Giải thưởng Nobel văn chương cho tác phẩm tố cáo tội ác Cộng Sản
11.10.2009 13:10
Chế độ cộng sản toàn cầu đã bị dân chúng tẩy chay, nguyền rủa vì quá độc ác, vô nhân. Nhà văn Herta Mueller Nhà văn Herta Mueller, vừa đoạt giải Nobel văn học 2009 đã nói lên điều đó. Chính nữ Thủ tướng Angela Merkel Thủ tướng Angela Merkel cũng đã công nhận điều này.
Hiện có 195 quốc gia trên thế giới ngày nay chỉ còn có bốn quốc gia Theo Cộng sản chính yếu là Tàu cộng, Hàn cộng và hai nước chư hầu cộng sản là Việt cộng, Lào cộng Người ta nói chế độ CS là sự trừng phạt của Trời Đất cho tội ác của dân tộc độc ác, gian dối, xảo quyệt. Miền Bắc VN có đủ yếu cho chủ nghĩa CS thăng hoa.
Về tác giả đoạt Nobel Văn học 2009 Lê Diễn Đức Gửi tới BBC từ Warsaw Nhà văn Herta Mueller từng di tản khỏi Romania thời độc tài Ceauşescu Giải Nobel Văn chương 2009 được trao cho nhà văn Đức, bà Herta Mueller (Herta Müller) người viết về những trải nghiệm trong chế độ cộng sản tại Romania. Sinh ngày 17/08/1953 tại Banat, thuộc Nitzkydorf, Romania trong một ngôi làng đa sắc tộc nhưng với đa số người Đức, bà Mueller có cha là quân nhân trong lực lượng SS của Đức Quốc xã. Sau chiến tranh, mẹ bà đã bị trục xuất đi lao động cưỡng bức tại Liên Xô cùng với những người Đức khác. Sử dụng tiếng Đức từ bé và chỉ bắt đầu học tiếng Romania khi tới trường, bà nghiên cứu văn học Đức và chủ nghĩa lãng mạn tại Timisoara. Thời gian này bà tham gia nhóm văn sĩ Aktionsgruppe Banat, nơi bà gặp người chồng tương lai. Năm 1976, bà làm công việc dịch thuật các văn bản kỹ thuật trong một nhà máy sản xuất máy móc. Năm 1979, vì từ chối hợp tác với Securitate (cơ quan mật vụ) của chính quyền cộng sản, bà bị mất việc. Bà kiếm sống bằng công việc trong nhà trẻ và dạy thêm tiếng Đức. Thoát lưới kiểm duyệt Năm 1982, bà qua được kiểm duyệt và cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay Niederungen (Vùng đất thấp). Sau khi công bố phiên bản đầy đủ vào năm 1984 ở Tây Đức, ra mắt công khai với tên Herta Mueller, bà bắt đầu giành được những giải thưởng đầu tiên và được thừa nhận là một tiếng nói mới trong văn học Đức. Năm 1987, cùng với chồng là Richard Wagner, bà đã di tản được sang Tây Berlin, Tây Đức. Tác phẩm của bà sinh ra từ những trải nghiệm bản thân. Nó là bằng chứng về nỗi sợ hãi những cũng chứng tỏ lòng dũng cảm phi thường của bà
Thủ tướng Angela Merkel nói về nhà văn Herta Mueller Tại đây, bà làm việc như là một nhà văn được hưởng quy chế định cư và làm giáo sư thỉnh giảng tại một số trường đại học ở Đức và ở nước ngoài, trong đó có Đại học Tự do tại Berlin, nơi bà hiện đang sinh sống. Bà là dịch giả của rất nhiều tác phẩm trong hơn 20 thứ tiếng. Bà đã nhận nhiều giải thưởng văn học của Đức, trong đó có giải thưởng uy tín nhất – Giải Kleist và nhiều giải thưởng khác của nước ngoài. Cuốn sách đầu tay Niederungen mô tả về cuộc sống tại ngôi làng Banat từ bối cảnh của một đứa bé, cái nhìn của nó, những cử chỉ và nỗi sợ hãi phải đương đầu với thế giới của người lớn, với sức mạnh đứng trên đời sống và cái chết. Những bóng ma nguy hiểm như thường trực. Con người có cảm giác bị đóng cửa trong cơn ác mộng không lối thoát. Bà là nhân chứng của một thế giới bị thống trị bởi hận thù và đối xử tàn ác, vô cảm với các nghi lễ và chuẩn mực trong chế độ cộng sản độc tài Ceauşescu. Cộng đồng này bị cấm đoán mọi tập quán truyền thống, bị rẻ rúng như một thứ nô lệ, cá tính bị tiêu diệt. Thành phố mà trong đó mọi thứ đều do Nhà nước và Đảng quyết định đã tạo nên những chuỗi dài không dứt của sự đàn áp và kiểm soát. Mặc dù xa Romania đã hơn 20 năm, bà Herta Müller vẫn tiếp tục viết về chế độ độc tài cộng sản trong các cuốn tiểu thuyết khác và thơ của mình. "Lựa chọn hoàn hảo" Theo Thư ký thường trực của Viện Hàn lâm Thụy Điển, ông Peter Englund, bà Herta Mueller là khuôn mặt của đạo đức và hoàn hảo với các tiêu chuẩn của Giải thưởng Nobel Văn học năm nay. “Mặt khác bà là một tác giả tuyệt vời với cách sử dụng ngôn ngữ hết sức chuẩn xác” – Englund nói – “Sống trong một chế độ độc tài luôn lạm dụng ngôn ngữ, bà bị buộc vào sự hoài nghi mỗi khi cầm bút sử dụng từ ngữ”. “Tôi đóng dấu ấn lên quá khứ của mình và chúng ta hãy nhớ rằng chế độ độc tài vẫn còn là chủ đề hiện tại ở nước Đức”. Cuốn tiểu thuyết mới nhất của bà, Atemschaukel, có lẽ được yêu thích hơn cả trong cuộc bầu chọn Giải Nobel Văn học kỳ này. Bà viết về một cậu bé bị cưỡng bức vào một trại cải tạo lao động nổi tiếng ở Ukraine, mô tả hoàn cảnh đáng sợ dành cho người Đức sống tại Romania bị xua đuổi qua đó. Cuốn sách dựa trên thân phận bi kịch của những người Đức bị đày ải khổ cực và dựa trên câu chuyện do nhà thơ Oscar Pastior kể lại, một người cũng giống như Herta Mueller, thuộc dân tộc thiểu số Đức ở Romania. Thoạt đầu họ có ý định viết chung, nhưng không may, Oskar Pastior qua đời vào năm 2006. Atemschaukel như là một biểu tượng chia tay của bà với nhà thơ. Với sự trải nghiệm quá lớn trong chế độ độc tài cộng sản tại Romania, bà Herta Mueller từng nói: “Tôi đóng dấu ấn lên quá khứ của mình và chúng ta hãy nhớ rằng chế độ độc tài vẫn còn là chủ đề hiện tại ở nước Đức”. Người giành Giải thưởng Nobel Văn học được chọn bởi 18 thành viên của Viện Hàn lâm Thụy Điển. Có khoảng 200 đề cử trong năm được lập thành một danh sách bí mật. Người thắng phải nhận được hơn một nửa số phiếu bầu. Herta Mueller trở thành người chiến thắng thứ 106 của Giải Nobel Văn học. Nhận được tin, bà Herta Mueller nói rằng bà không tin mình được nhận vinh dự to lớn như vậy và nói rằng, bà chẳng phải là ngôi sao và không muốn bị công luận làm phiền nhiễu mà chỉ muốn được làm việc bình thường, trong sự yên tĩnh. Thủ tướng Đức, bà Angela Merkel đã phát biểu trước công luận rằng, Giải thưởng Nobel Văn học dành cho nữ nhà văn Đức Herta Mueller thật ý nghĩa biết bao khi được trao đúng vào dịp 20 năm bức tường Berlin sụp đổ. Bà là người Đức thứ 10 được trao giải Nobel Văn chương. Trước bà đúng 10 năm là nhà văn Guenter Grass, người sinh ra trong một gia đình thiểu số Đức-Ba Lan tại vùng nay là miền Tây Bắc Ba Lan. Chúng ta hãy chờ xem báo chí và truyền thông Việt Nam đưa tin như thế nào về việc một nhà văn xuất thân từ Đông Âu, có những tác phẩm lên án sâu sắc và mãnh liệt chế độ cộng sản được tôn vinh với giải thưởng văn chương danh giá nhất hoàn cầu này. Warsaw 8/09/2009
| Nhà văn Trần Khải Thanh Thủy bị bắt | Huy Phương 09/10/2009 | |
 | Bà Thủy 'bị bắt và bị khởi tố về hành vi tấn công gây thương tích người khác'.
|
Theo , vào chiều thứ Sáu, Đại tá Vũ Công Long, Trưởng Công an quận Đống Đa cho biết, bà Trần Khải Thanh Thủy, người viết văn tự do, đã bị bắt và bị khởi tố về hành vi tấn công gây thương tích một người sau khi hai bên va chạm.
Theo hồ sơ Công an, tối ngày thứ Năm, chị Trần Khải Thanh Thủy và chồng là anh Đỗ Bá Tân có chuyện xích mích trước cửa nhà với hai người đàn ông lạ mặt.
Sau đó xảy ra xô xát khiến cho một trong hai người đàn ông bị thương. Công an quận Đống Đa đã tiến hành tạm giữ cặp vợ chồng, và khởi tố chị Trần Khải Thanh Thủy về tội cố ý gây thương tích.
Đại tá Vũ Công Long cho biết: “Về cơ bản, cả hai đối tượng đều đã thừa nhận cầm gậy, gạch tấn công nạn nhân”.
Tại Tokyo, ông Đỗ Thông Minh, một người thường trao đổi trên mạng Paltalk với chị Trần Khải Thanh Thủy từ hơn một năm qua và đã từng in ba tác phẩm của chị ở hải ngoại, cho biết: “Từ mùng 6 đến mùng 9, tòa án cộng sản ở Saigon và Hà Nội đã xử tất cả 9 người. Sáng ngày mùng 8, chị đi xe xuống Hải Phòng để dự phiên tòa ở Hải Phòng. Nhưng khi cách Hải Phòng khoảng chừng 10 cây số chị đã bị công an chặn lại, cưỡng chế, áp tải chị về tận nhà. Về đến nhà chị có thông báo cho Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang biết. Coi như chuyến đi không thành nhưng cũng không có gì đáng tiếc xảy ra. Sau đó, chị có lên Paltalk để nói chuyện trong diễn đàn khá nổi tiếng là Tranh Luận Dân Chủ trên Internet có mấy trăm người nghe. Chị đã kể lại chuyến đi và bị cưỡng chế trở về nhà như thế nào. Chị nói cỡ chừng 30 phút, lúc đó cỡ chừng 8 giờ rưỡi tối bên Việt Nam thì không khí tự nhiên khẩn trương, và chị cho biết có hai kẻ lạ mặt đang xâm nhập nhà chị và gây chuyện. Sau đó cuộc nói chuyện trên Internet bị ngưng, có lẽ chị và chồng phải đối phó với hai người lạ mặt vào. Có nguồn tin, chúng tôi không dám chắc, nhưng có nguồn tin nói rằng chị bị đánh và bị thương ở đầu”.
Theo ông Đỗ Thông Minh đây không phải là lần đầu chị Trần Khải Thanh Thủy bị bắt: “Trong quá khứ chị từng bị khủng bố tới 15 lần. Một lần thì công an bắt những người bạn đến thăm và 14 lần là ném phân ngay trước nhà”.
Tại Hà Nội, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang, một người bạn của chị Trần Khải Thanh Thủy có nhận xét: “Trước hết, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy trên đường xuống Hải Phòng tìm cách tham dự phiên tòa của nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa thì đây là cái tình của con người với nhau, tình của các nhà văn với nhau, tình của những người lâu nay ưu tư đối với đất nước trong công cuộc đấu tranh để đòi được tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, đòi có dân chủ, là những yêu cầu hoàn toàn chính đáng của một con người. Nhưng việc ngăn chận chị ấy tôi cho là không thỏa đáng. Từ việc đó đến việc xảy ra xô xát trước cửa nhà chị Thủy thì người bình thường cũng cho rằng có thể có một mối liên hệ nào đó. Cũng có người cho rằng có thể đây là một sự bố trí, một sự khêu khích mà chị đã mắc bẫy. Và bây giờ người ta vin vào cớ ấy để người ta bắt giam. Cũng giống như các vụ khác, như vụ nhà báo Điếu Cày, biểu tình chống Trung Quốc mà kết quả là vào tù về tội trốn thuế. Cũng như chuyện luật sư Lê Trần Luật, vì bênh bà con Thái Hà mà bây giờ bị đóng cửa văn phòng luật sư của mình; và bây giờ được đem ra mặc cả, hoặc là phải nhận mình đã bào chữa sai, hoặc là sẽ bị truy tố trước tòa về tội trốn thuế. Đó là những việc hết sức oái ăm và không minh bạch”.
Bát Nhã 'tạo ra tiền lệ nguy hiểm' Ông Đằng cho rằng chính quyền trung ương phải nhanh chóng can thiệp Ông Lê Hiếu Đằng nhận xét vụ Bát Nhã cho thấy sự "vô trách nhiệm" của chính quyền địa phương, tạo ra một “tiền lệ hết sức nguy hiểm" là bất cứ công dân nào cũng có thể bị côn đồ đe dọa, và cấp trung ương phải nhanh chóng giải quyết chuyện này. Nguyên phó chủ tịch ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh đã tham gia cùng gần 200 người khác, tính đến chiều 7/10, ký vào yêu cầu chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch Quốc hội Việt Nam phải can thiệp vụ Bát Nhã. Gần 400 tu sĩ và tu sinh Phật giáo theo pháp môn Làng Mai được biết bị ép phải ra khỏi tu viện Bát Nhã hôm 27/9, và hiện đang ở tạm trong chùa Phước Huệ ở thị xã Bảo Lộc, Lâm Đồng, nơi họ cáo buộc vẫn tiếp tục bị côn đồ gây rối và “khủng bố tinh thần”. Khi được BBC hỏi về lý do tham gia thỉnh nguyện thư, ông Lê Hiếu Đằng cho biết: Lê Hiếu Đằng: Tôi đọc văn bản chính thức của Giáo hội Việt Nam tỉnh Lâm Đồng, nói lên cảnh khi các vị trong Ban Trị sự trong giáo hội tỉnh Lâm Đồng đến thì bị đám côn đồ dùng phân rồi dùng này nọ… tức là hết sức bậy bạ. Lẽ ra đứng trước việc đó chính quyền phải can thiệp. Bây giờ chính quyền nói đó là nội bộ Phật giáo. Nhưng với nhiệm vụ giữ vững trật tự an ninh thì đứng trước hành động côn đồ, chính quyền phải can thiệp chứ không thể nói không có trách nhiệm được. Rồi những diễn biến sau này, khi 400 vị tăng ni đã về chùa Phước Huệ ở thị xã Bảo Lộc rồi, lại tiếp tục bao vây rồi đe dọa thế này thế kia. Như vậy tôi nghĩ chẳng lẽ đất nước Việt Nam hay tỉnh Lâm Đồng không có chính quyền à? ...như vậy thì bất cứ một người công dân nào cũng có thể bị đe dọa bởi bọn côn đồ, mà không có sự bảo vệ của chính quyền. Thế thì nói chính quyền của dân do dân và vì dân thì là cái chính quyền gì?
Để làm loạn như vậy là không được, vì vậy tôi ký tên để phản đối thái độ vô trách nhiệm của chính quyền tỉnh đối với những việc làm này. Chưa nói đến góc độ Phật giáo, dưới góc độ quản lý nhà nước thì tôi phản đối việc đó. Và cái này nó tạo ra một tiền lệ hết sức nguy hiểm ở chỗ là bất cứ một người công dân nào cũng có thể bị đe dọa bởi côn đồ, mà không có sự bảo vệ của chính quyền. Thế thì nói chính quyền của dân do dân và vì dân thì là cái chính quyền gì? Do đó tôi ký tên. Thứ hai, rõ ràng qua vụ việc này, chỗ Phật giáo ở tu viện Bát Nhã người ta đang tu học một cách yên tĩnh như vậy, cho dù là bây giờ có nhiều người chưa khai báo thì chúng ta hướng dẫn họ thôi. Tình hình đến ở chưa khai báo thì chẳng những ở Lâm Đồng mà ở thành phố Hồ Chí Minh này có biết bao nhiêu người, nghĩa vụ của chính quyền là phải hướng dẫn người ta làm đúng thủ tục để người ta tôn trọng luật pháp, chứ không phải vì cớ này mà xua đuổi người ta đi được. Còn về nội bộ Phật giáo, tôi nghĩ là Giáo hội Phật giáo Trung ương phải có trách nhiệm trong này, chứ không thể bàng quan được, cũng như là giáo hội Phật giáo của tỉnh Lâm Đồng. Tôi cho là qua cái văn thư vào tháng Sáu, tức là cách đây ba tháng rồi, thái độ của giáo hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng như vậy tôi cho rất là thỏa đáng. Đáng lẽ ra chính quyền phải thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề và phải bắt tay vào giải quyết, chứ không để tình trạng kéo dài như thế này. BBC:Khi tham gia vào thỉnh nguyện thư này, ông có nghĩ rằng tiếng nói của ông cùng những người khác sẽ được lắng nghe, và liệu rằng người ta sẽ sớm có hành động gì không, bởi vì vụ Bát Nhã đã diễn ra trong một thời gian khá dài rồi? Vụ Bát Nhã đang gây chú ý của dư luận Lê Hiếu Đằng: Tôi tin rằng nếu có nhiều tiếng nói góp lại, nhà nước Việt Nam phải chú ý việc này. Còn nếu không chú ý, vẫn tiếp tục làm xấu, cái hậu quả về mặt chính trị là nhà nước Việt Nam phải chịu trách nhiệm, chứ không thể nào khác hết. Bởi vì rõ ràng, tình hình hết sức tồi tệ như vậy mà không giải quyết một cách dứt khoát, đến nỗi một số tăng sĩ trẻ người ta quyết tử vì đạo - qua cái thư mà anh cũng biết đó - mà nếu như nó xảy ra thì tình hình sẽ rất biến động và tạo ra một tình trạng rất là không tốt cho vấn đề hiện nay. BBC: Ông nghĩ sao khi mà truyền thông chính thống của Việt Nam hầu hết đều im lặng trước chuyện này? Và ông có nghĩ là vai trò của chính quyền cấp cao hơn, như ở trung ương, nhẽ ra cũng phải có tiếng nói về chuyện này? Lê Hiếu Đằng: Thật ra chính quyền Lâm Đồng vừa rồi, qua ông chánh văn phòng, cũng có nói ý kiến rồi, nhưng ý kiến đó hết sức là tầm bậy, hết sức là không đúng, bởi vì với trách nhiệm quản lý chính quyền của cả một tỉnh thì không thể nào nói như vậy được. Còn trung ương, chúng ta thấy đúng là sự can thiệp, giải quyết rất là chậm chạp. Thật ra người ta vẫn có cảm giác vụ này bị lờ đi, để mà diễn biến nó xảy ra như vậy. Nó là vấn đề quyền của công dân. Những quyền tự do dân sự của người dân phải được đảm bảo, được pháp luật bảo vệ, chứ không thể để cho tình trạng như vậy xảy ra được.
Tôi cho rằng với trách nhiệm của trung ương, riêng bản thân tôi qua đài BBC, tôi đề nghị là chính quyền trung ương phải nhanh chóng giải quyết vấn đề này, chứ nếu không hậu quả sẽ rất là nghiêm trọng. BBC: Trong thỉnh nguyện thư, các ông có đề nghị lập ra một ủy ban điều tra cấp nhà nước để điều tra về vụ Bát Nhã này, theo ông liệu người ta có làm chuyện đó hay không? Lê Hiếu Đằng: Chuyện làm hay không là quyền của người ta, nhưng đó là đề nghị hợp lý, bởi vì bây giờ tình hình hết sức nghiêm trọng rồi, phải điều tra xem trách nhiệm thuộc về ai. Qua việc (lập ủy ban) này, chúng ta tạo một tiền lệ là pháp luật phải được thực thi, những người làm không đúng thì phải bị trừng trị, chứ không thể bỏ qua được. Ủy ban nó có tính cách độc lập để điều tra cho ra lẽ nguyên nhân vụ việc và ai phải chịu trách nhiệm trong vụ này. BBC: Như trong trường hợp này thì bộ phận nào của chính quyền trung ương sẽ phải lên tiếng và ra tay? Lê Hiếu Đằng: Về mặt quản lý nhà nước theo hệ thống chính trị hiện nay thì đó phải là Ban Tôn giáo chính phủ. Và qua thư của các tăng ni trẻ thì một vị trong ban tôn giáo chính phủ trung ương đã hứa là sẽ vào Lâm Đồng để giải quyết và cũng đề nghị là 40 chư tăng ở chùa Phước Huệ giữ nguyên vị trí như vậy và cũng đề nghị vị Thượng tọa trụ trì chùa Phước Huệ chăm sóc và giữ nguyên trạng. Tôi nghĩ nếu đúng tinh thần như vậy thì chính quyền trung ương phải nhảy vào cuộc. BBC: Thưa, ông có phải là một Phật tử không ạ? Lê Hiếu Đằng: Không, gia đình tôi là gia đình Phật giáo, nhưng mà tôi thờ ông bà, không có thờ Phật. Nhưng mà tôi nghĩ đây là vấn đề chung hiện nay, không phải chỉ là vấn đề tôn giáo. Nó là vấn đề quyền của công dân. Những quyền tự do dân sự của người dân phải được đảm bảo, được pháp luật bảo vệ, chứ không thể để cho tình trạng như vậy xảy ra được.
Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel nói: ''Chủ nghĩa cộng sản đã tạo nên những con người dối trá"
ĐỨC QUỐC - Năm 2009 Phương Tây sẽ mừng kỷ niệm 20 năm thoát khỏi hiểm họa cộng sản trên toàn cõi Đông Âu, khởi đầu được bắt đầu bằng các phong trào cầu nguyện đòi dân chủ từ Đông Đức. Trong 20 năm vừa qua bao nhiêu tội ác, bất công, tù tội, giết người… do chủ nghĩa cộng sản gây ra tại Đông Âu được lột trần trước ánh sáng và công lý. Những bản án tố cáo sự tàn ác của cs được trực tiếp và gián tiếp, được người trong cuộc lẫn ngoài cuộc ghi lại trong sử sách nhân loại.
Mới đây nhất lời phát biểu của nữ thủ tướng, Dr. Angela Merkel vào ngày 07/5/2009 dịp nước Đức nhớ lại Phong trào nổi dậy đòi dân chủ tại Đông Đức cộng sản vào năm 1989 chống đối cuộc bầu cử gian lận ngày 07/5/1989 tại Đông Đức, là bản kết án hùng hồn nhất về một chủ nghĩa bất nhân, một chủ nghĩa gây bại hoại cho nhân loại: „Chủ nghĩa cộng sản đã tạo thành con người dối trá“. Bà Merkel kết án mạnh mẽ: „Đông Đức đã trở thành một hệ thống nhà tù kiểm soát chặt chẽ người dân nhất thế giới“. Tuy nhiên điều phá hủy được hệ thống vô luân này chính là niềm khát khao công lý và sự thật của người dân Đức, đó chính là „nền tảng cho nền dân chủ“ , chúng ta đang hưởng được tự do và công lý trong 20 năm qua, hôm nay „chúng ta không thể và không muốn quên đi tất cả những bất công đã xảy ra do cộng sản gây ra“ , những nhận định sắc bén này bà Merkel muốn nhắc nhở cho người dân Đức và cho thế giới tự do.
Nếu một nhân vật nào đó nói như thế thì chưa chắc có thể dựa trên một nền tảng chứng minh chắc chắn, nhưng với Angela Merkel, một người đã sống trong lòng cs và được đào tạo lớn lên từ đây thì không có lời nào chứng minh hùng hồn hơn được bằng những phát biểu của bà nói về tội ác cộng sản.
Cứ nhìn lại lịch sử trước đây 20 năm tại Đông Âu thì rất rõ ràng, chỗ nào cũng giăng đầy bảng đỏ chữ trắng tuyên truyền như “Chủ nghĩa Mác - Lê Nin muôn năm”, “Chủ nghĩa Mác - Lê Nin bách chiến bách thắng”, “Đảng cộng sản muôn năm”… Muôn năm như thế để cộng sản ác độc tạo ra nhiều thế hệ nhằm ca tụng một chủ nghĩa dối trá phi nhân hơn 70 năm trời. Tội ác cs đã gây ra những con số chết chóc khủng khiếp cho chính dân chúng của họ, có lẽ chỉ có ác thú mới làm được như sử gia Rudolph J. Rummel đã nêu ra trong sách "Death by Government":
Cộng sản Nga giết 61.911.000 người.
- Cộng sản Trung Hoa giết 35.236.000 người.
- Cộng sản Khmer đỏ giết 2.035.000 người.
- Cộng sản Việt Nam giết 1.670.000 người.
- Cộng sản Ba Lan giết 1.585.000 người.
- Cộng sản Nam Tư giết 1.072.000 người.
Nhìn về VN với một ví dụ rất điển hình của sự khát máu và tàn ác qua tên đồ tể của „Cải cách ruộng đất“ Đặng Xuân Khu (1907-1988), tự xưng là Trường Chinh, được sự đồng ý của Hồ Chí Minh cướp đất gây đại họa giết 172.000 người, và hơn 500.000 nạn nhân vô tội khác do chính tên đầu sỏ Trường chinh gây ra. Bao nhiêu cảnh giã man giết người trong cải cách ruộng đất với khẩu hiệu: "Trí, phú, địa, hào đào tận gốc" chẳng khác gì hơn sự diệt chủng rùng rợn của bọn cs Khmer đỏ, thế mà CSVN còn dựng lên tượng đài của tên đồ tể Đặng Xuân Khu tại một quảng trường lớn thuộc huyện Xuân Trường để tuyên dương công trạng giết người tàn ác này.
Nhận định của nữ thủ tướng Angela Merkel về cs Đông Đức không những có cơ sở chắc chắn, mà còn được nổi bật khi so sánh với lời tuyên bố của ông Mikhail Gorbachev: "Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lý tưởng cộng sản, nhưng ngày nay tôi phải đau buồn mà nói rằng "cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo".
Tại VN dịp kỷ niệm 55 năm ngày mở đường Trường Sơn cũng như kỷ niệm 55 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ đã có những bài báo từ Nga hé lộ cho biết công công lớn của người Nga ở Điện Biên. Tin mới nhất từ tác giả Sergey Balmasov phê phán cs Bắc Việt đã vô ơn quên hẳn những tình cảm về thời được Nga giúp trong cuộc chiến - theo tác giả, "chiến thắng vang dội (đó) không thể có nếu thiếu sự ủng hộ từ Nga". Lý do được tác giả dẫn chứng rằng "Pháo phòng không của Liên Xô đã tiêu diệt hoàn toàn hệ thống phòng thủ của Pháp" ở cứ điểm 17 nghìn quân tại Điện Biên.
CSVN vẫn dấu diếm và dối trá trong sự việc lớn này tại Điện Biên và dành công lớn cho chính mình.
Trong những ngày vừa qua dân cư trên mạng đã khám phá ra một điều rất thú vị có thể chứng minh CSVN đang dã tâm dâng hiến đất cho Tàu cộng qua trang trang website www.vietnamchina.gov.vn. Hiểu nôm na là trang website kết nghĩa anh em với Tàu cộng lấy tên miền gov.vn do chính phủ Việt Nam làm quản lý admin, nhưng nội dung đang phổ biến bằng tiếng Việt cho biết rất nhiều miền đất và hải đảo VN đang thuộc về người Tàu.
Có thể CSVN đang dối trá toàn dân trong việc hiến dâng bờ cõi thiêng liêng của tổ quốc cho ngoại bang chăng?
Về dự án bauxite tại Tây Nguyên, đang được toàn dân thuộc mọi tầng lớp, kể cả Võ Nguyên Giáp chú ý nói đến những hiểm họa về môi sinh và bệnh tật, trong khi đó csVN lại kêu gào thế giới về thảm trạng Da Cam trong chiến tranh. Liệu csVN có đảm bảo những thảm trạng dị tật từ bauxite theo thời gian không? Vì sao các quốc gia khác phải đóng cửa các mỏ quặng bauxite của họ? Chắc chắn thảm họa bauxite sẽ to lớn hơn chất độc da cam.
CSVN ngu dại hoặc cố tình dối trá dân chúng khi không để ý đến tin tức từ ChinaDaily, Xinhua đưa đi: „Ngày 11.5.2009, hội đồng Nhà nước Trung Quốc thông qua kế hoạch ba năm, hỗ trợ ngành công nghiệp khai thác chế biến kim loại màu (nhôm, đồng…) theo hướng tái cấu trúc và hiện đại. Theo đó, sẽ thành lập 3 – 5 doanh nghiệp chủ đạo trong ngành, và đến năm 2011 có 10 doanh nghiệp hàng đầu nắm đến 90% sản lượng đồng, 70% sản lượng nhôm, 60% kẽm… Các nhà máy nhôm, đồng… ô nhiễm sẽ bị đóng cửa, chính phủ (Tàu) khuyến khích và tài trợ vốn cho các doanh nghiệp đầu tư khai thác mỏ ở nước ngoài, kể cả hình thức liên doanh liên kết.“ (http://www.sgtt.com.vn/detail30.aspx...009/0512/51324).
Hẳn là không có sự ngẫu nhiên khi các cuộc cầu nguyện đòi Công Lý và Sự Thật được phát xuất từ Thái Hà – Hà Nội và can đảm hơn người dân Thái Hà cùng ghi danh “HÃY CỨU LẤY TÂY NGUYÊN KHỎI THẢM HOẠ BAUXITE ĐỎ”, điều này đúng với nhận định thêm của thủ tướng Angela Merkel vào cuối bài diễn văn: „Hậu quả tàn ác của cs đẩy con người vào đường cùng là dối trá với nhau, tuy nhiên khi sự dối trá được phơi bầy và người dân can đảm moi ra những điều gian lận (trong bầu cử) thì dẫn họ đến các phong trào đòi hỏi công lý. Và cuối cùng người dân Đông Đức biết kết thúc với trò chơi dối trá này. Như thế người dân can đảm tìm đến nhau, tạo dựng các phong trào nói về công lý và sự thật.“
Cuối cùng, hy vọng ông Nguyễn Tấn Dũng còn lương tâm và lòng tự trọng nghĩ lại câu nói của chính mình để xứng đáng với chức vụ thủ tướng và nhiều hơn nữa đừng dối trá cướp từng mảnh đất nhỏ của người dân VN để rồi hèn nhát dâng hiến bờ cõi tổ quốc cho giặc Tàu ngàn năm: “Tôi xin nói suy nghĩ riêng của mình. Tôi yêu nhất, quý nhất là sự trung thực, ghét nhất, giận nhất là sự giả dối”.
Tội ác cộng sản và Oscar
Lịch sử là tập hợp vô tận các dữ kiện, đổi thay, đầy ắp thiện, ác, vinh, nhục của con người.
Có thể quên đi quá khứ lịch sử để hướng về tương lai? Thiết tưởng không dễ dàng tìm ra câu trả lời, bởi vì nó tùy thuộc vào thời điểm phán xét sự kiện, vào nhân sinh quan, trình độ, kiến thức hiểu biết về lịch sử, và vào một điều quan trọng, là người đưa ra nhận định lạm dụng lịch sử như thế nào vào mục đích của mình.
Jean Tharaud, nhà văn, nhà xã hội học Pháp (1877-1952) đã từng nói: “Quá khứ xiềng trói và cột chặt ta lại với nó, trong khi chúng ta tưởng đã giải thoát được nó thì chính nó lại chỉ huy cả tư tưởng và hành động của ta”.
Cựu tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton trong chuyến thăm Việt Nam vào năm 2000, kêu gọi mọi người hướng về tương lai trong quan hệ Việt-Mỹ nhưng nhấn mạnh đến việc tôn trọng quá khứ. Ông nói: “Tôi đến đây một phần vì tin tưởng rằng Mỹ và Việt Nam gắn kết với nhau không chỉ bởi có chung một quá khứ bi kịch - một quá khứ phải được tôn trọng và ghi nhớ - mà còn vì chúng ta có thể cùng nhau xây dựng một tương lai tươi sáng để giải phóng người dân hai nước chúng ta và tiềm năng của họ”. (1)
Hiện tại và tương lai của con người là sự tiếp tục của quá khứ. Có muôn vàn sự thật khó khăn, nhức nhối của quá khứ vẫn là ẩn số. Thời gian là thước đo bản lĩnh trên con đường đi tìm sự thật, nhưng có nhiều sự việc hiển nhiên trải qua gần cả thế kỷ mà vẫn bị nhìn nhận khác nhau. “Lãng quên là hèn nhát hoặc anh hùng”, giữa hai khái niệm này dường như là bức tường kiên cố của con người trong trách nhiệm và đạo đức trước hậu thế. (2)
“Katyn” và Oscar 2008
Có lẽ ít ai để ý đến chi tiết “Katyn” khi nhà báo Ba Lan Maria Kruczkowska phỏng vấn hai vợ chồng Juang Chiang và Jon Halliday, đồng tác giả cuốn “Mao: The Unknown Story” trong bài "Hoàng đế quái vật" của tôi trên DCVOnline tháng 12/2007. Jon Halliday nói: “Tôi vừa nghe về cuốn phim “Katyn” của Wajda. Mỗi một dân tộc cần biết sự thật về mình. (...) Katyn là tội ác của người Nga với người Ba Lan, nhưng còn khó khăn hơn, khi tội ác đó gây ra bởi chính người của mình”.
Andrzej Wajda (Andrei Vaida) là đạo diễn Ba Lan nổi tiếng, từng đoạt nhiều giải thưởng lớn nhất tại các Festival phim quốc tế: “Cành Cọ Vàng” (1981, Cannes, Pháp), “César” (1982, Pháp), “Felix” (1990 - The European Film Awards), “Oscar” cho Toàn Bộ Sự Nghiệp Điện Ảnh (2000, Hoa Kỳ) và “Gấu Vàng” (2006, Berlin, Đức quốc).
“Katyn” của Wajda là phim truyện lịch sử nói về vụ thảm sát gần 22 ngàn binh sĩ Ba Lan tại khu rừng có tên “Katyn”, vào năm 1940. "Katyn" được chiếu tại Ba Lan từ tháng 9/2007.
“Katyn” được đề cử (nomination) giải Oscar 2008, giải thưởng điện ảnh có uy tín nhất thế giới của “Academy of Motion Pictures Arts and Science”, Hoa Kỳ, cho thể loại phim không nói tiếng Anh. Bên cạnh các đối thủ nặng ký như: phim “12” của N. Michalkov (Russia), “Forger” của Stefan Ruzowitzky (Austria), “Beaufort” của J. Cedara (Israel) và “Mongol” của S. Bodrov (Kazachstan), “Katyn” có đoạt Oscar hay không, chúng ta sẽ biết vào ngày chủ nhật 24/02/2008 tới.
Việc đề cử “Katyn” tranh giải Oscar 2008 đã tạo nên ấn tượng mạnh trong dư luận báo chí tại Ba Lan và nước ngoài, nhất là ở Hoa Kỳ, không riêng trong phạm vi điện ảnh, mà còn là vấn đề chính trị-lịch sử.
Richard Pipes, nhà sử học Hoa Kỳ viết: “Người Mỹ thường không thích phim nước ngoài. Họ nói rằng, đơn giản là họ không hiểu. Trong mối tương quan này, hoàn toàn có thể khẳng định rằng, nhiều người Mỹ vẫn sống bằng những ảo tưởng với vô số đề tài lịch sử - trong đó có cả đề tài về Liên Xô và người Nga. Cho nên, nếu như “Katyn” - vừa được đề cử Oscar ít ngày nay, đoạt giải thưởng cao nhất này, thì sẽ xuất hiện cơ hội, không phải chỉ cho nước Mỹ, mà là cho cả thế giới biết được một sự thật khó khăn trong quá khứ của mình”.
“Tất nhiên, không một chút nghi ngờ nào trong việc “Academy of Motion Pictures Arts and Science” đề cử “Katyn” trước hết vì giá trị nghệ thuật của bộ phim. Nhưng trong tiềm thức của tôi, quyết định này có một phạm trù lớn hơn và ý nghĩa cao hơn. Bi kịch năm 1940 tại rừng Katyn vẫn còn ít được biết đến trên thế giới, nếu không nói là xa lạ. Tôi cho rằng, việc thể hiện lại lúc này, biến cố - không riêng của lịch sử Ba Lan mà của cả nước Mỹ, là một thời điểm rất tốt. Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Nga trong thời gian gần đây không phải tốt nhất và người Mỹ đang tìm giải đáp cho câu hỏi, trong mối quan hệ này, lịch sử nước Nga, tâm lý hay tập quán đóng vai trò quan trọng nhất” – Richard Piper phân tích. (3a)
Một sử gia khác là Norman Davies, người Anh, nói: “… Trong một số vấn đề lịch sử của Ba Lan, cho đến ngày hôm nay bị làm ngơ khủng khiếp ở phương Tây. Câu hỏi đặt ra là làm sao đánh động được hàng triệu người không phải là kẻ thù của lịch sử Ba Lan mà đơn giản là họ không biết gì cả. “Katyn” không hợp với sự mường tưởng của họ về Thế chiến thứ II: phía Thiện, tức là những người chống lại Đức Quốc Xã III – và chỉ một phía Ác: phát xít Hitler. Sự thể là, trong cùng thời gian ấy còn một bạo chúa hãi hùng khác, đó là Liên Xô – mà trong thực tế người ta có biết đến nhưng rất hời hợt. (…) Sau khi Đức đổ bộ, đất nước Ba Lan còn bị cả quân Xô Viết tấn công…”. (3b)
Khi được hỏi, “Katyn” có mang lại thay đổi gì trong quan hệ Ba Lan-Nga, nhà báo danh tiếng Anne Applebaum (giải thưởng Pulitzer 2003 cho cuốn sách “A History Gulag” nói về các trại tù cải tạo Xô-Viết) của “The Washington Post” nói: “Ít khi có bộ phim hoặc cuốn sách nào tạo nên bước ngoặt ngay tức thì. Nhưng xây dựng mối quan hệ của hai nước giống như xây dựng một chiếc cầu chung: “Katyn” là viên gạch của chiếc cầu này, có tác dụng để người Ba Lan và người Nga hiểu nhau hơn. Phim của A. Vaida chắc chắn có thể hỗ trợ cho việc khởi điểm tìm lại sự thật lịch sử”. (3c)
Piere Manent, nhà triết học và lịch sử Pháp viết: “Lịch sử thế kỷ XX chưa được biết tường tận, đặc biệt về các tội ác của Stalin. Thậm chí phương Tây cũng không biết nhiều lắm về nó. Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, thế giới đã không hề gây áp lực gì với Nga để tìm lại căn cước lịch sử. Không hề có lời kêu gọi Gorbachev hay những người kế tục hãy nói lên sự thật và giải thích cho mọi người về những tội ác. Phương Tây cũng như nước Nga chẳng hề quan tâm đến những sự kiện này. (…) Phim ảnh có tác động tâm lý rất mạnh. Nhờ có “Schendler's List” mà người Mỹ có thể cảm nhận những bối cảnh đau thương của Thế chiến II. Tương tự, “The Pianist” (4) để lại cho con người nhiều suy gẫm. Và giờ đây là mặt khác của bối cảnh sự việc – Người Âu châu biết rằng Ba Lan bị Đức tấn công, nhưng vô số người không biết rằng, Liên Xô đã nhảy vào Ba Lan từ phía thứ hai. Những bộ phim như “Katyn” nhắc lại cho mọi người rằng, lịch sử không phải chỉ có trắng-đen và người Nga, kết thúc chiến tranh như những người đồng minh, nhưng họ đã cùng với Đức chia xẻ Ba Lan”. (3d)
Thủ tướng Đức, bà Angiela Merkel, đã đến xem để cổ vũ cho buổi ra mắt (premiere) quốc tế phim “Katyn” tại Festival Berlin diễn ra trong các ngày 15/02 -18/02/2008. Trong khuôn khổ của Festival này, các nhà bình luận cho rằng, “Katyn” trong con mắt của cộng đồng quốc tế là phát hiện của sự việc chưa được biết hoặc bị lừa dối - không chỉ trong các nước đã từng chịu sự kiểm soát của Liên Xô.
Michel Ciment, một trong những nhà phê bình điện ảnh nổi tiếng nhất của Pháp nhắc lại Festival Cannes 1974. Đạo diễn Nam Tư (Yugoslavia cũ) giới thiệu phim “Sweet Movie”, trong đó nói Katyn là tội ác của Liên Xô, đã bị những người cộng sản Pháp lúc bấy giờ chỉ trích về sự thiếu xác tín chính trị.
Nhật báo Pháp "Le Figaro" ngày 17/02/2008 viết: “Với hiểu biết cao rộng và sâu sắc về lịch sử và tình cảm con người, Wajda – người có cha là nạn nhân vụ thảm sát – đã đóng dấu ấn vào trang sử im lặng”.
Trong cuộc họp báo A. Wajda nói: “Tôi không muốn bộ phim này tham dự vào bất cứ cuộc chơi chính trị nào và trở thành đối tượng đầu cơ. Cũng như rất nhiều phim của tôi trước đây, “Katyn” là bức tranh của một thời đã qua và chúng ta phải nhớ. Những diễn viên trẻ tuổi nhập vai vào thế giới khác của một quá khứ không bao giờ trở lại”.
Khi nói đến việc nước Nga đình hoãn ra mắt “Katyn” vào ngày 5/03/2008 vì trùng vào kỷ niệm ngày chết của Stalin (5/03/1953), Wajda nói: “Chúng ta sẽ nghe những tiếng nói khác nhau từ nước Nga, kể cả những tiếng nói không muốn nhìn nhận sự thật, nhưng rõ ràng trong sự việc này không có áp lực từ trên xuống, bởi vì Sergiei Giermash, diễn viên người Nga, khi được tôi mời thủ vai sĩ quan Nga đã cứu vợ của một sĩ quan Ba Lan ngay khi nghe thấy tín hiệu đầu tiên (trong phim cũng như sự thật ngoài đời) đã nhận lời ngay: “Vâng! Tôi rất sung sướng”. Bộ phim “Katyn” không nhắm vào nước Nga”.
A. Wajda tâm sự: “… Không có cách nào khác hơn khi chia tay với nỗi đau bằng cách bày tỏ nó”. Và: “Câu chuyện Katyn có thể khó khăn và đưa đến sự đồng cảm không riêng cho người Ba Lan. Tôi đã lo ngại về trách nhiệm - với thế hệ trẻ, rằng họ sẽ đặt câu hỏi: ông ta kể lể chuyện gì thế này, hình như là gì đó của quá khứ lịch sử”. (5)
Thế nhưng, dù Andrzej Wajda đứng trong bối cảnh nào để phát biểu về phim của mình, thì “Katyn” cũng đã vượt ra khỏi những tâm tình, mong muốn của ông và biên giới Ba Lan.
Trong bài phân tích với tựa đề “Katyn của đạo diễn Wajda hiệu quả hơn rất nhiều chính sách lịch sử” trên nhật báo Dziennik ngày 24/01/2008, nhà phê bình C. Michalski viết: “Nhờ Wajda, kiến thức về tội ác Katyn mà trong đó ai là kẻ gây ra, sẽ chuyển tải một cách không so sánh được tới rất đông người trên thế giới, hơn bất kỳ nhà chính trị nào la hét trên Quảng trường Đỏ”.
- (1): Thông cáo báo chí của White House từ Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, ngày 19 tháng 11 năm 2000.
- (2): "Lãng quên là hèn nhát hoặc anh hùng", câu nói của Victor Marie Hugo (1802-1885), nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị Pháp, được xem là đại diện tiêu biểu nhất của văn học lãng mạn Pháp.
- (3a), (3b), (3c), (3d): Trích dẫn và chuyển ngữ từ nhật báo Ba Lan Dziennik 24-25/01/2008.
- (4): Bộ phim “Schendler’s List” (1993) của đạo diễn Hoa Kỳ nổi tiếng Steven Spielberg nói về Thế chiến II, đoạt 7 Oscars trong 12 chủng loại, ngoài ra còn đoạt các giải thưởng lớn khác như César, Quả Cầu Vàng, Gấu Vàng, v.v...
Cũng về đề tài Thế chiến II, bộ phim “The Pianist” (2002) của Roman Polanski, đạo diễn tài năng người Ba Lan đã giành 3 Oscars quan trọng nhất: Diễn viên nam chính xuất sắc nhất (Adrien Brody), Phim hay nhất và Kịch bản xuất sắc nhất. “The Pianist” cũng được trao nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng khác.
- (5): Trích dẫn và chuyển ngữ từ bình luận về "Katyn" tại Festival Berlin 2008 của Nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza online 15/02/2008.
Sự thật Katyn
Ngày 01/09/1939 Hitler tấn công Ba Lan, mở đầu Thế chiến lần thứ II. Thoả thuận ngầm với Đức Quốc Xã, ngày 17/09/1939, Liên Xô cho quân chiếm đóng các vùng phía Đông của Ba Lan. Khoảng hơn 20 ngàn sĩ quan, binh lính của quân đội quốc gia và cảnh sát Ba Lan bị bắt và bị nhốt tập trung trong các trại tù ở khu rừng Katyn (phía Tây của Belarus và Ukraine). (6)
Ngày 5/03/1940, Tổng thanh tra Bộ Nội vụ Liên Xô L. Beria gửi văn bản No. 794/B [794/Б] tới Stalin, đề nghị bắn bỏ không cần điều tra, luận tội 14.700 tù binh và 11.000 tù nhân khác (trong đó đại đa số là người Ba Lan) vì “không nhìn thấy sự hối cải của kẻ thù đối với lãnh đạo Xô Viết”.
Trên văn bản của L. Beria có các chữ ký của Stalin, Voroshilov, Molotov, Mikoian và thêm bút tích của Kalinin. Cùng ngày, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng Sản (ĐCS) Liên Xô ra quyết định No. P13/144 chuẩn y đề nghị của Beria.
Ngày 22/03/1940, L. Beria ra sắc lệnh No. 00350 và một trong những cuộc thảm sát có kế hoạch lớn nhất trong lịch sử Ba Lan và thế giới trong thế kỷ XX đã xảy ra.
Sự dối trá và sự thật nhức nhối
Năm 1987, trong khuôn khổ của Pierestroika Michail Gorbachev đã đồng ý thành lập uỷ ban hỗn hợp Liên Xô-Ba Lan với mục đích tìm sự lý giải cho những vết đen lịch sử trong quan hệ hai nước. Gọi tên uỷ ban như vậy nhưng trong thực tế là tìm phương thức thích ứng để công khai hoá thủ phạm. Cũng cần lưu ý ở đây rằng, với cương vị Tổng bí thư và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao, chắc chắn Gorbachev đã biết rõ "Hồ sơ đặc biệt Số 1" và văn bản số RP-979 [РП-979] của Viện Hàn Lâm Khoa học Nga, trong đó có âm mưu tìm lại nguồn thảm sát tù binh Nga để phản công lại phía Ba Lan.
Andrei Kunert, giáo sư tiến sĩ sử học nổi tiếng của Ba Lan đã từng nói trước công luận rằng, chỉ riêng phía Nga tạo dựng sự việc thảm sát tù binh thuộc quân xâm lược Bol-se-vich trong cuộc chiến 1920 giữa Nga và Ba Lan để làm đối trọng với Katyn - tội ác đối với hàng binh của nước Ba Lan bị xâm lược, tay không tấc sắt - đã là một trò đầu cơ bỉ ổi. Ông nói: “Các tài liệu lịch sử cho thấy rằng, trong 110 ngàn tù binh Bol-se-vich đã có 66 ngàn trở về nước, phía Ba Lan không hề giết hại một người nào. Khoảng 24-28 ngàn là nạn nhân của dịch tả và dịch sốt Rickettsia (typhus) hoành hoành trên toàn Âu châu bấy giờ, và đúng với số lượng ấy người ta đã gạt qua những đơn vị chiến đấu với Ba Lan. Trong những năm 90, chính phủ Ba Lan đã trao lại cho phía Nga toàn bộ hồ sơ lưu trữ về vấn đề này”. (7)
Vụ thảm sát Katyn đã được đưa ra Toà án Quân sự tại Nürnberg, Đức quốc, năm 1945. Công tố viên Liên Xô, tướng R.A. Rudenco đã buộc tội phát xít Đức thảm sát 11 ngàn tù binh Ba Lan tại Katyn. Tuy nhiên, đã không có phán xét chung cuộc vì không thể chứng minh được tội ác gây ra thuộc về người Đức.
Ngày 22/12/1953, một ủy ban của Thượng Viện Hoa Kỳ, sau nhiều cố gắng vận động của cộng đồng người Ba Lan tại Mỹ, đã gửi tường trình lên chính phủ và cáo buộc Liên Xô trước Toà án Quốc Tế (International Court of Justice) tại Den Haag (Netherlands), một định chế tư pháp của Liên Hiệp Quốc. Năm 1971, BBC cho chiếu bộ phim tài liệu với tựa đề: "Sự việc cần lãng quên".
Cuối những năm 50, dưới chỉ đạo của tổng bí thư N. Khrushchev, sếp KGB Alexander Shlepin đã bí mật nghiên cứu hồ sơ Katyn, sau đó bằng văn bản N-632-SH [Н-632-Ш] ngày 3/03/1959, đề nghị tiêu huỷ 21.857 cặp tài liệu nhân sự về các nạn nhân Katyn mà Sheplin gọi là “những tên tù của Ba Lan tư sản” - được coi là không có giá trị phân tích cũng như lịch sử, chỉ giữ lại những thứ quan trọng nhất, tập hợp trong một bộ hồ sơ mang tên "Hồ sơ đặc biệt Số 1". “Hồ sơ đặc biệt Số 1” này được cất giữ tuyệt mật và chỉ những người lãnh đạo cao nhất của đảng CS Liên Xô mới có quyền tiếp cận.
Năm 1978 người ta cho dựng bia kỷ niệm nạn nhân tại Katyn với dòng chữ: “Nạn nhân của chủ nghĩa phát xít – những sĩ quan Ba Lan bị bắn chết bởi quân đội Hitler trong năm 1941”.
Sự dối trá này được duy trì trong suốt gần 5 thập niên cuối của thế kỷ XX dưới chế độ cộng sản Ba Lan. “Katyn” trở thành đề tài nhạy cảm, bị cấm kỵ trong các tranh luận xã hội. Gia đình các nạn nhân phải ôm hận đau thương trong im lặng.
Năm 1989, chế độ cộng sản sụp đổ đầu tiên tại Ba Lan và tiếp theo là sự phá sản giây chuyền toàn bộ khối cộng sản tại Trung-Đông Âu và Nga. Ngày 14/10/1992, thừa lệnh tổng thống Boris Jeltsin, Viện lưu trữ Nga đã trao lại cho tổng thống Ba Lan L. Valesa toàn bộ các bản sao của Hồ sơ đặc biệt Số 1. Hồ sơ được công bố ngay cho công luận tại Ba Lan và tại Nga năm 1993 trên số đầu tiên của nguyệt san “Voprosi Histori”. Nhà nước Nga cũng đồng ý mở hồ sơ cho các nhà khoa học, lịch sử Ba Lan và các nước khác.
Ngày 30/11/2004, Viện Tưởng Nhớ Dân Tộc Ba Lan (The Institute of National Remembrance – Commission of the Prosection of Crime against the Polish Nation) chính thức điều tra “Tội ác Katyn”.
Ngày 11/03/2005 Viện Công tố Quân sự Tối cao Nga - mặc dù đã thu thập hàng trăm tập hồ sơ, tài liệu và đã có những cam kết hỗ trợ phía Ba Lan trước đó - ra thông báo về việc chấm dứt điều tra. Viện Công tố Quân sự Tối cao Nga chính thức cho rằng, “không có cơ sở để kết luận Katyn là tội ác chống nhân loại”. Thông báo giải thích rằng, việc trấn áp, giam giữ và đối xử với binh sĩ Ba Lan phù hợp với các tiêu chuẩn phổ cập vào thời buổi đó. Nước Nga xem vụ Katyn là tội phạm thông thường, do đó đã quá thời hạn hiệu lực hồi tố. Tồn tại một lý do trong việc đóng hồ sơ không được nói ra là có sự đồng loã của đảng Cộng sản Ba Lan trong việc bắt giữ sĩ quan và binh lính của quân đội quốc gia Ba Lan.
Phía Ba Lan vẫn giữ quan điểm của mình. Viện Tưởng Nhớ Dân Tộc Ba Lan nhờ “Memorial”, một tổ chức xã hội Nga chuyên sưu tập và nghiên cứu tội ác của chủ nghĩa Stalin, đánh giá tính pháp lý của kết luận do Viện Công tố Quân sự Tối cao Nga đưa ra. “Memorial” đã trả lời dựa trên điều khoản 193 điểm 17 của Bộ luật hình sự Nga (RFSRR) rằng, đây là “tội lạm quyền của những người lãnh đạo cao nhất trong Bộ chỉ huy Hồng Quân Liên Xô”.
Ngày 14/07/2007, quốc hội Cộng Hoà Ba Lan ra thông báo: “Để tưởng nhớ tất cả những người bị GUGB (8) giết hại trên cơ sở sắc lệnh của lãnh đạo cao nhất Liên Xô ngày 5/03/1940, Quốc hội Ba Lan quyết định lấy ngày 13 tháng Tư hàng năm làm Ngày Tưởng Nhớ Nạn Nhân Tội Ác Katyn”. (9)
Nói về thái độ thay đổi lật ngược của phía Nga, W. Konończuk, chuyên viên Trung tâm Nghiên cứu Phương Đông của Ba Lan nói: “Ba Lan không phải là ngoại lệ. Người Nga cũng thể hiện tương tự trong các quan hệ với Ukraine và các nước vùng Baltic. Chúng ta đừng quên nguồn gốc của tổng thống Putin: chỉ đạo viết lại lịch sử Liên Xô, ông ta xoá bỏ những tội ác gây nên bởi lực lượng đặc biệt, nơi mà từ đó ông ta xuất phát tiến thân”. (7a)
A. Gurianov, chuyên viên về Katyn của Tổ chức “Memorial” giải thích: “Chính quyền Nga hiện nay nói chung muốn làm ngơ trước những trang sử đen tối của lịch sử nước tôi. Trong nước Nga hiện đại đang có những đề tài tranh luận hoàn toàn khác về quá khứ. Với tất cả sức mạnh người ta đang cổ vũ cho các sự kiện khơi dậy tính anh hùng và vị thế cường quốc của nước Nga. Phần còn lại tốt nhất là quên đi”. (7b)
Trong dư luận Ba Lan, nhiều người cho rằng, nếu phía Nga thừa nhận Katyn là tội ác (diệt chủng) chống nhân loại, thì hàng trăm ngàn người thân của các nạn nhân Ba Lan hiện nay có quyền đòi nhà nước Nga bồi thường trước công pháp quốc tế. Điều này sẽ là một tổn thất to lớn về vật chất và đạo đức cho nước Nga.
Dù sao, việc phim “Katyn” của Wajda được cho chiếu rộng rãi tại Nga chứng tỏ động thái có bản lĩnh và thiện chí của Moscow. Phim của Wajda cùng với sự thật về Katyn, sự thật về Ba Lan – sự đòi hỏi lương tri và công lý – ít nhất đến được hàng trăm nghìn khán giả và giới elite Nga. Rất nhiều nhà trí thức trong các lĩnh vực khoa học và nghệ thuật Nga biết rõ thân thế và sự nghiệp của Wajda, nhân dịp này những bình luận của chính ông sẽ được chú ý, từ tội ác của chủ nghĩa cộng sản đến đối sách chính trị hiện nay qua lăng kính lịch sử.
Katyn và bài học nào cho người Việt
Ngay từ lúc bỡ ngỡ bước chân sang Ba Lan, trong trung tâm học tiếng dành cho sinh viên nước ngoài ở thành phố Lô-giơ (Lodz) trước khi vào đại học, tôi thường được nghe các giáo viên Ba Lan nói rằng, họ rất đồng cảm và yêu quý người Việt, vì Ba Lan và Việt Nam có cảnh ngộ tương đồng. Hai nước đều là những quốc gia nhỏ, có diện tích lãnh thổ xấp xỉ nhau, dân số cũng vậy (vào thời điểm năm 1969), có cùng số phận bất hạnh vì chiến tranh, bị kìm kẹp, lấn lướt triền miên bởi các nước láng giềng khổng lồ và nhất là giống nhau về tinh thần phản kháng chống xâm lược, hy sinh vì tự do.
Thế chiến thứ II đã cướp đi của dân tộc Ba Lan tới 1/3 số dân (khoảng 6 triệu người)! Toàn bộ thủ đô Vac-sa-va (Warsaw) bị bom đạn biến thành đống gạch vụn. Những cuộc khởi nghĩa tại Ba Lan bị tắm máu. Holocaust lớn nhất thế giới nằm ở phía Nam Ba Lan, nơi phát xít Hitler thiêu huỷ hàng triệu người Do Thái và các dân tộc khác là một trong những chứng tích tội ác diệt chủng khủng khiếp nhất của loài người.
Bất hạnh hơn, sau Thế chiến II, thoát khỏi thảm hoạ phát xít Đức thì Ba Lan lại rơi ngay vào thảm hoạ khác: các cường quốc thoả hiệp phân chia ảnh hưởng và Ba Lan bị áp đặt chế độ cộng sản toàn trị dưới sự lãnh đạo của Liên Xô. Trong thời gian 1944-1989, Ba Lan giống hệt như Việt Nam 1954-1975 ở miền Bắc và từ 1975 đến nay trên cả nước, người dân bị tước đoạt hầu hết các quyền cơ bản của đời sống chính trị và tinh thần, mà một trong đó là quyền được biết sự thật về lịch sử dân tộc mình. Bộ máy tuyên truyền của chế độ mở hết công suất, len lỏi vào mọi hang cùng ngõ hẻm, nhồi nhét vào đầu óc dân chúng từ thưở còn thơ ấu những điều dối trá. Vô số các dữ kiện lịch sử của đất nước bị đánh tráo, vo tròn bóp méo theo cách có lợi cho chế độ.
Đã có 18 năm chế độ dân chủ tự do mà để đi đến tận cùng sự thật như vụ thảm sát Katyn 1940, Ba Lan vẫn gặp phải không biết bao nhiêu chướng ngại và vẫn chưa có đáp số kết thúc như mong muốn. Sự thật vừa khó khăn, vừa nhức nhối, cay đắng! Cho nên trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, khi hệ thống chuyên chế, độc quyền của đảng CS Việt Nam còn tồn tại, khó có thể mở những cuộc điều tra, nghiên cứu cho nhiều vấn đề lịch sử gai góc.
Trong tương lai, các sử gia và các nhà khoa học sẽ phải có trách nhiệm đưa ra kết luận về số nạn nhân bị giết, ai là thủ phạm chính, chủ trương đưa ra từ Hồ Chí Minh, từ những người lãnh đạo cao nhất khác, từ quyết định chung của tập thể Bộ Chính Trị hay là do cá nhân cấp dưới tự quyết hoặc thi hành sai, trong các hồ sơ như: Thủ tiêu lãnh đạo các đảng phái và tổ chức không cộng sản trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; Cải cách ruộng đất; Cuộc thanh trừng giới trí thức văn nghệ qua vụ Nhân văn Giai phẩm; Bi kịch Nông Thị Xuân-Nguyễn Tất Trung; Vụ án xét lại chống Đảng; Vụ thảm sát Huế-Mậu Thân 1968; Cải tạo tù không qua xét xử hàng trăm ngàn quân nhân viên chức của Việt Nam Cộng hoà (VNCH) sau 1975; Vấn đề “bán bãi đổi vàng” trong thập niên 80; Các cuộc trấn áp và xử tù oan ức những người tranh đấu cho dân chủ, v.v…
Những điều trên đây nhất thiết phải dựa trên tư liệu, bằng chứng, nhân chứng. Nhưng chỉ có thể chứng minh một cách khoa học, khách quan khi và chỉ khi quá trình nghiên cứu, điều tra được thực hiện trong một thể chế dân chủ, các nhà chuyên trách có điều kiện tiếp cận trực tiếp hồ sơ lưu trữ ở Việt Nam cũng như trên thế giới, đặc biệt tại Pháp, Hoa Kỳ, Nga và Trung Quốc.
Tất nhiên, dưới ánh của công lý cũng cần xác minh các cáo buộc từ phía chính quyền cộng sản về vụ đầu độc hàng trăm tù nhân chính trị tại nhà tù Phú Lợi trong chiến dịch “Tố Cộng”, “Diệt Cộng” vào cuối thập niên 50 dưới thời chính quyền Ngô Đình Diệm, hoặc có dư luận cho rằng chính phía VNCH cũng thảm sát tù binh Bắc Việt trong Tết Mậu Thân 68, v.v… Có đúng sự thật không? Những câu trả lời phải được giải trình bằng tư liệu, mọi kết luận bằng các giả thiết, cảm tính, chủ quan đều không có giá trị pháp lý và lịch sử.
Từ vụ “Katyn” của Ba Lan cho thấy, người Việt chúng ta chắc chắn sẽ đứng trước những nan đề lớn: hồ sơ bị thất thoát, một phần hồ sơ mật có thể bị nhà cầm quyền hiện nay tiêu huỷ, nguỵ tạo, đánh tráo… Cho nên, tất cả những ai có lương tri và trách nhiệm đạo đức với lịch sử dân tộc phải tìm mọi cách ngăn chặn việc làm này. Huỷ bỏ có ý thức hồ sơ, tài liệu liên quan đến những biến cố quan trọng của đất nước là có tội với di sản của cha ông. Giới trí thức Việt Nam trong nước cũng như hải ngoại cần hợp tác tích cực để thu thập, cất giữ nó hầu chuyển lại cho thế hệ mai sau. Cần có sự quảng bá, chuyển tải đến dân chúng sứ mệnh trong sáng của việc đi tìm sự thật, làm cho họ hiểu rằng, nghiên cứu, điều tra để trả lại sự thật cho lịch sử dân tộc không đồng nghĩa với đào bới quá khứ và thù hận như chính quyền cộng sản vẫn chỉ trích. Và cũng vì để hoàn thành trách nhiệm mà dân tộc đặt lòng tin, các sử gia phải hoạt động minh bạch, khách quan và trong tình huống nào cũng tránh việc ném bùn vào phía mình không ưa thích. "Ném bùn vào người khác có thể ném trượt và tay mình cũng vấy bẩn". Trong vấn đề nghiên cứu lịch sử phải loại hẳn ra ngoài yếu tố thù hận, nên có thái độ như câu ngạn ngữ Anh: “Hành động nhắm vào trả thù là đặt mình ngang với kẻ thù, còn tha thứ là đặt mình cao hơn kẻ thù”.
Song song, còn một cách không kém phần quan trọng mà người Việt chúng ta vô cùng yếu kém, đó là sử dụng ngôn ngữ của nghệ thuật. Rất đáng tiếc và đáng buồn, đất nước Việt Nam có chiều dày lịch sử mấy ngàn năm với bao biến cố hoành tráng cũng như bi kịch, nhưng giới trí thức người Việt, không hoặc chưa có khả năng và tài năng để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật với tầm vóc lớn, chẳng hạn như phim “Katyn” (Andrzej Wajda), “Schendler’s List” (Steven Spielberg), “The Pianist” (Roman Podlanski), ... hay các tác phẩm văn học như “Gone With The Wind” (Margaret Mitchell), “Gulag History” (Anne Applebaum), “Mao: The Unknown Story” (Jung Chiang & Jon Halliday), v.v…
Nên nhớ rằng, “Katyn” là phim truyện xây dựng dựa trên chuyện có thật, chứ không phải phim tài liệu. Wajda đã chứng minh rằng, có thể dùng ngôn ngữ nghệ thuật nói về lịch sử. Ông làm phim, không cần đến quảng cáo chính trị, thậm chí "không muốn phim của mình tham dự bất cứ cuộc chơi chính trị nào hay trở thành đối tượng đầu cơ". Nhưng, các nhà bình luận cho rằng, bằng phương pháp này ông đã thanh toán xong nỗi đau cá nhân (cha ông là nạn nhân của vụ thảm sát) và hoàn thành bổn phận xã hội của mình với cả dân tộc. Ngôn ngữ thể hiện qua tác phẩm nghệ thuật, nếu biết đầu tư - không chỉ tiền bạc mà chủ yếu là tài năng và trí tuệ - bao giờ cũng dễ gần gũi, thuyết phục lòng người và tranh thủ được sự đồng cảm, hỗ trợ của cộng đồng quốc tế hơn là chỉ thiên về đả kích hẹp hòi hay chửi bới rẻ tiền, như Michalski đánh giá về hiệu quả của “Katyn”: “Nhờ Andrrzej Wajda, kiến thức về tội ác Katyn mà trong đó ai là kẻ gây ra, sẽ chuyển tải một cách không so sánh được tới rất đông người trên thế giới, hơn bất kỳ nhà chính trị nào la hét trên Quảng trường Đỏ”.
Warsaw, Ba Lan 20-21/02/2008
- (6): "Armia Krajowa", tạm dịch: "Quân đội Quốc gia Ba Lan", là lực lượng vũ trang của người Ba Lan trong Thế Chiến II chống lại sự chiếm đóng của Đức và Liên Xô, hoạt động bí mật trên lãnh thổ Ba Lan trước 1/09/1939 và cả ngoài Ba Lan sau đó. Đây là đội quân bí mật hùng mạnh nhất và được tổ chức tốt nhất tại châu Âu lúc bấy giờ. (Khác với Quân đội Nhân dân của đảng CS Ba Lan được thành lập 1/01/1944).
- (7), (7a), (7b): Trích dẫn và chuyển ngữ từ Nhật báo Ba Lan Dziennik online 18/09/2007.
- (8): GUGB, viết tắt từ tiếng Nga: Glavnoie Upravlenie Gosudarstviennoi Bezopastnosti, là cơ quan trung ương Liên Xô chuyên trách về an ninh nội chính, bảo vệ nhà nước, gián điệp và phản gián.
- (9): Toàn bộ tư liệu lịch sử trong bài viết về cuộc thảm sát Katyn được trích và chuyển ngữ từ nguồn Pl.Wikipedia.org.
Ngày thứ hai của phiên tòa xử 6 nhà hoạt động dân chủ tại Hải PhòngĐỗ Hiếu, phóng viên đài RFA2009-10-10Hôm nay, Thứ Sáu 9-10-2009, tòa Hải Phòng tiếp tục phiên xử 6 nhà hoạt động dân chủ, đây là ngày làm việc thứ nhì. Đến 4 giờ chiều phiên tòa kết thúc với các bản án từ 2 năm đến 6 năm tù giam cộng thêm thời gian bị quản chế đối với các bị cáo. AFP PHOTO/Ian Timberlake Các nhà bất đồng chính kiến Việt Nam trong phiên xử tại tòa án Hải Phòng hôm 8-10-2009. Hình chụp qua màn hình TV đặt bên cạnh phòng xử án. Phóng viên Đỗ Hiếu của Ban Việt Ngữ - Đài Á Châu Tự Do ghi lời thuật lại của thân nhân họ cùng như ý kiến của một số người liên quan: Trong giờ nghỉ trưa, bà Bùi Thị Rề, vợ nhà hoạt động dân chủ Nguyễn Văn Túc, là một trong số 6 bị cáo trình diện tại tòa ở Hải Phòng từ hai hôm nay, kể lại diễn tiến phiên xử bên trong: Phiên xử không công khaiBà Bùi Thị Rề: Ngày hôm qua với lại sáng hôm nay là vẫn còn đang tranh luận, chưa kết thúc được, chiều nay mới kết thúc được, bác ạ. Em được giấy triệu tập vào ngày hôm qua, rồi là buổi sáng nay. Đêm hôm qua phải ngủ trọ ở Hải Phòng, rồi ăn cơm quán. Em ở Thái Bình cơ mà. Sáng nay phiên tòa là cứ xoay quanh về vấn đề là hai cái băng biểu ngữ của mấy ông đấy mà Viện Kiểm Sát bảo rằng đây là hai cái băng chống đảng và nhà nước Việt Nam. Thế nhưng mà mấy ông này, sáu ông này với lại ông luật sư là mấy ông này cứng rắn lắm, bảo là "không phải là chúng tôi chống phá nhà nước việt Nam, chúng tôi yêu nhà nước Việt Nam". Nhưng mà nói thật với bác là phiên tòa này không phải là phiên tòa công khai, mà phiên tòa này có nghĩa là nó cho ai vào mới được vào. Thế mà công an nó vây quanh, cứ một người dân đi phải năm - sáu người công an đi theo. Ở quán ăn họ bức xúc, họ bảo thế thì xử công khai sao không đưa loa đài, cho lên loa đài để cho người ta vào người ta xem, xem những ông này bị những tội như thế nào. Bà Bùi Thị Rề
Thế mà em thì có hai mẹ con thì có giấy triệu tập vào, còn anh em nhà ảnh có đi thế nhưng phải đứng ở cách phiên tòa 2 cây số chứ nó không cho gần gũi ở đấy. Em nói thật phiên tòa này không phải phiên tòa công khai gì hết; nếu mà công khai thì sao không đưa ra quần chúng để nhân dân họ biết? Người dân ở đây họ bức xúc lắm. Ở quán ăn họ bức xúc, họ bảo thế thì xử công khai sao không đưa loa đài, cho lên loa đài để cho người ta vào người ta xem, xem những ông này bị những tội như thế nào. Thế nhưng mà em tin chắc là đây là nó giấu giếm. Kế đó, bà Nguyễn Thị Nga, vợ nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, người bị xem là người cầm đầu cuộc đấu tranh và có thể lãnh mức án cao nhất, báo tin với Đài chúng tôi khi tòa tạm ngưng lúc 12 giờ trưa: Bà Nguyễn Thị Nga: Họ chưa kết án hẳn đâu ạ, đến chiều nay ạ. Sáng nay thì là vấn đề tranh cãi. Từ Hà Nội, một nhà báo độc lập là anh Nguyễn Khắc Toàn cho biết tình hình chung mà các nhân vật đấu tranh cho dân chủ - nhân quyền phải đối mặt từ khi các phiên tòa nhóm họp mấy hôm nay để xét xử các ông Trần Đức Thạch, thầy giáo Vũ Hùng, kỹ sư Phạm Văn Trội, và hôm nay là 6 nhà đấu tranh dân chủ ở Hải Phòng. Ông Nguyễn Khắc Toàn: Ba người thì lập chốt trong 3 ngày hôm qua là gồm có tôi, Lê Thanh Tùng và Nguyễn Vũ Bình. Thế còn Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Thanh Giang, Trần Khải Thanh Thủy, thế rồi ông Phạm Quế Dương, nói chung là không bị. Họ ngại nhất là mấy người này có thể ra đi ra ngoài đó thì các phóng viên quốc tế là họ sẽ phỏng vấn hay chăng, vì thế cho nên Trần Khải Thanh Thủy mới đi được các nơi, nhưng mà khi mà họ phát hiện ra đi để viết bài thì họ lại ngăn chận. Ấy thì sơ bộ tình hình nó như thế. Án nặng vì không biết ăn năn hối cãiNgay sau khi được tin cho hay tòa Hải Phòng đã tuyên án 6 nhàhoạt động dân chủ, phóng viên Đài chúng tôi liên lạc với luật sư Trần Vũ Hải, từ đầu giây bên kia ông thuật lại: Họ ngại nhất là mấy người này có thể ra đi ra ngoài đó thì các phóng viên quốc tế là họ sẽ phỏng vấn hay chăng, vì thế cho nên Trần Khải Thanh Thủy mới đi được các nơi, nhưng mà khi mà họ phát hiện ra đi để viết bài thì họ lại ngăn chận. Ông Nguyễn Khắc Toàn
LS Trần Vũ Hải: Báo cáo anh thế này, là tôi thì cũng không trực tiếp có mặt tại thời điểm tuyên án, nhưng mà sau đó luật sư phụ tứ của tôi đã báo cáo lại bởi vì rằng tôi công tác ở TP.HCM, thì từ Hải Phòng tôi về Hà Nội sớm để về TP.HCM, nhưng mà phụ tá vừa trình báo với tôi kết quả như thế này: Anh Nguyễn Xuân Nghĩa là 6 năm tù và 3 năm quản chế. Còn anh Nguyễn Văn Túc là 4 năm tù và 3 năm quản chế. Anh Ngô Quỳnh là 3 năm tù và 3 năm quản chế. Còn 3 anh khác là tôi không bào chữa, nhưng mà cũng được biết là anh Nguyễn Mạnh Sơn và anhNguyễn Văn Tình thì là 3 năm 6 tháng, còn anh Nhàn tôi được biết là 2 năm tù cộng với 2 năm quản chế. Ông giải thích thêmrằng đây là những bản án khá nặng vì tòa phán là các bị cáo không biết ăn năn hối cải về những hành động của mình: LS Trần Vũ Hải: Tôi đã làm cái nhiệm vụ bào chữa tại phiên tòa, cũng đã nói khá đầy đủ, nói hết về những cái quan điểm. Tôi thaymặtthân chủ nói, tức là trong đó có điểm căn bản là tranh luận về các yêu cầu về đa nguyên đa đảng của các bị cáo có nên coi là vi phạm pháp luật Việt Nam hay không, coi là có chống nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam hay không. Chúng tôi thấy rằng là các bị cáo cũng đã đồng ý đề xuất này, quan điểm này của chúng tôi, tuy nhiêncái được hưởng đến mức gọi là giảm nhẹ về cái tình tiết gọi là "ăn năn hối cãi" theo cái luật Việt Nam cho nên là không được cái mức nhẹ hơn cái mức Viện Kiểm Sát đề xuất. Nói thật thì đi tùTrong khi đó luật sư Trần Lâm thì nhấn mạnh tại Việt Nam những ai nói lên sự thật xét thấy bất lợi cho chế độ thì đều phải đi tù: Luật pháp ở đây là luật pháp của một cáichế độ toàn trị, hay nói một cách khác hơn là độc tài, thì đã là ông vua thì ông ấy nói cái gì thì thần dân cứ phải nghe như thế. Vua nói tức là giời (trời) nói rồi. LS Trần Lâm
LS Trần Lâm: Thí dụ như cái chỗ bây giờ bảo Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam thế nhưng mà bây giờ nhà nước ta lúc bấy giờ chưa nói năng gì cái việc ấy một cách đầy đủ mà anh là người dân thường thôi thì anh lại đưa ra cái vấn đề nó quá lớn như thế thì ở Việt Nam là không chấp nhận. Đấy cái chỗ đó là chúng ta phải nhất trí với nhau như vậy. Luật pháp ở đây là luật pháp của một cáichế độ toàn trị, hay nói một cách khác hơn là độc tài, thì đã là ông vua thì ông ấy nói cái gì thì thần dân cứ phải nghe như thế. Vua nói tức là giời (trời) nói rồi.
|
|