Hình ngư dân bị Trung quốc bắt trên biển
Ngư dân Việt Nam lại bị Trung Quốc hành hung
Vào đầu tháng hai vừa qua, một tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam cư trú tại đảo Lý Sơn khi đang trên đường về đã bị tàu phía Trung Quốc chặn lại phá hoại và lấy hết số cá ít ỏi đánh bắt được.
Tàu đó treo cờ Trung Quốc. Họ sang đập phá kiếng tàu của chúng tôi, vứt thuyền thúng, nắp đậy hầm đá xuống biển, lấy nước đổ vào thùng đựng gạo của chúng tôi… Ô. Nguyễn Chín |
Đồn biên phòng và cơ quan chức năng xuống làm việc nói rằng họ làm cho quyền lợi của chúng tôi; sau này Nhà Nước có làm gì chỉ là cho các anh ‘ít nhiều’ thôi. Ô. Nguyễn Chín |

Lính Trung quốc bắt ngư dân Việt Nam
Tàu Trung Quốc đánh cá trong vùng biển Việt Nam
RFA 06.02.2010
Nhiều tàu cá của Trung Quốc bị phát hiện xâm phạm vùng biển Việt Nam tại khu vực miền trung để đánh bắt hải sản.
Truyền thông trong nước loan tin hôm nay Ban Tác chiến Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng cho biết một số tàu cá Trung Quốc tiếp tục xâm phạm vùng biển Việt Nam từ Quảng Trị đến Đà Nẵng. Theo nhận định của cơ quan này trong số những tàu Trung Quốc xâm phạm hải phận Việt Nam đến sát tận bờ biển các tỉnh trong khu vực vừa nêu có tàu do vô tình, nhưng cũng có tàu cố ý đi sâu vào lãnh hải Việt Nam để khai thác hải sản.
Cơ quan chức năng Việt Nam cho hay mới hôm đầu tháng này, sau khi được ngư dân thông báo, Bộ đội Biên phòng thành phố Đà Nẵng cử lực lượng ra và phát hiện có 30 tàu cá Trung Quốc chỉ cách bờ biển Đà Nẵng - Thừa Thiên Huế chừng 45 hải lý. Chỉ mấy ngày trước đó, phía Việt Nam cũng phát hiện 100 tàu cá Trung Quốc đánh bắt hải sản ở vĩ độ 17, kinh độ 108’30, sát bờ biển Quảng Trị - Thừa Thiên Huế.
Về biện pháp xử lý, Ban Tác chiến Bộ đội Biên phòng Đà Nẵng, nói rằng phía Việt Nam không lập biên bản đối với những tàu cá Trung Quốc vi phạm lãnh hải Việt Nam, mà chỉ hướng dẫn họ không được tái phạm.
Nguồn:RFA
5 giờ sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, lực lượng Trung Quốc khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn tuyến biên giới, mở đầu là pháo, tiếp theo là xe tăng và bộ binh.[44][18] Cánh phía Đông có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Nam Ninh và mục tiêu chính là Lạng Sơn. Có hai hướng tiến song song, hướng thứ nhất do quân đoàn 42A dẫn đầu từ Long Châu đánh vào Đồng Đăng nhằm làm bàn đạp đánh Lạng Sơn, hướng thứ hai do quân đoàn 41A dẫn đầu từ Tĩnh Tây và Long Châu tiến vào Cao Bằng và Đông Khê. Ngoài ra còn có quân đoàn 55A tiến từ Phòng Thành vào Móng Cái. Cánh phía Tây có sở chỉ huy tiền phương đặt tại Mông Tự, có 3 hướng tiến công chính. Hướng thứ nhất do các quân đoàn 13A và 11A dẫn đầu đánh từ vào thị xã Lào Cai. Hướng thứ hai từ Văn Sơn đánh vào Hà Giang. Hướng thứ 3 do sư đoàn 42D của quân đoàn 14A dẫn đầu đánh từ Kim Bình vào Lai Châu. [45] Tổng cộng quân Trung Quốc xâm nhập Việt Nam trên 26 điểm, các khu vực dân cư Việt Nam chịu thiệt hại nặng nhất từ đợt tấn công đầu tiên này là Lào Cai, Mường Khương, Cao Bằng, Lạng Sơn và Móng Cái.[18]
Không quân và hải quân không được sử dụng trong toàn bộ cuộc chiến. Tất cả các hướng tấn công đều có xe tăng, pháo binh hỗ trợ. Quân Trung Quốc vừa chiếm ưu thế về lực lượng, vừa chủ động về thời gian tiến công, lại còn có "lực lượng thứ năm" gồm những người Việt gốc Hoa cài cắm từ lâu trên đất Việt Nam. Từ đêm 16 tháng 2, các tổ thám báo Trung Quốc đã mang theo bộc phá luồn sâu vào nội địa Việt Nam móc nối với "lực lượng thứ năm" này lập thành các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu để ngăn chặn quân tiếp viện của Việt Nam từ phía sau lên. Trước giờ nổ súng, các lực lượng này cũng bí mật cắt các đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo.[46]
Tiến nhanh lúc khởi đầu, nhưng quân Trung Quốc nhanh chóng phải giảm tốc độ do gặp nhiều trở ngại về địa hình và hệ thống hậu cần lạc hậu phải dùng lừa, ngựa và người thồ hàng.[45] Hệ thống phòng thủ của Việt Nam dọc theo biên giới rất mạnh, với các hầm hào hang động tại các điểm cao dọc biên giới do lực lượng quân sự có trang bị và huấn luyện tốt trấn giữ. Kết quả là Trung Quốc phải chịu thương vong lớn.[47] Trong ngày đầu của cuộc chiến, chiến thuật dùng biển lửa và biển người của Trung Quốc đã có kết quả tốt, họ tiến được vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam hơn 10 dặm và chiếm được một số thị trấn. Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại các vùng Bát Xát, Mường Khương ở Tây Bắc và Đồng Đăng, cửa khẩu Hữu Nghị, Thông Nông ở Đông Bắc. Quân Trung Quốc cũng đã vượt sông Hồng và đánh mạnh về phía Lào Cai. [47]
Trong hai ngày 18 và 19 tháng 2, chiến sự lan rộng hơn. Việt Nam kháng cự rất mạnh và với tinh thần chiến đấu cao. Quân Trung Quốc hầu như không thể sử dụng lực lượng ở mức sư đoàn mà phải dùng đội hình nhỏ và thay đổi chiến thuật. Họ tiến chậm chạp, giành giật từng đường hầm, từng điểm cao, và cuối cùng cũng chiếm được Mường Khương, Trùng Khánh, và Đồng Đăng. Tại Móng Cái, hai bên giành giật dai dẳng. Cả hai bên đều phải chịu thương vong cao,[48] có ít nhất 4.000 lính Trung Quốc chết trong hai ngày đầu này.[49] Sau hai ngày chiến tranh, quân Trung Quốc đã chiếm được 11 làng mạc và thị trấn, đồng thời bao vây Đồng Đăng, thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung-Việt.[18]
Trận chiến tại Đồng Đăng bắt đầu ngay từ ngày 17 và là trận ác liệt nhất.[48] Đây là trận địa phòng thủ của Trung đoàn 12 Tây Sơn, Sư đoàn 3 Sao Vàng, Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tấn công vào Đồng Đăng là 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6 trung đoàn pháo binh Trung Quốc.[46] Cụm điểm tựa Thâm Mô, Pháo Đài, 339 tạo thế chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xã Đồng Đăng, do lực lượng của 2 tiểu đoàn 4, 6, Trung đoàn 12 trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư đoàn. Lực lượng phòng thủ không được chi viện nhưng đã chiến đấu đến những người cuối cùng, trụ được cho đến ngày 22. Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh vùng đến đây lánh nạn.[50]
Ngày 19 tháng 2, Đặng Tiểu Bình trong cuộc gặp với giới ngoại giao Argentina tuyên bố đây là cuộc chiến tranh hạn chế và Trung Quốc sẽ rút quân ngay sau khi đạt được mục tiêu giới hạn,[51] Cùng ngày, nhóm cố vấn quân sự cao cấp của Liên Xô tới Hà Nội để gặp các tướng lĩnh chỉ huy của Việt Nam. Moskva yêu cầu Trung Quốc rút quân. Liên Xô cũng viện trợ gấp vũ khí cho Việt Nam qua cảng Hải Phòng, đồng thời dùng máy bay vận tải chuyển một số sư đoàn chủ lực của Việt Nam từ Campuchia về.
Đến 21 tháng 2, Trung Quốc tăng cường thêm 2 sư đoàn và tiếp tục tấn công mạnh hơn nữa. Ngày 22, các thị xã Lào Cai và Cao Bằng bị chiếm. Quân Trung Quốc chiếm thêm một số vùng tại Hà Tuyên, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Quảng Ninh. Chiến sự lan rộng tới các khu đô thị ven biển ở Móng Cái. Về phía Việt Nam, cùng lúc với việc triển khai phòng ngự quyết liệt, khoảng từ 3 đến 5 sư đoàn (gồm 30.000 quân) cũng được giữ lại để thành lập một tuyến phòng ngự cánh cung từ Yên Bái tới Quảng Yên với nhiệm vụ bảo vệ Hà Nội và Hải Phòng.[18]
Ngày 23 tháng 2, Đặng Tiểu Bình nhắc lại tuyên bố về "cuộc chiến tranh hạn chế" và nói sẽ rút quân trong vòng 10 ngày hoặc hơn. Đây được xem là thông điệp nhằm ngăn Liên Xô can thiệp quân sự, đáp lại kêu gọi rút quân của Mỹ, xoa dịu các nước đang lo ngại về một cuộc chiến lớn hơn, và gây khó hiểu cho Việt Nam[51] Trong khi đó, một tuần dương hạm Sverdlov và một khu trục hạm Krivak của Liên Xô đã rời cảng từ ngày 21 tiến về phía vùng biển Việt Nam. Liên Xô cũng đã bắt đầu dùng máy bay giúp Việt Nam chở quân và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt của Liên Xô và Bulgaria chở vũ khí khí tài bay tới Hà Nội. Một phái đoàn quân sự của Liên Xô cùng từ Moskva bay tới Hà Nội.[51]
Ngày 26 tháng 2, thêm nhiều quân Trung Quốc tập kết quanh khu vực Lạng Sơn chuẩn bị cho trận chiến đánh chiếm thị xã này.[48]
Ngày 25 tháng 2, tại Mai Sao, Quân đoàn 14 thuộc Quân khu 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng Bộ chỉ huy thống nhất Lạng Sơn được thành lập, lực lượng bao gồm các sư đoàn 3, 327, 338, 337 (đang từ quân khu 4 ra) và sau này có thêm sư đoàn 347 cùng các đơn vị trực thuộc khác.[52]
Trong giai đoạn đầu đến ngày 28 tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc chiếm được các thị xã Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn. Các cơ sở vật chất, kinh tế ở những nơi này bị phá hủy triệt để. Tuy nhiên, do vấp phải sự phòng ngự có hiệu quả của Việt Nam cũng như có chiến thuật lạc hậu so với phía Việt Nam nên quân Trung Quốc tiến rất chậm và bị thiệt hại nặng.[49] Quân Việt Nam còn phản kích đánh cả vào hai thị trấn biên giới Ninh Minh (Quảng Tây) và Malipo (Vân Nam) của Trung Quốc, nhưng chỉ có ý nghĩa quấy rối.[53]
[sửa] Giai đoạn 2
Giai đoạn 2 bắt đầu từ ngày 27 tháng 2. Chiến sự tập trung tại Lạng Sơn tuy giao tranh tại Lào Cai, Cao Bằng, và Móng Cái vẫn tiếp diễn. Trận đánh chiếm thị xã Lạng Sơn bắt đầu lúc 6 giờ sáng cùng ngày. Trung Quốc điều tới đây thêm 2 sư đoàn từ Đồng Đăng và Lộc Bình (phía Đông Nam Lạng Sơn), tiếp tục đưa thêm quân mới từ Trung Quốc thâm nhập Việt Nam để tăng viện.[53] Tại Lạng Sơn, các Sư đoàn 3, 337, của Việt Nam đã tổ chức phòng thủ chu đáo và phản ứng mãnh liệt trước các đợt tấn công lớn của quân Trung Quốc. Từ ngày 2 tháng 3, Sư đoàn 337 trụ tại khu vực cầu Khánh Khê. Sư đoàn 3 chống trả ba sư đoàn bộ binh 160, 161, 129, cùng nhiều tăng, pháo, tiến công trên một chiều dài 20 km từ xã Hồng Phong huyện Văn Lãng đến xã Cao Lâu huyện Cao Lộc. Suốt ngày 27, ở hướng Cao Lộc, sư đoàn 129 Trung Quốc không phá nổi trận địa phòng thủ của trung đoàn 141; ở hướng đường 1B, sư đoàn 161 bị trung đoàn 12 ghìm chân; ở hướng đường 1A, trung đoàn 2 vừa chặn đánh sư đoàn 160 từ phía Bắc vừa chống lại cánh quân vu hồi của sư đoàn 161 từ hướng Tây Bắc thọc sang. Nhưng 14 giờ ngày hôm đó, một tiểu đoàn Trung Quốc bí mật luồn qua phía sau bất ngờ đánh chiếm điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng. Mất điểm cao 800, thế trận phòng ngự của Việt Nam ở phía tây đường 1A từ Cốc Chủ đến điểm cao 417 bị chọc thủng. [52] Chiếm được điểm cao 800 và Tam Lung, nhưng trong suốt các ngày từ 28 tháng 2 đến 2 tháng 3, quân Trung Quốc vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy đã dùng cho hướng tiến công này gần năm sư đoàn bộ binh.[52] Sau nhiều trận đánh đẫm máu giành giật các điểm cao quanh Lạng Sơn, mà có trận quân phòng thủ Việt Nam đánh đến viên đạn cuối cùng, quân Trung Quốc bắt đầu bao vây thị xã Lạng Sơn ngày 2 tháng 3[53] sử dụng thêm sư đoàn 162 dự bị chiến dịch của quân đoàn 54 và dùng 6 sư đoàn tấn công đồng loạt trên nhiều hướng[52]. Chiều ngày 4, một cánh quân Trung Quốc đã vượt sông Kỳ Cùng, chiếm điểm cao 340 và vào tới thị xã Lạng Sơn, một cánh quân khác của sư đoàn 128 Trung Quốc cũng chiếm sân bay Mai Pha, điểm cao 391 ở phía tây nam thị xã.
Đến đây, phía Việt Nam đã điều các sư đoàn chủ lực có xe tăng, pháo binh, không quân hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Quân đoàn 14 với các sư đoàn 337, 327, 338 hầu như còn nguyên vẹn đang bố trí quân quanh thị xã Lạng Sơn. Quân đoàn 2, chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tập kết sau lưng Quân đoàn 14.[52]
[sửa] Rút quân
Ngày 5 tháng 3 năm 1979, Bắc Kinh tuyên bố đã "hoàn thành mục tiêu chiến tranh", "chiến thắng" và bắt đầu rút quân. Cũng ngày 5 tháng 3 năm 1979, Việt Nam ra lệnh tổng động viên toàn quốc.[54] Ngày 7 tháng 3, Việt Nam tuyên bố rằng để thể hiện "thiện chí hòa bình", Việt Nam sẽ cho phép Trung Quốc rút quân.[55]
Mặc dù Trung Quốc tuyên bố rút quân, chiến sự vẫn tiếp diễn ở một số nơi. Dân thường Việt Nam vẫn tiếp tục bị giết, chẳng hạn như vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại thôn Tổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Quốc đã dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối.[56] Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình xây dựng, từ nhà dân hay cột điện, tại các thị xã thị trấn Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn...[56]
Sư đoàn 337 của Việt Nam, lên tham chiến từ ngày 2 tháng 3 tại khu vực cầu Khánh Khê ở Lạng Sơn để chi viện cho các đơn vị đang chặn đánh quân Trung Quốc. Sư đoàn này đến nơi quá muộn để thay đổi cục diện trận đánh tại Lạng Sơn, nhưng đã cùng sư đoàn 338 tổ chức phản kích đánh vào quân Trung Quốc rút lui qua ngả Chi Mã[57].
Ngày 18 tháng 3 năm 1979, Trung Quốc hoàn tất việc rút quân khỏi Việt Nam
Bức "Hoành phi" mới về mối quan hệ Việt Trung
Nam quốc sơn hà, Nam đế cư
( Lý Thường Kiệt )
Đến thời Trần thì:
Nếu bệ hạ muốn hàng xin hãy chém đầu tôi đi đã...
( Trần Quốc Tuấn );
Thà làm quỷ nước nam hơn làm vương đất bắc;
( Trần Bình Trọng )
Đến thời Lê thì:
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn vì giận, sách lược thao suy xét đã tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ...
( Bình Ngô đại cáo )
Đến thời Nguyễn Tây Sơn thì phương châm ứng xử của Quang Trung đó là:
Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để răng đen
Đánh cho chúng chích luân bất phản,
Đánh cho chúng phiến giáp bất hoàn...
Chưa có nhà sử học nào cất công tìm kiếm xem tương thích với các đối sách của cha ông ta là những đối sách của phía Trung Quốc là gì; Cha ông ta chủ động đề ra các cương lĩnh chính trị trên hay do tình thế lịch sử bắt buộc...
Khác với cha ông ta thời xưa, hiện nay, quan hệ Việt Trung đang được phát triển ồ ạt, xô bồ cả về chiệu rộng lẫn chiều sâu; có điều chúng ta không thấy về phía Việt Nam chưa tỏ ra được đối sách bằng chữ nghĩa nào, phần lớn chỉ thấy a dua, vỗ tay hảo hảo theo các phương châm được phát ra từ Bắc Kinh trừ thời ông Hồ Chí Minh và ông Lê Duẩn...
Trong khi các nhà lãnh đạo của ta hình như coi nhẹ việc tìm ra hoặc đúc kết ra các đối sách với ông bạn lớn Trung Hoa thì đám phản động trên mạng lại sốt sắng làm chuyện này không biết có phải do rỗi hơi không. Tôi tin ngoài câu: Láng giềng khốn nạn...đối với Láng giềng hữu nghị... sẽ được trích giới thiệu tại phần sau, trên mạng còn có nhiều sáng tạo dân gian khác.
Lịch sử đã ghi dấu nhiều cuộc đối đáp ra trò của các sứ thần nước nam làm mất mặt vua chúa thiên triều, làm nhụt nhuệ khí xâm lăng, bá quyền của chúng. Trong võ thuật cổ Trung Hoa người ta gọi miếng võ này là " khí công "-tiến công bằng khí thay cho bằng lực để triệt hạ ý chí, tà khí của đối phương...
Còn nhớ trong những năm tháng chiến tranh, ông Mao Trạch Đông từng đề ra đối sách với Việt Nam một câu ít chữ, và chữ cũng rất thô không chút trau chuốt nhưng lại hàm chứa nhiều nghĩa: Mi không đụng đến ta thì ta không đụng đến mi; Trung Quốc đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng...
Đầu năm 1999, Tổng bí thư Giang Trạch Dân đã đề ra và Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đã đồng ý phương châm 16 chữ: "Ổn định lâu dài, hướng tới tương lai, láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện".
Phương châm này đã xác định tư tưởng chỉ đạo và khung tổng thể phát triển quan hệ hai nước trong thế kỷ mới, đánh dấu quan hệ Trung Việt đã bước vào giai đoạn phát triển mới được lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước xác định trong Tuyên bố chung, từ tháng 2/1999.
Tháng 11 năm 2000, khi hội đàm với Tổng bí thư mới đảng cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh đến thăm, Tổng bí thư Giang Trạch Dân nêu rõ, 16 chữ này là phương châm quan trọng chỉ đạo sự phát triển quan hệ hai nước...
* "Ổn định lâu dài" là nhấn mạnh tình hữu nghị Trung Việt là phù hợp lợi ích căn bản của hai đảng, hai nước và nhân dân hai nước, bất kỳ lúc nào, bất kỳ tình hình nào đều phải giữ sự ổn định và phát triển lành mạnh của quan hệ hữu nghị, khiến nhân dân hai nước đời đời hữu nghị với nhau;
* "Hướng tới tương lai" là phải xuất phát từ hiện nay, nhìn về lâu dài, kế thừa truyền thống, mở ra tương lai tốt đẹp hơn cho quan hệ Trung Việt;
* "Hữu nghị láng giềng" là yêu cầu hai bên phải làm người láng giềng tốt, người bạn tốt, trước sau xử lý mọi vấn đề trong quan hệ hai nước với tinh thần hữu nghị láng giềng;
* "Hợp tác toàn diện" là phải không ngừng củng cố, mở rộng và sâu sắc sự giao lưu và hợp tác giữa hai đảng, hai nước trong mọi lĩnh vực, để mưu cầu hạnh phúc cho hai nước và nhân dân hai nước, đồng thời góp phần cho việc giữ gìn và thúc đẩy nền hoà bình, ổn định và phát triển trong khu vực.
Phương châm 16 chữ bao giờ cũng được đính kèm theo 4 tính chất giống như “ xôi kèm lạc”, đó là : Láng giềng tốt,Bạn bè tốt,Đồng chí tốt,Đối tác tốt...
Hiện nay phương châm 16 chữ này đang bị đám phản động trên mạng xuyên tạc thành:
- "Láng giềng khốn nạn; Cướp đất toàn diện; Lấn biển lâu dài; Thôn tính tương lai"...
Đến thời ông Hồ Cẩm Đào một phương châm mới đã được các nhà lãnh đạo Bắc Kinh công bố, bức “ Hoành phi “ đó là: Sơn hà liên thông; Văn hóa tương đồng; Lý tưởng tương thông; Vận mệnh tương quan...?!
Ngoài Việt Nam, giới lãnh đạo Bắc Kinh có đối sách riêng, không biết đối với các nước láng giềng khác như Nga, Mông Cổ, Ấn Độ, Mông Cổ, Nhật, Đài Loan, Triều Tiên, Thái Lan... có các chữ vàng riêng được thiên triều ban tặng không ? Bà con nào biết xin mách giùm ?
Thảo dân này đọc phương châm 16 chữ mới này thấy gai gai người trước những vế ví như: Vận mệnh tương quan; khi một người, hay một cộng đồng, một quốc gia tuyên bố: tương quan với cộng đồng bên cạnh thì hãy coi chừng, nhất cử nhất động đều có quan hệ, đều tương quan với nhau hết...
Phương châm này văn hoa hơn chứ không huỵch toẹt theo kiểu du côn làng của ông Mao: Mi không đụng đến ta thì ta không đụng đến mi... song mức độ đe dọa và ẩn phía sau câu chữ của phương châm đó là sự nguy hiểm của những hành vi có ý đe dọa chìm hơn câu của ông Mao ?!
Vế thứ hai mà thảo dân này không thể không đưa ra bình để xin thêm cao kiến của các bậc cao minh trong làng cư dân mạng. Đó là câu: Sơn hà liên thông; câu này thực ra là lời bài hát của nhạc sĩ Đỗ Nhuận được các nhà lãnh đạo Trung Quốc nhắc lại: Việt Nam-Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông... Bài hát này bây giờ mà hát lại thì chối như hóc phải xương gà: Chung một biển đông mối tình hữu nghị sáng như rạng đông...?
Thảo dân này rất muốn được biết phương châm ứng xử của những người nắm trọng trách của đất nước trước phương châm 16 chư mới này do triều đại ông Hồ Cẩm Đào đề ra? Nếu các vị quá bận hay coi chuyện này có gì phải bàn thì: các vị cứ có nhời nhờ bà con cư dân mạng góp phần tìm giúp cho phương châm 16 chữ của Việt Nam là gì ?
Trong phương châm 16 chữ mới có tới 3 chữ TƯƠNG này liệu có dẫn đến kết cục hai bên sẽ TƯƠNG NHAU thật lực nay mai không hay lại liên thông với nhau như Hà Tây với Hà Nội ? Mong rằng hậu quả ngược lại của cái chữ TƯƠNG trong bức " hoành phi " mới này không xảy ra trong quan hệ 2 nước ?!
Phạm Viết Đào
Nguồn:http://vn.myblog.yahoo.com/phamvietdaonv/article?mid=1975

Các chuyên mục 
