Cục chống khủng bố, thuộc tổng cục an ninh, bộ công an cho hay đã phá tan âm mưu khủng bố, phá hoại, đặt bom vào dịp lễ kỷ niệm 30 tháng 4, của tổ chức có tên gọi là “đảng Vì Dân” do Nguyễn Công Bằng thành lập tại Hoa Kỳ. Bà Phạm Thị Phượng bị bắt
Nghi can thi hành vụ gây nổ tên là Phạm Thị Phượng, 64 tuổi, và chồng là Phạm Bá Huy bị công an Việt Nam bắt hôm 19 tháng 4 vừa qua, khi hai người từ Thái Lan, qua ngã Campuchia xâm nhập về Việt Nam, rồi ẩn náu tại một căn nhà ở phường 11, quận Gò Vấp. Theo tờ Thanh Niên thì mục tiêu của các đương sự là đánh phá tượng đài ông Hồ Chí Minh, cùng các vị trí công cộng như nhà ga, bến tàu, trường học, bệnh viện, rải truyền đơn, treo khẩu hiệu kích động biểu tình, gây rối loạn, làm mất ổn định trật tự chính trị, kinh tế, xã hội tại Việt Nam. Chưa kịp thực hiện kế hoạch đánh phá thì bà Phượng bị công an chận bắt. Qua cuộc điều tra, bà khai là đã được Nguyễn Công Bằng chỉ đạo xâm nhập Việt Nam, tiến hành kế hoạch khủng bố vào dịp lễ 30 tháng 4.
Ngày 28-4, đại diện Cục An ninh chống khủng bố (Bộ Công an) đã có cuộc gặp gỡ với báo chí để thông báo về việc bắt giữ một đối tượng có hành vi khủng bố.
Đại tá Nguyễn Mạnh Dũng, phó cục trưởng Cục An ninh chống khủng bố, cho biết Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an đã khởi tố bị can, bắt tạm giam Phạm Thị Phượng (sinh 1945) về hành vi “khủng bố” (điều 84 Bộ luật hình sự).
Trước đó, ngày 19-4, khi bà Phượng cùng chồng từ Thái Lan nhập cảnh trái phép về VN đã bị Công an TP.HCM bắt giữ theo quyết định truy nã của Cơ quan an ninh điều tra Công an Đồng Nai về tội “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Theo tài liệu của cơ quan an ninh, tháng 12-2002 (sau thời điểm bà Phượng bị Cơ quan an ninh điều tra Công an Đồng Nai khởi tố và truy nã về các hành vi trên), bà Phượng cùng chồng là ông Phạm Bá Huy trốn sang Thái Lan xin tị nạn chính trị.
Tại đây, thông qua một vị linh mục, bà Phượng quen biết với ông Nguyễn Công Bằng (người Mỹ gốc Việt), “tổng vụ trưởng hải ngoại” của tổ chức khủng bố “Chính phủ Việt Nam tự do” (nay là tổ chức khủng bố “Đảng vì dân”) do ông Nguyễn Hữu Chánh cầm đầu. Bà Phượng nhanh chóng được ông Bằng lôi kéo vào tổ chức khủng bố và hứa hẹn sẽ giúp đỡ bà Phượng và gia đình được định cư tại nước thứ ba.
Sau khi nhận lời gia nhập tổ chức, bà Phượng được ông Bằng và các đối tượng khác huấn luyện cách liên lạc qua Internet, sử dụng thuốc nổ, vũ khí để hoạt động khủng bố phá hoại tại VN.
Để đánh lừa dư luận và tránh sự phát hiện của cơ quan an ninh, ông Bằng yêu cầu bà Phượng hoạt động dưới danh nghĩa của tổ chức “Mặt trận giải phóng miền Nam VN” (thực chất đây là tổ chức trá hình của Nguyễn Công Bằng lập ra trước năm 1975, nay không công bố người đứng đầu nên vì thế nếu có hoạt động khủng bố cũng không bị cơ quan an ninh phát hiện và bị thế giới lên án).
Cũng tại Thái Lan, ông Bằng còn huy động các đối tượng cầm đầu các đảng phái khác như Đỗ Thành Công, Nguyễn Hữu Lễ, Trần Ngọc Bảo... góp tiền cho bà Phượng về VN khủng bố.
Ngày 18-4-2010, Nguyễn Công Bằng cho bà Phượng 5.000 USD và thúc ép bà xâm nhập về nước để thực hiện kế hoạch khủng bố.
Theo yêu cầu của ông Bằng, vợ chồng bà Phượng sẽ đặt thuốc nổ để phá tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh và các địa điểm công cộng như nhà ga, bến tàu, bệnh viện, trường học...; rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, kích động biểu tình (nhằm vào đối tượng công nhân). Mục đích của hoạt động khủng bố là nhằm gây rối loạn, mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội, từ đó châm ngòi cho các phong trào nổi dậy chống phá nhà nước VN.
Ngày 19-4, vợ chồng bà Phượng nhập cảnh trái phép về Châu Đốc (An Giang). Ngày 20-4, bà Phượng về Q.Gò Vấp (TP.HCM) tá túc tại nhà một người quen. Cũng thời điểm đó, ông Bằng tiếp tục rót tiền (4.500 USD) về cho bà Phượng kèm theo các “thông tri”, “đề án” yêu cầu gấp rút thực hiện kế hoạch sử dụng vũ khí, chất nổ khủng bố trong dịp lễ 30-4 và 1-5.
Tuy nhiên, kế hoạch khủng bố của bà Phượng đã không qua khỏi mạng lưới an ninh VN.
HOÀNG KHƯƠNG
Đảng Vì Dân bác bỏ cáo buộc 'khủng bố'
Đảng Vì Dân nói họ chủ trương đấu tranh bất bạo động
Đảng Vì Dân tại Hoa Kỳ đã lên tiếng bác bỏ cáo buộc của chính quyền Việt Nam trong vụ được gọi là "âm mưu khủng bố dịp 30/4".
Hà Nội nói họ vừa bắt bà Phạm Thị Phượng, người được cho là đã hai lần nhận tiền của Tổng Thư ký Đảng Vì Dân Nguyễn Công Bằng trong hai ngày 19 và 20 tháng Tư cùng "Đề án 5K" mà theo đó "vũ khí, chất nổ" sẽ được dùng để "khủng bố trong dịp lễ 30/4 tại thành phố Hồ Chí Minh".
Số tiền liên quan được báo chí Việt Nam nói là 4.500 đô la Mỹ.
Trong khi đó, Tổng thư ký Đảng Vì Dân, ông Nguyễn Công Bằng, nói với BBC từ Houston rằng tổ chức của ông có kế hoạch hoạt động ở trong nước nhân dịp 30/04 nhưng bác bỏ cáo buộc nói có ý định dùng vũ lực.
"Chúng tôi có kế hoạch ngăn chặn khai thác bauxite của Trung Cộng cũng như cảnh cáo các cơ sở kinh tế đang bóc lột người lao động. Chúng tôi cũng muốn nhân dịp ngày 30/04 để người dân trong nước biết đảng Vì Dân phản đối chính sách cai trị độc tài của nhà cầm quyền cộng sản."
"Nhưng tất cả hoạt động chúng tôi dự trù cho các cơ sở ở Việt Nam thực hiện hoàn toàn không có tính khủng bố."
Hôm 20/04, bốn thành viên của đảng Vì Dân bị tòa án tỉnh Lâm Đồng xử tổng cộng 15 năm tù giam và 15 năm quản chế.
Tất cả hoạt động chúng tôi dự trù cho các cơ sở ở Việt Nam thực hiện hoàn toàn không có tính khủng bố
Nguyễn Công Bằng
Văn phòng liên lạc của đảng này, đặt tại Houston, bang Texas (Hoa Kỳ), nói bốn người vừa bị đưa ra xét xử trong phiên tòa sơ thẩm sáng thứ Ba 20/04 là các ông Phùng Quang Quyền, Trương Văn Kim, Dương Âu và bà Trương Thị Tám.
Những người này đều bị bắt từ cuối tháng 08/2009 và bị xử tù tội "Trốn ra nước ngoài nhằm lật đổ chính quyền nhân dân",
Ông Nguyễn Công Bằng nói: "Chúng tôi đang có chiến dịch gồm nhiều cơ sở khác nhau."
Tị nạn
Đài RFA trích dẫn một đồng nghiệp người Mỹ cho biết bà Phượng từng phục vụ trong ngành tình báo của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam.
Nguồn tin của Đảng Vì Dân nói với BBC bà Phượng có nhận tiền của đảng này nhưng để có những hình thức phản kháng bất bạo động trong đó có "in truyền đơn, khẩu hiệu...".
Đảng viên này cũng nói sau khi đến Thái Lan xin tị nạn chính trị từ năm 2002, mục tiêu được định cư tại Úc của bà Phượng trong tháng này đã không thành hiện thực và có thể hành động của bà xuất phát từ mong muốn củng cố hồ sơ tị nạn.
Chồng bà Phượng, ông Phạm Bá Huy được cho là cũng đã bị bắt. Tuy nhiên công an Việt Nam không nói gì về chuyện này.
Sáu người con của bà Phượng hiện đang trú ẩn tại một địa điểm ở Bangkok sau khi có tin chưa được kiểm chứng rằng công an Việt Nam cũng muốn bắt ông Phạm Bá Tâm, con trai bà Phượng.
Báo chí Việt Nam nói bà đã từng bị khởi tố về hành vi ''lừa đảo chiếm đoạt tài sản'' và ''làm giả tài liệu của cơ quan tổ chức'' hồi năm 2002 nhưng bà bỏ trốn sang Thái Lan.
Bà cũng bị cáo buộc từng làm hồ sơ xuất cảnh diện con lai giả để ''tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài nhằm mục đích thu lợi bất chính''.
Đảng Vì Dân nói họ "lên án mọi hình thức sử dụng nhục hình và ép cũng của cơ quan an ninh điều tra" Việt Nam đối với bà Phượng và các thành viên của Đảng Vì Dân đang bị giữ.
Con trai bà Phượng nghĩ gì về thông tin từ phía VN?
Thanh Quang, phóng viên RFA, Bangkok
2010-04-30
Sau khi vợ chồng ông Phạm Bá Huy và bà Phạm thị Phượng mất tích từ Bangkok, báo chí VN đồng loạt đưa tin rằng họ bị bắt ngay tại TPHCM khi xâm nhập vào VN để hoạt động khủng bố.
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">
Đánh lạc hướng dư luận
Vợ chồng ông Huy, bà Phượng vốn được Cao Ủy LHQ ở Bangkok cấp quy chế tị nạn. Phóng viên Thanh Quang tìm hiểu về vấn đề nầy qua cuộc tiếp xúc với con trai lớn của họ là Phạm Bá Tâm đang tị nạn ở Bangkok.
Trước hết, Phạm Bá Tâm đề cập tới tình cảnh ba mẹ em hiện giờ:
Sau ngày 22 tháng Tư, cháu nhận được tin từ chú của cháu là phía VN vô bắt chú và cho biết có lệnh truy nã để đến Thái Lan bắt tụi cháu; tin nầy nói là anh em tụi cháu phải gấp rút rời khỏi chỗ ở và đổi số điện thoại. Sau đó cháu không còn nhận được thông tin gì hết.
Cháu thấy đây là một tin thật kinh khủng bởi vì sau khi cháu đưa tin về trường hợp ba mẹ cháu thì CSVN phản ứng bằng cách là đánh lạc hướng và bêu xấu cha mẹ cháu về mọi mặt.
Phạm Bá Tâm
Thanh Quang:Như vậy là cho tới giờ, cháu hoàn toàn không được biết gì về tình cảnh của ba mẹ cháu ?
Phạm Bá Tâm: Dạ sau khi cháu cắt máy điện thoại vì sợ sự liên lạc sẽ nguy hiểm cho anh em cháu bên nầy và thân nhân cháu bên VN, nên cháu không biết gì hết về phía bên kia.
Thanh Quang:Mấy ngày nay, báo chí VN khẳng định rằng ba mẹ cháu theo lệnh của đảng “Vì Dân” xâm nhập trở lại VN nhằm thực hiện kế hoạch khủng bố, và bị bắt tại quận Gò Vấp, TPHCM, chứ không phải bị mất tích từ Bangkok. Cháu phản ứng trước những tin nầy như thế nào ?
Phạm Bá Tâm: Cháu thấy đây là một tin thật kinh khủng bởi vì sau khi cháu đưa tin về trường hợp ba mẹ cháu thì CSVN phản ứng bằng cách là đánh lạc hướng và bêu xấu cha mẹ cháu về mọi mặt. Thật sự mẹ cháu không thể nào đi khủng bố hoặc là tự nhiên đi về VN để làm những hoạt động đó. Mẹ cháu có thể có tham gia đảng phái, nhưng trường hợp VN nói mẹ khủng bố thì cháu nghĩ điều đó không thể nào có được.
Thanh Quang:Tin tức từ VN cũng cáo giác rằng mẹ cháu bỏ trốn ra khỏi nước, tới Thái Lan, hồi năm 2002 khi đang bị VN khởi tố về “hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản và làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức ở VN. Cháu phản ứng về những lời cáo giác này như thế nào ?
Phạm Bá Tâm: Cháu nghĩ rằng vấn đề làm tài liệu giả để mà chạy khỏi nước thì điều đó có thật. Nhưng phía VN nói vấn đề mẹ cháu ăn cướp hay lấy tài sản người khác thì điều đó không thể nào có được, bởi vì nỗ lực làm ăn của mẹ cháu và vấn đề kinh tế của mẹ cháu thì không thể nào nói đến chuyện ăn cướp của người khác, hoặc liên quan tới người khác.
Ông Dương Âu và ông Phùng Quang Quyền là hai thành viên Đảng Vì Dân bị xét xử tại Lâm Đồng hôm 20/4/2010. Photo courtesy of dangvidan.org
Cháu nghĩ rằng đây là vấn đề mà chính phủ VN cố tình đưa lên gọi là cái án để bắt ép rằng mẹ cháu làm sai luật hình sự của VN.
Vấn đề nữa là mẹ cháu từng là tù nhân của CSVN trong nhiều năm, khiến sau đó mẹ cháu phải chạy khỏi nước trong tình thế đưa cả gia đình rời bỏ quê hương, thì tất nhiên cháu nghĩ rằng VN dùng mọi cách để che đậy vấn đề đó đi, đồng thời đưa đưa lên những vấn đề mới nhằm cố tình chèn ép gia đình cháu.
Luôn cảm thấy bất an
Thanh Quang:Trong những ngày qua, sau khi ba mẹ cháu bị bắt, hoàn cảnh của 6 anh em cháu hiện ra sao? Có được Cao Ủy Tị Nạn LHQ hay những tổ chức nào giúp đỡ đặc biệt gì không ?
Phạm Bá Tâm: Trong thời gian vừa qua, cháu có báo tình hình, nói về vấn đề của ba mẹ thì LHQ có đưa ra nhiều cuộc phỏng vấn để giúp đỡ cho gia đình cháu. Bây giờ thì người ta vẫn nói chúng cháu đang trong giai đoạn tạm thời, trong sự che chở của người ta. Nhưng chưa biết họ sẽ làm gì kế tiếp.
Bởi vì VN có thể gán tội cho ba mẹ cháu là khủng bố, rồi đưa về VN và nói là ba mẹ cháu làm cái này, làm cái kia, thì đối với anh em cháu, họ cũng có thể làm được như vậy.
Phạm Bá Tâm
Nên anh em cháu vẫn sống trong sự hoang mang, sợ hãi vì không biết sẽ đi về đâu, hay người ta sẽ giúp giải quyết như thế nào, hoặc điều gì có thể xảy đến cho anh em cháu. Bởi vì VN có thể gán tội cho ba mẹ cháu là khủng bố, rồi đưa về VN và nói là ba mẹ cháu làm cái này, làm cái kia, thì đối với anh em cháu, họ cũng có thể làm được như vậy.
Thanh Quang:Nhân đây, cháu có muốn lên tiếng gì thêm nữa với công luận hay không?
Phạm Bá Tâm: Con xin thưa với cộng đồng rằng đây là một sự bất công mà chính quyền CSVN áp đặt để hành xử với những người yêu nước và những người theo đuổi tự do. Và chính quyền CSVN đã dùng mọi mưu kế, mọi cách để hãm hại người khác bằng cách vu khống và làm điều bất chính cho người khác.
Thanh Quang:Cảm ơn cháu Phạm Bá Tâm rất nhiều
Việt – Mỹ: Nhìn xa trông rộng
TS Đinh Hoàng Thắng
viết cho BBCVietnamese.com từ Hà Nội
Bao máu xương và hy vọng của những lớp người ngã xuống hôm qua trong cuộc chiến, từ tất cả mọi phía, đòi hỏi thăng hoa mối quan hệ và hóa giải các mâu thuẫn. Ở đây và ngay bây giờ!
35 năm kết thúc cuộc chiến và 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao là cột mốc mang tính ước lệ.
Tại cột mốc này, người lạc quan cho rằng quan hệ từ nay sẽ tiến triển nhanh, vì nó không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế-thương mại mà còn mở rộng sang cả chính trị-an ninh-quốc phòng. Một khuôn khổ rộng lớn hơn cũng hé lộ khi mới đây Việt Nam đã có mặt tại Hội nghị thượng đỉnh Washington về an ninh hạt nhân và đã nhận được lời mời tham dự Hội nghị G20, với cương vị Chủ tịch ASEAN.
Barack Obama thăm Việt Nam?
Việc này có thể xảy ra nhân dịp cấp cao ASEAN cuối năm nay tại Hà Nội.
Một thượng đỉnh Việt – Mỹ không hoàn toàn loại trừ, nếu Tổng thống Obama sang dự Hội nghị ASEAN 17. Những ai thiện chí với quan hệ Việt – Mỹ có quyền hy vọng vào một sự đột phá, hay chí ít, một sự “nâng cấp” nào đó của mối bang giao mang ý nghĩa chuyển đổi trong một thế giới vận động không ngơi nghỉ và đầy hiểm nguy.
Người bi quan thì cho rằng mọi chuyện không đơn giản.
Ông Obama hiện quá bận việc trong nước và khu vực khác (truyền thống của đảng Dân chủ ưu tiên châu Âu hơn). Các chuyển động ở châu Á lại chưa thật dứt khoát và trong suốt.
Mọi sự đón đợi về những “can dự” mạnh mẽ hơn của Mỹ vào khu vực vẫn chưa thực tế, dù bà Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố Hoa Kỳ không chỉ “trở lại châu Á” mà còn “ở lại”.
Có lẽ không nên quá hy vọng quan hệ Việt – Mỹ sẽ nổi trội hơn trên nền tảng Mỹ với ASEAN và Mỹ quay lại châu Á. Đấy là chưa nói tới những “khúc nhôi” khác của mối bang giao, từng được mô tả là một lộ trình “vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”.
Tại sao quan hệ Việt – Mỹ quan trọng là vậy, nhìn từ cả hai phía, mà phải mất những 20 năm mới bình thường hóa và sau 15 năm bình thường hóa có lúc vẫn bị trật khỏi vòng đua chính của nó?
Tại sao quan hệ Việt – Mỹ quan trọng là vậy, nhìn từ cả hai phía, mà phải mất những 20 năm mới bình thường hóa và sau 15 năm bình thường hóa có lúc vẫn bị trật khỏi vòng đua chính của nó?
Cựu Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm giải thích với người viết bài này rằng, trong hai thập kỷ đi đến bình thường hóa, cả hai phía Việt Mỹ đã có những nỗ lực lớn. Tuy nhiên, do một số nhân tố chủ quan và khách quan nên đã có lúc quan hệ song phương bị lỡ nhịp. Từ nay, cần chủ động hơn trong việc xây dựng lòng tin giữa hai phía để đưa quan hệ đi vào chiều sâu.
Một số người được phỏng vấn còn nêu vấn đề dân chủ và nhân quyền như là những trở lực đáng ngại.
Nhưng những ai từng biết đến chủ nghĩa thực tiễn chính trị trong truyền thống Hoa Kỳ thì thấy lập luận này khó đứng vững. Mỹ đã từng đồng minh với Liên Xô để chống phát xít. Mỹ đã từng bắt tay với Trung Quốc vào thời điểm ít ai ngờ nhất trong cuộc kháng chiến của Việt Nam. Và ngay giờ đây Mỹ vẫn “OK” với nhiều nước mà thành tích nhân quyền dường như còn đứng sau Việt Nam.
Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason (Mỹ), thừa nhận vị thế địa- chính trị của Việt Nam, nhưng giáo sư cho rằng Việt Nam chỉ quan trọng vì “một lý do nào đó”. Trước đây, Mỹ “ngăn đê” Việt Nam là để chống ảnh hưởng của Liên Xô/Trung Quốc, còn ngày nay Mỹ cần Việt Nam là để vây chặn Trung Quốc.
Vâng, xin thưa nếu Việt Nam chỉ là con tốt thụ động trên bàn cờ, chứ không phải là “con tốt biết đi” như ví von của cố Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch thì liệu vị thế địa-chính trị đó còn được như ngày nay không? Và không ai loại trừ khả năng một nước nhỏ có thể “quyền biến”, làm cho các nước lớn “quân bình lực lượng” với nhau để mình tồn tại; và trường hợp may mắn hơn, còn phát triển?
Cái bóng Trung Quốc có quá lớn?
Việt Nam và Hoa Kỳ không nên để cơ hội tuột khỏi tay trước những biến thiên gia tốc của “thế giới hậu Mỹ”.
Phải trân trọng quá khứ! Những nỗ lực đàm phán hòa bình nếu thành tựu sớm hơn thì biết bao sinh mạng thanh niên Mỹ và thanh niên Việt đã được cứu sống! Bình thường hóa Việt-Mỹ giả sử diễn ra vào cuối những năm 1970 thì liệu Việt Nam có tránh được hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và phía Tây Nam không?
Nhưng lịch sử thường lại không chấp nhận các giả định. Quan hệ Việt – Mỹ, vì vậy, cần được phóng chiếu rộng hơn và xa hơn; mặt khác, những tiến bộ cụ thể trước mắt và các cập nhật chính sách thường kỳ là vô cùng quan trọng. Hy vọng các phiên đối thoại Việt – Mỹ hàng năm về các vấn đề chính trị, an ninh và quốc phòng sẽ trám được những lỗ hổng còn tồn tại.
Đặt mối quan hệ song phương từng qua sóng gió này vào bối cảnh Hoa Kỳ vừa đưa ra những phác thảo mới về tầm nhìn chiến lược đối với châu Á thì sự hữu lý và niềm hy vọng sẽ gia tăng.
Đặt mối quan hệ song phương từng qua sóng gió này vào bối cảnh Hoa Kỳ vừa đưa ra những phác thảo mới về tầm nhìn chiến lược đối với châu Á thì sự hữu lý và niềm hy vọng sẽ gia tăng.
Ngoại trưởng Nguyễn Dy Niên trước đây cũng từng xác tín: “Mối liên hệ đặc biệt giữa Mỹ với các quốc gia Á châu – Thái Bình Dương, nói chung, và với Đông Nam Á nói riêng, đã có từ nhiều thế kỷ trước. Sự phát triển kỳ diệu của những tiểu long Đông Á không thể nào xẩy ra nếu không có sự hợp tác của Mỹ”.
Khi Tổng thống Mỹ tiếp Thủ tướng Việt Nam tại Nhà Trắng, tuyên bố ủng hộ “chủ quyền quốc gia, an ninh, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” thì có nghĩa là lịch sử đã sang trang, những phối trí về an ninh và kinh tế của khu vực và toàn cầu đã thay đổi. Khi cả Việt Nam lẫn Hoa Kỳ đồng ý thiết lập “cơ chế đối thoại mới về chính trị-quốc phòng và chính sách” thì sự cam kết chưa có tiền lệ này đã dẫn đến những phối hợp hành động trên thực tế.
Cái bóng Trung Quốc trong quan hệ với Mỹ đã bị Hàn Quốc, Malaysia, Singapore và nhiều nước nhỏ khác vượt qua. Những nước này đều hiểu rằng “ngoài trời cao còn có trời cao hơn”, nói theo nhà văn Kim Dung.
Hy vọng mối bang giao Việt – Mỹ sẽ diễn tiến theo hướng Thượng nghị sĩ Jim Webb tuyên bố mới đây với BBC “Chúng ta không tìm cách tạo xung đột với Trung Quốc mà tìm kiếm sự cân bằng và Hoa Kỳ giúp đem lại sự cân bằng đó tại khu vực.”
Tới đây chúng ta phải đối mặt với quan hệ Trung – Mỹ vốn đầy mâu thuẫn trong một giai đoạn gay cấn. Cả hai nước đều có những sinh hoạt chính trị quan trọng mà anh nào cũng muốn chứng minh với dư luận nội bộ là mình có thể “cứng” với anh kia.
Một thái độ tỉnh táo trong bối cảnh đó là cần thiết. Nhưng sau khi cân nhắc cần lấy quyết định, nhất là khi Trung Quốc đã bắt đầu tuần tra thường xuyên trong khu vực biển quần đảo Trường Sa và đang chiếm đóng Hoàng Sa của Việt Nam.
Biết là “dục tốc bất đạt”, nhưng dịp này nên nhắc lại một câu hỏi có từ lâu: “Quan hệ Việt – Mỹ duyên hay là nợ?” Bao máu xương và hy vọng của những lớp người ngã xuống hôm qua trong cuộc chiến, từ tất cả mọi phía, đòi hỏi thăng hoa mối quan hệ và hóa giải các mâu thuẫn.
Trước hết là ở đây và ngay bây giờ!
Nỗ lực tìm kiếm hài cốt quân nhân VNCH
Hà Mi
BBC Việt Ngữ
Ông Thành mong muốn hai chính phủ giúp đỡ nhiều hơn nữa trong việc tìm kiếm hài cốt quân nhân VNCH
Việc tìm kiếm hài cốt của những người chết và mất tích trong và sau cuộc chiến Việt Nam vẫn tốn nhiều công sức của các bên, cho dù chiến tranh kết thúc đã tròn 35 năm.
So với nỗ lực tìm kiếm và truy tập các tử sĩ Mỹ và bộ đội Bắc Việt Nam, có vẻ như những người lính phe Việt Nam Cộng hòa mất tích hoặc chết trong các trại cải tạo sau 75 cho đến gần đây vẫn chịu nhiều thiệt thòi.
Tuy nhiên, nhờ nỗ lực của một số cá nhân và tổ chức, công việc tìm kiếm hài cốt quân nhân lực lượng Việt Nam Cộng hòa gần đây đã thu hút được sự chú ý và trợ giúp của cả chính quyền Việt Nam lẫn Hoa Kỳ.
Trong chuyến công tác tới Hoa Kỳ mới đây, Hà Mi của BBC Việt ngữ đã có cuộc trò chuyện với ông Nguyễn Đạc Thành, chủ tịch Tổng hội HO (ra đi có trật tự) và Hội Người Việt mất tích, và được ông cho biết về công việc tìm kiếm này:
Nguyễn Đạc Thành: Trước hết, không có sự trợ giúp chính thức của chính phủ Việt Nam thì chúng tôi không làm được gì cả, bởi vì chính phủ Việt Nam họ quản lý đất nước, nếu họ không chấp thuận thì chúng tôi không làm được gì hết.
Sau 35 năm, tất cả đều đã lo đưa hài cốt tử sĩ của mình trở về. Riêng hài cốt của anh em Việt Nam Cộng hòa của chúng tôi thì ở ngoài rừng sâu. Cái việc đó làm cho chúng tôi rất là đau lòng.
Chính phủ Việt Nam, cũng như chính phủ Mỹ, đã tích cực giúp chúng tôi trong việc này. Khi chúng tôi đến Việt Nam, thì một thời gian sau, chúng tôi đã liên lạc với tòa đại sứ và chúng tôi được tòa đại sứ yểm trợ rất là mạnh mẽ và cũng hậu thuẫn cho chương trình này.
BBC: Ông mong muốn nhận được những trợ giúp gì nữa trong tương lai để tiếp tục công việc mình đang làm?
Nguyễn Đạc Thành: Cái vấn đề mà chúng tôi mong mỏi là hai chính phủ đứng ra trực tiếp giúp chúng tôi tìm và đưa hài cốt của anh em trở về gia đình. Bởi vì sau 35 năm, tất cả đều đã lo đưa hài cốt tử sĩ của mình trở về. Riêng hài cốt của anh em Việt Nam Cộng hòa của chúng tôi thì ở ngoài rừng sâu. Cái việc đó làm cho chúng tôi rất là đau lòng.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng không trách được. Bên phía Việt Nam họ phải lo cho tử sĩ của họ, phía Mỹ phải lo cho tử sĩ của họ, điều đó là đúng. Mà họ không lo gì cho phía miền nam Việt Nam chúng tôi là cũng đúng thôi. Nhưng mà tại sao anh em chúng tôi không lo cho hài cốt của bằng hữu của mình, mà lại phải trông chờ người khác? Thì đó là lý do mà chúng tôi lên tiếng.
Và chúng tôi rất là mong mỏi hai chính phủ giúp đỡ cho chúng tôi hoàn thành công việc nhân đạo này. Sau khi làm việc thì chúng tôi biết là chính phủ Việt Nam đang rất muốn giải quyết giúp chúng tôi và đang có một chương trình ủng hộ chúng tôi để làm công việc nhân đạo này.
Riêng về chính phủ Mỹ thì cũng có dấu hiệu cho tôi thấy rằng chúng tôi sẽ nhận được sự ủng hộ của chính phủ Mỹ. Nhưng mà để có câu trả lời rõ ràng, xin cô hãy chờ chúng tôi đang thực hiện chương trình lấy 22 hài cốt của anh em tù cải tạo ở miền Bắc, tại làng Đá. Sau kết quả này thì sẽ có câu trả lời rất rõ ràng cho cô về bên phía Mỹ.
BBC: Qua kinh nghiệm làm việc trong thời gian vừa qua, ông có thể tiên lượng được những khó khăn gì sẽ xảy ra khi tiếp tục công việc này trong thời gian tới?
Sự hận thù của hai bên, của hai chiến tuyến nên dẹp bỏ để làm công việc nhân đạo này. Là bởi vì người chết rồi đâu còn thù hận gì, chúng ta nên giúp nhau đưa những người đó về với gia đình.
Nguyễn Đạc Thành: Công việc này có những khó khăn của nó. Thứ nhất là mộ của tù cải tạo hay là những anh em đã chết trong cuộc chiến là rất lâu rồi, thành ra khi phát giác ra, biết được chỗ đó tìm cũng rất là khó. Nếu mà không có sự giúp đỡ mạnh mẽ từ chính phủ Việt Nam cũng như những người biết thông tin tích cực giúp thì chúng tôi khó có thể làm được. Đó là khó khăn về mộ.
Cái thứ hai là khó khăn mà chúng tôi cho rằng đến nay nên phải giải quyết, đó là cái sự hận thù của hai bên, của hai chiến tuyến nên dẹp bỏ để làm công việc nhân đạo này. Là bởi vì người chết rồi đâu còn thù hận gì, thì chúng ta nên giúp nhau đưa những người đó về với gia đình.
Mà cái người đau khổ nhất là các gia đình còn sống. Mọi người đều biết rằng hài cốt là cái gì thiêng liêng của thân nhân người ta. Hiện tại mình còn sống thì nên giúp cho họ, để mà hoàn thành được cái mong muốn là đưa hài cốt họ về, cho dù là một mảnh xương tàn mà thôi.
Đó là một việc làm nhân đạo rất cần, và nên gạt bỏ sang một bên tất cả những gì không nhân đạo. Đừng có đem chính trị vào vấn đề này. Tôi cho rằng làm sao để đưa hài cốt của những người đã mất trong cuộc chiến về với gia đình. Đó mới là việc làm hết sức cần thiết. Nó đúng với truyền thống nhân đạo của người Việt Nam mình.
BBC: Xuất phát từ đâu mà ông làm việc này, vì cũng có thân nhân mất tích như thế?
Nguyễn Đạc Thành: Tôi không có thân nhân, nhưng đối với tôi đó một vấn đề rất quan trọng, thật sự trong lòng tôi xin kể với cô, là tôi không nghĩ tôi có thể ra khỏi trại tù cải tạo và chính tôi khi đó là người sắp chết. Nên tôi biết được người sắp chết họ muốn gì.
Bởi vì khi ở ngoài Bắc, tôi bị bệnh kiết, tôi sắp chết. Cô biết là ở tù ngoài Bắc mà bị kiết là chết, chứ không thể sống nổi. Ít khi nào sống được lắm, mà có sống được thì đưa lên đến trạm xá cũng chết. Khi tôi nằm đó, tôi vái Phật Bà, Phật tổ, và tôi vái những anh em đã chết, rằng nếu mà cứu tôi được, tôi sống được mà ra khỏi tù và có cơ hội thì tôi sẽ đưa họ về.
Bởi vì khi sắp chết thì tôi tha thiết muốn gặp vợ con tôi lần chót. Tôi muốn nói với vợ con tôi là xin lỗi (khóc), trong thời gian làm việc, tôi có những mistakes (sai sót) với gia đình, hãy tha lỗi cho tôi. Đồng thời, nghĩ rằng khi nằm xuống đây, tôi cũng muốn thân xác tôi về với gia đình, bên vợ con tôi, để tôi yên nghỉ.
Nếu mà chết lúc đó thì đảm bảo với cô là không ai biết được, thân xác tôi sẽ ở ngoài rừng, và đồng thời, linh hồn tôi sẽ không trở về được với vợ con. Cho nên tôi rất mong muốn gặp vợ con tôi lần chót. Tôi rất mong muốn hài cốt mình về với gia đình.
Tôi có vái với anh em như vậy. Khi người bạn tôi chết, là anh Lê Xuân Đèo, chết vì bệnh kiết, mỗi lần đi ngang qua mộ ổng thì tôi bỏ một cục đất xuống, nói rằng: “Đèo ơi, anh ở đây đi, nếu anh phù hộ tôi về được thì tôi sẽ kiếm gia đình anh và tôi sẽ đưa các anh về”.
Sau đó, tôi được ra khỏi tù và tôi được về.
Như cô biết, tôi qua Mỹ, và năm 1995, tôi thành lập Tổng hội HO. Cái mục đích của tôi là tìm hài cốt của anh em. Cho nên trong thời gian từ năm 95 đến 2006-07, tôi cũng phải lo cho gia đình tôi làm sao hồi phục, rồi tôi mới làm được, thì tôi ráng làm việc với người Mỹ, tôi tìm sự ủng hộ của họ.
Cuối cùng, năm 2006, ông luật sư của tôi ông ấy đi về bên Việt Nam trong chuyến thăm của ông Bush, thì tôi nhắn ổng, là thử coi xem phía bên Việt Nam có đáp ứng không, và xin phía VN là tôi muốn lấy hài cốt của bạn tôi từ trại cải tạo như vậy. Khi ông ấy về, ông ấy đem cho tôi kết quả. Cuối cùng là chính phủ Việt Nam cho phép tôi.