Cái nhục lớn của dân tộc là có một chính quyền hèn nhát bán nước
25.11.2009 16:53
Lê Duy San
Nhiều người nghĩ rằng cái nhục lớn nhất của một dân tộc là cái nhục mất nước. Điều này không đúng hẳn. Nước nhỏ, dân ít, bị một nước lớn, dân đông, xâm chiếm là điều thường xẩy ra trên thế giới, nhất là vào thời kỳ khoa học, kỹ thuật chưa được tiến bộ. Vấn đề quan trọng là dân tộc đó có ý chí, có quyết tâm để tìm cách lấy lại chủ quyền hay không. Chỉ khi nào dân tộc đó cam chịu số phận mất nước, không có ý chí phục thù, không có quyết tâm giành lại độc lập, mới gọi là nhục.

Nước ta bị người Tầu đô hộ một ngàn năm và bị người Pháp đô hộ gần 100 năm, nhưng dân tộc ta không bao giờ chịu nhục. Lúc nào dân tộc ta cũng tìm cách nổi dậy để đánh đuổi người Tầu, người Pháp ra khỏi bờ cõi, giành lại độc lập cho đất nước và lấy lại chủ quyền cho dân tộc. Nhưng có độc lập, có chủ quyền mà đất bị lấn bị chiếm, biển bị xâm phạm mà chính quyền lại hèn nhát, không dám liên tiếng, thì qủa là một cái đại nhục cho dân tộc. Ngày 19/1/74, trong khi Hải Quân của Việt Nam Cộng Hòa tử chiến với quân xâm lược Trung Cộng để bảo vệ Hoàng Sa thì ngụy quyền Việt Công Hà Nội im hơi lặng tiếng một cách hèn hạ, không một lời phản đối Trung Cộng. Ngày 2/12/07, Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập một quận lỵ lấy tên là Tam Sa trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam để trực tiếp quản lý cả hai quần đảo này, ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam cũng chỉ dám phản đối một cách yếu ớt qua lời tuyên bố của Lê Dũng, người phát ngôn của Bộ Ngọai Giao Cộng sản Việt Nam, rằng “"Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa", và rằng "Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, không phù hợp với nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai nước, không có lợi cho tiến trình đàm phán tìm kiếm biện pháp cơ bản, lâu dài cho vấn đề trên biển giữa hai bên”. Ngày 16/5/09, Trung Cộng đã thính thức ra lệnh cấm đánh cá đặc khu kinh tế khổng lồ bao quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, không phải cả các vùng đang bị tranh chấp mà cả các vùng mà Việt Nam có chủ quyền. Là cơ quan hành pháp, đại diện cho một quốc gia, đứng trước hành động hỗn xựợc này của Trung Quốc, đúng lý ra, bộ Ngoại Giao Việt Nam phải cho mời Đại Sứ Trung Quốc tới để phản đối hoặc gửi công hàm phả đối với lời lẽ thật mạnh mẽ và cương quyết như “vi phạm chủ quyền của Việt Nam” “xâm phạm lãnh hải Việt Nam” và “yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền Việt Nam, lãnh hải của Việt Nam cũng như quyền đánh cá của ngư dân Việt Nam”. Theo phát ngôn viên của chính quyền Việt Cộng thì bộ Ngoại Giao Việt Cộng đã yêu cầu Đại Sứ Trung Quốc tại Hà Nội kêu gọi chính phủ Bắc Kinh ngừng các hoạt động trên biển. Nhưng thực ra chính quyền Cộng Sản Việt Nam không những đã không dám phản đối mà chỉ xin xỏ một cách hèn hạ như “đề nghị phía Trung Quốc không nên có các hoạt động cản trở hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam” hoặc “việc Trung Quốc tăng cường tuần tra sẽ dẫn tới có thêm nhiều vụ bắt bớ ảnh hưởng tới các hoạt động đánh bắt cá bình thường của ngư dân Việt Nam tại khu vực đánh bắt cá truyền thống của Việt Nam”. Thế nào là “khu vực đánh bắt cá truyên thống” ? Phải chăng đó là ngôn từ ngoại giao của bè lũ bán nước Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Văn An ? Ôi, nghe sao mà hèn hạ vậy? Nếu không dám dùng những danh từ dao to, búa lớn, những danh từ sặc mùi khác mắu mà bọn mi đã dùng trong thời gian xâm chiếm miền Nam thì ít nhất cũng phải dùng những chữ cho rõ nghĩa, cho đúng với ngôn từ của một quốc gia độc lập và có chủ quyền như: “không được có những hành động cản trở những hoạt động bình thường của ngư dân Việt Nam” hoặc “không được xâm phạm tại khu vực đánh cá thuộc chủ quyền của Việt Nam” v.v…. Đúng là phương khôn nhà dại chợ, chỉ quen áp bức dân lành.
Bốn tên mãi quốc cầu vinh: Triết, An, Mạnh, Dũng.
Hèn mạt, không dám phản đối quan thày Trung Quốc, nhưng lại sợ lòng yêu nước của người dân nổi dậy, bọn lãnh đạo hèn nhát Việt Cộng quay sang tìm cách dàn áp những người bất đồng chính kiến để bịt miệng, đúng như tờ báo chui, “Báo Sinh Viên Yêu Nước” của anh em Sinh Viên trong nước đã nhận định trong cố báo thứ 5: “Thời gian qua, sự kiện Trung Quốc khai thác Bauxit ở Tây Nguyên còn đang bi dư luận phản đối. Vụ ngư dân Việt Nam đã không dám đánh cá vì bị tàu Trung Quốc tấn công. Vụ lãnh hải Việt Nam bị thu hẹp vì Trung Quốc dùng sức mạnh bá quyền công khai áp lực. Vụ luật sư Cù Huy Hà Vũ dám ra mặt kiện Nguyễn Tấn Dũng. Trước áp lực dư luận có nguy cơ bùng nổ, phô bày bản chất yếu hèn, phản động của đảng CSVN trước tham vọng xâm lăng Việt Nam của Trung Quốc. Hà nội quyết định bắt luật sư Lê Công Định cũng là cách để chuyển dư luận chống đối sang ngã rẻ khác, vừa răn đe thành phần đấu tranh dân chủ, vừa nhắn nhủ giới luật sư, trí thức, thanh niên sinh viên Việt Nam đang manh nha hình thành lực lượng nhằm phản đối vụ khai thác Bauxit và những quyết định bạc nhược, hèn yếu của Chính trị bộ đối với quan hệ Trung - Việt. Hẳn chúng ta còn nhớ, cách đây gần 2 năm, sau khi biết tin Trung Cộng công khai xân chiếm hai quần đào Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam và sát nhập vào một quần đảo khác của Trung Cộng để thành lập một quận lỵ lấy tên là Tam Sa, các học sinh và sinh viên Việt Nam cùng đồng bào trong nước đã tổ chức 2 cuộc biểu tình vào ngày 9/12/07 tai Saigon và Hà Nội để phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc. Bọn nguỵ quyền Cộng Sản Hà Nội, không những không ủng hộ hay khuyến khích mà lại còn bắt bớ, cấm đoán và hăm dọa. khiến một nữ sinh viên qúa uất ức đã vừa khóc vừa la: “Chúng cháu đến đây để thể hiện lòng yêu nước của mình…tai sao lực lượng an ninh lại ngăn cản lòng yêu nước của chúng cháu…? ngăn chặn chúng cháu lại và không cho chúng cháu vào tham gia cùng mọi người…? Taị sao? Tại sao?. Và một thanh niên khác, không dằn được sự tức giận, đã hiên ngang đập mạnh tay xuống bàn và la lớn: “Các ông chỉ biết lo cho cái ghế của các ông, các ông chỉ biết tham nhũng”. Thật là một điều nghịch lý khi những nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam gán cho những người Việt Nam yêu nước dám bầy tỏ thái độ, lập trường của mình trước những vến đề lien quan đến sự tồn vong của đất nước, của dân tộc lại bị gán cho những tôi danh như “xâm phạm an ninh quốc gia”, “lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm hại quyền lợi nhà nước” để bỏ tù những người yêu nước như nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, nhà giáo Vũ Hùng, sinh viên Nguyễn Tiến Nam cho tới các bloggers Điếu Cày Nguyễn Hoàng Hải, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Người Buôn Gió Bùi Thanh Hiếu, rồi nhà báo Phạm Đoan Trang, cùng nhiều người khác nữa có tâm huyết với đất nước đã không tránh khỏi cảnh tù tội hay những sự trù dập, đàn áp dã man. Ngày nay chúng ta đã thấy, người dân đã dám bàn chuyện chính trị, dám phê phán chính quyền công khai, không còn dè dặt và sợ hãi như những năm trước nữa. Nhiều người còn dám rủ nhau đi kiện, đi biểu tình phản đối những vụ chính quyền trưng dụng nhà cử đất đai của họ. Các anh em sinh viên cũng đã dám ra một tờ báo chui gọi lá Báo Sinh Viên Yêu Nước để bầy tỏ thái độ và các trí thức trong nước cũng đã dám công khai bầy tỏ lập trường, họ không còn sợ hãi trước sự hù dọa hay sự bắt bớ, giam cầm, bỏ tù một số người chống đối của ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam. Một vài luật sư đã dám tranh luận thẳng thừng với các chánh án Việt Cộng để bênh vực cho thân chủ trong các vụ án có liên can tới chính trị. Nhưng số người này còn quá ít ỏi, vẫn chưa đủ, cần phải đông đảo hơn nữa, tích cực hơn nữa, mạnh mẽ hơn nữa cho tới khi nào chế độ Cộng Sản Việt Nam bán nước phải cáo chung. Một người dân trong nước cũng viết: “Tôi bần thần tự hỏi, chính quyền hiện hành có còn là chính quyền của dân tộc VN hay không ? Tự hỏi để rồi ngầm trả lời :Không, không, không. Chính quyền này không phải là của dân tộc VN, mà là chính quyền của đảng cộng sản VN ! Tôi và bao bậc cha mẹ khác lẽ nào đưa con mình đi cầm súng để bảo vệ đảng nô lệ như thế này ??? Tôi đã rớt nước mắt. Tệ hại quá, tôi phải “nướng” con tôi cho lũ cầm quyền phản dân tộc này sao? Tôi sẽ phải làm thế nào ? Cầm súng bảo vệ đất nước thì tôi không sợ, cầm súng chống bọn xâm lấn Trung Cộng thì tôi sẵn sàng đưa con tôi lên đường ! Còn cầm súng, hi sinh con cái chúng tôi cho quyền lợi riêng của đảng cộng sản VN thì khác nào sự ngu xuẩn, hơn nữa, đó là sự nhục nhã ! Thật không có cái nhục nào to lớn bằng cái nhục của một dân tộc có một chính quyền hèn hạ và đốn mạt như chính quyền cộng sản Việt Nam ngày nay, một chính quyền bán nước hại dân, chỉ biết tham nhũng và hiếp đáp dân lành. Không những thế, bọn ngụy quyền Cộng Sản Việt Nam còn muốn tất cả dân tộc Việt Nam phải hèn nhát như bọn chúng. Vì thế nếu có người nào can đảm, dám biểu lộ lòng yêu nước và dám nói lên những việc làm sai trái, đốn mạt của bọn chúng, là bọn chúng tìm cách đàn áp và bắt giam như ta đã thấy. Không biết người dân còn chiụ đựng sự nhục nhã này tới bao giờ mới tìm cách lôi cổ bọn hèn nhát này xuống để trị tội?
TOÀN CẢNH BỨC TRANH BÁN NƯỚC CHO TÀU CỦA CSVN TỪ HỒ CHÍ MINH (1949) TỚI NGUYỄN TẤN DŨNG (2009) MƯỜNG GIANG Có một điều mai mĩa lớn nhất của lịch sử trong thế kỷ XX mà tới nay, chắc là nhiều nguời vẫn không ngờ tới : Ðó là chính Trung Cộng mới thật sự bị thảm bại trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960-1975) chứ không phải Hoa Kỳ, cho dù những hình ảnh nhục nhã của siêu cường được lưu hành khắp báo chí thế giới, qua chân dung của John Gunther Dean, Ðại sứ Mỹ tại Kampuchia ôm lá cờ cuốn trong túi ny lông chạy trối chết khỏi Nam Vang hay những trực thăng bị xô xuống biển Ðông khi di tản từ đất liền ra Ðệ Thất Hạm Ðội vào những ngày cuối tháng 4-1975. Thật khác hẳn với những gì mà chúng ta đã đọc được trong hầu hết sách báo cộng sản hay tây phương phổ biến từ trước tới nay luôn đề cao tới tình đồng chí đồng rận, sông liền sông, núi liền núi giữa hai nước Trung-Việt, mặt thật chỉ là những huyền thoại dõm lấy vải thưa che mắt thiên hạ mà thôi. Ðây là câu chuyện lịch sử bi thảm nhất mà thượng đế đã dành cho số kiếp và thân phận dân tộc Việt, khi khiến cho nước ta phải có chung biên giới với Tàu đời đời luôn khắc sâu trong tim óc là nhất định phải biến VN thành một quận huyện như chúng đã từng làm không ngơi nghĩ từ mấy ngàn năm về trước. Một bí mật khác cũng đã được báo chí phổ biến cho biết vào tháng 4-1972 khi Tổng thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh cầu thân với Tàu đỏ, đã bị Mao Trạch Ðông đem công hàm bán đảo, do Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng ký năm 1958 làm bằng chứng, để phản đối việc tàu Hoa Kỳ vi phạm lảnh hải quần đảo Hoàng Sa của chúng (?). Còn Kissinger thì xảo quyệt hơn, khi viết hồi ký về chuyến đi đó, đã không hề thắc mắc hay nhắc tới một chữ về việc Trung Cộng đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-Trường Sa, dù cả hai đều biết các quần đảo này của VNCH. Từ đó Nixon ra lệnh cho hạm đội 7 tại Thái Bình Dương phải ở ngoài xa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đúng 12 hải lý như Trung Cộng đã quyết định. Ngày 11-1-1973 Trung Cộng công khai tuyên bố chủ quyền trên toàn thể các đảo của VN trong biển Ðông. Ngày 26-12-1973 Bắc Kinh bắt đầu thương thuyết việc khai thác dầu-khí tại vịnh Bắc Việt với Ý Ðại Lợi. Tháng 1-1974 giặc Tàu xua hải lục không quân chiếm Hoàng Sa và dù Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã trực tiếp yêu cầu Bộ Quốc Phòng Mỹ giúp nhưng Mỹ lại ra lệnh Hạm Ðội 7 không can thiệp, kể cả cấm vớt các chiến sĩ hải quân VNCH lâm nạn trong cuộc hải chiến trên, dù lúc đó hai bên vẫn còn là đồng minh đồng đội. Xưa nay người Tàu luôn bị ám ảnh về sự lớn mạnh và hợp nhất của nước Việt ở nam phương. Sự thù hận càng thêm nung nấu và chất ngất, trước hai biến cố lịch sử : Tháng 7-1954 VN thoát khỏi ách đô hộ của thực dân Pháp và 30-4-1975 CSVN cưỡng chiếm được Miền Nam VN. Ðó cũng là lý do từ năm 1960, dù là đồng chí nhưng Tàu đỏ đã bố trí hơn 20,000 quân dọc theo biên giới Hoa-Lào để canh chừng VC xé rào đi chếch hướng của một tên lính tiền phương đang làm nghĩa vụ XHCN. Muôn đời Trung Hoa dù ở chế độ nào, phong kiến, quân chủ, dân quốc hay cộng sản.. thì lập trường trước sau cũng vẫn theo đuổi hai chiến lược cố hữu, dành cho sự ổn định và an ninh lãnh thổ của đất nước mình : "Canh chừng bọn Man Di (Mãn, Mông, Hồi, Tạng, Cao Ly, Nga) ở phía Bắc và ra oai trừng phạt hay nuốt chửng các nước nhỏ ở nam phương (Ðại Việt, Lào, Chiêm Thành, Cao Mên, Thái Lan, Miến Ðiện)." Cuối năm 1949 Mao chiếm được Hoa lục, ngoài bộ mặt son phấn cách mạng vô sản đồng môn đồng chí hào nhoáng bên ngoài nhưng thực chất vẫn theo đuổi chính sách thực dân tự ngàn xưa, là phải tìm đủ mọi cách và cơ hội để Hán hóa và chiếm cho được VN, luôn được người Tàu bao đời coi như một đối thủ mạnh nhất trong vùng. Ngược lại CSVN, ngay từ lúc còn trong trứng nước vào những năm đầu thập niên 30 của thế kỷ XX cho tới giờ thứ 25 hấp hối năm 2009, từ Hồ Chí Minh tới Nguyễn Tấn Dũng và hầu hết các chóp bu đảng, vẫn cứ đời đời biết ơn và luôn giữ sự thờ kính với Trung Cộng. Ðiều này cũng không có gì lạ vì hầu hết các cán bộ lớn nhỏ của cộng đảng VN trước khi sang Liên Xô học hỏi kỹ thuật bán nước giết dân tại Ðông Phương Bộ, đều đã trải qua thời gian huấn luyện quân sự và chính trị tại Hoa Lục. Nói cho tận cùng, Tàu đỏ đã nắm hết lý lịch của tập đoàn lãnh đạo CSVN từ HCM tới Nguyễn Tấn Dũng và lấy đó làm con bài lật ngữa trong canh bạc xì phé. Cho nên còn thằng nào trong đảng ta dám chống lại chúng để thân bại danh liệt? Ngày nay nhờ sự bạch hoá của nhiều văn khố trên thế giới và nhất là sự tiết lộ của Tàu đỏ, cho thấy dã tâm của Trung Cộng qua cái gọi là "đồng chí XHCN" thực chất chỉ là lợi dụng xương máu của người VN qua bình phong "sát cánh anh em chung ý thức hệ cộng sản", để bảo vệ dùm biên giới phía nam của chúng. Năm 1968 sử gia Pháp Francois Joyaux đã dựa vào tài liệu lưu trữ trong văn khố, kết luận sự có mặt lần đầu tiên của Mao tại hội nghị Geneve 1954, đã chứng tỏ sự quan tâm lớn lao tới tình hình Ðông Dương thời đó của Trung Cộng. Còn Paul Mus một học giả Pháp chuyên nghiên cứu về VN, vào năm 1965 đã viết "Sở dĩ Mao nhượng bộ Pháp tại hội nghị Geneve 1954, mục đích cũng chỉ muốn ngăn chận sự thống nhất của VN cũng như không cho CSVN thống trị toàn thể bán đảo này." Do đó suốt thời gian Bắc Việt xâm lăng VNCH (1960-1975) Trung Cộng luôn luôn tìm đủ mọi cách để cắt nhỏ ba nước Việt, Miên và Lào thành các mảnh vụn. Mãi tới sau tháng 11-1963 khi người Mỹ đã giết được Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, để tự do lèo lái cuộc chiến VN theo ý mình, qua các cuộc dội bom Bắc Việt 1964, ào ạt đổ hơn nữa triệu quân vào năm 1965 giúp VNCH, cuối cùng bỏ chạy vào ngày 30-4-1975 .. Chính các biến cố trên khiến cho Trung Cộng lo sợ Mỹ sẽ chiếm Bắc Việt để làm bàn đạp giúp Ðài Loan (lúc đó là Ðồng Minh của Hoa Kỳ) để tấn công mặt nam tái chiếm nước Tàu. Ðây mới là lý do quan trọng nhất để Trung Cộng sẳn sàng hy sinh mọi thứ, chẳng những dồn hết nhân vật lực hỗ trợ cho Hà Nội, mà còn ra lệnh cho các đàn em Lào và Cao Miên cho Hồ Chí Minh sử dụng hành lang của hai nước này tại biên giới để Bắc Việt làm đường mòn chuyển quân trang quân dụng vào xâm lăng VNCH. Tóm lại đời đời Trung Cộng vẫn coi Việt Cộng như là một phương tiện không hơn không kém để đạt cứu cánh của riêng mình. Mãi tới cuối thập niên 70, quyền sinh sát toàn dân và non nước Việt vẫn nằm trong tay đảng CS, do một thiểu số ủy viên già nua thất học trong cái gọi là bộ chính trị VC được bầu bán từ năm 1960 gồm HCM, Duẩn, Giáp, Ðồng, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan, Lê Ðức Tho, Trường Chinh.. trong số này Hoàng Văn Hoan và Trường Chinh theo Tàu Ðỏ ra mặt. Sự tranh dành quyền lực đảng sau bức màn đỏ rất quyết liệt sắt máu, giữa hai phe Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp, vì được bưng bít kỹ cho nên người ngoài ít ai biết được. Sinh thời HCM luôn coi trọng Giáp hơn Duẩn nên Dù Duẩn là bí thư thứ I của đảng nhưng vẫn là phó cho Giáp trong quân ủy. Lúc đầu Duẩn vì có lập trường đối đầu với Giáp nên ngã theo Trung Cộng. Trong thời gian Khrushchev cầm quyền Liên Xô có chủ trương xét lại và chống đối Tàu đỏ, đồng thời ra mặt o bế Giáp đầu đảng phe thân Nga lúc đó, với mục đích chia rẽ nội bộ CSVN. Năm 1967 Khruchchev bị hạ bệ, Duẩn-Thọ vin vào thời cơ để tạo ra vụ án xét lại, loại bỏ gần hết phe đảng của Giáp. Riêng Giáp nhờ có HCM che chở nên được sống già vô tích sự tới ngày nay. Từ sau tháng 5-1975 mặt nạ "đánh Mỹ cứu nước" của CSVN đã rớt, cũng là lúc kết thúc trò đu dây giữa Nga-Tàu để hưởng lợi. Liên minh Ðông Dương cũng không còn qua sự phá hoại của Trung Cộng, quan hệ Việt-Hoa rạn nứt từ những ân oán cũ mới. Cuối cùng Duẩn bỏ Tàu theo Nga gây nên cuộc chiến long trời lở đất tại biên giới Việt-Miên-Hoa từ năm 1978-1990. Tháng 3-1985 Gorbachev làm tổng bí thư Liên Xô, phát động chính sách "cởi mở (glasnov) và tái cấu trúc (perestroika)" để cứu vản nền kinh tế của Nga đang trong cơn khủng hoảng vì phải cưu mang quá nhiều ngoại viện cho các nước chư hầu trong đó có CSVN. Ðồng thời, Gorbachev còn nối lại liên hệ với kẻ thù Hoa Kỳ và Trung Cộng. Trong bước đường cùng vì bị cả thế giới bỏ rơi ngoảnh mặt, tháng 8-1986 Hà Nội tuyên bố rút hết quân ra khỏi Kampuchia và muốn nối lại quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Trường Chinh (tạm thay Lê Duẩn mới chết, làm quyền tổng bí thư) còn gửi điện văn chúc mừng quốc khánh của Tàu đỏ. Tóm lại sự suy sụp của đế quốc Liên Xô vào năm 1986 cộng thêm cái chết của Lê Duẩn, đã đưa CSVN vào ngõ cụt về ý thực hệ, kinh tế gần như khánh tận, quân sự bị sa lầy tại Kampuchia.. nên để cứu đảng, cứu thân, bọn chóp bu tại bắc bộ phủ mới được bầu trong đại hội đảng lần thứ VI (Linh, Hùng, Công, Mười, Kiệt..) qua cố vấn của Chinh, Ðồng, Thọ quyết tâm phấn đấu để sớm được trở lại làm đầy tớ cho Tàu. Trong lúc Trung Cộng vẫn công khai xua quân chiếm thêm nhiều đất đai của ta tại biên giới và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của VN vào ngày 16-3-1988 trước sự phản ứng lấy lệ gần như đầu hàng giặc của chóp bu CSVN. Tháng 4-1989 Trung Cộng dùng xe tăng đại pháo tàn sát dã man sinh viên và dân chúng biểu tình đòi dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh). Từ cuối năm 1989-1990, Ðông Ðức, Ðông Âu và đế quốc Sô Viết tan rã, khối XHCN chỉ còn lại Tàu đỏ, Việt Cộng, Bắc Hàn và Cu Ba. Trước nỗi chết gần kề, ngày 10-4-1990 bộ chính trị cộng đảng VN họp khẩn để "nhất trí" quyết tâm bằng mọi giá (kể cả bán nước, bán dân) được theo Tàu để bảo vệ XHCH. Và từ đó tới ngày nay (2-2009) , cái giá máu mà dân tộc VN phải đổ ra để CSVN trả nợ cho giặc Tàu là một phần lảnh thổ gồm đất đai, biển, đảo và sự Hán hóa dân tộc Việt của Trung Cộng. Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Võ Văn Kiệt, Lê Ðức Anh, Trần Ðức Lương, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Phan Văn Khải, Nguyễn Tấn Dũng.. đang viết phần cuối trang sử nô lệ giặc Tàu mà Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Hoàng Văn Hoan.. đã đề ra từ năm 1930. VN sẽ trở thành một quận huyện của Trung Hoa như thời Bắc Thuộc. Tất cả đều là sự thật nhục nhã và đau lòng. Tháng 1-1285 trước sự xâm lăng lần thứ 2 của Mông Cổ, Ðại Ðế Trần Nhân Tôn đã mời các vị bô lão khắp nước về hội tại điện Diên Hồng (Thăng Long) để hỏi ý kiến nên "hoà hay chiến" với giặc. - Trước nhục nước nên hoà hay nên chiến ? - Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh ? Tất cả đều trả lời "quyết chiến cho dù phải hy sinh tài sản và tính mệnh" để bảo vệ non nước Việt. Sau đó người cả nước đều dùng mực thích vào cánh tay hai chữ "Sát Thát". Nhờ vậy mà nước ta vào thời Trần đã 3 lần chiến thắng giặc Mông Cổ khi chúng sang xâm lăng Ðại việt. Việt Cộng ngày nay mọi hành động đều lén lút tự chuyên, độc tài quyết đoán. Trong khi đó, trước nhục nước chỉ biết hèn hạ quì lụy cắt đất dâng biên đảo cho Tàu, lập nghĩa trang, xưng tụng đời đời nhớ ơn giặc cướp giết hại đồng bào trong trận chiến biên giới Hoa Việt lần thứ I vào ngày 17-2-1979. Một chế độ bạo ngược tham tàn có một không hai trong dòng Việt sử, thì sớm muộn gì CSVN cũng bị toàn dân giựt xập và tiêu diệt. Sau ngày 30-4-1975, hằng năm CSVN đều tổ chức ăn mừng "chiến thắng Tết Mậu Thân 1968" và "đại thắng mùa xuân 1975" . Nhưng tuyệt đối không nhắc tới một chữ về những đau thương trầm thống mà giặc Tàu đã gây cho Nước Việt và Ðồng Bào Việt trong cuộc chiến biên giới Hoa-Việt khởi sự từ ngày 17-2-1979 và kéo dài tới đầu thập niên 1990 mới tạm dứt sau khi toàn bộ chóp bu VC đầu hàng Tàu đỏ. Ðã vậy VC còn công khai khinh thường và hạ nhục cả nước, khi đảng cùng với Trung Cộng rầm rộ tổ chức ăn mừng đã hoàn thành việc cắm mốc biên giói Việt-Trung tại Ải Nam Quan vào ngày 24-2-2009. Biên bản do Nguyễn Tấn Dũng ký vào cuối năm 2008 nhưng đã tuyệt tích vì bị đảng ém nhẹm nên người dân không biết đâu mà mò. 1- HỒ CHÍ MINH RƯỚC GIẶC TÀU VỀ DẦY MÃ TỔ HỒNG LẠC Vừa cướp được chính quyền vào tháng 9-1945, Hồ Chí Minh và đồng đảng đã thực hiện ngay bước đầu lừa đảo dân tộc và thế giới bằng xảo thuật đưa quân Pháp (mới vào Sài Gòn thay quân Anh-Ấn) ra Bắc thế chân quân Trung Hoa đang giải giới quân Nhật tại đây. Như Trường Chinh lúc đó là nhân vật thứ 2 trong cộng đảng VN sau HCM đã viết "Pháp ra Bắc thế quân Trung Hoa của tướng Lư Hán về nước là mối lợi lớn cho đảng ta, rãnh tay tiêu diệt các đảng phái và lực lượng quân sự của Người Việt Quốc Gia. Pháp ra Bắc tất nhiên phải ký kết và điều đình với đảng ta. Ðó là một công nhận và thắng lợi quốc tế. Pháp tới đây không sớm thì muộn cũng gây hấn và tấn chiếm lại miền Bắc. Ðây là cơ hội để đảng ta đoạt quyền lảnh đạo cả nước trong Mặt Trận Việt Minh chống Tây, mộr cách danh chánh ngôn thuận." Và mọi thu xếp được trôi chảy như kế hoạch của Hồ. Ngày 6-3-1946 Việt Minh và Pháp ký hiệp ước Sơ Bộ, theo đó Pháp thừa nhận nước VN Dân Chủ Cộng Hòa của Hồ và đảng CS. Ngày 18-3-1946 quân Pháp của tướng Leclerc vào Hà Nội với sự tiếp đón mừng rở thắng lợi của tập đoàn HCM trong bước đầu "rước quân Pháp vào đất Bắc để dầy Mã Tổ Hồng Lạc". Một bi thảm của lịch sử trong giai đoạn này chứng tỏ tính ưu việt của đảng Hồ, chỉ biết "khôn nhà dại chợ " trong khi thẳng tay bắn giết người Việt QG và để mặc cho Pháp tiến chiếm hết miền Bắc. Cuối cùng ngày 19-12-1946 bùng nổ cuộc chiến Ðông Dương lần thứ I (1946-1954) . Ðây là một cuộc chiến mà theo nhận định của hầu hết các sử gia trên thế giới kể cả Pháp, đều cho là không cần thiết, trước phong trào giải phóng các dân tộc nhược tiểu, sau khi thế chiến II kết thúc (1939-1945) đang nở rộ khắp hoàn cầu. Tại Châu Á, các thuộc điạ của Anh, Hòa Lan, Hoa Kỳ như Ấn Ðộ, Miến Ðiện, Mã Lai, Singapore, Nam Dương, Phi Luật Tân.. không tốn một giọt máu hay viên đạn, cũng đã được độc lập. + Ðảng Hồ Rước Tàu Ðỏ Vào VN Trong Cuộc Chiến Ðông Dương Lần Thứ I : Sau khi quan hệ ngoại giao Việt-Hoa trở nên xấu từ năm 1976, thi VC đã công bố cái gọi là "Bạch Thư" để gọi là "vạch trần âm mưu bộ mặt phản động của bọn bành trướng Bắc Kinh '.VC viết rằng ' Tàu đỏ phải tham chiến tại VN vì mối nguy cơ ở mạn Nam do cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp gây ra". Nhưng cuối cùng VC vẫn không bao giờ dám quên ơn của Trung Cộng đã cung cáp vũ khí và quân trang dụng cho Việt Minh đạt được chiến thắng tại Ðiện Biên Phủ vào năm 1954. Ngay từ tháng giêng năm 1949, nhìn rõ được chiến thắng gần kề của Mao tại Hoa Lục, nên HCM đã triệu tập Hội nghị trung ương lần thứ 6, để chuẩn bị đón quân Trung Cộng sắp tới biên giới Hoa-Việt. Do đó không ai ngạc nhiên khi thấy Tàu đỏ là nước đầu công nhận chính phủ của đảng Hồ vào ngày 10-1-1950. Rồi tức khắc Hồ bí mật sang Tàu cầu viện và được Mao thỏa mãn đủ mọi thứ theo đơn xin. Nên từ đó (1950) tới ngày nay, liên tiếp bao chục năm HCM cũng như đảng cộng, phải đời đời nhớ ơn Tàu đỏ, coi ngày 10-1 như là một trong những quốc lễ trọng đại, đánh dấu bước đầu tiên Hồ rước voi Tàu về dầy mã Việt. Nhưng để nhận được viện trợ, HCM đã phải ký với TC một thỏa ước đầu tiên về quân sự, đổi lai Mao cho Hồ tức khắc không cần hoàn trả "150,000 vũ khí lấy được của Nhật và 10,000 súng carbin M-1 do Mỹ chế tạo. Tuy nhiên không có của nào là của cho không, nhất là với đàn anh Tàu đỏ, đòi hỏi HCM phải giúp Trung Cộng quét sạch biên giới Hoa Việt để tiêu trừ dùm Mao, số tàn quân của Tưởng Giới Thạch còn trong rừng núi 'Thập Vạn Ðại Sơn' thuộc tỉnh Quảng Tây. Ðây là lịnh truyền nên Hồ phải tức tốc điều động hơn 20,000 bộ đội Việt Minh sang hành quân giúp Tàu đỏ, được che đậy bằng hình thức ' huấn luyện quân sự'. Ðồng thời Mao cử tướng Trần Canh cầm đầu một phái bộ quân sự Tàu đỏ đông đảo tới tổng hành dinh của Việt Minh tại Việt Bắc, để trực tiếp chỉ đạo guồng máy chiến tranh "Việt-Pháp". Sau đó có thêm Vi Quốc Thanh cầm đầu đoàn "cố vấn quân sự" và Lã Quý Ba cầm đầu đoàn "cố vấn chính trị" . Tóm lại qua sự hiện diện đông đảo của cố vấn Tàu và nhiều cán bộ VC từng hoạt động chung với Hồ tại miền Nam Hoa Lục trước đây nên rất thông thạo tiếng Tàu. Tất cả làm thành một mạn lưới chằng chịt "theo Tàu" trực tiếp lãnh đạo CSVN. Do đó vào tháng 5-1950, HCM đã ra chỉ thị đặt Liên Khu Ủy Việt Bắc dưới quyền điều động của các cố vấn Trung Cộng. Thật ra không phải đợi tới khi Mao chiếm được Hoa Lục mới giúp đở VM mà là hai bên đã có quan hệ từ trước. Tháng 8-1946 Tàu đỏ cho cán bộ tuyên vận sang giúp Hồ làm công tác tuyên truyền trong giới Hoa kiều sinh sống tại VN. Năm 1947, Mao thành lập đội quân hơn 5,000 người hoạt động tại biên giới Hoa Việt, giúp đào tạo cán bộ Việt Minh. Mao còn giúp Hồ mở một cơ sở thương mại tại Vọng Các (Thái Lan) đã đóng cửa năm 1950 khi chuyển về Rangoon (Miến Ðiện), để trực tiếp mua vũ khí Mỹ qua trung gian của Anh và Thái Lan. Số súng đạn này sau đó được gửi bằng tàu thủy tới Bắc Việt. Ðây là nguồn vũ khí quan trọng mà Việt Minh đã sử sụng trong thời kỳ 1947-1950, trước khi Hồ chính thức sang cầu viện Trung Cộng. Tháng 6-1950 qua lệnh truyền của toàn quyền Tàu đỏ là Vi Quốc Thanh, bộ đội Việt Minh dưới quyền Võ Nguyên Giáp mở chiến dịch biên giới Việt-Hoa, kéo dài từ đông sang tây hơn 300 km. Ðây là thâm ý của Trung Cộng lợi dụng chuyển vận quân dụng tiếp tế cho VM để bắt HCM bỏ ngỏ biên giới Hoa Việt khi quân Pháp rút khỏi Cao Bằng. Từ đó Tàu đỏ tự tung tự tác, lần hồi xua người vào VN và lấn đất, coi hai nước Hoa-Việt chỉ là một, dưới quyền lảnh đạo của Mao Trạch Ðông. Trước thất bại nhanh chóng của quân Pháp ở Bắc Kỳ và sự bành trướng xuống Nam Phương một cách ồ ạt lộ liễu của Trung Cộng, bó buộc Mỹ phải nhảy vào vòng chiến bằng cách viện trợ quân sự cho Pháp và Chính phủ Bảo Ðại vào ngày 23-12-1950. Cuộc chiến VN giữa VM và Pháp, bắt đầu từ năm 1951 về sau có thêm TC, Liên Xô, Ðông Âu, Hoa Kỳ tham dự, đã trở thành sự đương đầu giữa hai khối Ðông-Tây, nên các sử gia mới gọi là cuộc chiến Ðông Dương lần thứ I (1946-1954). Ðầu Hè 1951, TC lại ký thêm với HCM tại Nam Ninh (Quảng Tây) một thỏa ước mới về viện trợ quân sự. Và nơi này đã trở thành một căn cứ tiếp nhận quân viện lớn nhất của VM. Hàng hóa được chuyển bằng xe lửa và xe ô tô tới Việt Bắc liên tục ngày đêm không dứt. Nhưng từ năm 1952, hai bên TC và HCM bắt đầu ký cái gọi là Hiệp Ứớc Trao Ðổi Hàng Hóa. Theo đó TC cho VM súng đạn, quân trang dụng và HCM trả lại bằng Lâm Sản (các loại gổ quý) cùng các sản phẩm Nông Nghiệp kể cả thuốc phiện sản xuất tại Lào và Bắc Việt. Từ năm 1953 TC và Việt Minh đã tiếp cận tại biên giới Việt Hoa từ Hải Ninh tới Thượng Lào. Do đó quân viện càng thêm dễ dàng, mỗi tháng VM nhận từ 3,000 - 5,000 tấn viện trợ, kể cả các loại súng đại bác và xe vận tải. Nhiều ngàn cố vấn và quân sĩ Hồng quân được gởi tới chiến đấu bên cạnh bộ đội VM gồm đủ quân binh chủng. Chính Hoàng Văn Hoan là người trực tiếp chịu trách nhiệm việc nhận lãnh tiếp liệu cũng như thương thuyết với TC về quân viện. Ðầu tháng 12-1953 VM lập đảng ủy và bộ chỉ huy mặt trận Ðiện Biên Phủ do Võ Nguyên Giáp chỉ huy nhưng dưới quyền của Vi Quốc Thanh, cố vấn quân sự của TC. Ðây là một thung lũng ở phía tây Bắc Việt sát biên giới Lào, cách Hà Nội 300 km. Trận chiến tại đây đã chính thức bùng nổ vào ngày 13-3-1954. Theo kế hoạch VM sẽ tấn công Pháp vào ngày 25-1-1954 nhưng Vi Quốc Thanh nói Giáp đã có nhiều khuyết điểm khi bố trí trận địa nên bắt HCM ra lệnh đình chỉ cuộc tấn công. Kể từ đó binh quyền hoàn toàn nằm trong tay Thanh và TC đã thay đổi toàn bộ kế hoạch trước kia của Giáp. Tóm lại Tàu đỏ đã dùng chiến thuật đè người, sử dụng tới 50,000 quân tham chiến + 25,000 trừ bị, áo đảo 13,000 quân Pháp cố thủ trong căn cứ, thật sự chỉ có nữa quân số tác chiến được. Sau 55 ngày đêm giao tranh đẳm máu, đúng 17 giơ 30 ngày 7-5-1954 Ðiện Biên Phủ thất thủ, tướng De Castries và toàn bộ tham mưu đầu hàng, 13,000 quân lớp chết, số còn lại bị bắt làm tù binh. Ngày 20-7-1954 hiệp định đình chiến Geneve được ký kết giữa Pháp và VM, có sự tham dự của Nga, Anh và TC. Riêng Hoa Kỳ không ký vào bản hiệp ước. Theo đó VN bị chia thành 2 miền Nam-Bắc lấy con sông Bến Hải (Quảng Trị) tại vĩ tuyến 17 làm giới tuyến. Ngày 10-10-1954 bộ đội VM tiếp thu Hà Nội, quân Pháp và các lực lượng thuộc Quân Ðội QGVN rút về Nam. Sau khi VC cưởng chiếm được toàn thể Miền Nam VN vào ngày 30-4-1975 cũng là lúc tình đồng chí đồng rận giữa TC và VC rạn nứt không hàn gắn được. Thế là mọi chuyện được che dấu từ lâu, bị hai phía moi ra bôi bác cho thiên hạ biết. Nhờ vậy cả nước mới sáng mắt ra ' chính HCM và cộng đảng từ năm 1949 đã rước voi Tàu về dầy mã Việt'.
| + Hồ Lại Rước Tàu Ðỏ Vào VN Trong Cuộc Chiến Ðông Dương Lần thứ II (1960-1975): Sau ngày chia đôi VN tại vĩ tuyến 17 (20-7-1954), Mỹ thay Pháp đổ quân vào VN nói là để ngăn chặn Tàu đỏ đang tiến xuống phương Nam. Từ đó VNCH trở thành tiền đồn chống Cộng tại Ðông Nam Á. Ngày 8-9-1954 Mỹ thành lập tại Manila (Phi Luật Tân) Tổ chức Minh ước Liên Phòng Ðông Nam Á viết tắt là SEATO gồm Mỹ, Anh, Pháp, Úc, Tân Tây Lan, Hồi Quốc, Thái Lan và Phi Luật Tân, bao gồm VNCH, Lào và Kampuchia. Ngày 7-7-1954 nội các Ngô Ðình Diệm được thành lập. Ngày 23-10-1955 qua cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Diệm trở thành vị Tổng Thống đầu tiên của nền Ðệ I Cộng Hòa Miền Nam, thay thế Quốc trưởng Bảo Ðại bị truất quyền. Quân đội QGVN cũng chính thức trở thành QLVNCH trong sứ mệnh giải giới và tiểu trừ các lực lượng Bình Xuyên (Bảy Viển), Cao Ðài, Hòa Hảo và Việt Cộng. Giai đoạn này, sỡ dĩ HCM phải đình hoản kế hoạch xâm lăng VNCH, chỉ vì miền Bắc đang biến loạn về vụ tàn sát đồng bào trong chiến dịch cải cách ruộng đất vào năm 1955-1956 với gần nữa triệu người dân vô tội, đều là các nạn nhân thảm tuyệt của các cuộc đấu tố trên. Trong khi đó tại miền Nam trong thời gian 1956-1959, Chánh phủ Ngô Ðình Diệm được đánh giá là thành công mọi mặt, kể cả vấn đề an ninh gần như khắp lãnh thổ VNCH. Cuối năm 1958 Lê Duẫn từ Nam ra Bắc báo cáo tình hình nên HCM đã mở hội nghị TUÐ lần thứ 15 quyết tâm xăm lăng để cưỡng chiếm miền Nam VN bằng vũ lực. Chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975) được mở đầu bằng cái gọi là ' Ðồng Khởi' tại Trà Bồng (Quảng Ngãi) và Mõ Cầy (Bến Tre). Ngày 6-1-1961 tổng bí thư Liên Xô Nikita Khrushchev phát pháo cuộc chiến tranh giải phóng toàn cầu, CSVN chính là tên lính xung kích mở màn cho cuộc chiến xâm lăng VNCH qua bình phong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Và chiến tranh lan rộng, CS Bắc Việt tiến hành các hoạt động khủng bố giết hại đồng bào vô tội, mục đích bắt VNCH phải phản ứng, để vin vào đó chụp mũ Chính quyền Ngô Ðình Diệm không chịu thực thi tổng tuyển cử theo hiệp định Geneve 1954.. nên người miền Nam (MTGPMN) phải đứng lên chống lại. Rồi chế độ gia đình trị của nhà Ngô đã được Hà Nội lợi dụng để xuí giục một sốÔ trí thức Miền Nam vốn đã bất mản chế độ ngay từ trước, đứng lên phản đối, làm sụp đổ nền đệ I Cộng Hòa Miền Nam vào ngày 1-11-1963. Ngày 8-3-1965 Lữ đoàn 9 TQLC là đơn vị bộ binh tác chiến đầu tiên của Mỹ, đổ bộ vào Ðà Nẵng và tăng lên tới 184.000 quân vào cuối năm 1965. Từ đó tới cuối năm 1969 có hơn nữa triệu quân Mỹ và Ðồng Minh tham chiến tại VN. Theo P.Lowe. Ed trong "The Vietnam War" và C. Jian viết "China and the Vietnam Wars 1950-1975" được Trung Cộng phổ biến gần đây cho biết, cùng thời gian Mỹ đổ quân vào VNCH thì quân Tàu đỏ cũng dồn dập tuôn vào đất Bắc theo thỉnh cầu của Hồ Chí Minh với Mao Trạch Ðông ngày 16-5-1965. Và từ đó tới cuối năm 1968 đã có 7 sư đoàn công binh và 16 sư đoàn (63 trung đoàn) pháo binh phòng không Hồng quân, lo việc phòng thủ đất Bắc từ Thanh Hóa tơí biên giới Hoa-Việt. Quân TC còn đóng tại khu mỏ Quảng Ninh, vùng tự trị Bắc và Tây Bắc Việt cũng như tại Yên Sở phía nam Hà Nội. Tóm lại từ giữa năm 1965 tới cuối năm 1968, TC đã gửi 320,000 bộ đội, công nhân và các chuyên viên kỹ thuật đủ mọi ngành tới quân viện cho Hà Nội theo thỉnh cầu của HCM. Ðây không phải là một nghĩa vụ nhiệt thành sử dụng đấu tranh quân sự giúp Bắc Việt thống nhất hai miền Nam-Bắc VN. Thực chất là một sự lợi dụng máu xương người Việt của Tàu Ðỏ qua CS Bắc Việt được coi như là một phương tiện "xác người", để đẩy người Mỹ ra khỏi Lào và VNCH. Ý đồ trên đã do chính miệng Thủ tướng TC Chu Ân Lai tuyên bố với Tổng thống Ai Cập Gamal Addel Nasser vào tháng 6-1965 tại thủ đô Cairo của Ai Cập "quân viện cho Hà Nội để ngăn ngừa Hoa Kỳ tấn công bằng nguyên tử vào Hoa lục.." Và để cho Mỹ càng lún sâu và đổ máu thêm nhiều tại chiến trường Ðông Dương, tạo an toàn vững chắc cho biên giới phía Nam Trung Hoa, Mao Trạch Ðông đã hào phóng cấp cho Hồ hơn 30,000 xe vận tải Molotova để chuyển vận hơn 10,000 tấn quân trạng dụng xuyên đường mòn trường Sơn Ðông và Tây tới chiến trưồng miền Nam. Ngoài ra Mao còn chỉ thị cho Sihanouk phải mở rộng các hải cảng của Kapuchia để tàu của Trung Cộng đổ vũ khí, thực phẩm, quân trang dụng tiếp tế cho VC. Nhưng từ đầu năm 1968 tình đồng chí đồng rận giữa Tàu đỏ và Việt Cộng đã bắt đầu rạn nứt vì Hà Nội không muốn Bắc Kinh xen vào nội bộ hai nước Lào và Kampuchia, lúc đó gần như là chư hầu của VC. Còn Trung Cộng thì cấm CSVN liên hệ trực tiếp với Mỹ. Cũng vì vậy mà Mao đã ra lệnh triệt thoái hết Hồng quân về nước vào tháng 3-1969. Cùng là đại bịp được đào tạo chung lò XHCN nên Tàu đỏ đâu có lạ gì thói hư tật xấu của đồng bọn. Vì vậy ngay thời đó, Trung Cộng đã làm một con đường chiến lược từ Vân Nam tới Bắc Lào và để 20,000 quân chiếm đóng có nhiều đơn vị pháo binh phòng không yểm trợ. Ðạo quân này ngoài danh nghĩa là phòng vệ biên giới phía Nam Trung Hoa đề phòng sự tấn công của Hoa Kỳ, mà có ý đồ chính là để quân bình cán cân lực lượng quân sự với CSVN ở Lào. Năm 1974, Chu Ân Lai đã nói thẳng với Kissinger rằng "quân Trung Cộng hiện diện tại Lào với mục đích cầm chân CSVN thống trị toàn cõi Ðông Dương". Nhưng Hà Nội đã phá vở kế hoạch trên của TC qua việc ám sát các lãnh tụ Pathet Lào thân Tàu đỏ. Và cũng nhờ biến cố Sihanouk bị đảo chánh năm 1970 tại Kampuchia, mà tình đồng chí đồng rận giữa ba đảng CS tại Ðông Dương được hợp tác lại cho tới tháng 5-1975 mới tan rã. Và Nga đã không bỏ lỡ cơ hội nhảy vào trám chỗ của TC, gia tăng quân viện giúp CS Bắc Việt tạo thêm áp lực mạnh về quân sự tại Nam VN, để chiếm ưu thế chính trị trên bàn hội nghị đang tiếp diễn và kết thúc tại Ba Lê vào tháng 1-1973 với kết quả "Mỹ rút hết quân về nước để đổi lấy sự tái đắc cử Tổng thống kỳ 2 của Nixon. Quân CS Bắc Việt được Mỹ cho phép ở lại Nam VN để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược". Lúc đó chiến thắng của QLVNCH gần kề thì người Mỹ vì quyền lợi riêng tư đã phá vở bằng những điều khoản vô lý ký kết với Bắc Việt trong cái được gọi là "hiệp định ngưng bắn tại VN năm 1973". Cũng từ đó, VNCH tứ bề thọ địch với nội thù khắp mọi nơi kể cả chốn hậu phương. Tàu đỏ nhân cơ hội này, đã công khai bành trướng tham vọng chiếm đất đai của dân tộc Việt, mà khởi đầu là Quần Ðảo Hoàng Sa ngoài Ðông Hải vào ngày 19-1-1974. Hải Quân VNCH đã chiến đấu can trường gây rất nhiều tổn thất cho Tàu đỏ nhưng cuối cùng vì thân phận nghiệt ngã của nước nhược tiểu nên phải đành bỏ mất một phần quê hương cho giặc . Rồi Tổng thống Nixon phải từ chức vào ngày 9-8-1974 vì vụ Watergate nhưng nội bộ nước Mỹ cũng vẫn nát bấy như tương Tàu vì sự mâu thuẩn càng lúc càng trầm trọng của cuộc chiến VN. Ngày 24-9-1974 lưởng viện quốc hội Mỷ biểu quyết ngân sách quân viện cho VNCH tài khóa năm 1975 chỉ còn 700 triệu Mỹ kim, khiến cho tiềm lực chiến đấu của Miên Nam VN bị hạn chế vì đa số phi cơ, tàu thuyền, trọng pháo trở thành bất khiển dụng vì thiếu cơ phận thay thế. Nên sự thất bại của VNCH vào trưa ngày 30-4-1975 trước cuộc xâm lược của Cộng Sản Ðệ Tam Quốc Tế không làm sao tránh được dù sớm hay muộn cũng thế thôi, vì đó là hệ quã được tích tụ bởi ba yếu tố : "giai cấp lãnh đạo trung ương bất tài, thái độ lừng khừng vô trách nhiệm của người dân hậu phương và chính sách con buôn của đồng minh Mỹ." Sau này qua các tài liệu được giải mật, chúng ta mới thấy rõ chủ đích của Kissinger khi soạn thảo hiệp định tháng 1-1973. Như lời Chu Ấn Lai đã nói với đại sứ Pháp tại Bắc Kinh Etienne Manach vào đầu năm 1973 rằng "hiệp định Paris tháng 1-1973 có mục đích chống lại bá quyền của CSVN tại Ðông Dương". Chính TC đã đòi hỏi Kissinger phải tạo điều khoản 20 trong hiệp định, là phải rút hết quân ngoại quốc ra khỏi lảnh thổ Lào và Kampuchia. Trong lúc đó Mỹ lại nhượng bộ, để bộ đội Bắc Việt ở lại Nam VN. Trung Cộng còn thọc gậy bánh xe gây chia rẽ nội bộ giữa Bắc Việt và cái gọi là Mặt Trận GPMN bằng cách trực tiếp viện trợ quân trang dụng và tiền cho Mặt Trận qua ngã Cao Mên vì từ đầu năm 1968, tình đồng chí giữa Tàu đỏ và Hà Nội đã rạn nứt. Và đó là lý do trong trận tổng công kích Tết Mậu Thân (1968), Bắc Bộ Phủ đã tìm đủ mọi cách nướng hết VC miền Nam và lùa chuột ra khỏi hang ổ, để Mỹ và QLVNCH tiêu diệt. Sau đó mới đem cán binh miền Bắc vào thay thế để nắm trọn quyền chủ động trong cuộc chiến xâm lược. Cuối cùng sự kiện CSVN từ sau tháng 5-1975 qua Lê Duẩn, đã liên hệ chặt chẽ với Liên Xô lúc đó là kẻ thù không đội trời chung với Tàu đỏ, tạo ra mối đe dọa trực tiếp mà Bắc Kinh chưa hề nghĩ tới từ năm 1949-1975. Năm 1972 Mao nối được liên hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, tạm thời bới được mối lo Mỹ lăm le nhảy vào Châu Á. Cuối năm 1978 trước khi xua quân xâm lược VN, Ðặng Tiểu Bình đã sang Hoa Thịnh Ðốn thỉnh ý "thiên triều" sau đó mới quyết định dẹp "con chồn CSVN" qua trận chiến biên giới Việt-Hoa ngày 17-2-1979, để bẻ bớt nanh vuốt của con gấu Nga luôn đe dọa biên giới phía đông-đông bắc của nước Tàu. Trong giòng lịch sử dựng và giữ nước, dân tộc Việt chỉ được yên ổn khi Trung Hoa bị suy yếu vì nội loạn và sự đe dọa của các dân tộc ở phía Bắc. Hằng ngàn năm qua, tư tưởng bảo thủ của Tàu chẳng có gì thay đổi, nhất là trong giai đoạn hiện tại, nước Tàu đang hùng mạnh giàu có, nên luôn nuôi mộng ảo bá chủ thế giới, mà VN là nạn nhân đầu tiên bị xóa tên trên bản đồ thế giới khi chiến tranh bùng nổ. 2 -Toàn Cảnh Bức Tranh Bán Nước Cho Giặc Tàu Của Cộng Ðảng VN Từ 1986-2009 : Do những điều kiện nghiệt ngã về địa dư và lịch sử, mà bao đời VN vẫn coi việc chống giặc Tàu như một thứ tôn giáo trong nhân sinh quan của người Việt. Có thể nói nước Việt tồn tại bao nhiêu năm cũng là bấy nhiêu năm đấu tranh máu lệ với giặc Tàu để giành giựt sự sinh tồn. Chiến tranh đối với dân tộc Việt là cuộc đổ máu vì lý tưởng và bổn phận. Chiến tranh là cơ hội để tồn vong trước sự xâm lược của ngoại bang. Nên đối với giặc Tàu chỉ có chiến tranh "ăn miếng trả miếng" mới làm chúng chùm bước xâm lược VN như lịch sử đã minh chứng. Ðại Ðế Quang Trung sau khi đánh đuổi mấy chục vạn quân Thanh ra khỏi bờ cõi Việt vào mùa xuân năm Ất Dậu (1789) đã viết thư gửi vua Càn Long với đại ý "sử dụng binh đao vốn là điều bất đắc dĩ của thánh hiền" cho thấy người Việt không phải là một dân tộc hiếu chiến hiếu sát. Vì vậy dù "vẫn sặn sàng đánh trả nhưng khi thắng trận đã muốn cầu hoà" chứng tỏ tinh thần hiếu hiền tự chế của người Việt, thắng không vênh váo kiêu căng, còn bại không hèn hạ cúi đầu khuất phục trước kẻ thù. Nhưng CSVN thì trái lại chỉ biết "khôn nhà dại chợ", chỉ biết giết hại đồng bào để tranh quyền đoạt lợi. Ðến khi non nước nguy biến trước sự xâm lược của ngoại bang, thì cả lũ lớn bé lại kéo sang Tàu, để dâng đất bán biển cho kẻ thù. Tất cả toàn cảnh bức tranh "bán nước" của bè nhóm lãnh đạo VC sau bức màn nhung đẳm máu, giờ đã được phơi bày trước sự khinh bỉ của cả thế giới và người dân trong ngoài nước. Sự kiện Lê Khả Phiêu khoe giàu sang tột đỉnh hay VC xây mồ yên mã đẹp và ca tụng công đức của giặc Tàu hoặc hành động điên rồ của Nguyễn tấn Dũng khi công khai cỏng giặc Tàu vào tận miền Nam Cao nguyên Trung Phần, đã minh chứng giờ thứ 25 của những con thú điên cố vùng vẫy gở gạc trước khi đền tội. Sau khi Lê Duẫn chết, dù phe đảng của Lê Ðức Thọ đang mạnh nhưng vì lúc đó đảng cần phải quay lại với Trung Cộng để sống còn. Bởi vậy Trường Chinh thuộc phe thân Tàu, được tạm thời làm tổng bí thư thay Duẫn vào ngày 14-7-1986 theo lệnh của Nga Sô. Tháng 12-1986 đại hội VI được triệu tập, bầu Nguyễn Văn Linh (Mười Cúc) làm tổng bí thư, Phạm Hùng là thủ tướng (Kiệt thay khi Hùng chết năm 1987 sau đó là Ðỗ Mười từ tháng 6-1888) và Võ Chí Công chủ tịch nhà nước. Riêng Chinh, Ðồng và Lê Ðức Thọ đều về hưu nhưng vẫn giự chức "cố vấn tối cao" trong đảng và bộ chính trị, còn Lê Ðức Anh làm bộ trưởng quốc phòng. Năm 1989 TC tàn sát dã man sinh viên và đồng bào tại Thiên An Môn được coi như kim chỉ nam để đảng CSVN rập khuông theo đường lối cứng rắn và đàn áp chính trị. Từ đây các chóp bu trong đảng quyết tâm bằng mọi cách kể cả "nhường đất bán biển, chấp thuận Hán hóa, mở khẩu xoá làn ranh biên giới cho giặc" để được trở lại làm chư hầu cho Tàu đỏ. Và để chứng minh sự thành tâm sám hối, trong đại hội VI 1986, đảng đã nghị quyết "đổi mới tư duy" là việc ra lệnh bỏ câu "Trung Cộng là kẻ thù trực tiếp và là kẻ thù nguy hiểm nhất" trong lời mở đầu của Ðiều Lệ Ðảng. Dịp này, các tên giáo gian và nằm vùng tại VNCH trước tháng 5-1975 như Phan Khắc từ, Thích Minh Châu, mụ Ngô Bá Thành được đảng cho vào làm nghị gật tại quốc hội bù nhìn. Còn Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn thị Ðịnh cũng được mang hàm phó chủ tịch nhà nước ngồi chơi xơi nước, không khác gì những hình nộm, mặt nạ hay các món trang sức rẽ mạt. Ðại hội VI (1986-1991) ngoài thành tích đổi mới kinh tế theo định hướng XHCH để tạo thêm đặc quyền đặc lợi cho cán bộ, bộ đội, công an và tư bản đỏ làm giàu thêm nhờ than nhũng và ăn cắp của công. Tháng 7-1987 hội nghị trung ương đảng họp và ban hành nghị quyết số 2 cấm 'QUÂN ÐỘI NHÂN DÂN VN KHÔNG ÐƯỢC ÐỤNG CHẠM VỚI QUÂN TÀU ÐỎ'. Lệnh này được giữ kín mãi tới ngày 28-1-1990 báo Nhân Dân mới đăng tải. Từ năm 1988, tình đồng chí giữa VC và Nga Sô, Ðông Âu càng trở nên khó khăn vì tiền viện trợ đã bị cắt giảm. Trong lúc cuộc đổi mới kinh tế mới vừa chập chững, mức sản xuất lương thực trì trệ khiến nạn thất nghiệp càng gia tăng vì Hà Nội cắt giảm quân số. Thừa nước đục thả câu, Tàu đỏ đánh bồi thêm để cho VC phải quì gối cúi đầu xin xỏ làm đầy tớ cho chúng. Từ 14-16/3/1988 Tàu đỏ tấn chiếm đảo Fiery Cross trong quần đảo Trường Sa đang thuộc chủ quyền VN. Trận hải chiến đã khiến cho 77 bộ đội chết thảm, trước sự bất lực của đảng và không một lời phản ứng của Nga Sô cũng như LHQ. Sau vụ thảm sát Thiên An Môn 1989, Tàu đỏ bị cả thế giới lên án nặng nề, do đó mới chịu quay lưng nhận lại thằng đầy tớ phản chủ lật lọng là CSVN. Tình hình khối XHCH càng biến động thảm thê vào những tháng cuối 1989-1990 qua sự tan rã của CS Ðông Âu, Ðông Ðức và đế quốc Sô Viết. Hầu hết những tên đầu sỏ khát máu độc tài bán nước hại dân như Honecker (Ðông Ðức), Husack (Tiệp Khắc), Ceauscescu (Lỗ Mã Ni) .. kẻ vào tù, người bị treo cổ đền tội. Những biến cố chết người kể trên làm giao động hốt hoảng tới đứng tim bọn chóp bu lớn nhỏ trong đảng VC, nên đảng đã họp khẩn ngày 10-4-1990 với Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh, Ðào DuyTùng, Ðồng Sĩ Nguyên.. đều nhất trí kết tội Mỹ đã gây ra "diễn biến Hòa bình" làm sụp đổ Ðông Âu, Ðông Ðức và Sô Viết. Do đó đảng nghị quyết về nhu cầu cấp bách phải 'THEO TÀU' để cứu nguy cho XHCN, bất chấp những lời khuyến cáo như "TC chỉ lấy lợi ích của dân tộc mình là chính, chứ chẳng bao giờ thèm nghĩ tới tình đồng chí XHCN". Bởi vậy dù VN có muốn hòa hoãn thì chỉ là ảo tưởng mà thôi, đối với một láng giềng trước sau chỉ muốn tiêu diệt dân tộc Việt . Tóm lại dù Tàu đỏ đã thẳng tay tàn sát cũng như tàn phá đất nước VN trong trận chiến biên giới Việt-Hoa ngày 17-2-1979 và liên tiếp những năm sau đó. Tại Biển Ðông, TC cướp chiếm Hoàng Sa và nhiều đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa của VN qua trận hải chiến năm 1988. Nhưng mai mĩa thay khi Lê Ðức Anh được cử làm bộ trưởng quốc phòng tại tại hội VI, đã đem "quân đội nhân dân VC" đầu hàng Tàu đỏ, mặc dù lúc đó sự giao hảo giữa hai nước vẫn chưa thông. Anh còn bắt xuất bản cuốn từ điển Việt-Hoa để bộ đội ' cu' học . Trong lúc Tàu đỏ gặp nhiều khó khăn quốc tế sau vụ tàn sát Thiên An Môn, các chóp bu VC đã không biết vin vào thời cơ này để lấy lại thế quân bình ngoại giao và uy tín của quốc gia. Trái lại bọn đầu lãnh già nua bảo thủ tại Bắc Bộ Phủ lúc đó như Linh, Mười, Anh.. chỉ biết cúi đầu tuân phục giặc để được chủ cũ sớm cho làm đầy tớ trở lại. Vì thế vào ngày 29-8-1990 Linh và Mười, kể cả Phạm Văn Ðồng, đã ngoan ngoãn từ Hà Nội sang Thành Ðô để gặp Giang Trạch Dân và Lý Bằng nhận lệnh của thiên triều. Rốt cục đại hội đảng CS lần thứ VI vào năm 1986, được đảng coi như là một cột mốc lịch sử của cuộc "đổi mới". Vì trong thời gian này, đảng đã mất cái nôi "cách mạng tháng mười (Nga)" nhưng cũng may còn lại ánh sáng mặt trời của "đông phương hồng (Tàu đỏ)" là một trong bốn nước còn sót lại theo chủ nghĩa cộng sản. Ðó là lý do từ năm 1989 -2009, CSVN về đối ngoại coi TC như chủ mới thay Nga để nương dựa. Về trị nước, đảng lại góp nhặt tất cả những tàn dư vàng ngọc của Mao, Ðặng, Giang Trạch Dân qua những kinh nghiệp đàn áp chính trị nhưng cởi mở kinh tế để làm giàu đảng. Và đó cũng là lý do trong đại hội đảng VII (1991-1996) đã bầu Ðỗ Mười (tổng bí thư), Lê Ðức Anh (chủ tịch nhà nước), Võ Văn Kiệt (Thủ tướng) , Ðoàn Khuê (bộ trưởng quốc phòng).. toàn là thành phần chủ trương "đầu hang giặc Tàu".Thời gian này, CSVN đã rút quân khỏi Kampuchia về nước và cho giải ngũ gần nữa triệu người gây nên cảnh thất nghiệp. Thêm vào đó viện trợ của Nga Sô, Ðông Âu, Ðông Ðức cũng không còn kể cả chuyện "xuất khẩu lao động". Giai đoạn này Lê Ðức Anh đã cũng cố được phe nhóm trong đảng và bộ chính trị, đầy Giáp ra rìa và còn viết sách làm phim bôi bác, phổ biến rộng rãi trong quân đội. Cũng từ đại hội đảng 1991, quân đội VN dưới sự thao túng của Anh và Ðoàn Khuê (bộ trưởng quốc phòng) chỉ còn biết làm kinh tế và đàu hàng tùng phục Trung Cộng. Dĩ nhiên Tàu đỏ đâu có bỏ lỡ cơ hội vàng ròng trước sự hèn nhát "khôn nhà dại chợ" của cái gọi là quân đội nhân dân, nên càng lúc càng lấn áp bắt chẹt VN, để lấn chiếm dần mòn lãnh thổ từ biên giới ra tận hải đảo, qua sự đồng thuận hồ hởi phấn khởi của đám việt gian ngụy quyền Hà Nội. Bức tranh bán nước cho Tàu do tập đoàn Anh, Mười chủ động, khởi đầu vào ngày 15-2-1992, TC công bố luật lãnh hải của chúng, bao gồm gần hết biển Ðông và răn đe sẽ sử dụng vũ lực kể cả bom nguyên tử nếu ai dám vi phạm chủ quyền (?) của chúng. Nói và làm ngay nên TC xua hải quân chiếm đảo Ba Ðầu trong quần đảo Trường Sa của VN, còn hổn xược cảnh cáo bọn chóp bu nếu "lộn xộn" sẽ không cho làm đầy tớ nữa. Rồi để dằn mặt thêm bọn "việt gian bán nước", Giang Trạch Dân đã chơi xỏ Nguyễn Văn Linh khi sang chầu thiên triều tại Bắc Kinh vào ngày 8-5-1982, đã cùng với hảng thầu Crestone của Hoa Kỳ, để khai thác dầu khí trong vùng đảo Tu Chính đang tranh chấp giữa hai nước. Trước nhục nước, Linh đã hèn nhát cúi đầu mà còn đời đời cám ơn giặc. Tiếp theo ngày 27-5-1992 TC tự ý dời cột mốc biên giới tại Ải Nam Quan, sâu vào lảnh thổ VN hơn nữa cây số. Tháng 7-1992 TC chiếm đảo Ða Lạc thuộc quần đảo Trường Sa. Tóm lại chỉ trong năm 1992, TC đã dời 142 cộc trong tổng số 314 cộc, lấn sâu vào đất Việt hơn 500m. Trước hành động xâm lăng ngang ngược của kẻ thù truyền kiếp Tàu đỏ, thay vì phải ngăn chống tới cùng nhưng đám chóp bu đảng già nua bảo thủ đang nắm quyền đã hèn hạ chấp nhận và tuyên bố "vì Tàu đỏ là một nước XHCN nên đảng ta phải hy sinh vì tình đồng chí, cho dù có bán nước cho giặc". Nhưng hành động cướp giựt công khai đất Việt của Tàu đỏ, đã làm cho các nước ASEAN lẫn Hoa Kỳ lên tiếng phản đối kịch liệt. Nhờ vậy mà Tàu đỏ chùm bước , rút giàn khoan về nước và thả hai thương thuyền của VN bị giam tại Hồng Kông. Từ đại hội đảng VIII (1996-2001) CSVN rập theo khuôn mẫu của Tàu đỏ, do Ðổ Mười và Lê Ðức Anh chủ xướng và lựa chọn ba tên đầu sỏ trong đảng gồm Lê Khả Phiêu (tổng bí thu thế Ðổ Mười), Trần Ðức Lương (chủ tịch nhà nước thế Lê Ðức Anh) và Phan văn Khải (thủ tướng thay Võ Văn Kiệt) còn bộ ba Mười, Anh , Kiệt về hưu nhưng vẫn chức thái thượng hoàng. Nguyễn tấn Dũng cũng được bầu vào ủy viên bộ chính trị, phó thủ tướng đặc trách kinh tế kiêm thống đốc ngân hàng. Tháng 2-1999 với tư cách tổng bí thư, Lê Khả Phiêu sang chầu thiên triều, nối lại tình đồng chí giữa hai đảng càng thêm thắm thiết. Tiếp theo Phạm Thế Duyệt, Nguyễn tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết, Lê Minh Hương, Nguyễn Ðức Bình, Nông Ðức Mạnh, Phan Văn Khải.. cũng sang Tàu để nhận chỉ thị. Ðầu tháng 12-1999 thủ tướng TC Chu Dung Cơ sang kinh lý VN. Ngày 30-12-1999 thỏa hiệp đưòng ranh biên giới Việt-Hoa được ký kết bởi Nguyễn Mạnh Cầm (VC) và Ðường Gia truyền (TC). Nhờ hành động nhượng bộ bán nước trong vụ này (trên bộ lẫn dưới biển), mà Lê Khả Phiêu đã trở thành một trong những tỷ phú đỏ VN như báo chí mới phanh phui vào tháng 2-2009. Năm 1997 kể từ tháng 5-1975, Hoa Kỳ có toà đại sứ tại Hà Nội và nữ ngoại trưởng thời Tổng thống Bill Clinton là Madelein Albright sang thăm VN. Vì lý do này mà Tàu đỏ đã trả đủa VC bằng cách tự đem dàn khoan dầu Kantan III và hai chiếc tàu thăm dò số 206,208 tới lảnh hải của VN tại vịnh Bắc Việt để tìm dầu. Lần nữa, các nước ASEAN lại lên tiếng phản đối, nhất là tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương vào ngày 22-3-1997 tới thăm VN. Thấy vậy Tàu đó mới chịu kéo dàn khoan về nước. Tuy nhiên báo chí trong nước đã bị đảng ra lệnh cấm không đuợc đăng tin trên, vì sợ chạm tới tự ái của Tàu. Ðã thế bọn chóp bu đảng Ðỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Phạm Thế Duyệt.. còn ngăn cản không cho ký "thỏa hiệp thương mại song phương Mỹ-Việt (BTA)" vì lúc đó Tàu đỏ cũng đang chờ ký kết với Mỹ để được vao WTO năm 2001. Tóm lại suốt thời gian Phiêu làm tổng bí thư (1997-2001) đã cắt đất nhượng biển ký ban một phần lãnh thổ cho TC. Tháng 11-2000 Clinton sang thăm VN, đã bị Lê Khả Phiêu lên án chủ nghĩa đế quốc và khoe khoang thành tích bách chiến của XHCN với mục đích nịnh bợ Tàu đỏ. Khắp nuớc đã có nhiều cuộc xuống đường của dân chúng như tại Thái Bình, Ðồng Nai, Cao nguyên Trung Phần.. phản đối và chống lại sự hà khắc, cướp bốc, tham nhũng kể cả hành động bán nước cho giặc Tàu của tập đoàn CSVN qua Lê Khả Phiêu, Ðổ Mười, Lê Ðức Anh, Trần Ðức Lương. Trong nội bộ đảng thì các phe nhóm của Mười-Anh và Phiêu cắn xé nhau dành chức tước trong kỳ đại hội đảng đảng IX (2001-2006) đang khai diễn. Từ năm 1986-2001, sau khi đế quốc Nga Sô và khối Ðông Âu sụp đổ. Ðể sống còn, CSVN đã đầu hàng TC và rước các nước tư bản vào cứu nguy đảng bằng cách đem đất đai, tài nguyên và đồng bào VN thế chấp bán buôn qua cái gọi là đổi mới "kinh tế thị trường". Nhưng phải đợi cho tới khi Lê Khả Phiêu làm tổng bí thư đảng có Ðỗ Mười và Lê Ðức Anh cố vấn, VN mới chính thức trở thành một quân huyện của Tàu đỏ, non sông bị cắt xén nhượng bán cho giặc, chẳng những tại biên giới mà còn mất nhiều trên vùng lãnh hải và nhiều đảo lớn nhỏ trong biển Ðông. Lê Khả Phiêu, Ðỗ Mười, Lê Ðức Anh, Trần Ðức Lương, Nguyễn Minh Triết, Phan Văn Khải .. đã vì lợi mà nhắm mắt, phó mặc cho TC lần hồi Hán Hóa dân tộc VN qua sách báo, văn hóa, nghệ thuật. Cuối cùng con rơi của Hồ Chí Minh qua sự cưởng dâm Nông Thị Xuân là Nông Ðức Mạnh (gốc Mán ở thượng du Bắc Việt) qua hậu thuẩn của Mười, Anh và chỉ của TC, nên được cho làm tổng bí thư. Còn Phan Văn Khải lưu nhiệm thủ tướng và Nguyễn Minh Triết (Tàu sinh tại Bình Dương) thế Lương làm chủ tịch nhà nước. Kỳ này những thành phần "thân Tàu hay dễ dạy" như Nguyễn tấn Dũng, Lê Minh Hương, Nguyễn Phú Trong.. đều được ở lại bộ chính trị để tiếp tục tìm đủ mọi cách bán nước cho Tàu. Ðại hội kỳ này vẫn độc tài độc đảng, vẫn thì hành nghị quyết 31/CP do Võ Văn Kiệt ký, cho phép việc muốn bỏ tù ai cứ bỏ tù khỏi cần xét xử , nhất là đối với những người trong nước đang đấu tranh đòi tự do dân chủ và nhân quyền cho VN như Hòa Thương Thích Quảng Ðộ, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, các nhân sĩ Nguyễn Ðình Huy, Bùi Minh Quốc, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình.. Tháng 6-2005 Phan Văn Khải sang chầu Tổng thống W.Bush tại bạch cung để ký kết việc ban buôn giữa hai nước. Sau đó Khải tới Côn Minh để phúc trình với Ôn Gia Bảo kết quả thu lượm được trong chuyến đi vừa qua. Ðồng thời ký với TC và Phi Luật Tân hiệp ước "cùng hợp tác khai thác dầu trong vùng lảnh hải chủ quyền của VN tại Trường Sa." Có ký bán lảnh thổ nước Việt cho Tàu như vậy, không trách gì toàn bộ chóp bu lảnh đạo đảng CSVN ai cũng trở thành tỷ phú đỏ, trong đó đâu thiếu Phan Văn Khải đã làm thủ tướng VC hai nhiệm kỳ. Tháng 12-2005 hoàng đế đỏ Giang Trạch Dân sang kinh lý Huyện VN để xoa dịu lòng căm phẩn của toàn dân nước Việt đang sôi sục trước sự chiếm dần lảnh thổ, lãnh hải VN của giặc Tàu và sát hại đồng bào đang hành nghề đánh cá trong hải phận nước mình vào tháng 8-2002 và ngày 9-1-2005. Ðó cũng là trò bịp lấy vải thưa che mắt thánh của Tàu đỏ vì nếu VC không chịu bán nước cho giặc, thì làm sao TC có được một phần lãnh thổ của VN như ngày nay ? Ngày 26-4-2006 kết thúc cuộc bầu bán dại hội X (2006-2011) với kết quả: con rơi HCM là Nông Ðức Mạnh vẫn làm tổng bí thư, Nguyễn Minh Triết (Tàu Bình Dương) chủ tịch nước và Nguyễn Tấn Dũng xuất thân từ du kích Cà Mau làm thủ tướng, Nguyễn Phú Trọng chủ tịch quốc hội gật và Phạm Văn Trà bộ trưởng quốc phòng. Theo các tài liệu hiện hành cho biết lý lịch của Nguyễn Tấn Dũng rất mù mờ nhất là về người cha vô danh nhưng là một cán bộ cao cấp của đảng, vào Nam hoạt động. Nhờ câu chuyện bịa này mà Dũng từ một du kích đuợc đi học quân y trở thành y tá và leo lên chức chính ủy cấp trung đoàn của VC tại tỉnh An Xuyên (Cà Mâu). Sau tháng 5-1975, Dũng leo lên chức tỉnh ủy Kiên Giang rồi thứ trưởng công an cho Bùi Thiện Ngộ (1995-1996). Chính Dũng đã gài bẩy để bắt nhóm phục quốc Trần Văn Bá và tổ chức cho người Tàu tại Rạch Giá "vượt biên bán chính thức" hốt vàng đô la làm giàu. Năm 1996 Dũng được vào bộ chính trị thay Nguyễn Hà Phan làm trưởng ban kinh tế. Cũng theo sự tiết lộ từ sau bức màn máu, thì trước khi bầu bán đại hội X, chính thủ tướng Tàu đỏ là Ôn Gia Bảo đã sang VN chỉ thị cho đảng phải cho Dũng làm thủ tướng. Vì vậy chẳng ai ngạc nhiên về sự Dũng "bán nước Việt" cho giặc Tàu để đền ơn đáp nghĩa chủ. Do đó ngày 15-11-2006 Dũng sang Bắc Kinh chầu để nhận lệnh mở cửa cho Tàu vào VN qua hai ngỏ "Côn Minh-Lào Kai-Hà Nội" và "Nam Ninh-Lạng Sơn-Hà Nội" cùng toàn bộ bờ biển Bắc Việt. Cùng lúc Dũng gặp Ôn Gia Bảo, thì Nông Ðức Mạng cũng tới triều kiến hoàng đế Hồ Cẩm Ðào vào tháng 8-2006 để nâng quan hệ đồng chí giữa hai đảng thêm thắm nồng. Tóm lại thành tích đáng bia xanh của Nguyễn Tấn Dũng qua thời gian làm thủ tướng VC từ 2006-2/2009 là phục vụ quyền lợi cho chủ là TC. Bằng chứng "bán nước" rõ ràng nhất của Dũng là "Ký hoàn tất việc cấm mốc biên giới Việt-Trung" vào ngày 31-12-2009, để nhượng bán cho giặc Tàu một phần lảnh thổ của đất nước, trong đó có nhiều vị trí chiến lược quan trọng cũng như các di tích ngàn đời của dân tộc như Ải Nam Quan, Núi Ðất, Thác Bản Giốc, Bãi Tục Lãm.. Ngoài ra còn có hải phận Vịnh Bắc Việt, các đảo lớn nhỏ trong hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dũng và đồng bọn Mạnh, Triết, Trọng.. giống như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Ðồng ngày trước, bất chấp sự ta thán, oán hờn, căm thù và sôi sục máu, trước nỗi lầm than của đồng bào, nhục hèn bán nước cho giặc. Còn điều gì gục mặt cúi đầu cho bằng nổi hận khi cả nước bất lực đứng nhìn CSVN và Giặc Tàu xâm lăng mở tiệc ăn mừng chiến thắng "cắm mốc chiếm đất" qua công lao của Lê Khả Phiêu và Nguyễn Tấn Dũng. Ðảng CSVN ngoài sự bất lực khi nắm quyền hành trong tay mà không bảo vệ nổi sự vẹn toàn lảnh thổ cho non nước. Ðã thế đảng còn hèn hạ tới mức cuối cùng khi lên tiếng ca tụng "thành tích sát hại đồng bào Việt và tàn phá thành bình địa 6 tỉnh miền Thượng Du Bắc Việt trong trận chiến biên giới Viêt Hoa ngày 17-2-1979 của giặc Tàu". Nhưng quan trọng nhất là sự kiện Dũng đã ký lệnh "cấm báo chí trong nước không được bàn ra tán vào vụ Trung Cộng tới Quảng Ðức, Lâm Ðồng, Phước Long để khai thác quặng Bau-Xít". Ngày 13-1-2009 Dũng đã ký thông báo số 17/TB-VPCP cho Tàu đỏ được thăm dò, khai thác bauxite dùng luyện alumin và nhôm. Ngay khi tin tức trên bị xì hợi ra ngoài, lập tức Dũng đã bị dư luận cả trong và ngoài nước cực lực lên án phản đối với hai lý do "tổn hại môi trường, giết chết sông Ðồng Nai và trên hết rước giặc Tàu vào nội địa VN". Thế nhưng lẽ phải và quyền lực ở trên đầu súng. Nên chỉ khi nào đảng CSVN bị tiêu diệt, chừng đó đất nước mới có hy vọng đứng dậy chống Tàu để sống còn. Mường Giang |
|