước Việt In gót chân lên quê hương yêu dấu Tiêu diệt quân thù rửa hận quốc dân Ôm hoài vọng dựng cờ lên đất mẹ Nguyện một lòng sớm quang phục quê hương. (Ngày gặp anh VĐT họp báo tại rạp Triều Thành – Disneyland TP Anaheim, tiểu bang CA – HK trước đây 30 năm!)
Cảm động cho lòng chung thủy và khâm phục cho tinh thần quật cường của ông bà Võ Đại Tôn. Các đây 14 năm , tôi có duyên gặp và uống rượu với ông trong một đêm mưa ở Tokyo tại nhà một người bạn khi ông sang Nhật tìm cách vận động chính giới Nhật can thiệp thả các tù nhân chính trị ở VN. Cho đến hôm nay tôi vẫn còn giữ tấm danh thiếp của ông như một kỷ vật. Ông bà sang Nhật đi vận động nhưng không có tiền lộ phí , chỉ đem những cuốn thơ nhỏ của ông viết để bán lấy tiền làm lộ phí cho cuộc đi vận động ở mỗi nơi ông đến. Đến Đông kinh ông không tiền để trọ khách sạn và ông bà phải chia nhau ra ở những nhà người Việt mến ông bà cho ở trọ. Cảm động nhất là giám đốc đài truyền hình NHK Nhật Bản thời đó là ông Watanabe đã ôm ông khóc khi ông tìm đến đài NHK và tặng lại ông cuốn phim video phóng sự quay cảnh phóng vấn ông tại cuộc họp báo quốc tế ở Hà nội. Ngày đó ông Watanabe còn là một ký giả đã nằm lăn dưới bánh xe U -oát của công an để chặn đường không cho xe công an chạy và quay cho được cảnh Bộ trưởng công an Trần Hoàn và bọn công an đang phẫn uất dẫn giải ông ra xe vì đã bị ông gài cho một vố đau trước cuộc họp báo quốc tế. Theo ông Watanabe lúc đó sau khi công an dẫn giãi ông Võ Đại Tôn đi thì họ đòi tịch thu tất cả phim ảnh phỏng vấn ông Võ Đại Tôn , cuốn băng ghi hình phỏng vẫn đã phải đi một đường vòng theo con đường của Bộ Ngoại giao của Nhật mới có thể đem về chiếu tại NHK. Ông Watanabe đã vinh danh ông là người anh hùng cuối cùng của lịch sử VN trong thế kỷ 20. Còn với tôi ông là một tao nhân mặc khách với khí khái anh hùng đang kính trọng.
Ai Phản Bội Hòang Phong Linh (Võ Đại Tôn)? Sedgwick Tourison  | Wick Tourison là một người Mỹ chính gốc. Ông nói và viết tiếng Việt rất sõi. Ông nói tiếng Việt với giọng miền Bắc, và có tên Việt Nam là Tùng, Wick là nhân viên của sở Tình Báo Quốc Phòng Hoa Kỳ (Defense Intelligence Agency) trước khi được điều phối qua làm việc trong Uỷ Ban Điều Tra Người Mỹ Mất Tích tại Việt Nam cho thượng nghị sĩ John Kerry dưới thời ông Bush bố. Nhờ làm việc trong uỷ ban đó Wick Tourison tìm thấy hồ sơ mật của Bộ Quốc Phòng liên quan đến những nhóm biệt kích nhảy toán ra miền Bắc trong thời tổng thống Ngô Đình Diệm, và bị CSVN giam cầm suốt từ những năm 50 cho đến thập niên 80. Chính ông Wick là người đã can thiệp với chính phủ Hoa Kỳ để cho những người línnh biệt kích ấy được định cư tại Hoa Kỳ vào thập niên 90. Wick có gặp ông Võ Đại Tôn... |
Wick Tourison là một người Mỹ chính gốc. Ông nói và viết tiếng Việt rất sõi. Ông nói tiếng Việt với giọng miền Bắc, và có tên Việt Nam là Tùng, Wick là nhân viên của sở Tình Báo Quốc Phòng Hoa Kỳ (Defense Intelligence Agency) trước khi được điều phối qua làm việc trong Uỷ Ban Điều Tra Người Mỹ Mất Tích tại Việt Nam cho thượng nghị sĩ John Kerry dưới thời ông Bush bố. Nhờ làm việc trong uỷ ban đó Wick Tourison tìm thấy hồ sơ mật của Bộ Quốc Phòng liên quan đến những nhóm biệt kích nhảy toán ra miền Bắc trong thời tổng thống Ngô Đình Diệm, và bị CSVN giam cầm suốt từ những năm 50 cho đến thập niên 80. Chính ông Wick là người đã can thiệp với chính phủ Hoa Kỳ để cho những người línnh biệt kích ấy được định cư tại Hoa Kỳ vào thập niên 90. Wick có gặp ông Võ Đại Tôn Chúng tôi nhận được bài này vào năm 1992, và đã đăng trên Tạp Chí Việt Nam Hải Ngoại. Nhận thấy bài viết này vẫn còn có nhiều sử liệu rất đáng lưu tâm nên chúng tôi trích đăng để quý bạn đọ có thêm tài liệu tham khảo.
"Dạ thưa...Bác Tôn làm sao mà bị bắt?"
Bác không cần suy nghĩ một chút nào. Bác trả lời liền.. "Vì thằng Việt kiều ở Thái Lan tên Chung..."
"Nhưng Bác làm sao có thể chắc chắn?"
"Vì những hình ảnh tôi chụp ở Thái."
"Là làm sao?"
"Như thế này anh Tùng ơi. Lúc ở Thái Lan tôi đã chụp mấy hình ảnh. Năm 1981 trước khi vượt biên sang Lào tôi đã giao những cuốn phim cho thằng Chung. Tôi bảo Chung gửi về cho vợ tôi ở Úc. Nhưng, sau khi tôi bị bắt rồi bọn công an ở Hà Nội đã đem ra cho tôi coi những hình chụp tôi đã giao cho Chung mấy tuần trước. Năm 1991 tôi được tha về Úc tôi hỏi vợ tôi đã nhận được những hình của tôi nhờ Chung gửi về không? Bà nói bà đã không nhận được. Như vậy Chung không làm cho tụi nó thì làm cho ai?"
"Đồng ý. Nhưng, trước khi sang Lào thì ai nắm được các chi tiết về lộ trình, những phương án cụ thể? Chẳng hạn như năm 1981 Bác có biết Phoumi Nosavan không?"
"Biết chứ! Nhưng biết con của Phoumi tên Phoumano nhiều hơn."
"Phoumano nắm được kế hoạch của Bác Tôn không?"
"Có. Nói chung Phoumano biết nhiều."
"Như vậy Bác Tôn nên phải suy nghĩ lại nhé. Tôi không biết tên Chung và vu. Bác Tôn làm sao bị lộ không phải là câu chuyện dể, không phải chỉ có một người nhé! Bác Tôn cũng là người có nhiều kinh nghiệm trong ngành tình báo. Bác Tôn cũng biết đối phương điều tra rất nhiều nguồn tin, có phải không?"
"Đúng thế Tùng ơi."
"Chẳng hạn như. Năm 1981 có nhiều người nhắc tới tên Bác Tôn. Mấy năm về sau có người như bà Anh cũng nói bà rất thân với Bác Tôn. Còn nhiều người nữa..."
Bác Tôn mỉm cười.
"Trước khi tôi bị bắt có rất nhiều người muốn biết tôi. Họ có rất nhiều câu hỏi..."
"Thế...sau khi Bác Tôn được tha thì mấy người này có trở lại tiếp đón Bác Tôn không?"
"Không...kể cả bà Anh."
"Tại sao vậy?"
"Ai mà biết..."
Hai người ngồi uống càfé một lát rồi mới tiếp tục.
"Như vậy Tùng có biết Phoumano không?"
"Biết chứ! Chưa gặp người nhưng cũng biết nhiỿu."
"Làm sao biết được?"
Tôi ngồi suy nghĩ lại. Có nên kể cho Bác Tôn nghe không? Ông còn nghi ngờ thằng Chung thì rất có thể Bác Tôn đúng và tôi sai. Thôi đi, nói cho rồi. Bản thảo công tác điều tra về người Mỹ mất tích tại Đông Nam Á được Bộ chấp thuận cho phép phát hành, tức là hồi ký của tôi trong những năm 1983-88 trong lúc là một sĩ quan quân báo tại Sở Tình Báo Quốc Phòng đặc trách điều tra tình hình trại giam tại Đông Nam Á. Bây giờ trích ra một số truyện ngắn trong hồi ký thì cũng chả sao.
"Bác Tôn biết về tôi rồi, có phải không."
"Biết." Bác cười.
"Bác biết về công tác của tôi tại Sở Tình Báo Quốc Phòng không?"
"Biết đại khái thôi." Hai người cười.
"Được rồi. Bác cũng biết tôi không những tò mò về các cơ sở như Cục Quản Lý Trại Giam, bọn Cục Tình Báo...tại Việt Nam mà còn tò mò về bọn tình báo Bộ Nội Vụ Lào."
Bác Tôn gật đầu, không trả lời.
"Bác Tôn có biết gì về bọn tình báo cộng sản Lào không?"
"Dạ không."
Tôi không tin Bác Tôn không biết gì hết nhưng cũng chả sao.
"Bây giờ tôi xin kể lại cho Bác Tôn nghe."
"Mùa thu năm 1973 chính phủ hổn hợp Lào được xây dựng lại có đại diện ba phe tại Vientiane. Một trong những sĩ quan tình báo cơ sở nội vụ cộng sản Lào đầu tiên vào Vientiane là Trung tá Phetsamone Vongphaython, người sinh quán tỉnh Attopeu. Bác Tôn biết Attopeu có phải không?"
"Biết...nơi tôi bị bắt."
"Năm 1975 cơ sở ngầm của cộng sản Lào phát động tổ chức đặt tên "Hai Mươi Mốt Tổ Chức Đoàn Thể," tiếng Lào gọi là "sao et hong can." Tổ chức này có nhiệm vụ hổ trợ cho việc lật đổ phe hữu trong chánh phủ."
Lúc đó Bác chú ý về Việt Nam. Nhưng tại Lào thì vào ngày 5 tháng 5 năm 1975 đơn vi. F31 của Quân Khu 4 Miền Bắc thi hành mệnh lệnh của Bộ và Bộ Tư Lệnh Quân Khu vi phạm đình chiến ở Lào bằng cách tấn công ồ ạt qua ranh giới đình chiến vây ép phe hữu chịu hàng. Ŀến ngày 2 tháng 12 năm 1975 bỿn cộng sản đem chính phủ dân chủ nhân dân Lào ra đời tại Vientiane. Bộ Nội Vụ chính phủ lâm thời Lào được tổ chức lại. Trung tá Phetsamone nắm được Cục Tình Báo của Bộ Nội Vụ cộng sản Lào và là người thứ hai trong cơ sở an ninh của Bộ Nội Vụ.
Ông Phetsamone không phải làm tất cả mọi cái gì nhé! Ông có phái đoàn Việt Nam từ Hà Nội sang ngồi bên cạnh, đặt cơ sở, cơ quan văn phòng rất gần nhà ở củ của tôi ở Vientiane, tức là tại một căn nhà xây cách cổng chính chùa Wat That Louang chỉ mấy trăm thước."
"Trung tá Phetsamone là người theo cộng sản Pathet Lào từ đầu thập niên 60. Ŀến năm 1975 ông xây dựng tổ chức tình báo của Bộ Nội Vụ Lào, chiếm được cơ quan của Mỹ tại Vientiane để làm cơ quan làm việc cho bọn tình báo áo vàng Lào. Tức là, ông lấy được khu của USAID gần Bộ Tư Lệnh Quân Ŀội, một khu có nhà lợp tôn thường gọi là "Silver City," tức là khu phố bạc...vì các mái nhà có lợp tôn đang chiếu như bạc đã đánh bóng. Hiện nay ở Vientiane hỏi người "silver" ở đâu thì người ta biết mình đang hỏi về người tình báo Bộ Nội Vụ Lào. Bác tôn có hiểu không?"
"Dạ, hiểu."
"Cuối thập niên 70 kháng chiến quân của Tướng Vang Pao đang ở thế bị đánh thất bại tại núi Phou Bia, Vang Pao đã đi khỏi Lào rồi, có sự cạnh tranh giữa tướng Vang Pao và một người khác tên Pak Khao Her còn ở lại Lào để tiếp tục chiến đấu. Thật ra mà nói, kháng chiến quân không đủ khả năng lật đổ chính phủ cộng sản Lào nhưng cứ gây đau đầu cho bọn lãnh đạo tụi nó. Nó như một người bị nhức đầu, không sợ phải chết nhưng cũng không được ngủ ngon."
"Trung tá Phetsamone cứ tìm cách đánh bại kháng chiến quân đang gây đau đầu cho ông. Ông không biết thâm nhập vào cơ sở tổ chức của người Hmong Vang Pao. Người phe phái chế độ cu? Quân Ŀội Hoàng Gia Ai Lao đang ở Thái Lan thì cũng hơi khó mà lợi dụng. Mục tiêu điều tra còn lại là bốn phe trung lập và những thành phần chính tri. Lào đã phải trốn sang Thái từ thập niên 60, nguời như Phoumi Nosavan và phe phái của ông. Ŀến cuối thập niên 70 Trung tá Phetsamone ra phương án dùng bốn phe trung lập như cầu nổi để bắc qua sông để vừa thâm nhập vừa đánh phá kháng chiến quân."
"Thế hả? Ông Phetsamone làm thế nào?"
"Dễ lắm Bác Tôn ơi. Trung tá Phetsamone biết phe trung lập rất dễ bị lợi dụng. Họ là phe không còn vị trí, không ai còn theo. Phetsamone định tung ra một số tin giả về Mỹ còn lại là tù binh ở Lào để phe Lào ở Thái họ có thể bán tin tức cho những người Mỹ đang tìm tin tức về những người Hoa Kỳ còn mất tích tại Ŀông Nam ÿ. Sau đó làm sao dùng tin bậy để vận động kháng chiến quân giúp cho Mỹ đến điểm kháng chiến quân để sang Lào để cấp cứu những "tù binh Mỹ" này. Nhưng, có một số người Mỹ không hiểu công tác Bộ Nội Vụ. Họ tin rằng có tù binh thật sự. Họ không bao giờ ngờ rằng đây chỉ là một kế hoạch loại tuyên truyền của chính tụi tình báo Bộ Nội Vụ Lào. Không phải riêng của Bộ Nội Vụ Lào nhé! Phetsamone chỉ đáng học theo anh em Tổng Cục An Ninh Bộ Nội Vụ Việt Nam mà thôi."
"Thế hả? Có được thành công không?"
"Có. Trời ơi là có. Mấy ông tự giới thiệu là kháng chiến quân thì rất là can đảm, tinh thần chiến đấu rất cao...những người trẻ nầy cũng coi khả năng phản gián lẩn phản kháng chiến của Lào quá thấp đến độ họ bị bắt hết. Bác Tôn muốn gặp người kháng chiến chưa chết còn lại chỉ cần xuống thăm các trại giam tỉnh như ở Saavannakhet. Bao nhiêu là người Lào vượt sông Mekong để tìm tin tức về tù binh Mỹ của Phetsamone."
"Ŀược rồi. Nhưng, Phoumi và con Phoumano thì làm sao?"
"Có rất nhiều người tin vào ông Phoumi, đặc biệt là người của khu Savannakhet, tức là nó tập trung họ hàng gia đình Nosavan. Muốn hoạt động trong khu Savannaket thì sau năm 1975 cũng phải hỏi qua ý kiến của ông Phoumi mới làm được gì. Nếu không thì phải sợ "bị lộ" một cách bất ngờ. Ŀến giữa thập niên 80 thì ông Phoumi chết, còn tên Phoumano lên ngồi ghế gia đình Nosavan. Nhưng, còn trẻ tuổi, mập, thích ăn chơi không phải là một nhà chính trị như bố Phoumi đâu." Tôi không cần nói về ho. Inthavong tại Vientiane, người như Bounleut Saycosy...Ŀể khi khác. Tôi kể chuyện tiếp.
"Theo chúng tôi điều tra được thì thằng Trung tá Phetsamone đã thâm nhập lợi dụng cơ sơ? Phoumi từ lâu rồi. Vì sao? Vì Phetsamone xác định người của Phoumi có thể bị lợi dụng vì tiền một cách dể dàng. Tung ra tin về tù binh Mỹ cho người của Phoumi để họ có thể bán lại cho Mỹ thì họ mừng, ơi là mừng. Cùng thời gian tên Phetsamone đổi chác tin tức; có thể nắm được tình hình kháng chiến quân sẽ vượt biên ở đâu, để làm gì, bao nhiêu người có những súng nào. Nhưng, Trung tá Phetsamone cũng nắm được các thành phần vượt biên ở Hạ Lào vì ở những khu như Ubon có một số gia đình chế độ cũ Lào còn nắm được quyền hoạt động ở xứ họ không khác gì kiểu gia đình Nosavan. Muốn vào hoạt động ở khu Saravan, Pakse, Attopeu thì phải có sự đồng ý của người gia đình gốc những khu nầy mới bảo đảm vượt biên được. Nhưng, làm thế này thì những gia đình khác sẽ biết phương án kháng chiến quân có ý định sang Lào hoạt động và Trung tá Phetsamone sẽ biết ngay."
"Chẳng hạn như Bác Tôn bị bắt ở Attopeu thì ai giới thiệu Bác Tôn với những gia đình có thẩm quyền về hoạt động ở Hạ Lào?"
"Ra...có ông Tướng...giới thiệu..."
"Thấy chưa?"
"Dạ, hiểu..."
Bác Tôn ngồi im.
"Xin lổi Bác Tôn. Bác ở trại tạm giam Thanh Trì bao nhiêu lâu?"
"Mươi năm một tháng mấy ngày."
Đủ rồi. Chỉ có người ở tù mới trả lời như vậy.
Mấy tuần gần đây có người tung ra hình chụp của Bác Tôn, những tài liệu xin được ân xá có chữ ký Bác Tôn. Tôi không biết ai đã viết. Theo Bác Tôn thì những hình chụp là của Bộ Nội Vụ gửi ra nước ngoài. Bác Tôn cũng nói ông không phải là người viết những tài liệu có chữ ký Võ Ŀại Tôn. Tôi rất muốn tin Bác Tôn. Tôi có cãm nghĩ rằng những người đặt vấn đề về Bác Tôn hơi tương tự như những người giới thiệu Bùi Tín là một quí chính viên. Còn lâu!
Hoàng Phong Linh và Võ Ŀại Tôn là một người, một người anh hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ năm 1975 Bác Tôn không khác gì bao nhiêu người có tinh thần quốc gia đang nhìn về những gì đã xảy ra vào buổi sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Người ta muốn ói, khóc, la kêu...người Việt Nam và rất nhiều người Hoa Kỳ nữa. Nhưng, những gì đã xảy ra ngày 30 tháng 4 không thể thay đổi được và nhiều người không khác những người như Bác Tôn sẽ tìm cách hoàn thành nhiệm vụ.
Bác Tôn đã lớn tuổi rồi. Có người cho rằng ông ta đã quá mệt mõi, cho người khác lên thay.
Bác Tôn chưa phải về hưu. Ông còn nhiều việc muốn làm. Tôi chỉ mong muốn rằng Bác Tôn sẽ suy nghĩ rắt kỹ về lộ trình trong tương lai, ngồi mấy phút để nghiên cứu những gì đã xảy ra trong thời gian mười năm Bác là khách của Thiếu tá Trần Chí, Giám Thị Trưởng Trại Tạm Giam Bộ Nội Vụ tại Huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Tôi cũng mong muốn rằng Bác Tôn sẽ chọn được rất kỹ những người em xung phong đi theo Bác cũng như xét lại về các thành phần tự giới thiệu là "bạn" của Bác trong quá khứ cũng như hiện tại.
Trước khi chia tay nhau chúng tôi có trao đổi tác phẩm. Hồi ký công tác thẩm vấn tù binh Việt Cộng của tôi tặng cho Bác Tôn tôi đã viết như sau: "Kính biếu Võ Đại Tôn, anh hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa."
Những người anh hùng như Bác Tôn thì rất quý. Sự đóng góp của họ không nhất thiết phải ở ngoài mặt trận khu rừng già. Ngồi viết ra những kinh nghiệm của mình đôi khi hiệu quả hơn. Mong muốn Bác sẽ tìm được một đưỿng đi không có trở ngại. Kính chào Bác Tôn.
| Hoàng Phong Linh - Võ Đại Tôn, Cả Một Đời Sắt Son Gìn Vàng Giữ Lửa | Kể từ khi chủ nghĩa cộng sản tung hoành một cách bá đạo trên lãnh thổ Việt Nam, dân tộc ta có không biết bao nhiêu anh hùng. Trong số đó, có những vị oai hùng xông pha ngoài trận mạc, có những vị sẵn sàng vị quốc vong thân, có những vị bất khuât giữ gìn khí tiết trong lao tù CS... Tháng 4 năm 1975, khi đất nước rơi vào tay cộng sản, người dân VN ở khắp mọi miền của đất nước, lại một lần nữa chứng kiến những tấm gương anh hùng, bất khuất, bước vào sử xanh của dân tộc... Trong số đó, có những vị đã vĩnh viễn nằm xuống trong lòng đất lạnh, có những vị vẫn âm thầm chiến đấu trong lòng địch, có những vị vẫn ngược xuôi bôn ba, gìn vàng giữ ngọc, nuôi dưỡng ngọn lửa đấu tranh cho quê hương, đất nước suốt mấy chục năm trời... Trong số những vị anh hùng đó, ta không thể không nói đến ông Võ Đại Tôn, người đã sáng lập Liên Minh Quang Phục Việt Nam ngay từ những tháng năm đầu mất nước, đã từng về VN trực tiếp chiến đấu với kẻ thù CS, từng bị kẻ thù bắt cầm tù suốt thời gian ngót 10 năm trời, nhưng trước sau vẫn giữ được khí tiết của một người lính, sự minh mẫn của một kẻ sĩ, cùng tấm lòng đa cảm, bao dung của một người nghệ sĩ tài hoa. Người VN xưa nay vẫn có câu: Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức quân thần. Khi nhà nghèo mới hiểu lòng hiếu thuận của con; Khi nước mất mới biết lòng ái quốc của thần dân. Việc trở về VN tìm đường cứu nước của những vị anh hùng như Trần Văn Bá, Hoàng Cơ Minh, Võ Đại Tôn, Võ Hoàng, Lê Hồng... trong những năm sau 1975, đã thực sự thắp sáng trong tâm hồn của người Việt yêu nước trên toàn thế giới, niềm tự hào, lòng hy vọng, và sự khâm phục. Nhưng nếu sự trở về VN chiến đấu, cùng thời gian 10 năm sống trong lao tù CS của ông, đã khiến mọi người kính phục sự can đảm và lòng yêu nước của ông, thì đặc biệt cuộc họp báo của ông ngay giữa sào huyệt của cộng sản cách đây đúng 20 năm, đã khiến cho cả thù lẫn bạn đều phải thừa nhận, bên cạnh lòng cảm đảm, bất khuất, ông Võ Đại Tôn còn là một người mưu lược, biết chủ động mở mặt trận tuyên truyền ngay giữa lòng địch, và chiến thắng vẻ vang. "Tôi sẽ không phản bội bất cứ ai đã giúp đỡ ủng hộ tôi. Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi để tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi sẵn sàng nhận bất cứ một bản án nào mà chế độ cộng sản dành cho tôi." Hai mươi năm trước, ngay giữa gông cùm và xiềng xích của kẻ thù CS, những lời tuyên bố trên, đã vang vọng như một bản tuyên ngôn của lòng yêu nước, của trí bất khuất, của chân lý, lẽ phải, đức tin... Và suốt 20 năm qua, dù là những năm dài bị đầy đọa trong lao tù của kẻ thù, hay những năm tháng sống tại Úc, tại Mỹ, với tuổi tác chồng chất, ông Võ Đại Tôn vẫn trước sau như một, thủy chung đi theo con đường tranh đấu cho tự do và giải phóng dân tộc. Có nhìn vào cuộc sống của người Việt hải ngoại suốt 27 năm qua, để thấy có những người Việt tỵ nạn CS thuở nào nay bắt tay làm ăn với cộng sản, có những tổ chức chính trị khởi thủy ôm ấp hoài bão đấu tranh cho một nước VN tự do dân chủ, nay biến thái trở thành những tổ chức phi chính trị, thuần túy xã hội, chỉ biết mưu cầu hạnh phúc, bổng lộc riêng tư; có những lãnh tụ ngày nào tiên phong trong cuộc đấu tranh, bây giờ bỗng nửa đường đứt gánh, nay thay áo, mai đổi màu, mốt trùm mền buông lời yếm thế... ta mới thấy được tấm lòng yêu nước của ông Tôn, son sắt, thủy chung và đáng qúy đến nhường nào. Điều đặc biệt đáng ngưỡng mộ nữa ở ông Võ Đại Tôn là tấm lòng đa cảm và khả năng đầy tài hoa của một người nghệ sĩ, lúc nào cũng hiện hữu cùng ông trên bước đường tranh đấu. Nhờ vậy, với bút hiệu Võ Đại Tôn hoặc Hoàng Phong Linh, trước 1975, ông có những tác phẩm như: Hoa Tím, Đêm Trắng, Cánh Chim Bằng, Đăng Trình, Hồn Ca...; và sau 1975, tại hải ngoại, các tác phẩm: Lời Viết Cho Quê Hương, Đoản Khúc Người Ra Đi, Tiếng Chim Bên Dòng Thác Champy, Tắm Máu Đen... và tác phẩm mới nhất, Chim Bắc Cành Nam, sẽ được Liên Minh Quang Phục VN phát hành vào lúc 6 giờ 30 tối Thứ Bảy, 13/7 tuần này. Chim Bắc Cành Nam là tác phẩm kể trong tù, về một mối tình Nam Bắc, trong đó tác giả đã thành công trong việc mô tả tình người, đức tin và niềm hy vọng, đã chiến thắng được những bi phẫn của nghịch cảnh. Tác phẩm dày hơn 200 trang, giấy trắng khổ 4x8 với phần giới thiệu của ông Nguyễn Chí Thiện, trang phụ bản của Họa sĩ Đông Duy và thủ bút thơ tặng của Thi Sĩ Cao Tiêu cùng một số hình ảnh tư liệu. Sách được chia làm 5 chương không kể hai chương mở đầu và kết thúc. Võ Đại Tôn là một chiến sĩ! Cuộc đời ông suốt mấy chục năm qua, dù khi khoác áo lính, khi mặc áo tù, hay khi sống cuộc sống của một người tỵ nạn, ông vẫn trước sau sống, làm việc và suy tư như một người lính. Vì vậy, trong những bài thơ của Hoàng Phong Linh, người đọc vẫn xúc động cảm nhận được những hào khí oai hùng của người lính Võ Đại Tôn. Viết đến đây, tôi lại nhớ tới mấy câu thơ, ông viết trong đêm Thắp Sáng Niềm Tin tại San José vào đầu tháng 3 năm 1999: Đã đến giờ chưa Mà sao mặt trời rực đỏ Giữa đêm chính ngọ bùng lên! Không cần gọi tên Sóng người vẫn đến Vạn bàn tay giơ cao ngọn nến Biển cờ vàng chói lọi Niềm Tin. Trước khi dừng bút, tôi chân thành hy vọng, với tấm lòng son sắt cho quê hương đất nước của ông Võ Đại Tôn suốt mấy chục năm qua, không cần gọi tên, sóng người vẫn đến trong đêm LMQPVN phát hành sách Chim Bắc Cành Nam của ông.
HỮU NGUYÊN |
Phỏng Vấn Ông Võ Đại Tôn Nguyên Thị Trâm Oanh 
Ông Võ Đại Tôn - đeo kính nâu - đứng ở giữa
Vài nét giới thiệu về Chiến Sĩ VÕ ĐẠI TÔNChiến Sĩ Võ Đại Tôn, bút hiệu Hoàng Phong Linh,sinh tại Quảng Nam, là sĩ quan cấp tá trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã từng được biệt phái ngoại ngạch sang nhiều công vụ dân chính tại miền Nam trước 1975 (Phụ Tá Tổng Trưởng Bộ Thông Tin, - Giám Đốc Công Tác Bộ Chiêu Hồi).
Vượt biển đến định cư tại Úc Châu năm 1976 và trở về lại quê hương để tham gia Kháng Chiến Phục Quốc (qua đường rừng Thái-Lào) nhưng đã bị sa cơ vào tháng 10, 1981, tại biên giới Lào Việt.
Vì cương quyết giữ vững lập trường không đầu hàng Cộng Sản trong cuộc họp báo quốc tế ngày 13.7.1982 tại Hà Nội, ông Võ Đại Tôn đã bị Cộng Sản Việt Nam biệt giam hơn 10 năm tại trại tù Thanh Liệt (B-14), ngoại thành Hà Nội.
Được tự do nhờ áp lực của Quốc Tế và trở lại Úc Châu ngày 11.12.1991.
Hiện vẫn đang tiếp tục dấn thân phục vụ Lý Tưởng Tự Do Dân Chủ cho quốc gia Việt Nam, công tác khắp nơi trên thế giới, với cương vị là Tổng Uûy Viên Điều Hợp Trung Ương của tổ chức đấu tranh Liên Minh Quang Phục Việt Nam.
Ngoài các hoạt động đấu tranh chống Cộng Sản, ông Võ Đại Tôn còn là một nhà thơ nổi tiếng về các đề tài Quê Hương Dân Tộc, với bút hiệu Hoàng Phong Linh. Một trong những bài thơ của ông đã được phổ nhạc là bài "Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây", phổ biến khắp nơi tại hải ngoại từ mấy chục năm qua. Các tác phẩm văn-thơ của ông Võ Đại Tôn đã xuất bản là : (các tập Thơ trước 1975 tại Saigon) - Hoa Tim - Đêm Trắng - Cánh Chim Bằng - Đăng Trình - Hồn Ca . - Lời Viết Cho Quê Hương. (Năm 1979 tại Hoa Kỳ) - Đoản Khúc Người Ra Đi. (Năm 1986 tại Úc Châu) - Hồi ký lao tù Tắm Máu Đen - Tập Thơ Tiếng Chim Bên Dòng Thác CHAMPY (Năm 1992 tại Úc Châu và năm 2000 tái bản tại Hoa Kỳ) - Tập truyện Chim Bắc Cành Nam (2002) - Tuyển Tập Thơ-Văn Đấu Tranh "Tổ Quốc – Hành Trình 30 năm" (Úc Châu 2005).
Mọi liên lạc xin gửi về : lmqpvn06@gmail.com
Ông Võ Đại Tôn còn nhận được nhiều Bản Tuyên Dương của Quốc Hội Lưỡng Viện Hoa Kỳ, được đương kim Tổng Thống Hoa Kỳ trao tặng huy chương Quân Công Bội Tinh (2003), và Học Viện Quốc Tế về các Vinh Dự Quân Đội trao tặng Thanh Gươm Hiệp Sĩ Vua Arthur (2003) – ông Võ Đại Tôn là người thứ ba trên thế giới nhận lãnh phần thưởng cao quý này về Lòng Yêu Nước, tình Đồng Đội, và Ý Chí Đấu Tranh cho Nhân Quyền.
Cùng một tác giả với bút hiệu Hoàng Phong Linh
THƠ
(trước 1975 tại Saigon)
ĐÊM TRẮNG CÁNH CHIM BẰNG ĐĂNG TRÌNH HỒN CA
(năm 1979 tại Hoa Kỳ) nhà xuất bản Thức Tỉnh
LỜI VIẾT CHO QUÊ HƯƠNG (bản dịch Anh ngữ của Võ Trường Sơn) (năm 1986 tại Úc Châu) Cơ sở xuất bản Bất Khuất
ĐOẢN KHÚC NGƯỜI RA ĐI
(văn thơ sau 10 năm trong ngục tù Cộng Sản Hà Nội)
TIẾNG CHIM BÊN DÒNG THÁC CHAMPY (thơ) TẮM MÁU ĐEN (bút ký lao tù) tái bản nhiều lần CHIM BẮC CÀNH NAM (chuyện kể trong tù, xuất bản tại Hoa Kỳ, tái bản tại Úc Châu, 2002).
TUYỂN TẬP THƠ VĂN ĐẤU TRANH
“TỔ QUỐC : HÀNH TRÌNH 30 NĂM”
Cơ sở Trúc Việt - Úc Châu - xuất bản, 2005

MỤC LỤCBA MƯƠI HAI NĂM - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) CUỐI ĐƯỜNG MẸ ĐI ... - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) EM và MÙA XUÂN QUÊ HƯƠNG - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) HỒN SÔNG NÚI TRONG EM ... - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) NGÀY GIỖ BẠN - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) THIỆN TÂM VÔ ÚY - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) LỜI VIẾT CHO QUÊ HƯƠNG - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) TIẾNG CHIM BÊN DÒNG THÁC CHAMPY - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) TIẾNG THÉT TỪ LƯƠNG TÂM - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh) TỔ QUỐC - HÀNH TRÌNH BA MƯƠI NĂM 1975 - 2005 - Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)
HỊCH TRUYỀN TỪ TỔ QUỐC ! (Viết khi nhận được tin Trung Cộng chính thức sát nhập hành chánh kể từ ngày 2.12.2007 quần đảo Hoàng Sa – Trung Sa - Trường Sa của Việt Nam thành huyện Tam Sa, trực thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Cộng, do đảng Cộng Sản Việt Nam dâng hiến). Võ Ðại Tôn (Hoàng Phong Linh) Ông Cha ta vạch kiếm chỉ lòng sông Chân vững thạch, tay chống Trời ngạo nghễ. Chí đại bàng vượt muôn ngàn sóng bể Thách trùng dương, đi mở rộng cõi bờ. Hải đảo xa xôi thêm máu dựng cờ Rồng tung cánh rợp Trời Nam hiển hách. Vó ngựa Hung Nô bao lần quét sạch Chặn xâm lăng qua khí phách kiêu hùng. Mấy nghìn năm sâu rễ bách tùng Gươm chém đá – đá mòn, gươm vẫn sắc. Gốc tre thiêng làm kinh hoàng phương Bắc Cọc Ðằng Giang xuyên thủng mộng quân thù. Từ Diên Hồng cho đến chốn thảo lư Lời Tâm Nguyện chung lòng lo giữ Nước. Bành tượng uy linh chắn ngang bạo ngược Ðống Ða mồ, bia sử sáng nghìn năm. Dù phong ba theo mệnh Nước thăng trầm Luôn giữ vững từng dòng sông, đỉnh núi. Từ Ải Nam Quan đến Cà Mau đất mũi Là của Ta, xuyên suốt ba miền. Từ dảy Trường Sơn ôm ấp khí hùng thiêng Thân đại thụ cũng nguyên lòng chung dạ. Tất cả ! Tất cả ! Dù là máu xương Khô cằn sỏi đá . Dù là hướng dương Hoa hồng tám ngã Ðều là của Ta ! Không ai có quyền đem máu của Ông Cha Ði dâng hiến, vết nhơ nhòe trang sử ! Lũ tội đồ khom lưng cống sứ Làm ô danh, tủi nhục giống Rồng Tiên. Bọn Bắc Phương luôn ôm mộng bá quyền Luôn thu tóm, hả hê cười đón nhận. Lời Hịch Truyền hôm nay đầy uất hận Từ Cha Ông, từ Sông Núi nghìn thu. Dòng máu Thiêng từ rừng rú thâm u, Nơi hải đảo, kinh thành hay xóm vắng. Kiếp lưu vong đời tha phương trĩu nặng Hay đọa đày trên mảnh đất quê hương . Hãy thét vang, cùng truy diệt bạo cường Ðang chễm chệ ngồi buôn Dân bán Nước. Toàn Dân Ta kẻ sau người trước Không cúi đầu khiếp nhược khoanh tay. Ta làm Chủ đất này Ai được quyền mua bán ? Lãnh thổ Thiêng Liêng nghìn năm chói rạng Là của Toàn Dân ! Dù bể dâu biến đổi phong trần Ta vẫn đứng trên bờ dâu bể ! Ải Nam Quan còn sôi huyết lệ Bản Giốc dòng khóc hận đêm thâu. Ðảo Hoàng Sa ngơ ngác tủi sầu Thay đổi chủ, sóng đen màu uất nghẹn. Ðất Nước ta toàn vẹn Nào ai dám cắt chia ? Sao giờ đây thịt xẻ xương lìa Giang sơn đầy vết máu ? Ðảng vong nô, một phường thảo khấu Lấy máu dân tô thắm màu cờ. Làm nhục Cha Ông, dâng hiến cõi bờ Rồi ngất ngưởng nơi Ba Ðình chuốc rượu ! Dân Tộc ta mấy nghìn năm trường cửu Lẽ nào đâu khuất phục lũ sài lang ? Lời Hịch đã rền vang Quyện Hồn Thiêng Sông Núi. Hãy ngẩng đầu cao, chuyển xoay hận tủi Thành cuồng phong, chung Ðại Khối Toàn Dân. Giành lại non sông, dù phải hiến thân Vì Ðại Nghĩa, tâm nguyền chung cứu Nước. Ðá phải mềm vì chân ta cứng bước Và đời ta nguyên thủy vẫn lòng son. Trời phương Nam, đất Việt phải còn Ðến muôn nghìn năm nữa ! Lời Hịch hôm nay, tiếng vang thành lửa Ðang soi đường dẫn hướng ta đi. Ðòi lại quê hương, thoát cảnh suy vi Dân Tộc Việt, trời phương Nam : - Tự Chủ ! Võ Ðại Tôn (Hoàng Phong Linh) Hải ngoại, 10.12.2007.
|
|
Nguyễn Kỳ Phong