Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Hai 2026
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 13
 Lượt truy cập: 28526069

 
Góc thư giãn 01.02.2026 22:33
Nguyên Nhân & Những hệ lụy của cuộc chiến 1954-1975: Cũng vì VC cho nên nỗi nầy!
08.11.2009 23:49

A. Mục đích của cuộc chiến.

Qua các tài liệu liên hệ giữa Việt cộng và Trung cộng đã được phía Trung cộng tiết lộ, ngày nay, mọi người đã nhìn ra cái mặt thật làm tay sai bán nước của Hồ chí Minh và tập đoàn Việt cộng. Ngoài việc Hồ chỉ thị Phạm văn Đồng ký công hàm năm 1958 để biểu lộ tinh thần nô lệ với chủ nhân Tàu. Hồ còn dã tâm lớn, đẩy cả nước vào cuộc chiến tranh nhằm hai mục tiêu: thứ nhất, tiêu diệt tiềm năng phát triển về Dân Trí và Độc Lập cũa dân Tộc Việt. Thứ hai, mỡ rộng biên giới cho cộng sản xuống vùng Dông Nam

1. Tiêu diệt tiềm năng phát triển về Dân Trí và độc Lập

Với Hồ, thành phần có học, có nhận thức về chủ nghĩa độc lập, có trình độ lịch sử, hoặc đã trướng thành trước mùa 1954 không thể đem lại lợi ích cho xã hội chủ nghĩa. Đơn giản là thành phần này đã tiếp cận với cuộc sống của những môi trường trước đây. Họ có ý thức, biét làm cuộc xo sánh. Đặc biệt, khi được học về lịch sử dân tộc một cách đứng đắn, họ biết cái hiểm họa xâm lăng của Trung Quốc, họ không quên mối thù của ngàn năm đô hộ xưa. Như thế, thành phần này rất khó chấp nhận sự hiện diện của tàu trên nhiều mặt khi xuất hiện tại Việt Nam. Nên có để lại thì cũng chỉ để lại mối họa hay là tiếp tay cho cái họa mà thôi. Theo đó, nếu có chíến tranh, dĩ nhiên thành phần đã trưởng thành phải tham gia đi đầu. Thành công hay thất bại chưa luận đến và ngày lớp tuổi này trở về cũng không cần phải lo. Vì có trở về số lượng cũng giảm đi nhiều. Khi đó nhà nước xã hội đã mạnh và sẽ nương tựa vào lớp tuổi còn cắp sách đên trường hay sinh vào cái thời 1945 và mới được đào tạo mà thôi.

Bằng chứng cho mưu tính này của Hồ là khá rõ ràng. Sau cuộc đại đấu tố “Trí Phú Địa Hào” với khẩu hiệu “đào tận gôc, trốc tận rễ” được hai đại văn nô Tố Hữu và Xuân Diệu cổ võ là “ giết, giết, giết, những bàn tay không ngừng nghỉ, tố hữu” “ Hãy lôi đầu chúng ra đây mà đấu tố, xuân diệu” là chiến dịch “ trăm hoa đua nở” nhằm tiêu diệt cho bằng hết những thành phần dân trí có tư tưởng độc lập của Việt Nam ( có còn lại thì cũng chỉ là những xu nịnh kiếm sống mà thôi). Trong đợt này có những nhà trí thức khoa bảng, nhà văn, nhà báo như Phùng Cung, Nguyễn mạnh Tường, Văn Cao, Nguyễn hữu Đang… dã phải chấp nhận hẩm hiu cho đến hết đời.

Không ngờ, chuyện thâm độc của Hồ chí Minh lại gặp thời khi chiến tranh mở rộng. Nó đã giúp vốn cho Hồ chí Minh và Việt cộng không những chĩ nướng bớt đi thành phần đã trưởng thành trước mùa đấu tố. Đã thế còn biến những bản tin tuyên truyền láo lếu của cộng thành sức mạnh, khả dĩ huy động toàn dân miền bắc lao vào cuộc chiến chống Mỹ cứu nước. Đó lả bước thành công khá bất ngờ của Hồ trong mưu toan tiêu diệt tiềm năng Dân Trí và Độc lập của người Việt Nam.

Khi lao đầu vào cuộc chiến mở đường cho Tàu xâm lược miền nam, Hà Nội đã không còn đủ nhân sự phục vụ trong các ngành sản xuất thực phẩm và nhu yếu phẩm, khiến toàn thể đất bắc đã rơi vào trong cơn cùng khốn, làm cho nền kinh tế hoàn toàn bị kiệt quệ. Dân chúng không có đủ lương thực và các mặt hàng cần dùng như may mặc. Để giải quyết nỗi khó khăn này, Việt cộng thay vì ngưng chiến tranh để quay về sản xuất, chúng lại bóc lột thêm sức lao động của người dân trên đất bắc bằng một chiến dịch tuyên truyền ghê tởm: “Hạt gạo cắn làm tư, một phần giữ lại, một phần nuôi quân, phần viện trợ cho các nước anh em Lào, Cam pu chia và một phần chi viện vào nam để nuôi đồng bào đói khổ”.

Cuộc tuyên truyền sảo trá này ra rả hết ngày sang tháng, hết tháng sang năm, ngưòi dân không có bất cứ một phương tiện nào khác để tìm hiểu sự thật. Kết qủa là sau này người ta đã kể lại cái đoạn cuối ra nước mắt ấy như sau:

“ Bây giờ nghĩ lại, chúng em thấy không hiểu tại sao thời ấy cả miền bắc lại ngu ngốc đến như thế. Phần chúng em còn trẻ thì không nói làm gì, khi vào lớp chỉ nghe thầy cô bảo là trong nam vô cùng đói khổ vì bọn Mỹ xâm lược. Người dân nhiều khi phải ăn cả lá cỏ như nạn đói ở ngoài bắc vào năm 1945. Đã thế, không có vải che thân, phải lấy những túi bóng (ý nói những túi nylong để đựng đồ đi chợ) mà quấn vào người thay quần áo. Các em ở đây, tuy có khó khăn, có ăn ít hơn một tý, nhưng vẫn có cơm gạo, có bác và đảng chăm lo, bảo vệ cho đời sống, nên đời sống còn sung sướng và hạnh phúc gấp trăm ngàn lần đồng bào ta ở trong nam. Nên chúng ta phải nhất trí thi đua, phải hoàn thành chiến dịch một chén gạo cho đồng bào ruột thịt miền nam như bác đã đề ra… Nghe thế là chúng em tin ngay, cả lớp òa lên khóc, rối bảo nhau về nhà vận động không được thì lấy trộm gạo đem vào lớp để mà hoàn thành kế hoạch nuôi quân và cứu đói miền nam.”

“Anh biết rồi đấy, gạo thì nhà nào có hộ khẩu thì được mua theo tiêu chuẩn người lớn, trước là bẩy ký, sau còn có năm, còn trẻ em thì 3 ký. Gạo bán theo tiêu chuẩn như thế, dĩ nhiên là phải ăn đói, nhưng chúng em vẫn cứ nghe cô thầy nói, về nhà lấy trộm gạo đem vào lớp gởi cho qũy cứu đói miền nam.” Người kể là một học sinh lớp tám vào niên khoá 74-75 tại trường trung học phổ thông tại Hà Nội. cô đã đi vượt biên năm 81 và đang định cư ợ hải ngoại.

“Đến sau ngày giải phóng, chí có mấy hôm thôi, cả trường chúng em xôn sao lên vì bản tin ở chợ Đống Đa có bán gạo từ trong nam mang ra. Giời ơi, chúng em, đến giở nghỉ, bỏ trường, chen lấn nhau vào hàng gạo để nhìn xem, Cả thầy, cả cô rồi mọi người đều kinh ngạc, mỏ toét cả mắt ra mà nhìn những hạt gạo dài, đầy đặn, trằng phau để trong những cái bao lớn. Thật tình là cả đời chúng em ở ngoài bắc chưa bao giờ nom thấy những hạt gạo trắng như thế. Có người nhanh chân mua chui sớm được vài ký. Nhưng ngay buổi chiều thì công an đến thu hết. Họ bảo, gạo của ngụy trong nam để lại có tẩm thuốc độc, nhà nước phải đem về điều tra xử lý. Gời ơi, chỉ có nói phét thôi anh ạ. Chúng cướp về chia nhau mà ăn đấy. Riêng bà bán gạo thì được đi cải tạo cả mấy tháng sau mới tha về. Rồi ít lâu sau thì đến cán bộ nhớn nhỏ, chở từng xe cam nhông hàng lấy ở miền nam ra. Nào là tivi, tủ lânh, máy quạt, đài, cho đến bàn ghế, giường tủ, không thiếu một thứ gì. Ai nhìn thấy cũng lấy làm lạ, xầm xỉ hỏi nhau xem nó là cái gì. Mà có ai biết nó là cái gì đâu. Dễ thường cả đời chưa nhìn thấy lần nào thì làm sao mà biết nó là cái gì! Khi đi xem về rồi mọi người đều bảo nhau. Gỉỏi , gìoi thật, chúng nó nói láo gỉỏi thật! Vậy mà bảo rằng hạt gạo cắn làm tư và người trong ấy phải lấy túi giấy bóng mà mậc thay quần áo!” *

* ( Chuyện người trong nam phải lấy túi bóng che thân là do tác giả “ vang bóng một thời” Nguyễn Tuân sáng tác ra đấy. Nhưng sau này, Nguyễn Tuân vào nam, mắt mở toét ra mà nhìn hàng vải cao cấp dệt bằng sợi nylông ở trong nam là gi? Tuân biết sư thật, nhưng không có liêm sỷ đẽ nói lên một lời tạ lỗi. Mả nào có riêng một Nguyễn Tuân láo lếu đâu! Bọn Dương thu Hương, Nguyễn Mạnh Hảo, bon văn nô cho cộng thì cũng một phường!

2. Giải toả áp lực chết chóc và phẫn uất của toàn thể nhân dân miền bắc sau mùa đấu tố.

Sau cuộc phóng tay mở mùa đấu tố và giết hàng trăm ngàn đồng bào miền bắc, và hàng trăm ngàn khác bị đày lên các vùng rừng thiêng nước độc, Hồ, khả dĩ lĩnh ấn đồ tể của thời đại mới, nhưng vẫn không thể giải thích thỏa đáng cho việc giết người diệt chủng này. Theo đó, con đường khơi mở chiến tranh như là ván bài triệt buộc Hồ phải đi theo. Bởi vì chiêu bài, giải phóng dân tộc, xoá đói giảm nghèo không còn khả năng truyên truyền trong dân chúng nữa. Bởi vì, tất cả mọi sự thật đã phơi bày ra trước mặt ngừoi dân đất bắc. Sau ngày 20-7-1954 ai cũng nhìn biết những sự việc này:

a. Sau 1954, không còn cảnh người giàu bóc lột ngưòi nghèo, nhưng chỉ có cảnh nhà nước và đảng bóc lột nhân dân mà thôi. Ngày xưa, dân nghèo bị những nhà phú nông bóc lột còn cơm ăn áo mặc còn thời giờ thảnh thơi vui thù chuyện trò, to nhỏ bên nhau. Ra đồng thì có trâu bò kéo cày. Ngày nay dân ta đã được bác đảng giải phóng nên phải kéo cày thay cho trâu bò trên khắp các cánh đồng. Phận người được giải phóng làm chủ đất nước thì kéo cày thay trâu, trong lúc đám đầy tớ công bộc của nhân nhân là những đoàn đảng viên cán bộ của nhà nước thì cầm roi đứng trên dàn bừa!

b, Sự thật là ngày xưa sống dưới sự hà khắc của chế độ phong kiến và thực dân, người dân quê còn nuôi được con gà con vịt để có miếng thịt trong ngày giỗ chạp, hay ngày mùa, hoặc giả, làm cỗ bàn trong những ngày tiệc tùng đám xá khi con cái lập thân. Nay giải phóng rồi, tất cả những xa hoa giả tạo phù phiếm ấy đều kiếu hết. Trai gái thành thân lập gia đình không cần phải theo lệ làng, không cần phải cưới xin, theo hủ tục, chỉ cần xin phép úy ban lạy đôi dép râu là được thuận. Phần cán bộ thì theo gương Hồ hủ hóa, rồi khoác cho nạn nhân cái án vợ con, cháu chắt của thành phần xấu, khiến bao người ở nông thôn phải sống dở, chết cũng vì bị chà đạp hãm hiêp bởi lớp cán bộ của Hồ.

3 Mộng làm tay sai, mở đường nam tiến cho Trung cộng

Ước mơ là thế, nhưng sau khi Hồ giết Nông thị Xuân, ( người trùng họ với Nông đức Mạnh) y bị báo oán, thổ huyết mà chết, nên việc mở đường nam tiến cho Trung cộng bị chậm lại một thời gian. Mãi đến cuối thế kỷ trước, Việt cộng mới thực hiện được nửa công tác đã dự trù. Sang đầu thế kỷ này, chúng tiếp tục thực hiện cuộc xuôi xuống vùng Đông Nam Á cho Trung cộng qua các phương án cụ thể hơn: Ký hai bản hiệp định và hiệp thương biên giới vào các năm 1999 và 2000 để nhượng đứt vùng thác Bản Dốc, ải Nam Quan, bãi biển Tục Lãm và vùng núi Lão Sơn cho Trung cộng. Sau đó giúp Trung cộng đặt nền móng hành chánh trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa của Việt Nam bằng cách ngăn cấm tất cả mọi thành phần dân tộc, sinh Viện học sinh trong nước biểu tình phản đối quyết định thết lập hành chánh trên hai quần đảo này vào năm 2007. ( nếu vùng đất này thuộc Trung cộng theo lịch sử, theo chân biển cấu trúc, nới rộng từ đất liền như lời tên Ung văn Khiêm nói thì tại sao chúng không dám thiết lập nền hành chánh trên đó trước năm 1975 mà phải đợi đến năm 2007, dù rằng Phạm văn Đồng đã ký giấy thừa nhân chủ quyền của chúng từ năm 1958?)

Tuy thế, qua những liên hệ giữa Việt cộng và Trung cộng, người ta khám phá ra rằng: chuyện Việt cộng dâng Hoàng Sa, Trường sa, Bản Dốc, Nam Quan, Tục Lãm, Lão Sơn và hàng vạn cây số vuông vùng biển bắc bộ cho Trung Quốc vẫn là chuyện nhỏ. Nó được coi là chuyện nhỏ, không đáng quan tâm là bởi vì, ngày nay các cấp lãnh đạo đảng và nhà nước Việt cộng ở Hà Nội xem ra còn khoanh tay, cúi đầu hơn trong việc dẫn Trung Quốc xuôi nam bằng cách thết lập những đặc khu do chúng quản trị ngay trong lòng nội địa Việt Nam. Mở đầu chương trình bàn đạp này là hai vùng chiến lược Đắc Nông và Tân Rai.

Gọi đây là vùng bàn đạp cho Trung cộng xuôi nam và chiếm nước ta là vì hai vùng đất chiến lược này không có văn kiện nào quy định rõ diện tích khai thác chiếm bao nhiêu cây số vuông, cũng không có luật lệ rõ ràng ấn định về quy chế cho những chú khách đến và làm việc trong vùng là bao nhiêu năm và như thế nào. Trái lại, mọi việc đều do phía quan thày Trung cộng quyết định, bọn tay sai ở Hà Nội không được biết đến việc điều hành. Như thế, người ta sẽ phải tự đặt câu hỏi rằng, sau khi hai vùng đất này đã hoàn toàn được Trung cộng giải phóng, “ di dân “ở đây có tiến về Hà Tiên, Cà Mâu, Tây Ninh mở vùng quy hoạch mới, dưới một lá chắn khác, thay vì cái tên khai thác Bauxite ? Hay là chúng sẽ qủay trở về Trung quôc?

Chẳng ai tin là chúng sẽ quay về. Hơn thế, còn biết là việc bị nô lệ tàu không còn xa. Bởi lẽ, hiện nay Trung Cộng, ngoài nhãn hiệu khai thác Bauxite, chúng đã trúng thầu rất nhiều dự án gọi là xây dựng, kiến thiết từ hạ tầng cơ sở đến sản xuất rải đều trên bình diện cả nước. Hầu như chẳng có tình, thành, thị xã nào không có chương trình xây dựng mà nhà thầu Trung cộng không trúng thầu.(bắt buộc là phải trùng thầu rồi, có thằng nào dám ngăn cản đâu) còn có cả hàng chục ngàn, hoặc gỉa, cả trăm ngàn di dân bất hợp pháp Trung cộng đã sang làm ăn và sinh sống rải rác trên khắp mọi vùng của đất nước, mà không có một tên công an hay chính quyền địa phương nào dám đụng đến. Hỏi thử xem, một ngày kia, chúng tụ họp lại vài ba điểm hẹn, rồi đòi được tự trị, hay là hưởng những quy chế riêng như dân tộc ít người thì Việt cộng bảo sao? Việt cộng đã ngăn chặn đàn áp đồng bào thượng, nhưng có dám ngăn chặn và đàn áp đồng bào… tàu hay không? Hoạ mất nước hay hoạ bị đô hộ có xa lắm không?

Như thế, việc mở rộng chiến tranh vào miền nam trước kia có phải là phưong án mà những thái thú Việt cộng phải thực hiện để trực tiếp giúp Trung cộng xuôi nam theo mộng bành trướng, mở rộng biên giới về phương nam hay không? Chẳng lẽ những “ chuyên viên” di dân Trung cộng này sang đây để xin làm đầy tớ cho bọn Dũng Mạnh Triết Trọng hay sao?


B. Việt cộng và công cuộc tàn phá tại miền nam.

1. Cuộc phá hoại, tạo ra sợ hãi.

Sau năm 1963, người dân miền nam Việt Nam bắt đầu cảm nhận được mức độ chến tranh và nhận ra chữ sợ Việt cộng đã hiện lên trên trán mọi người. Khởi đầu người dân sợ vì tầm vóc chiến tranh lan rộng, nhưng rồi họ tái mặt vì những chuyến xe đò liên tỉnh bị trúng mìn Việt cộng nổ tung trên đường với máu thịt phơi bày. Và người dân quê, đêm đêm đã mất ngũ, rồi mặt đã không còn chút máu khi nghe loan truyền miệng những bản tin Việt cộng về làng, về xóm thôn bắt người nọ người kia dẫn đi. Lại cũng có tin chúng về chặt đầu những viên chức xã, ấp trong những vùng xa xôi hẻo lánh. Đầu người còn phơi, đấp mô ở ngà ba, ở đầu làng, mà quan quân bên ta chưa một ai dám vế giải toả. Rồi thêm những tin tức trên đài phát thanh cho biết trường học náy, nhà thờ kia ăn đạn giải phóng. Kết qủa. chữ Sợ ở trên trán tự nhiên chảy dọc xuống trong tim, trong máu mọi người, Cứ nghe thấy tin Việt cộng mò về chồ nào là dân làng cuốn quần cuốn áo bỏ chạy tản cư, chạy trốn …

Khi chiến tranh chấm dứt. Hết chỗ chạy. Cuộc sợ hãi thành hoảng loạn. Lớp người may mắn, ra đi kịp thời. Lớp quay trở về, nằm chờ thần dao mã tấu giải phóng. Kết qủa, người dân miền nam trở thành những con cá nằm trên thớt chờ những nhát dao băm vằm xuống. Khởi đầu là lệnh tập trung cải tạo cho quân, cán miền nam cơm nắm cơm gói vào tù không một tin hơi. Kế đến là đổi tiền đợt một, đợt hai, đến đánh tư sản mại bản. Dĩ nhiên, không có điều kiện cho kẻ chiến bại, dân miền nam mền ra như sợi bún cho cộng quyền dày xéo.

Nay sau ba mươi năm rồi, lớp trẻ sinh ra hôm ấy đã lớn khôn, trưởng thành. Nhưng nỗi sợ như vẫn còn đeo dính vào người. Hơn thế, bài học về lý lịch như vẫn là một rào cản qúa lớn để người miền nam e dè sợ Việt cộng hơn người ở miền bắc. Điều ấy cũng dễ hiểu, Bởi vì, dù sao thì Việt cộng cũng nhờ cái nôi ấy mà rêu rao chiến thắng. Theo đó, người bảo không sợ Việt cộng chỉ có hai trường hợp. Thứ nhất nói phét, thứ hai ở nhà thương điên.

2. Cuộc phân hóa, mất niềm tin.

Tôi gọi đây là cuộc phân hóa hơn là sự phân hóa. Bởi vì tôi tin rằng cuộc phân hóa thường có tính cách giai đoạn và có nhiều cơ may chấm dứt hơn là sự phân hóa.

Cuộc đảo chính ngày 01-11-1963 nổ ra và kết thúc với cái chết của anh em Tông Thống Ngô đình Diệm, được coi là bước khởi đầu của cuộc khủng hoảng niềm tin của quân dân miền nam trong công cuộc, không phải chỉ là
chống cộng, nhưng còn là việc xây dựng một xã hội dân chủ và độc lập nữa.

Theo Liên Thành, cựu trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên, người chịu trách nhiệm công tác an ninh ở Húế vào giai đoạn 1966-1974, người đã có nhiều thẩm tra đặc biệt, cũng như có trong tay những báo cáo về những sinh hoạt của một số tu sỹ phật giáo như Thích trí Quang, Thích đôn Hậu, Thich nguyên Trực cho thấy rằng, họ đã theo lệnh của Việt cộng để dẫn Phật Giáo vào con đường không phải do người Phật tử muốn đi. Trái lại, hoàn toàn trái với chức năng và đời sống của nhà Phật cũng như của phật giáo đồ. Chính thành phần này đã tạo ra cuộc biến loạn miền trung từ 1963-66, đã làm phân hóa lòng ngưòi ngay từ trong gia đình, lan rộng đến của Phật và lây lan sang mọi thành phần trong quốc gia. Có thể nói, nhóm này đã gây ra một cuộc phân hóa rất nghiêm trọng trong mọi giới ở miền nam Việt Nam và kẻ hưởng lợi chính là Việt cộng, kẻ thù của dân tộc Việt Nam.

Dĩ nhiên, vào thời gian đó, chuyện họ theo Việt cộng với công tác phá nát niềm tin, an bình của miền nam không mấy ai biết, nếu có biết cũng không một ai dám nói ra. Bởi vì nhóm này tự mặc cho mình cái lớp áo bảo về đạo pháp, và bằng sự điên cuồng, hung bạo, họ có thể khóac cho bất cứ một nhân vật nào đó cái mũ, “ mật vụ của Nhu Diệm”, “đàn áp Phật Giáo” để gây hoạ chết chóc hay tù đày cho nhân vật đó. Đây cũng là một điểm dị thường của những người đã bước vào ngưỡng cửa tu trì, dù là nhà Phật hay bên nhà thờ. Chẳng cần nói đâu xa, ngay phía ôn hoà do thượng toạ Thích Tâm Châu lãnh đạo cũng không dám có phản ứng. Nay sự việc đã phơi bày, mọi người có thể nhìn họ bằng một ánh mắt nghiêm túc, biết về họ như đọc một cuốn sách, nên viết về họ chỉ là một sự nhận định về vai trò, hoặc đánh gía sức phá hoại do họat động của họ hơn là công kích tôn giáo. Tôi tin rằng gia đình phật tử cũng rộng lượng chấp nhận cái nhìn đánh gía này hơn là ôm lòng tự ái vốn dĩ có ở trong mỗi con người, để tạo thêm sự phân hóa không cần thiết.

Cuộc đảo chính của mấy viên tướng tham tiền, mê lợi ở miền nam cũng góp công sức lớn vào việc phá nát niềm tin xây dựng một miền nam trong thái hòa. Vì ấu trĩ họ không biết thế nao là xây dựng, nên chỉ có khả năng phá hoại. Phá hoại suốt một đoạn đường dài từ 63-75. Kết qủa, là đem lại thê lương và phân hóa cho mọi thành phần dân tộc, kể ở cả trong quân đội. Từ đó niềm tin vào cuộc chiến thắng cộng sản giảm dần, Niềm tin vào việc xây dựng một xã hội Tụ Do, Dân Chủ ở miền nam càng ngày càng bị đánh phá, đánh phá từ miền bắc, từ những cuộc biểu tình phản chiến và từ những công cụ “ tranh ăn “ ở miền nam không được thì quay ra hoạt động nằm vùng cho Việt cộng. Và niềm tin vào một ngày mai tười sáng, mà dân miền bắc từng ngửa cổ ngóng trông ấy, đã hoàn toàn chết vào ngày 30-4-1975.

Sau ngày đó, toàn dân đã bị xích hóa dưới vòng xích nô lệ cho cộng sẳn. Người ta không còn thấy các “thầy” Thích Trí Quang, Thích đôn Hậu, Thích Nguyên Trực hô hào phật tử xuống đường bảo vệ đạo pháp nữa, dù rằng không bao giờ có tự do tôn giáo dưới ách bạo tàn Việt cộng. Nhưng người ta chỉ thấy những tên đao phủ của thành phố Huế năm xưa, chúng tồn tại dưới cái dù “bảo vệ đạo pháp” của các thầy như bọn Phan, Tường, Xuân, Cường… vụt sáng lên như những vì sao đỏ máu, nổi lềnh bềnh lên trên bầu trời tội ác đang ra sức tiêu diệt cho bằng hết tình người Việt Nam.

Thảm cho dân tộc tôi! cuộc phân hoá chưa có cơ hội chấm dứt, tình người lại chết ngấm từ bao giờ!

Theo đó, có thể nói một cách không qúa đáng là người Việt Nam đang phải sống một đời làm nô lệ cho cộng sản ở ngay trên quê hương của mình. Là nơi mà những kẻ dấu mặt Việt cộng làm lãnh đạo, chúng đả và đang áp đặt những loại luật lệ không thuộc về thế giới nhân bản của con người để buộc đồng bào ta phải tuân thủ, hòng dìm dập người Việt Nam vào vòng nô lệ cho cộng sản ngoại bang.

Thật vậy, cuộc nô lệ này đã khởi đầu từ miền bắc vào sau ngày 20-7-1954 và đổ úp xuống trên miền nam sau ngày 30-4-1975. Sau những ngày định mệnh rủi ro ấy, người Việt Nam đã phải chấp nhận nguyên tắc bất thành văn của nhà nước Việt cộng là : Không nói, không thấy, không nghe để mà tồn sinh.

1. Không nói: Người dân Việt Nam nếu còn muốn được thở khí trời, là loại không khí trong lành, Trời ban cho muôn vàn sinh vật cũng như cỏ cây dưới ánh nắng của mặt trời được hít thở để tồn sinh thì phải biết một điều là : Không Nói. Nghĩa là không được nói ra bất cứ một điều gì theo ý nghĩ của một con người cần phải nói ra về đời sống. Nhưng phải biết rống lên như những con bò, con ễnh ương, được nuôi trong lồng cũi như những cán bộ đoàn đảng viên của nhà nước đã và đang biểu diễn. Đi trái chiều với nguyên tắc này, thì xà lim, và mùi xú uế trong các nơi ấy sẽ đón nhận họ. Điển hình là trường hợp của LM Nguyễn văn Lý, LS Lê thị Công Nhân, Ls Nguyễn văn Đài, và cả Giám Mục Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà Nội cũng không có ngoại lệ. Hãy nhìn cuộc chúng đấu tố Ngài sau ngày 19-9-2008 thỉ hiểu ra sự thật.

2. Không thấy, Phải sống như những người mù, dù đôi mắt vẫn mở. Hoặc phải biết sờ một ngón tay trước mặt và bảo đó là đỉnh cao chói lọi của cụ hồ, của bác để ôm ấp vào lòng mà hưởng lộc. Hoặc gỉa, hãy như những người mù, để không nhìn thấy bất cứ việc bất nhân bất nghĩa của Hồ của mọi cấp lảnh đạo đảng và nhà nước Việt cộng đã làm thì sẽ được yên thân

3. Không nghe. Hãy gỉa đíếc, coi như không nghe được bất cứ điều gì khác ngoài những điều bác đảng nói thì hy vọng được sống. Được sống thôi, chứ không phải là sống hạnh phúc đâu.

Từ ba nguyên tắc này, ai cũng thấy là: Dưới chế độ cộng sản, tự do nhân bản không thể phát sinh. Trái lại, dưới thể chế tự do, cộng sản tự do sinh sản, nhưng lại không tồn tại.

Cũng thế, sau muôn vàn những bất hạnh vì bị trá tấn, từ tinh thần đến thể xác, thái độ thụ động một thái độ tiêu cực, lỗi thời, tưởng rằng không thể tồn tại trong thời đại khoa học và dân chủ hóa toàn cầu này. Không ngờ, lại là một thái độ chính yếu mà mọi người Việt Nam ngày hôm nay phải biểu lộ. Nóí cách khác, người ta không có chọn lựa nào khác nếu phải sống dưới chế độ duy vật biện chứng. Nghĩa là: người sao ta vậy, chúng nói gì mặc mẹ chúng. Chúng cho gì thì hưởng nấy, chúng ban gì thì nhận nấy. Chúng nói gì nói theo như thế.

Dĩ nhiên, cuộc sống như thế thì không đáng sống vì nó dần dần biến xã hội của ta thành một xã hội phải biết nói láo, lừa đảo nhau mà sống và vì nó sẽ triệt tiêu đời sống luân lý và đạo đức xã hội. Nhưng nói cho cùng, dưới cái chế độ cộng sản thì đạo nghĩa và luân lý xã hội không thể tồn sinh, và người ta vẫn phải sống. Đây không phải là một xã hội mà người Việt Nam ta muốn xây dựng, muốn sống. Nhưng trước cảnh bọn Việt cộng làm thái thú, đày ải người dân làm nô lệ cho ngoại bang bằng muôn ngàn gian trá, người Việt Nam, dù có muốn, cũng chưa thể đổi khác thái độ được. Âu cũng là một điều đáng buồn.

Phần cá nhân, khi viết đôi hàng về thái độ của người Việt ta hôm nay, tôi rơi nước mắt và tôi chỉ viết lên sự nhận xét của tôi, tôi không hề có một sự chỉ trích hay phê phán nào hết, xin qúy độc giả thông cảm cho. Hoặc giả, có những điều chói tai, bất như ý, xin cũng tha lỗi cho vậy.


Bảo Giang



Diễn văn của Thủ tướng Đức (gốc Đông Đức)đọc tại Quốc Hộ Hoa Kỳ ngày 3 tháng 11 năm 2009 nhân kỷ niệm 20 năm ngày Bức Tường Bá Linh sụp đổ
Old Ngày 08-11-2009, giờ 20:04
Thưa Bà Chủ tịch Quốc hội
Thưa Ông Phó chủ tịch
Thưa Quí vị Đại biểu,

Tôi cám ơn tất cả Quí vị đã dành vinh dự lớn cho tôi được nói chuyện với Quí vị ngày hôm nay, chỉ ít ngày trước dịp kỉ niệm 20 năm sụp đổ của bức tường Berlin.

Tôi là Thủ tướng Đức thứ hai được chia xẻ vinh dự này. Konrad Adenauer (Thủ tướng đầu tiên của Tây Đức, ghi chú của người dịch) là người đầu tiên, vào năm 1957 ông đã nói lần lượt ở hai Viện Quốc hội.

Cuộc đời giữa hai người chúng tôi có lẽ không thể khác biệt nhau hơn nữa. Năm 1957 tôi mới chỉ là một đứa trẻ 3 tuổi. Tôi đã sống với cha mẹ ở Brandenburg, một vùng thuộc DDR [tức Cộng hòa Dân chứ Đức theo chế độ Cộng sản, nay là Đông Đức], một phần đất mất tự do ở Đức. Cha tôi hành nghề mục sư. Mẹ tôi đã học Anh ngữ và tiếng Latein để trở thành giáo viên. Nhưng bà đã không được hành nghề ở DDR trước đây.

Konrad Adenauer đã 81 tuổi vào năm 1957. Ông ấy đã trải qua thời Hoàng đế ở Đức, Thế chiến Thứ nhất, Cộng hòa Weimarer [chế độ dân chủ đầu tiên ở Đức từ 1918-1933] và Thế chiến Thứ hai. Ông đã bị mất chức thị trưởng thành phố Köln bởi chế độ Quốc xã. Khi chiến tranh chấm dứt ông đã trở thành một trong số những nam nữ, những người đã khai sáng nước tự do, dân chủ Cộng hòa Liên bang Đức.

Đối với Cộng hòa Liên bang Đức thì không có gì quí bằng bản Hiến pháp của nó, đạo luật căn bản. Nó đã ra đời đúng 60 năm trước đây. Điều 1 của Hiến pháp này ghi rõ: „Nhân phẩm của con người không được xâm phạm“. Một câu thật ngắn và đơn giản – „Nhân phẩm của con người không được xâm phạm“ – đã là câu trả lời về những thảm họa của Thế chiến Thứ 2. Nó đã giết hại 6 triệu người Do thái trong các lò thiêu, gây ra hận thù, đổ vỡ và tiêu hủy mà Đức quốc đã gây ra cho Âu châu và thế giới.

Chỉ còn vài ngày nữa chúng tôi kỉ niệm ngày 9.11. Vào ngày 9.11.1989 bức tường Berlin đã sụp đổ, nhưng ngày 9.11.1938, cũng ghi sâu trong lịch sử Đức và Âu châu. Chính vào ngày này Đức quốc xã đã phá hủy và đốt cháy các nhà thờ [Do thái] và giết hại rất nhiều người. Đây là khởi đầu mở đường cho thảm họa gẫy đổ văn minh về sau này. Hôm nay tôi không thể đứng trước Quí vị ở đây, nếu không tưởng nhớ tới các nạn nhân trong ngày này và những thảm họa.

Có một vị khách đang cùng với chúng ta ở đây. Chính ông đã phải trải qua những kinh hãi ở nước Đức dưới thời Quốc xã và mới đây tôi đã hân hạnh được quen biết ông: Giáo sư Fritz Stern. Ông sinh năm 1926 tại một phần đất thời đó thuộc Đức, nay là Breslau của Ba lan và năm 1938 ông đã kịp thời cùng với gia đình chạy sang Mĩ trốn thoát bọn Quốc xã. Trong cuốn hồi kí của ông xuất bản năm 2006 dưới tựa đề „5 nước Đức tôi đã biết“ Fritz Stern đã tường thuật khi đặt chân tới hải cảng New York vào năm 1938, đây cũng chính là hải cảng của tự do và an toàn.

Thưa Quí vị,

Thật là một kì diệu, lịch sử muốn rằng, chúng tôi – một thiếu niên khi ấy mới 12 tuổi bị xua đuổi khỏi Đức và tôi, nữ Thủ tướng nước Đức vừa tái thống nhất và đã từng lớn lên ở DDR – hôm nay cùng hiện diện trước nơi tôn nghiêm này. Điều này làm tôi rất vui sướng và cám ơn nhiều.

Trước đây 20 năm trước khi bức tường [Berlin] sụp đổ tôi không thể nào mơ tưởng được. Vì ngày đó thật là ngoài sức tưởng tượng của tôi có được một lần sang thăm Hoa kì, còn dám nói chi là một ngày nào đó được đứng ở đây.

Một nước với muôn vàn cơ hội – nhưng đối với tôi trong nhiều năm của cuộc đời tôi nó đã trở thành vô vọng. Bức tường, hàng rào kẽm gai, lệnh bắn – những điều này đã ngăn cản bước chân của tôi tới thế giới tự do. Vì thế tôi chỉ còn biết hình ảnh nước Mĩ qua các phim, sách một phần do những người thân đã mang lậu từ phương Tây.

Tôi đã nhìn thấy và đọc gì ? Tôi đã hứng thú về những điều gì ?

Tôi đã hứng khởi về một giấc mơ Hoa kì – cơ hội cho mọi người đạt tới thành công qua những nỗ lực của chính mình.

Tôi cũng như nhiều thiếu nữ khác ao ước những chiếc quần Jeans có tên tốt, nó không có ở DDR, nhưng đã được bà cô của tôi từ phía Tây gởi cho đều đặn.

Tôi đã hứng thú về một nước Mĩ rộng lớn, nó hít thở tinh thần tự do và độc lập. Ngay năm 1990 nhà tôi và tôi lần đầu tiên trong đời đã bay sang Mĩ tại California. Chúng tôi không bao giờ quên lần đầu tiên nhìn thấy Thái bình dương. Nó thật là hùng vĩ.

Đối với tôi cho tới 1989 thì Mĩ hầu như không bao giờ đạt tới được. Nhưng ngày 9.11.1989 bức tường Berlin đã sụp đổ. Biên giới từng chia cắt một dân tộc thành hai thế giới từ nhiều thập niên đã không còn nữa.

Chính vì thế ngày hôm nay trước hết phải là lúc để cám ơn.

Tôi cám ơn các phi công Mĩ và đồng minh, những người vào năm 1948 đã đáp ứng lời kêu gọi khẩn thiết của thị trưởng Berlin ông Ernst Reuter; khi ông kêu gọi:“Các dân tộc trên thế giới,…hãy nhìn vào thành phố này…“. Ròng rã nhiều tháng các phi công này đã lập cầu không vận chuyên chở lương thực, nên đã cứu Berlin thoát khỏi nạn đói. Nhiều binh lính này đã gặp nguy hiểm và hàng chục người đã bị thiệt mạng. Chúng tôi vẫn tưởng nhớ chân thành tới họ.

Tôi cám ơn 16 triệu lính Mĩ đã đồn trú tại Đức trong nhiều thập niên. Nếu không có sự đóng góp của họ, trong vai trò binh sĩ, nhà ngoại giao hay là người giúp đỡ thì không thể nào vượt qua sự chia cắt ở Âu châu. Hôm nay cũng như trong tương lai chúng tôi vẫn vui mừng về các binh sĩ Mĩ ở Đức. Họ là những đại sứ cho đất nước của Quí vị tại đất nước chúng tôi, điều này cũng như nhiều người Mĩ gốc Đức cũng là những đại sứ của chúng tôi trên quê hương Quí vị.

Tôi nhớ tới [Tổng thống] John F. Kennedy, trái tim nhiều người đã giành cho ông trong cuộc viếng thăm của ông vào năm 1961 sau khi xây bức tường Berlin. Khi ấy ông đã hô lớn với những người dân Berlin đang tuyệt vọng: “Tôi là một người dân Berlin“.

[Tổng thống] Ronald Reagan đã viễn kiến trước nhiều người về những dấu hiệu của thời đại. Khi đứng trước cổng Brandenburg năm 1987 ông đã kêu gọi: „Ông Gorbatschow [Chủ tịch nước Liên xô cũ và nguyên Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên xô] hãy mở cái cổng này… Ông Gorbatschow hãy dẹp bức tường này!“. Những lời kêu gọi này sẽ không bao giờ quên!

Tôi cám ơn [Tổng thống] George Bush [cha của Tổng thống George W. Bush], khi ấy ông đã tin tưởng nước Đức và Thủ tướng Helmut Kohl. Ngay từ tháng 5.1989 ông đã đưa ra đề nghị vô giá với nhân dân Đức là “cùng đồng hành trong lãnh đạo.” Thật là một đề nghị cao quí, 40 năm sau khi chấm dứt Thế chiến Thứ 2. Mới ngày Thứ bẩy vừa qua chúng tôi đã gặp nhau ở Berlin cùng với Michail Gorbatschow. Ông cũng nhận được sự cám ơn của chúng tôi.

Thưa Quí vị,

Cho phép tôi được nói tóm tắt việc này trong một câu: Tôi biết, người Đức chúng tôi biết, chúng tôi cám ơn vô hạn Quí vị, những người bạn Mĩ của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không bao giờ và cả cá nhân tôi sẽ không bao giờ quên Quí vị!

Khắp nơi ở Âu châu lòng mong đợi chung về tự do đã biến thành lực lượng không thể tưởng tượng được: Trong Nghiệp đoàn Solidarnosc ở Ba lan, những người đòi cải tổ qui tụ quanh Vaclav Havel [Thổng thống đầu tiên sau khi Tiệp khắc thoát khỏi chế độ Cộng sản] ở Tiệp khắc, việc mở cửa bức màn sắt lần đầu tiên ở Hung và những cuộc biểu tình vào ngày Thứ hai mỗi tuần ở DDR cũ.

Vì nơi nào trước đây có những bức tường đen tối thì nơi đó cửa được mở bất thình lình. Chúng tôi xuống đường, vào các thánh đường, vượt qua các biên giới. Mỗi người có được cơ hội bắt đầu xây dựng một cái gì mới, cùng nhau kiến tạo và dám mạnh dạn lên đường.

Chính tôi cũng đã lên đường. Tôi đã bỏ lại công việc là nhà vật lí tại Viện Khoa học ở Đông Berlin và tham gia hoạt động chính trị. Vì tôi đã có thể tổ chức. Vì tôi đã có cảm tưởng: Bây giờ sự việc có thể thay đổi được, bây giờ là lúc mình có thể làm một cái gì!

Thưa Quí vị,

20 năm từ khi phần thưởng vĩ đại của tự do đã đi qua. Tuy nhiên, cho tới bây giờ chưa có gì làm tôi sung sướng, chưa có gì làm tôi khích lệ, chưa có gì làm tôi hài lòng hơn là sức mạnh của tự do.

Ai đã từng trong đời bất ngờ trải qua một việc tốt thì người đó tin rằng có thể còn làm được nhiều việc khác nữa. Hay có thể dùng câu của [Tổng thống] Bill Clinton nói năm 1994 ở Berlin về việc này:”Không có gì cản trở được chúng ta. Mọi chuyện đều có thể xẩy ra.”

Vâng, mọi chuyện đều có thể xẩy ra – một phụ nữ như tôi hôm nay có thể đứng cạnh Quí vị ở đây, một người đàn ông như Arnold Vaatz trước đây dưới thời DDR từng là người tranh đấu dân quyền ở Dresden [một thành phố lớn ở DDR] và vì vậy đã có một thời kì phải ngồi tù, nay đang là một dân biểu của Quốc hội Liên bang Đức trong phái đoàn của tôi cũng đang ở đây.

Mọi chuyện đều có thể xẩy ra, cả trong thế kỉ của chúng ta, trong Thế kỉ 21, trong kỉ nguyên toàn cầu hóa. Chúng ta biết rằng, ở Đức chúng tôi cũng như ở Hoa kì của quí vị, toàn cầu hóa đang làm nhiều người lo ngại. Chúng ta không đơn giản bỏ qua điều này. Chúng ta nhìn nhận những khó khăn. Nhưng bổn phận của chúng ta là thuyết phục mọi người hiểu rằng, toàn cầu hóa là một cơ hội lớn của thế giới, cho từng lục địa, vì toàn cầu hóa thúc đẩy mọi nơi phải hành động chung với nhau.

Như thế phải chăng giải pháp thay thế cho toàn cầu hóa là đóng cửa. Nhưng đấy không phải là giải pháp đúng. Nó sẽ dẫn tới đói nghèo, vì nó đưa tới cô lập. Tư duy trong liên kết, tư duy trong hợp tác – nó dẫn tới một tương lai tốt.

Thưa Quí vị,

Hoa kì và Âu châu không phải lúc nào cũng có tư tưởng đồng nhất. Có khi bên này nghĩ là bên kia quá lưỡng lự, quá lo sợ và ngược lại, bên kia lại nghĩ là bên này bướng bỉnh và quá thôi thúc. Mặc dầu vậy, nhưng tôi vẫn tin tưởng sâu sắc rằng: Một bạn đồng hành tốt hơn Mĩ không thể có cho Âu châu, đối với Hoa kì cũng không thể có một bạn đồng hành tốt hơn là Âu châu.

Vì rằng, những gì dẫn dắt và ràng buộc giữa người Âu châu và Hoa kì với nhau không chỉ là có chung một lịch sử. Những gì dẫn đắt và ràng buộc giữa người Âu châu và Hoa kì với nhau không chỉ là vì cùng quyền lợi và cùng những thách đố, như thường có ở nhiều khu vực trên thế giới. Nếu chỉ những việc đó riêng thôi thì không đủ để xây dựng và gánh vác lâu dài cho mối đồng hành đặc biệt giữa Âu chậu và Hoa kì. Phải có gì sâu xa hơn.

Những gì dẫn dắt và ràng buộc giữa người Âu châu và Hoa kì chính là có cùng căn bản giá trị giống nhau. Đó là biểu tượng chung về con người và nhân phẩm vô giá. Đó là sự hiểu biết giống nhau về tự do trong trách nhiệm. Chúng ta đã bênh vực những giá trị này trong tinh thần thân hữu liên Đại tây dương rất đặc biệt và trong giá trị chung của NATO [Liên phòng Bắc Đại tây dương]. Từ đó đã làm cho “cùng đồng hành trong lãnh đạo” được thực hiện, thưa Quí vị. Chính căn bản giá trị này đã chấm dứt được cuộc chiến tranh lạnh. Chính căn bản giá trị này có thể giúp chúng ta vượt qua những thử thách của thời đại hiện nay và chúng ta phải thành công!

Nước Đức đã thống nhất, Âu châu đã thống nhất. Những việc này chúng ta đã hoàn thành. Ngày nay thế hệ chính trị của chúng ta phải chứng tỏ rằng, chúng ta phải thành công đối với những thách đố của Thế kỉ 21 và có thể phá vỡ những bức tường ngày hôm nay hiểu theo một nghĩa bóng.

Đó là những điều gì? Một là kiến tạo hòa bình và an ninh. Hai là đạt tới hạnh phúc và công bằng và ba là bảo vệ trái đất của chúng ta. Trong các vấn đề này cả Mĩ lẫn Âu châu lại bị thôi thúc đặc biệt.

Cả sau khi Chiến tranh lạnh chấm dứt cũng vẫn còn vấn đề là phá vỡ những bức tường liên quan tới những quan điểm về cuộc sống, như những bức tường trong đầu mỗi người. Những bức tường này đang ngăn cản chúng ta, hoặc gây khó khăn để chúng ta hiểu nhau trên thế giới. Muốn vậy thì tinh thần khoan dung rất quan trọng. Đối với chúng ta thì phương cách sống của chúng ta là điều quan trọng nhất. Nhưng nó không phải là phương cách sống cho tất cả mọi người. Có nhiều giải pháp khác nhau để làm cho một cuộc sống chung tốt đẹp. Khoan dung là sự biểu lộ lòng kính trọng lịch sử, truyền thống, tôn giáo và nguồn gốc của những người khác.

Nhưng đừng có ai nhầm lẫn: Khoan dung không có nghĩa là thế nào cũng được. Không khoan dung với những ai không tôn trọng và chà đạp các quyền vô giá của con người. Không khoan dung với những ai, nếu võ khí giết người hàng loạt thí dụ như rơi vào tay Iran có thể đe dọa an ninh chúng ta. Iran phải biết điều này. Iran biết các đề nghị của chúng ta. Nhưng Iran cũng biết gianh giới: Một trái bom nguyên tử không được phép có trong tay của Tổng thống Iran, người từng phủ nhận Holocaut, đe dạo Do thái và không nhìn nhận quyền tồn tại [của Do thái].

Đối với tôi, nền an ninh của Do thái không bao giờ có thể thương lượng được. Chẳng những thế, không chỉ riêng Do thái bị đe dọa, mà là toàn thể thế giới tự do. Ai đe dọa Do thái cũng là đe dọa chúng ta. Vì vậy, thế giới tự do chống lại sự đe dọa này, nếu cần thì trừng phạt kinh tế nghiêm khắc. Thưa Quí vị, chính vì thế nước Đức chúng tôi ủng hộ mạnh mẽ tiến trình hòa bình ở Trung-Đông để thực hiện giải pháp hai quốc gia: một nước Do thái và một nước Palestin.

Chúng tôi cũng chống lại những đe dọa của khủng bố quốc tế. Chúng ta biết rằng, không có một nước nào – dù mạnh tới đâu – có thể đương đầu một mình. Chúng ta cần các đối tác. Chỉ trong sự hợp tác với các đối tác thì chúng ta mới mạnh.

Vì sau những cuộc khủng bố ngày 11.9 [2001] chúng tôi đã chia xẻ với quan điểm của Tổng thống George W. Bush khi ấy là, từ nay trở đi an ninh của thế giới không được phép bị đe dọa từ A phú hãn, cho nên từ năm 2002 Đức đã có một đoàn quân lớn thứ ba đóng tại đó. Chúng tôi muốn thực hiện thành công giải pháp được gọi là an ninh liên kết. Nghĩa là: Sự tham gia cả dân sự lẫn quân sự liên đới mật thiết với nhau.

Rất là rõ ràng: Sự dấn thân của nhiều nước ở A phú hãn là rất khó nhọc. Nó đòi hỏi chúng ta rất nhiều. Nó phải tiến tới một giai đoạn mới khi chính phủ mới ở A phú hãn nhậm chức. Mục tiêu phải là phát triển một chiến lược chuyển giao trách nhiệm. Chúng ta muốn triển khai việc này vào đầu năm tới tại Hội nghị của Liên hiệp quốc. Chúng ta sẽ thành công, nếu chúng ta cùng nhau đi từng bước tiếp tục trong liên minh như hiện nay. Đức tự ý thức trách nhiệm này.

Không có gì nghi ngờ: NATO đã và tiếp tục là cột trụ cho an ninh chung của chúng ta. Kế hoạch an ninh của nó được tiếp tục phát triển và thích ứng với những thử thách mới. Nền tảng và hướng đi của nó phục vụ hòa bình và tự do hoàn toàn không thay đổi.

Những người Âu châu chúng tôi – tôi tin tưởng như thế – có thể đóng góp cho việc này nhiều hơn nữa trong tương lai. Vì người Âu châu chúng tôi trong tuần này sẽ hoàn thành cho Liên minh Âu châu một hiệp ước căn bản mới. Chữ kí cuối cùng cho việc này đã được kí. Nhờ thế Liên minh Âu châu sẽ mạnh hơn và hành động hiệu quả hơn và như vậy Hoa kì sẽ có một người đồng hành mạnh hơn và tin cậy hơn.

Trên căn bản này chúng ta sẽ thiết lập sự hợp tác chặt chẽ với các đối tác khác, trước hết với Nga, Trung quốc và Ấn. Thưa Quí vị, vì ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới tự do hơn và ràng buộc với nhau hơn trước đây. Sự sụp đổ của bức tường Berlin, cuộc cách mạng kĩ thuật trong thông tin và truyền thông, sự vươn lên của Trung quốc, Ấn và nhiều nước khác trở thành các nền kinh tế năng động – tất cả những việc này đang biến đổi thế giới trong Thế kỉ 21 thành một thế giới khác so với Thế kỉ 20. Đây là một điều tốt. Vì tự do là qui luật của cuộc sống trong kinh tế và xã hội chúng ta. Chỉ có trong tự do con người mới có sáng tạo.

Nhưng một điều cũng rõ rệt: Tự do này không đứng riêng rẽ. Đây là một tự do trong và hướng tới trách nhiệm. Cho nên cần phải có trật tự. Việc gần như gẫy đổ của thị trường tài chánh quốc tế đã cho thấy, điều gì sẽ xẩy ra nếu không có một trật tự này.

Nếu thế giới đã học một bài học từ cuộc khủng hoảng tài chánh của năm ngoái thì không thể bỏ qua được nhận thức là, một nền kinh tế toàn cầu hóa cần một khuôn khổ trật tự toàn cầu. Không có một ràng buộc trên bình diện thế giới dựa trên minh bạch và kiểm soát thì không thể bồi đắp được tự do, khi ấy sẽ dẫn tới lợi dụng tự do và từ đó đưa tới bất ổn định. Đó như một bức tường thứ hai, nó phải sụp đổ – một bức tường đang cản trở một trật tự kinh tế toàn cầu thực sự, một bức tường của các tư duy thiển cận khu vực và dân tộc hẹp hòi.

Chìa khóa trong sự hợp tác giữa các nước công nghiệp và các nước đang vươn lên nằm ở trong nhóm G 20 [20 nước công nghiệp và đang vươn lên tiêu biểu trên thế giới và gần đây đã có các Hội nghị cấp cao để giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu]. Cũng tại đây sự hợp tác giữa Mĩ và Âu châu là một trụ cột quyết định. Đây là một sự hợp tác trong đó không loại trừ ai, nhưng nó kết hợp cả những nước khác.

Nhóm G 20 đã cho thấy, nó có khả năng hành động. Chúng ta phải chống lại các áp lực đã đưa nhiều nước trên thế giới sát bên bờ vực thẳm. Điều này không có gì khác, đấy chính là phải được thúc đẩy tiếp tục đường lối kinh tế quốc tế mạnh hơn nữa. Vì cuộc khủng hoảng đã cho thấy những suy nghĩ rất thiển cận. Hàng triệu người trên thế giới qua đó sẽ thất nghiệp và nghèo đói sẽ đe dọa. Để đạt tới hạnh phúc và công bằng, chúng ta phải làm tất cả để tránh một cuộc khủng hoảng tương tự không thể diễn ra, thưa Quí vị.

Điều này còn có nghĩa là, chống các chủ trương bảo hộ. Vì thế các cuộc đàm phán – Doha trong khuôn khổ của Tổ chức Thương mại Quốc tế [WTO] rất quan trọng. Một sự thành công của vòng đàm phán-Doha giữa lúc đang có cuộc khủng hoảng sẽ là một tín hiệu rất tốt cho việc thông thoáng kinh tế thế giới.

Tương tự vậy, Hội đồng kinh tế liên Đại tây dương cũng có một vai trò quan trọng. Chúng ta có thể ngăn cản các cuộc chạy đua bảo hộ và có thể đưa ra những biện pháp nhằm giảm các cản trở mậu dịch giữa Âu châu và Mĩ. Tôi yêu cầu Quí vị: Quí vị hãy để chúng ta cùng đấu tranh cho một trật tự kinh tế thế giới, việc này nằm trong lợi ích của Âu châu và Hoa kì!

Thưa Quí vị,

Những thách đố toàn cầu chỉ có thể vượt qua được trong sự hợp tác quốc tế toàn diện, nó đang xuất hiện như một thử thách thứ ba của Thế kỉ 21. Trong đó có thể hình dung như một bức tường giữa hiện tại và tương lai. Bức tường này đang ngăn cản tầm nhìn về những nhu cầu của các thế hệ tiếp theo. Nó cản trở những sự bảo vệ rất cần thiết cho nền tảng đời sống tự nhiên và khí hậu của chúng ta.

Những sự tiêu phí này sẽ dẫn tương lai chúng ta về đâu, điều này chúng ta có thể thấy được ngay lúc này: Ở khu Arktis [Bắc cực] các băng đá đang tan, ở Phi châu con người đang phải chạy trốn vì môi trường của họ bị tàn phá, mực nước biển đang dâng cao ở khắp nơi trên thế giới. Tôi rất vui mừng là Tổng thống Obama và Quí vị đã đề cao việc bảo vệ khí hậu trong các hoạt động của Quí vị. Tất cả chúng ta đều biết: Chúng ta không còn nhiều thời gian. Chúng ta cần đạt tới thống nhất trong Hội nghị Khí hậu vào tháng 12 ở Kopenhagen [thủ đô Đa mạch]. Chúng ta cần thống nhất trong mục tiêu: Sự hâm nóng toàn cầu không được phép vượt quá 2° C.

Trong đó chúng ta cần sự sẵn sàng của các nước thực hiện nghiêm chỉnh các thỏa thuận quốc tế. Trong việc bảo vệ khí hậu, chúng ta không thể làm khác các mục tiêu khoa học đã cho biết. Khi ấy không chỉ vô trách nhiệm về môi trường. Nó còn là thiển cận trong kĩ thuật. Vì những phát triển của kĩ thuật mới trong lãnh vực nhiên liệu tạo ra những cơ hội lớn cho tăng trưởng và những chỗ làm tương lai.

Không có gì phải nghi ngờ: Trong tháng 12 thế giới đang chăm chú vào chúng ta, vào Âu châu và Hoa kì. Đây là một sự thật: Nếu không có sự tham gia của Trung quốc và Ấn thì công việc sẽ không chạy. Nhưng tôi tin rằng: Nếu chúng ta ở Âu châu và Hoa kì sẵn sàng đảm nhận nghiêm túc các thỏa thuận, thì chúng ta sẽ thuyết phục được Trung quốc và Ấn. Khi đó ở Kopenhagen chúng ta có thể vượt qua bức tường đang tồn tại giữa hiện tại và tương lai – trong lợi ích con cháu của chúng ta và trong lợi ích của một cuộc phát triển vững vàng trên toàn cầu.

Thưa Quí vị,

Tôi tin rằng: Như chúng ta trong thế kỉ 20 đã từng có sức mạnh làm đổ bức tường từ hàng rào kẽm gai và bê-tông, thì ngày nay chúng ta cũng có sức mạnh vượt qua được những bức tường của Thế kỉ 21 – Các bức tường trong các đầu của chúng ta, các bức tường trong tính toán quyền lợi riêng thiển cận, các bức tường giữa hiện tại và tương lai!

Thưa Quí vị,

Niềm tin của tôi bắt nguồn từ một âm thanh đặc biệt – âm thanh của cái Chuông Tự do trong tòa thị chính ở Schöneberg của Berlin . Ở đó từ năm 1950 treo một cái chuông phỏng theo Chuông Tự do của Mĩ. Nó do công dân Hoa kì tặng và nó là dấu hiệu của lời hứa tự do, nó đã trở thành sự thực. Ngày 3.10.1990 Chuông Tự do đã vang lên khi nước Đức tái thống nhất. Ngày 13.9.2001 nó lại vang lên một lần nữa, chỉ hai ngày sau 11.9 – chính là lúc nỗi đau buồn lớn nhất của dân tộc Hoa kì!

Chuông Tự do ở Berlin cũng giống Chuông Tự do ở Philadelphia , một biểu tượng nhắc nhở chúng ta là, tự do không tới tự nó. Nó phải được đấu tranh và phải được bảo vệ hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Trong cố gắng này, Đức và Âu châu trong tương lai vẫn là những bạn đồng hành mạnh và đáng tin cậy của Hoa kì. Tôi bảo đảm với Quí vị như vậy!

Chân thành cám ơn Quí vị.

TS Âu Dương Thệ dịch

(Xem video : Angela Merkel speech)



< /object>



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
💔 Tố Hữu và Mối Tình Đầu Định Mệnh: Lời Tố Cáo Đau Thương trở thành mối thù giai cấp muôn đời! [Đã đọc: 485 lần]
💔 Lời Nguyền Hận Thù: Phế Phẩm Độc Hại Trong Văn Hóa Giao Tiếp Việt thời đại HCM CSVN [Đã đọc: 446 lần]
Mức lương cụ thể và thủ tục nhập cư để các bạn VN được thuê làm chồng [Đã đọc: 383 lần]
CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN ĐỐI PHÓ VỚI BIÊN GIỚI – AN NINH KHU VỰC CAMPUCHIA 2025 [Đã đọc: 370 lần]
Sự im lặng đồng lõa – khi lãnh đạo miền Bắc đứng nhìn Trung Quốc nuốt Hoàng Sa [Đã đọc: 367 lần]
Đạo Đức và Cái Bẫy Tự Tôn của dân tộc VN- Mẹ Thứ Anh Hùng - Bi kịch của Thuyền nhân Việt Nam [Đã đọc: 345 lần]
Giữa Mạc Tư Khoa Nghe Câu Hò Ví Dặm [Đã đọc: 306 lần]
Bẫy thu nhập trung bình của VN [Đã đọc: 282 lần]
Constitution of the Federal Republic of VCL [Đã đọc: 266 lần]
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [Đã đọc: 264 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.