Muốn tránh bệnh đái đường nên ăn dưới 200g gạo mỗi ngày - Những diễn biến về gạo tại VN
27.02.2009 17:24
Theo báo cáo của Tổ chức Lương nông của Liên hiệp quốc (FAO) và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, các vụ thu hoạch lúa trên toàn cầu đạt mức thấp nhất trong hơn hai thập niên... Do đó, giá gạo sẽ tăng vì người ta có thể thiếu xăng nhưng không thể thiếu gạo, nhất là các quốc gia dùng gạo làm thức ăn chính
Việt Nam xuất ít, ăn nhiều | Các công ty lương thực Việt Nam bắt đầu trang bị loại máy tách màu gạo xuất khẩu theo công nghệ Hàn Quốc để gia giá trị gạo xuất cảng. Ảnh : TTXVN |
So với các nước trong vùng Đông Nam Á như Thái Lan thì Việt Nam là nước có sản lượng cao hơn nhưng lại xuất cảng ít hơn. Người Thái Lan chỉ tiêu thụ 55% số lượng gạo sản xuất trong khi Việt Nam tiêu thụ 90% và điều này chứng tỏ rằng dân Việt Nam ăn gạo quá nhiều đến mức bệnh vì gạo thay vì mạnh vì gạo! Mỗi năm Thái Lan xuất cảng 45% số gạo sản xuất, mang lại được khoảng 2 tỉ USD và bớt đi rất nhiều ngân sách y tế về bệnh đái tháo đường và đồng thời làm giảm thiệt hại sản xuất cũng như vấn đề kinh tế và xã hội do bệnh này mang lại. Mức tiêu thụ gạo trung bình của các dân tộc dùng gạo làm thức ăn chính là 83kg/đầu người/năm, Myanmar là quốc gia tiêu thụ nhiều nhất - 237kg/năm, Việt Nam tiêu thụ 211kg chưa kể các sản phẩm biến chế từ bột gạo như mì, phở, bún, bánh v.v... Tính trung bình đầu người chúng ta tiêu thụ tổng cộng 350kg/năm - thật là lạm dụng và nguy hiểm cho sức khoẻ! Bỏ thói quen lạm dụng cơm gạo Tính khẩu phần tiêu thụ gạo trên đầu người Việt Nam tiêu thụ đến 350kg (theo thống kê năm 2003 là 212 kg chưa kể các thức ăn biến chế từ gạo như bún, phở, bánh v.v... và cho gia súc, so với Thái Lan là 155kg/năm, ít hơn gần 30%). Tôi giật mình, vì ở Canada, người ta chỉ ăn chừng 15kg/năm/người. Ngay cả người Việt tại Canada cũng tiêu thụ bằng 1/3 so người Việt trong nước. Vậy mà bác sĩ và chuyên viên khoa ẩm thực còn khuyên nên ăn ít chất tinh bột để tránh bệnh đái tháo đường, người nào đã có mầm mống hoặc đã phát hiện căn bệnh thì giảm thiểu khẩu phần gạo xuống còn nửa chén cơm mỗi bữa. Hèn gì, trong thời gian gần đây tôi nhận được nhiều tin bạn bè và người quen ở Việt Nam chết vì bệnh đái tháo đường ở tuổi rất trẻ, 40, 50 và 60! Theo kết quả nghiên cứu mới nhất của 2 vị tiến sĩ Supriya Krishnan, D.Scf, Boston University School of Public Health vàRaquel Villegas, Ph. D., of VanderbiltUniversityMedicalCenter, Nashville, Tenn.USA năm 2008 (http://www.topnews.in/health/eating-rice-increases-type-2-diabetes-risk-women-21) trên 100.000 phụ nữ da đen và da vàng thì ai ăn trên 200 gram gạo một ngày sau nầy dễ mắc bệnh tiểu đường, nghĩa là nhà 5 người mỗi ngày ăn 3 bửa không nên quá 1kg gạo, tức mỗi bửa ăn chỉ 1 lon gạo là tránh được nguy cơ bệnh hoạn. Tóm lại người Việt nên ăn bớt gạo lại. Chỉ cần ăn bằng người Thái Lan 155kg/năm tức hai ngày ăn 1 kg trở lại cho một người chúng ta sẽ thặng dư thêm khoảng 6 triệu tấn để xuất cảng cộng với hiện nay đang xuất cảng 5 triệu tấn = 11 triệu tấn, trong khi Thái Lan chỉ đạt 8,5 triệu tấn và năm 2009 về sau có thể giảm trên 30% Ngô Văn Tân (Canada) Lập OREC Trong nước, dân thành thị cũng đã bớt ăn gạo và chỉ chuộng gạo ngon, thơm. Tại Bắc Mỹ nhiều người tìm mua gạo Việt Nam sau khi nghe tin gạo Thái Lan bị nhiễm độc chất cadmium có thể làm xốp xương nguy hiểm tính mạng nhưng chẳng có tiệm nào bán cả. Việt Nam chú ý tới người Việt ở hải ngoại (3 triệu người), giả sử mỗi đầu người tiêu thụ mỗi ngày 1 lon gạo tức mỗi năm 120kg thì nhân lên sức tiêu thụ của cộng đồng hải ngoại là 360.000 tấn gạo. Một thị trường như vậy mà không khai thác được là uổng. Hiện nay, Thái Lan xuất cảng gạo 8,5 triệu tấn, Việt Nam xuất cảng 5 triệu tấn, muốn đuổi kịp Thái Lan -Việt Nam nên đặt mục tiêu tăng năng suất và xuất cảng 8%/năm thì năm 2015 Việt Nam sẽ chiếm vị trí số 1 thế giới. Nhưng nếu người VN ăn bớt gạo lại 20% thì có thể vượt mức xuât kẩu của Thái ngay năm nạy Với liên minh xuất khẩu gạo, Việt Nam nen can đảm đứng ra chủ toạ mời họp thành lập Tổ chức Các quốc gia xuất cảng gạo OREC (Organization of the Rice Exporting Countries). Việt Nam nên liên hệ với các đối tác xuất cảng gạo thế giới và tổ chức phiên họp ngay tại Việt Nam thành lập Tổ chức Các quốc gia xuất cảng gạo để bảo vệ quyền lợi nông dân và kinh tế nông nghiệp của quốc gia trong nhóm sau này. |
Thái Lan đề xuất thành lập kho gạo chung của khối ASEAN Ngày 27/2/2009. Cập nhật lúc 21h 3' (ĐCSVN) - “Quỹ gạo và Kho dự trữ gạo” giữa các nước ASEAN nhằm bảo đảm an ninh lương thực và tránh khủng hoảng lương thực của các thành viên trong tương lai của Thái Lan là một trong 3 vấn đề quan trọng sẽ được đề xuất và đưa ra thảo luận tại Hội nghị Thượng đỉnh 14 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ chính thức tại Thái Lan từ ngày 27/2 đến 1/3/2009.
Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 14 Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á –ASEAN 14 diễn ra tại Thái Lan năm nay cũng như những hội nghị lần trước. Trước Hội nghị, sẽ diễn ra cuộc họp của các quan chức kinh tế cấp cao (SEOM) và các quan chức cấp cao (SOM) nhằm rà soát lại các nội dung và chuẩn bị báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế và Bộ trưởng Ngoại giao. Các vấn đề được báo cáo lên Hội nghị Thượng đỉnh sẽ được xem xét và đưa ra trong tuyên bố Hua Hin, Thái Lan - nơi kỳ họp diễn ra.
Hội nghị lần này tập trung thảo luận ba vấn đề quan trọng: vấn đề bảo hộ mậu dịch; các cuộc họp của Hội đồng AEC được các nước thành viên coi như một diễn đàn tạo thành công cụ nhằm đánh giá tính hiệu quả trong việc thúc đẩy AEC, nhằm đảm bảo sự thúc đẩy hội nhập kinh tế, chính trị, văn hóa trong khu vực; bàn về an ninh lương thực, trong đó Thái Lan sẽ đề xuất việc thành lập các kho dự trữ gạo chung của Khối nhằm bảo đảm an ninh lương thực và tránh khủng hoảng lương thực của các thành viên trong tương lai. Ngoài ra, Hội nghị cũng sẽ bàn các vấn đề liên quan Vòng Đàm phán Doha. Tại đây, sẽ ký 8 thỏa thuận Thương mại đã được Quốc hội thông qua, bao gồm: Hiệp định Thương mại hàng hóa; Nghị định thư về tự do hóa đầu tư và dịch vụ ASEAN; Hiệp định Vận chuyển máy móc, được phẩm; Hiệp định Tự do thương mại ASEAN – Hàn Quốc; Hiệp định Tạo thuận lợi đầu tư ASEAN – Trung Quốc; Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ; ASEAN – Úc – New Zeland và Bản Ghi nhớ Thái Lan – Indonesia về đường. Tuy nhiên, Ấn Độ có nhiều khả năng chưa sẵn sàng ký Hiệp định Thương mại tự do với ASEAN lần này vì đang cân nhắc về thời gian và lộ trình cắt giảm thuế.
Tại Hội nghị lần này, nước chủ nhà Thái Lan sẽ đề xuất sáng kiến “Quỹ gạo và Kho dự trữ gạo” giữa các nước ASEAN nhằm bảo đảm an ninh lương thực và tránh khủng hoảng lương thực của các thành viên trong tương lai. Sở dĩ Thái Lan đề xuất sáng kiến này vì Thái Lan cho rằng, với số dân trên 550 triệu người của 10 quốc gia Đông Nam Á, việc lập kho gạo dự trữ trên sẽ giúp các nước thành viên ASEAN ngăn chặn sự thiếu hụt gạo, đảm bảo giá gạo không tăng đột biến nhất là trong giai đoạn kinh tế toàn cầu đang bị suy thoái như hiện nay. Theo sáng kiến này, các nước thành viên sẽ cung cấp, góp vốn cho kho dự trữ gạo. Khi một nước nào trong Khối bị thiếu gạo, họ có thể tiếp cận với kho dự trữ gạo này. Chính phủ Thái Lan sẽ tính toán giá trị của gạo trên cơ sở giá thị trường (như hiện nay khoảng từ 600-700 USD/tấn). Thái Lan cũng sẽ đề xuất góp 3 triệu tấn gạo hàng năm cho Quỹ dự trữ gạo. Trong trường hợp không xảy ra việc thiếu gạo, Thái Lan sẽ bán số gạo dự trữ đó và thay thế bằng chương trình đóng góp gạo tiếp theo.
Tuy nhiên, đề xuất của Thái Lan còn phải được đưa ra thảo luận tại cuộc họp Cấp cao ASEAN 14 lần này và chắc chắn sẽ còn được thảo luận ở nhiều cấp chuyên viên giữa các nước trong ASEAN./.

| Từ 27/2 đến 1/3/2009, Hội nghị Thượng đỉnh 14 của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) sẽ chính thức diễn ra tại Thái Lan. |
CôngThương - Nhân sự kiện này, phóng viên Báo Công Thương đã có buổi phỏng vấn Ông Nguyễn Thành Hưng- Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thái Lan về công tác chuẩn bị trước khi sự kiện này diễn ra cũng như mối quan hệ kinh tế- thương mại Việt Nam- Thái Lan.
Ông có thể nói qua về lịch trình cụ thể của Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 14 Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á –ASEAN 14 ? - Về lịch trình Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ 14 Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á –ASEAN 14 diễn ra tại Thái Lan năm nay cũng như mọi lần. Trước Hội nghị, sẽ diễn ra cuộc họp của các quan chức kinh tế cấp cao (SEOM) và các quan chức cấp cao (SOM) nhằm rà soát lại các nội dung và chuẩn bị báo cáo lên Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế và Bộ trưởng Ngoại giao. Tiếp ngay sau đó, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao và Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế sẽ họp và thảo luận các nội dung trên cơ sở báo cáo và kiến nghị của SOM và SEOM. Ngoài ra, trước Cấp cao ASEAN 14 có Hội nghị Bộ trưởng Tài chính, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng cũng diễn ra tại Thái Lan. Các vấn đề được báo cáo lên Hội nghị Thượng đỉnh sẽ được xem xét và đưa ra trong tuyên bố Hua Hin, Thái Lan - nơi kỳ họp diễn ra. Về nội dung của kỳ họp lần này, theo tôi được biết, có 3 vấn đề quan trọng sẽ được đặt lên bàn nghị sự tại Cấp cao ASEAN 14. Trước hết là vấn đề bảo hộ mậu dịch. Dự kiến, các nhà lãnh đạo sẽ đưa ra một tuyên bố chung về vấn đề này. Hiện nay, các rào cản phi thuế quan đã làm chậm lại tăng trưởng xuất khẩu của cả Khối. Hai là, Cấp cao ASEAN 14 sẽ có một cuộc họp đầu tiên của Hội đồng kinh tế ASEAN – AEC. Các cuộc họp của Hội đồng AEC được các nước thành viên coi như một diễn đàn tạo thành công cụ nhằm đánh giá tính hiệu quả trong việc thúc đẩy AEC, nhằm đảm bảo sự thúc đẩy hội nhập kinh tế, chính trị, văn hóa trong khu vực. Ba là, Hội nghị Cấp cao ASEAN 14 sẽ bàn về an ninh lương thực, trong đó Thái Lan sẽ đề xuất việc thành lập các kho dự trữ gạo chung của Khối. Ngoài các vấn đề trên, Cấp cao ASEAN cũng sẽ bàn các vấn đề liên quan Vòng Đàm phán Doha. Tại đây, sẽ ký 8 thỏa thuận Thương mại đã được Quốc hội thông qua, bao gồm: Hiệp định Thương mại hàng hóa, Nghị định thư về tự do hóa đầu tư và dịch vụ ASEAN, Hiệp định Vận chuyển máy móc, được phẩm, Hiệp định Tự do thương mại ASEAN – Hàn Quốc, Hiệp định Tạo thuận lợi đầu tư ASEAN – Trung Quốc, Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ, ASEAN – Úc – New Zeland và Bản Ghi nhớ Thái Lan – Indonesia về đường. Tuy nhiên, Ấn Độ có nhiều khả năng chưa sẵn sàng ký Hiệp định Thương mại tự do với ASEAN lần này vì đang cân nhắc về thời gian và lộ trình cắt giảm thuế. Để chuẩn bị cho chuyến làm việc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng tại Thái Lan, Đại sứ quán Việt Nam nói chung và cơ quan Thương vụ Việt Nam tại Thái Lan nói riêng chắc hẳn đã có những nỗ lực không nhỏ? - Ngay từ khi được tin Cấp cao ASEAN 14 tổ chức tại Thái Lan vào cuối tháng 2 đầu tháng 3/2009, Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan đã cử cán bộ trực tiếp làm đầu mối liên hệ với Bộ Ngoại giao Thái Lan theo sự hướng dẫn của nước chủ nhà. Trong sự chuẩn bị chung của Đại sứ quán, Thương vụ là một trong các cơ quan cũng tập trung vào các hoạt động đó.  | Ông Nguyễn Thành Hưng- Tham tán Thương mại Việt Nam tại Thái Lan.
| Ngay từ đầu tháng 2/2009, Thương vụ đã trực tiếp xuống khảo sát địa điểm họp và nơi ở cụ thể cho đoàn. Đồng thời, chúng tôi cũng đã tìm hiểu những dịch vụ y tế, tham quan… khi cần thiết, mặc dù nước chủ nhà đã chuẩn bị các dịch vụ này tương đối chu đáo. Trong suốt hai tháng trước khi diễn ra Hội nghị, Thương vụ thường xuyên giữ liên hệ chặt chẽ với Vụ Chính sách Thương mại Đa biên và Vụ Châu Á Thái Bình Dương của Bộ Công Thương Việt Nam để làm cầu nối với các cơ quan liên quan của nước chủ nhà như Bộ Thương mại, Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Úc tại Thái Lan trao đổi những ý kiến chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng về chương trình ký thoả thuận công nhận nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường giữa Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam với Bộ trưởng Thương mại Úc, Bộ trưởng Thương mại New Zeland.
Chúng tôi cũng đã chuẩn bị báo cáo về quan hệ kinh tế, thương mại song phương trong những năm gần đây, đặc biệt trong năm 2007 và 2008. Trong các nội dung đó, Thương vụ đã báo cáo những lĩnh vực hai bên có thể thúc đẩy hơn nữa hợp tác song phương như hợp tác xuất khẩu gạo, xúc tiến Thương mại, quản lý thị trường nội địa và hợp tác trên diễn đàn quốc tế. Thương vụ cũng kiến nghị dự kiến hoạt động năm 2009 để báo cáo Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng và Bộ tổng hợp báo cáo Thủ tướng. Chính sách của Thủ tướng Thái Lan Abhisit Vejjajiva hiện nay là nỗ lực tập trung thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Điều này ảnh hưởng rất tích cực đến quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam- Thái Lan năm 2008? - Đúng vậy, năm 2008 thương mại hai chiều Việt Nam- Thái Lan phát triển tương đối mạnh, Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan đạt trên 1.446 triệu USD, tăng trên 30% so với năm 2007 nâng kim ngạch xuất nhập khẩu lên gần 6.464 triệu USD, tăng 31,5% so với năm trước. Trong đó phải kể tới những mặt hàng mới của Việt Nam trong năm 2008 được xuất khẩu sang Thái Lan là gạch men, áo mưa, mành trúc, chiếu tre, giấy dán tường… và những mặt hàng Việt Nam cấp form D xuất khẩu sang Thái Lan chiếm tới 50% trong số hàng được hưởng form D từ các nước ASEAN vào Thái Lan. Bên cạnh đó, đầu tư Thái Lan vào Việt Nam trong năm 2008 tăng mạnh, thêm 17 dự án đưa tổng số dự án lên 170 dự án với số vốn trên 6 tỷ USD. Năm 2008, Thái Lan đứng thứ 8 trong số nước ngoài đầu tư vào Việt Nam thay vì xếp hàng thứ 11 như năm 2007. Năm 2009, trước tình hình khó khăn chung của kinh tế thế giới, trong đó kinh tế Thái Lan cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Hơn nữa, một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trước đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang Thái Lan thì dần dần sẽ giảm bớt do nhu cầu sử dụng trong nước tăng như dầu thô, điều này dễ dẫn đến kim ngạch thương mại hai chiều sẽ khó tăng trưởng mạnh như năm 2008. Sáng kiến lập kho dự trữ gạo khu vực các nước ASEAN cụ thể là như thế nào, thưa ông? Kho trữ gạo hình thành sẽ có ảnh hưởng ra sao đến an ninh lương thực và triển vọng gạo xuất khẩu của Việt Nam cũng như Thái Lan trong thời gian tới? - Theo đề xuất của Thái Lan, “Quỹ gạo và Kho dự trữ gạo” giữa các nước ASEAN nhằm bảo đảm an ninh lương thực và tránh khủng hoảng lương thực của các thành viên trong tương lai.Thái Lan cũng cho rằng, với số dân trên 550 triệu người của 10 quốc gia Đông Nam Á, việc lập kho gạo dự trữ trên sẽ giúp các nước thành viên ASEAN ngăn chặn sự thiếu hụt gạo, đảm bảo giá gạo không tăng đột biến nhất là trong giai đoạn kinh tế toàn cầu đang bị suy thoái như hiện nay. Theo sáng kiến này, các nước thành viên sẽ cung cấp, góp vốn cho kho dự trữ gạo. Khi một nước nào trong Khối bị thiếu gạo, họ có thể tiếp cận với kho dự trữ gạo này. Chính phủ Thái Lan sẽ tính toán giá trị của gạo trên cơ sở giá thị trường (như hiện nay khoảng từ 600-700 USD/tấn). Thái Lan cũng sẽ đề xuất góp 3 triệu tấn gạo hàng năm cho Quỹ dự trữ gạo. Trong trường hợp không xảy ra việc thiếu gạo, Thái Lan sẽ bán số gạo dự trữ đó và thay thế bằng chương trình đóng góp gạo tiếp theo. Tuy nhiên, đề xuất của Thái Lan còn phải được đưa ra thảo luận tại cuộc họp Cấp cao ASEAN 14 lần này và chắc chắn sẽ còn được thảo luận ở nhiều cấp chuyên viên giữa các nước trong Khối.
Xin chân thành cám ơn ông!
Vân Anh (thực hiện) |
| Xuất khẩu gạo 2009 - sự khởi đầu thuận lợi | | |
Mặc dù hoạt động xuất khẩu nói chung đang gặp khó khăn, nhưng xuất khẩu lúa gạo lại đang phát đi những tín hiệu khá tươi tắn. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc cho rằng, khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam! Tháng 2 - tháng xuất khẩu kỷ lục trong lịch sử xuất khẩu gạo 20 năm qua Tháng 1-2009 mặc dù là tháng giáp hạt, nhưng cả nước đã xuất được 310.000 tấn gạo. Trong lịch sử xuất khẩu gạo 20 năm qua, đây là tháng xuất khẩu kỷ lục. Trong vòng 9 ngày đầu tháng 2, các doanh nghiệp đã xuất thêm 74.000 tấn gạo với giá bán khoảng 390 USD đến tới 400 USD/tấn, giải quyết được khoảng một nửa số gạo tồn kho từ năm 2008. Giá gạo bình quân trong tháng 2-2009 có thể đạt tới 410 USD, cao hơn tháng 1-2009. Trong tháng 2-2009, các doanh nghiệp sẽ nỗ lực giao khoảng 550.000 - 600.000 tấn. Như vậy, cả 2 tháng đầu năm có thể đạt 900.000 tấn (trong khi cùng kỳ năm trước chỉ đạt 300.000 tấn). Một số doanh nghiệp xuất khẩu gạo cho biết, trong tuần cuối tháng 1-2009, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 20 USD so với tháng trước. Trong đó, có những doanh nghiệp đã ký được hợp đồng xuất khẩu với giá rất hấp dẫn như gạo 5% tấm có giá 500 USD/tấn, gạo 25% tấm: giá 400 USD/tấn (giá FOB). Năm 2009, Việt Nam có thể đạt mục tiêu xuất khẩu được 5 triệu tấn gạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo tổng sản lượng lúa năm 2009 có thể đạt 38 triệu tấn. Đồng bằng sông Cửu Long năm nay sẽ được mùa lớn, sản lượng chắc chắn sẽ đạt 5 triệu tấn. Dự báo được mùa đi liền với khả năng mở rộng thị trường và giá bán có xu hướng nhích lên làm cho ngay từ những ngày cuối tháng 1-2009, thị trường lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long đã nhộn nhịp trở lại. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo thu mua với số lượng lớn lúa gạo nguyên liệu, chuẩn bị chế biến phục vụ cho những hợp đồng xuất khẩu đầu năm 2009. Theo tính toán, vụ đông xuân 2009 có thể đạt 9-10 triệu tấn lúa, năng suất bình quân đạt 6,2-6,4 tấn/ha. Với giá lúa gạo ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đang nhích lên theo chiều hướng khả quan, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long tính toán: với giá lúa trên 4.000 đồng/kg, sau khi trừ mọi chi phí, nông dân sẽ có lãi khoảng 50% - một tín hiệu đáng mừng cho thị trường lúa gạo nói riêng và cho lĩnh vực xuất khẩu nói chung, trong năm nay. Còn theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), trong bối cảnh các nước phải tăng cường dự trữ lương thực trước những rủi ro từ khủng hoảng tài chính, trong năm 2009, Việt Nam có thể xuất khẩu được 5 triệu tấn gạo. Cũng theo FAO, năm 2009, tuy giá gạo không tăng đột biến như năm 2008, nhưng vẫn tiếp tục ở mức cao. So với năm 2003, giá gạo tăng khoảng hai lần do nhu cầu gạo của các nước tăng cao trong khi nguồn cung không tăng. Hiện giá phân bón và các vật tư nông nghiệp đã giảm tới 50%, trong khi giá xuất khẩu không giảm nhiều. Đây là tín hiệu tích cực đối với nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam, và là cơ hội để bù đắp phần nào thiệt hại mà nhà nông và doanh nghiệp Việt Nam đã gặp phải trong năm 2008. Hiện nay, diện tích trồng lúa của Việt Nam là 7,5 triệu ha, sản lượng khoảng 39 triệu tấn. Do vậy, mục tiêu xuất khẩu 4,8 triệu tấn gạo trong năm nay là hoàn toàn có thể đạt được. Những vấn đề cần quan tâm Mặc dù được mùa và có những dấu hiệu tích cực về giá, thị trường tiêu thụ..., tuy nhiên, vẫn rất cần quan tâm đến những yếu tố có tác động không thuận, ảnh hưởng tới những cơ hội, triển vọng tốt đẹp. Chẳng hạn, tình trạng người nông dân mở rộng diện tích trồng lúa một cách tự phát do giá gạo tăng cao. Có thể tham khảo kinh nghiệm của Thái Lan. Chủ tịch Hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan Chookiat Ophaswongse trong chuyến khảo sát vựa lúa vùng Đông Bắc Thái Lan nói: "Chính phủ đã phát tín hiệu sai lầm ngay từ ban đầu. Giá gạo cao theo chương trình can thiệp giá của chính phủ khuyến khích người nông dân mở rộng diện tích trồng lúa trong khi giá gạo đang có xu hướng giảm". Theo ông, giá gạo hấp dẫn trong vụ mùa vừa qua đã khuyến khích người nông dân trồng thêm 450.000 rai (1 rai = khoảng 16.000 m2) lúa, tương đương khoảng 3% sản lượng lúa. Trong khi đó, thị trường gạo toàn cầu bỗng trở nên ảm đạm, không có hợp đồng lớn được ký kết. Do các nhà nhập khẩu gạo cho rằng, chính phủ có lượng gạo dự trữ rất lớn, nên họ đã giảm các hợp đồng mua gạo vì tin rằng giá gạo sẽ còn xuống thấp hơn nữa. Vì thế, Thái Lan sẽ không thể đạt mục tiêu xuất khẩu 9,5 triệu tấn gạo trong năm 2009; đồng thời, Thái Lan cũng sẽ mất một số thị trường cho Việt Nam và Ấn Độ. Thực tế cho thấy, năm 2008, Thái Lan đã được hưởng lợi, do Việt Nam và Ấn Độ hạn chế xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực trong nước. Phó Chủ tịch Charoen Laothammatas nói rằng, nếu năm 2008 là năm vàng của các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan thì năm 2009 sẽ là năm khó khăn khi giá gạo có thể từ 1.000 USD/tấn xuống còn 300USD/tấn. Hiện đã có nhiều khách hàng từ Phi-lip-pin, Xin-ga-po và một số nước châu Phi liên hệ với các doanh nghiệp trong nước để ký hợp đồng xuất khẩu gạo. Nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới Phi-lip-pin sẽ nhập khẩu của Việt Nam 1,5 triệu tấn gạo trong năm 2009. Một hiện tượng cần quan tâm khác là tình trạng trồng lúa thơm tự phát trong vụ đông xuân ở đồng bằng sông Cửu Long đã lên tới 25% đến 30% diện tích. Lúa thơm ở đồng bằng sông Cửu Long trồng hơi khó do vùng sinh thái, thổ nhưỡng... nên chưa đạt mùi thơm theo chuẩn. Giống lúa thơm tốt thường phải trồng ở vùng nước lợ cặp ven biển mới có mùi thơm. Việt Nam lại chưa có thương hiệu về lúa thơm nên khó bán, vì thế, gạo thơm của Việt Nam chưa thể cạnh tranh với gạo thơm của Thái Lan, nên rất có thể gạo thơm chỉ bán bằng với giá gạo thường như đầu năm 2004, 2008. Vì vậy, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long khuyến nghị, đồng bào chỉ nên trồng một phần nào để cung cấp cho nhà hàng, khách sạn có nhu cầu./. Trong năm 2008, Việt Nam đã ký hợp đồng xuất khẩu 5,1 triệu tấn gạo, đã giao 4,65 triệu tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 2,9 tỉ USD, gấp hơn hai lần so với năm 2007 (1,4 tỉ USD). Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2008 cũng đạt mức cao, bình quân là 550 USD/tấn, gần gấp đôi so với năm trước. |
Nông dân Việt Nam không thể làm giàu nhờ ruộng lúa Nam Nguyên
Việt Nam đã thực tế xuất khẩu 5 triệu 200 ngàn tấn gạo trong năm 2005 và sẽ cố gắng lập lại con số này trong năm nay. Tuy vậy, nông dân Việt Nam không thể làm giàu nhờ ruộng lúa, họ luôn chạy theo giống lúa năng suất cao làm được nhiều vụ, mà không quan tâm đến phẩm chất hạt gạo giá trị cao.
Nam Nguyên tìm hiểu vấn đề này. Việt Nam đã trở thành nước đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu gạo chỉ nhường vị trí đầu bảng cho Thái Lan. Những con số được Bộ Nông Nghiệp Mỹ công bố mang nhiều ý nghĩa.
Năm 2004 Thái Lan xuất khẩu hơn 10 triệu tấn gạo, trong khi Việt Nam xuất bán hơn 4 triệu tấn. Đến năm 2005 Việt Nam rút ngắn khoảng cách, Thái Lan giảm khối lượng chỉ xuất 7 triệu 300 ngàn tấn và Việt Nam thực tế bán ra nước ngoài 5 triệu 200 ngàn tấn.
Tuy vậy hạt gạo xuất khẩu của Việt Nam kém gạo Thái Lan trung bình khoảng từ 30 tới 40 đô la một tấn. Điều này cho thấy nông dân nước bạn được hưởng lợi nhuận nhiều hơn người làm ruộng Việt Nam.
http://i35.photobucket.com/albums/d193/miloc44/nongdan2.jpg Nông dân Việt Nam
Thái Lan chú trọng xuất loại gạo giá trị cao như gạo thơm Jasmine và gạo hạt dài, trong khi cơ cấu xuất khẩu gạo Việt Nam lại hoàn toàn khác biệt, gạo tốt của Việt Nam chỉ chiếm 25% khối lượng, đó là loại gạo 5% tấm chà bóng một lần hoặc hai lần, kỳ dư là các loại gạo phẩm cấp trung bình hoặc thấp như 15%, 20% hay 25% tấm.
Khi nói tỷ lệ phần trăm tấm có nghĩa là tỷ lệ hạt gạo bị vỡ. Gạo Việt Nam cũng có loại cao cấp như Tám Thơm, Nàng Hương Chợ Đào, Hải Hậu nhưng các đặc sản này được sản xuất không đáng kể.
Không có sự chỉ đạo thống nhất
Không gì xác thực hơn, là nghe chính người nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long nhận xét về tình trạng mạnh ai nấy làm, không có sự chỉ đạo thống nhất về giống lúa:
“Người nông dân An Giang sạ không có rặc giống, bên Thái Lan người ta thống nhất một giống tốt là tất cả cùng làm. Còn nông dân ta ai thích giống nào thì chọn may thì trúng, còn người khác thích giống khác mà không thích hợp thì bị thất…”
Việt Nam có hai vựa lúa chính là đồng bằng sông Hồng ở miền bắc và vùng đồng bằng sông Cửu Long ở phía nam. Nông dân miền bắc làm hai vụ gọi là vụ chiêm và vụ mùa, trong khi ở miền nam người dân tận dụng điều kiện thiên nhiên làm tới ba vụ một năm. Đó là vụ đông xuân, hè thu và vụ ba hay còn gọi là vụ thu đông.
Trong ba vụ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thì vụ đông xuân quan trọng hơn cả, vì năng suất cao và lúa tốt thích hợp xuất khẩu. Vụ hè thu đã kết thúc, vùng nào chậm nhất cũng thu hoạch xong từ giữa tháng 8 vừa qua.
Phần lớn nông dân đều bán được giá tốt trong khoảng từ 2.200 đồng tới 2.500 đồng một kg lúa, trong khi giá thành sản xuất khoảng 1.500 tới 1.600 đồng/kg. Diện tích vụ ba ở đồng bằng sông Cửu Long năm nay giảm nhiều vì dịch bệnh sâu hại lúa. Ở vùng Cần Thơ lúa vụ ba hiện nay đang thu hoạch nhưng năng xuất rất kém là vì mùa lũ.
Một chủ ruộng cho biết tình hình thực tế: “Đang thu hoạch vụ ba, chừng một tháng nữa kết thúc…tôi làm chưa được một hécta làm 6 công thôi. Mùa này thất dữ lắm được chừng 2 tấn ngoài, giá lúa tốt được 2.600 đồng/kg nhưng lúa dơ bán tại vườn thì 2.400 đồng thôi…cũng có lời tất cả của tôi được lời chừng một triệu rưởi.”
http://i35.photobucket.com/albums/d193/miloc44/nongdan.jpg Sản lượng thiếu hụt
Sản lượng thiếu hụt của vụ ba ở vùng đồng bằng sông Cửu Long được ước tính từ 100 ngàn tới 200 ngàn tấn, đã không làm các giới chức bộ nông nghiệp lo ngại về an ninh lương thực. Nguyên do là miền bắc được mùa, và sẽ có khoảng 100 ngàn tấn gạo từ bên Cămpuchia được nhập miễn thuế vào Việt Nam.
Ngoài ra còn có hiện tượng khá phổ biến từ mấy năm nay, nông dân miền Tây qua thuê đất canh tác bên kia biên giới Cămpuchia khi thu hoạch đem lúa trở về Việt Nam.
Phải cơ cấu lại mùa vụ
Các chuyên gia kinh tế Việt Nam không mặn mà với việc nông dân ồ ạt làm ba vụ một năm và chủ trương phải cơ cấu lại mùa vụ một cách tối ưu, như lời tiến sĩ Đặng Kim Sơn ở Hà Nội nhận định:
“Ngày xưa ở vùng lũ trước đây chỉ trồng một vụ lúa nổi thôi, sau này chuyển qua hai vụ thậm chí ba vụ…mà chuyển từ giống lúa nổi địa phương sang các giống lúa cao sản ngắn ngày, năng suất cao hơn nhiều nên đòi hỏi công lao động gấp ba gấp bốn lần…
Về lâu về dài có lẽ phải bố trí lại mùa vụ tập trung trong mùa khô để thu hoạch bằng máy, bớt thu hoạch mùa lũ để bớt căng thẳng lao động. Nếu phải tốn kém lao động với giá lao động cao thì tới lúc nào đó giá lúa bán ra không chịu nổi giá thành…Đến lúc đó người ta sẽ phải điều chỉnh cơ cấu cây trồng.”
Năm nay cũng như nhiều năm đã qua, giá gạo xuất khẩu ngày một cao, lượng xuất khẩu ngày một nhiều nhưng đến bao giờ thì hạt gạo xuất khẩu của Việt Nam sẽ thiên về phẩm thay vì lượng như hiện nay. Lúc ấy có lẽ người trồng lúa có thể mỉm cười với hạt lúa thơm sây trên đồng ruộng của mình:
“Người nông dân Việt Nam luôn chịu nhiều thiệt thòi, không phải như nông dân của Thái Lan hay các nơi khác họ còn được trợ cấp giúp đỡ này nọ. Tôi nghe nói bên Thái Lan lúa của nông dân được nhận toàn bộ vào kho hợp tác xã, khi được giá muốn bán chỉ cần báo là họ tính giá tại thời điểm đó cho anh. Ở Việt Nam làm gì có chuyện đó….”
Các nhà kinh tế thường nói trồng lúa không thể làm giàu, nhưng nếu có một chiến lược và chính sách nông nghiệp thích hợp trong điều kiện Việt Nam, thì có lẽ người nông dân có thể được hưởng phúc lợi tương xứng với công sức lao động của mình.
Nam Nguyên Nguồn: Đài Á Châu Tự Do (RFA) |
Thị trường nội địa hướng về nông dân? | | Thứ Ba, 10/2/2009, 21:57 (GMT+7) |
| Thị trường nội địa hướng về nông dân? | | Ông Vũ Đình Ánh - Ảnh: Ngọc Lan | (TBKTSG online) - Chính phủ đã đưa ra nhiều giải pháp cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp, nhưng theo quan điểm của tiến sĩ Vũ Đình Ánh, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu khoa học thị trường giá cả, thì điều quan trọng là phải tìm được đầu ra ở đâu mới kích đầu vào. Trong buổi trả lời phỏng vấn Thời báo Kinh tế Sài Gòn online, ông Ánh đề xuất các biện pháp kích cầu nên tập trung vào nông thôn, nơi mà những người nông dân đang chiếm hơn 70% dân số cả nước. Thời báo Kinh tế Sài Gòn online: Thưa ông, nhiều biện pháp của Chính phủ hỗ trợ sản xuất đang được bàn đến nhiều. Liệu rằng, các biện pháp đó đã đúng và đủ để kích thích sản xuất, tạo ra việc làm và sản phẩm trong cơn suy thoái kinh tế hay không? Ông Vũ Đình Ánh: Vấn đề của kinh tế Việt Nam năm 2008 nghiêm trọng nhất là lạm phát đã được xử lý đúng bằng thắt chặt tiền tệ. Năm nay, sự suy giảm dẫn đến việc phải kích cầu hay nói khác đi là thúc đẩy thị trường hoạt động. Vấn đề của năm nay là suy giảm do nền kinh tế nhiều năm chỉ chú ý đẩy kim ngạch xuất khẩu, thị trường là xuất khẩu, 70% GDP là xuất khẩu. Nhưng Việt Nam chỉ là nhà cung cấp chứ không phải là người chi phối thị trường nên không chi phối được về giá. Thị trường thương mại thế giới suy kiệt thế này chắc chắn nước ta gặp khó với nguồn thu chính vì mấy chốt vấn đề năm nay là đầu ra sản phẩm bán cho ai? Các biện pháp hỗ trợ lãi suất, giảm, giãn thuế có hiệu quả nhưng là hướng đến nhà sản xuất chứ không để hướng đến tất cả cuộc vận động trên thị trường vì thị trường phải có cả người bán lẫn người mua. Khi không có nhu cầu thì dù hàng giá rẻ người ta cũng không mua. Như vậy, biện pháp hỗ trợ đầu vào không sai nhưng chưa thể nói là đủ. Ngay cả cách này là hình thức bơm vốn để giảm giá đầu vào nhưng muốn ra đến thị trường còn phải qua cách làm của doanh nghiệp. Có thể tạo cho họ lợi thế đầu vào nhưng chắc gì doanh nghiệp đã biến thành lợi thế đầu ra, có thể tác động đến thị trường mà mình vốn không kiểm soát được. Nói khác đi, tôi e ngại biện pháp thì có nhưng đó là các biện pháp gián tiếp. Mà ở nước ta, các quá trình triển khai gián tiếp hiệu quả thường không như mong muốn. Vậy vấn đề kích đầu ra, đối với ông, đang nằm ở đâu? - Sức ép thị trường xuất khẩu đang thu hẹp chắc chắn phải quay về thị trường nội địa. Nhưng đó không thể là câu hô khẩu hiệu hay thị trường nước ngoài chê thì bán cho trong nước. Bởi người mua trong nước bây giờ cũng không chấp nhận hàng thừa, hàng thải. Chính phủ cần phải có những chính sách, tuyến bố cụ thể về việc kích cầu thị trường nội địa thế nào, tương tự như các giải pháp hỗ trợ xuất khẩu trong nhiều năm qua và thời gian gần đây. Chỉ khi nào doanh nghiệp nhìn thấy các biện pháp thiết kế thị trường ở tầm vĩ mô họ mới nhìn thấy cơ hội, lợi nhuận để cần đến vốn, rồi quan tâm đến ưu đãi vốn vay, giá, đến cách nào để đầu tư đầu vào thấp nhất, bán ra có lời nhất. Như thế mới kích ngược lại đầu vào sản xuất. Nếu không nhìn thấy đầu ra thị trường, họ sẽ không vay vốn để làm gì. Vấn đề quay lại thị trường nội địa đã được đề cập đến. Nhưng thực sự đó là một câu chuyện dài và không thể giải quyết trong ngày một, ngày hai, thưa ông? - Đúng như vậy, vì lâu nay chúng ta chỉ chăm chú đẩy kim ngạch xuất khẩu để thu về đô la, rồi có đô la lại đi nhập khẩu đầu vào nên không quan tâm đến thị trường nội địa, vốn hẹp về quy mô và không được giá bằng xuất khẩu. Hậu quả là kênh phân phối nội địa hơn 10 năm qua không được chú trọng. Do vậy, quay về thị trường nội địa là phải làm hệ thống phân phối và phải hướng về thị trường nông thôn, nơi có hơn 70% dân số cả nước. Đây là cầu lớn nhất trong xã hội, dù doanh nghiệp luôn cân nhắc khả năng thanh toán vì đây là thị trường còn nhiều rủi ro về đầu mua và đầu bán. Thật khó hướng doanh nghiệp vào thị trường này vì bài toán của doanh nghiệp là lợi nhuận. Hơn nữa, còn có thị trường lớn ở các thành phố và việc kích sản xuất công nghiệp, dịch vụ có thể giải bài toán trước mắt nhanh hơn kích qua nông nghiệp, nông thôn. Vậy có cần cân nhắc với lựa chọn này? - Nói ép buộc thì hơi quá nhưng quả thật muốn có một chiến lược phát triển kinh tế bền vững thì các quốc gia lớn đều chọn cách phát triển thị trường nội địa, kể cả Trung Quốc. Có thể “ép buộc” doanh nghiệp, người tiêu dùng hướng về nội địa , về nông thôn trong giai đoạn hiện nay để tạo ra chiến lược. Nhà nước cần phải cụ thể hóa chiến lược “ép buộc” ấy bằng những biện pháp hỗ trợ cụ thể. Nếu xác định lấy thị trường nông thôn phát triển được sẽ tạo ra sự phát triển của thị trường công nghiệp, dịch vụ cung cấp cho nông thôn và kích ngược lại tiền tệ cho các thị trường thành thị. Còn chỉ kích cầu qua các công cụ tiền tệ, hạ lãi suất thấp qua các ngân hàng, tôi e ngại dùng không đúng cách có thể dẫn đến các hình thức như cho vay dưới chuẩn như ở Mỹ thời gian qua hay các hình thức vay đảo nợ, tạo ra các rủi ro tín dụng, vi phạm đạo đức tín dụng, thì rất nguy hiểm. Vậy ông có gợi ý gì về một biện pháp dẫn đường, đột phá cho thị trường nội địa? - Doanh nghiệp sẽ tìm thấy các biện pháp của họ. Vấn đề là Chính phủ phải có tuyên bố chính thức qua các chính sách cho thị trường, thống kê và tìm ra các kênh phân phối vĩ mô, chứ không làm thay doanh nghiệp. NGỌC LAN thực hiện |
|
Thị trường gạo: Tranh thủ hay chờ?
Hiện đang xuất hiện hiện tượng nông dân phơi thóc cất trữ chờ giá lên nữa  Cập nhật lúc 08:09 - Thứ bảy, 28/02/2009 Đằng sau cuộc chạy đua thu mua lúa để xuất khẩu nhằm tranh thủ lợi thế về giá của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là những quan ngại không mới. Ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam tự tin, năm nay lượng gạo Việt Nam xuất khẩu có thể đạt mức 5 triệu tấn. Nhưng thị trường 6 tháng cuối năm vẫn là ẩn số. Cơ hội và quan ngại Tháng đầu của năm 2009 cũng là tháng Việt Nam xuất khẩu gạo đạt kỉ lục cao nhất từ năm 1989 đến nay. Tính đến ngày 9/2, Việt Nam đã xuất khẩu được 74.000 tấn gạo, giá bình quân đạt 401 đô-la Mỹ, bình quân cả tháng có thể đạt 410 đô-la Mỹ. Hiện tại các hợp đồng mà doanh nghiệp Việt Nam đã ký được lên tới 3,1 triệu tấn và có thể đạt mức 3,5 triệu tấn với thời gian giao trong 6 tháng đầu năm. Không chỉ được về sản lượng, giá gạo xuất khẩu hiện cũng đang được xem là có lợi để các doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua lúa hàng hóa trong dân. So với tháng 1 năm 2008, mức giá xuất khẩu của gạo Việt Nam đang tăng. Trong tuần cuối tháng 1/2009, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 20 đô-la Mỹ so với tháng trước. Trong đó, có những doanh nghiệp đã ký được hợp đồng xuất khẩu với giá rất hấp dẫn như gạo 5% tấm giá 500 đô-la Mỹ/tấn, gạo 25% tấm giá 400 đô-la/tấn (giá FOB). Mức giá này cũng giúp cho giá thu mua lúa trong dân tăng. Hiện, giá mua lúa tại đồng đã là mức 3.600-3.900 đồng/kg, còn lúa khô mua tại kho của các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu là khoảng 4.200-4.500đ/kg. Giá mua lúa ngoài đồng này cũng được xem là giúp nông dân lãi 50% nên từ chỗ dân mong chờ bán được lúa thì nay đang xuất hiện tình trạng phơi lúa cất đi chờ giá lên nữa. Tuy vậy, mối quan ngại nhất của gạo Việt Nam xuất khẩu hiện nay chính là khả năng bốc xếp, giao hàng cho các hợp đồng đã ký trong 6 tháng đầu năm. Ông Phong cho hay, với số lượng gạo đã ký được hợp đồng xuất khẩu thì từ tháng 2 phải xuất 600.000 tấn/tháng. Nhưng con số này có khả năng vượt qua năng lực bốc xếp, vận chuyển hiện nay bởi gạo từ các tỉnh miền Tây Nam bộ phải lên TP.HCM mới xuất khẩu được. Khu vực Cần Thơ chưa đón được tàu lớn vào nhập hàng. Đó là chưa kể mùa mưa vào tháng 5, tháng 6 sẽ khiến cho tiến độ giao hàng có thể bị ảnh hưởng. “Với thực tế này, lo nhất là sốt giá cước và khâu vận tải trong nước”, ông Phong bày tỏ. Vì vậy, Hiệp hội cũng đang nghiên cứu cách điều hành để hàng không dồn toa, doanh nghiệp xuất khẩu gạo không bị ép giá cước. “Chúng tôi sẽ thông báo chi tiết cho các doanh nghiệp lượng hàng xuất hàng tháng của Hiệp hội để doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch xuất hàng của mình, tránh tình trạng bị ép giá cước”, ông Phong cho hay. Ưu thế về giá chưa đủ xóa đi nỗi lo Việc ký được các hợp đồng xuất khẩu với số lượng lớn trong 6 tháng của năm nay, nhiều hơn hẳn các năm trước cũng được các chuyên gia cho rằng có yếu tố giá gạo của Việt Nam rẻ hơn so với gạo Thái Lan. “Nhiều nước đang mua gạo của Thái Lan chuyển sang mua gạo của Việt Nam do giá rẻ hơn nên khủng hoảng kinh tế cũng là cơ hội cho gạo Việt Nam”, ông Phong nhận xét. Hiện tại, thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam vẫn là Philippine, Malaysia và Cu - Ba. Sản lượng gạo xuất khẩu sang các thị trường này cũng chiếm 50% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Một số thị trường thương mại khác cũng được các doanh nghiệp xuất khẩu gạo tập trung khai thác là Indonesia, Irac và mới nhất đây là châu Phi. Tuy nhiên, ngay cả trên thị trường tập trung hay thị trường thương mại thì gạo Việt Nam không phải chỉ đối mặt với gạo Thái Lan mà còn phải cạnh tranh với đối thủ mới là gạo Ấn Độ. Niềm vui xuất khẩu gạo chưa khỏa lấp được nỗi lo cho 6 tháng cuối năm. Ông Phong cho hay, diễn biến của thị trường gạo thế giới trong 6 tháng cuối năm còn phụ thuộc vào việc các nước xung quanh như Ấn Độ, Trung Quốc có động thái mua bán ra sao. Hiện tại, Chính phủ Ấn Độ đang thực hiện việc dự trữ gạo nên gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội hơn tại các thị trường, đặc biệt là châu Phi. Tuy nhiên, nếu Ấn Độ quyết định mở kho bán lúa thì gạo Việt Nam khó lòng cạnh tranh được về giá với gạo Ấn Độ. Một nhân tố khác cũng có ảnh hưởng lớn đến thị trường gạo thế giới là Trung Quốc. Việc hạn hán nặng dẫn tới khả năng mất mùa tại nhiều nơi ở Trung Quốc được xem là ẩn số. “Nếu Trung Quốc quyết định mua gạo thì thị trường thế giới sẽ biến động rất mạnh bởi nhu cầu mua của Trung Quốc là rất lớn. Điều đó sẽ khiến giá gạo lên không biết đến điểm nào”, ông Phong nhận xét. Những lý do này đang khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo đau đầu với bài toán xuất ngay hay mạo hiểm chờ thêm. Tuy nhiên, với thực tế các hợp đồng đã ký được tới hơn 70% lượng gạo dự kiến xuất khẩu cho năm nay thì có thể thấy rõ sự lựa chọn của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam. Vẫn còn nhiều bất cập Trên thực tế, cho dù có lúa hàng hóa đủ để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu đi nữa thì bản thân Hiệp hội và các doanh nghiệp vẫn chưa hết lo. Nỗi lo này bắt nguồn từ chính khả năng đảm bảo thực hiện các hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp và từ cái cách cạnh tranh không thiện chí vẫn tồn tại bấy lâu nay khiến cho thương hiệu gạo Việt Nam chưa có cơ hội đạt được giá trị cao hơn. “Có hợp đồng xuất khẩu gạo sang Iraq với khối lượng 100.000 tấn nhưng chúng tôi rất phân vân vì ký thì có giao nổi trong 6 tháng không? Nếu không giao được lại bị phạt 10% và mất uy tín trong khi đây là thị trường mà chúng ta dày công gây dựng”, ông Phong nói. Trước đó, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam đã có hợp đồng 200.000 tấn vào thị trường Iraq trong 6 tháng đầu năm. Tình trạng cạnh tranh trong giành hợp đồng xuất khẩu cũng được các doanh nghiệp lên tiếng cảnh báo. Bà Bùi Thị Minh Tâm, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Bắc đề xuất, cần có cơ chế điều hành riêng cho hai Tổng công ty Lương thực Miền Bắc và Lương thực Miền Nam để có thể tiêu thụ lúa hàng hóa cho nông dân theo yêu cầu của Chính phủ và điều hành xuất khẩu theo thị trường, chứ không phải “cào bằng” như hiện nay. “Các doanh nghiệp nhỏ có thể làm theo hướng dẫn của Hiệp hội nhưng 2 tổng công ty lớn có tiềm lực tốt và dài hạn nên có thể chấp nhận giá bằng hoặc lỗ chút đỉnh để linh hoạt tìm thị trường”, bà Tâm nói. Bên cạnh đó, chuyện làm nhiệm vụ thu mua lúa cho dân như yêu cầu của Chính phủ nhưng lại được chia chỉ tiêu xuất khẩu thấp như một vài hợp đồng gần đây cũng được Tổng công ty Lương thực miền Bắc thẳng thắn cho rằng “không công bằng”. Điểm cũng cần nói thêm là nguồn lúa gạo mà các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, không kể doanh nghiệp to hay nhỏ, tìm kiếm đều nằm ở các tỉnh ĐBSCL nên chuyện tranh mua là khó tránh khỏi. Thực tế này cũng khiến cho hạt gạo Việt Nam còn phải vất vả để khẳng định chỗ đứng của mình! Xuân Diệu
Xuất khẩu gạo 2009 - sự khởi đầu thuận lợi (Cập nhật: 16/2/2009) Mặc dù hoạt động xuất khẩu nói chung đang gặp khó khăn, nhưng xuất khẩu lúa gạo lại đang phát đi những tín hiệu khá tươi tắn. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc cho rằng, khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam! Tháng 2 - tháng xuất khẩu kỷ lục trong lịch sử xuất khẩu gạo 20 năm qua Tháng 1-2009 mặc dù là tháng giáp hạt, nhưng cả nước đã xuất được 310.000 tấn gạo. Trong lịch sử xuất khẩu gạo 20 năm qua, đây là tháng xuất khẩu kỷ lục. Trong vòng 9 ngày đầu tháng 2, các doanh nghiệp đã xuất thêm 74.000 tấn gạo với giá bán khoảng 390 USD đến tới 400 USD/tấn, giải quyết được khoảng một nửa số gạo tồn kho từ năm 2008. Giá gạo bình quân trong tháng 2-2009 có thể đạt tới 410 USD, cao hơn tháng 1-2009. Trong tháng 2-2009, các doanh nghiệp sẽ nỗ lực giao khoảng 550.000 - 600.000 tấn. Như vậy, cả 2 tháng đầu năm có thể đạt 900.000 tấn (trong khi cùng kỳ năm trước chỉ đạt 300.000 tấn). Một số doanh nghiệp xuất khẩu gạo cho biết, trong tuần cuối tháng 1-2009, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 20 USD so với tháng trước. Trong đó, có những doanh nghiệp đã ký được hợp đồng xuất khẩu với giá rất hấp dẫn như gạo 5% tấm có giá 500 USD/tấn, gạo 25% tấm: giá 400 USD/tấn (giá FOB). Năm 2009, Việt Nam có thể đạt mục tiêu xuất khẩu được 5 triệu tấn gạo Trong năm 2008, Việt Nam đã ký hợp đồng xuất khẩu 5,1 triệu tấn gạo, đã giao 4,65 triệu tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 2,9 tỉ USD, gấp hơn hai lần so với năm 2007 (1,4 tỉ USD). Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2008 cũng đạt mức cao, bình quân là 550 USD/tấn, gần gấp đôi so với năm trước. |
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo tổng sản lượng lúa năm 2009 có thể đạt 38 triệu tấn. Đồng bằng sông Cửu Long năm nay sẽ được mùa lớn, sản lượng chắc chắn sẽ đạt 5 triệu tấn. Dự báo được mùa đi liền với khả năng mở rộng thị trường và giá bán có xu hướng nhích lên làm cho ngay từ những ngày cuối tháng 1-2009, thị trường lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long đã nhộn nhịp trở lại. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo thu mua với số lượng lớn lúa gạo nguyên liệu, chuẩn bị chế biến phục vụ cho những hợp đồng xuất khẩu đầu năm 2009. Theo tính toán, vụ đông xuân 2009 có thể đạt 9-10 triệu tấn lúa, năng suất bình quân đạt 6,2-6,4 tấn/ha. Với giá lúa gạo ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đang nhích lên theo chiều hướng khả quan, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long tính toán: với giá lúa trên 4.000 đồng/kg, sau khi trừ mọi chi phí, nông dân sẽ có lãi khoảng 50% - một tín hiệu đáng mừng cho thị trường lúa gạo nói riêng và cho lĩnh vực xuất khẩu nói chung, trong năm nay. Còn theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), trong bối cảnh các nước phải tăng cường dự trữ lương thực trước những rủi ro từ khủng hoảng tài chính, trong năm 2009, Việt Nam có thể xuất khẩu được 5 triệu tấn gạo. Cũng theo FAO, năm 2009, tuy giá gạo không tăng đột biến như năm 2008, nhưng vẫn tiếp tục ở mức cao. So với năm 2003, giá gạo tăng khoảng hai lần do nhu cầu gạo của các nước tăng cao trong khi nguồn cung không tăng. Hiện giá phân bón và các vật tư nông nghiệp đã giảm tới 50%, trong khi giá xuất khẩu không giảm nhiều. Đây là tín hiệu tích cực đối với nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam, và là cơ hội để bù đắp phần nào thiệt hại mà nhà nông và doanh nghiệp Việt Nam đã gặp phải trong năm 2008. Hiện nay, diện tích trồng lúa của Việt Nam là 7,5 triệu ha, sản lượng khoảng 39 triệu tấn. Do vậy, mục tiêu xuất khẩu 4,8 triệu tấn gạo trong năm nay là hoàn toàn có thể đạt được. Những vấn đề cần quan tâm Mặc dù được mùa và có những dấu hiệu tích cực về giá, thị trường tiêu thụ..., tuy nhiên, vẫn rất cần quan tâm đến những yếu tố có tác động không thuận, ảnh hưởng tới những cơ hội, triển vọng tốt đẹp. Chẳng hạn, tình trạng người nông dân mở rộng diện tích trồng lúa một cách tự phát do giá gạo tăng cao. Có thể tham khảo kinh nghiệm của Thái Lan. Chủ tịch Hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan Chookiat Ophaswongse trong chuyến khảo sát vựa lúa vùng Đông Bắc Thái Lan nói: "Chính phủ đã phát tín hiệu sai lầm ngay từ ban đầu. Giá gạo cao theo chương trình can thiệp giá của chính phủ khuyến khích người nông dân mở rộng diện tích trồng lúa trong khi giá gạo đang có xu hướng giảm". Theo ông, giá gạo hấp dẫn trong vụ mùa vừa qua đã khuyến khích người nông dân trồng thêm 450.000 rai (1 rai = khoảng 16.000 m2) lúa, tương đương khoảng 3% sản lượng lúa. Trong khi đó, thị trường gạo toàn cầu bỗng trở nên ảm đạm, không có hợp đồng lớn được ký kết. Do các nhà nhập khẩu gạo cho rằng, chính phủ có lượng gạo dự trữ rất lớn, nên họ đã giảm các hợp đồng mua gạo vì tin rằng giá gạo sẽ còn xuống thấp hơn nữa. Vì thế, Thái Lan sẽ không thể đạt mục tiêu xuất khẩu 9,5 triệu tấn gạo trong năm 2009; đồng thời, Thái Lan cũng sẽ mất một số thị trường cho Việt Nam và Ấn Độ. Thực tế cho thấy, năm 2008, Thái Lan đã được hưởng lợi, do Việt Nam và Ấn Độ hạn chế xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực trong nước. Phó Chủ tịch Charoen Laothammatas nói rằng, nếu năm 2008 là năm vàng của các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan thì năm 2009 sẽ là năm khó khăn khi giá gạo có thể từ 1.000 USD/tấn xuống còn 300USD/tấn. Hiện đã có nhiều khách hàng từ Phi-lip-pin, Xin-ga-po và một số nước châu Phi liên hệ với các doanh nghiệp trong nước để ký hợp đồng xuất khẩu gạo. Nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới Phi-lip-pin sẽ nhập khẩu của Việt Nam 1,5 triệu tấn gạo trong năm 2009. Một hiện tượng cần quan tâm khác là tình trạng trồng lúa thơm tự phát trong vụ đông xuân ở đồng bằng sông Cửu Long đã lên tới 25% đến 30% diện tích. Lúa thơm ở đồng bằng sông Cửu Long trồng hơi khó do vùng sinh thái, thổ nhưỡng... nên chưa đạt mùi thơm theo chuẩn. Giống lúa thơm tốt thường phải trồng ở vùng nước lợ cặp ven biển mới có mùi thơm. Việt Nam lại chưa có thương hiệu về lúa thơm nên khó bán, vì thế, gạo thơm của Việt Nam chưa thể cạnh tranh với gạo thơm của Thái Lan, nên rất có thể gạo thơm chỉ bán bằng với giá gạo thường như đầu năm 2004, 2008. Vì vậy, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long khuyến nghị, đồng bào chỉ nên trồng một phần nào để cung cấp cho nhà hàng, khách sạn có nhu cầu./. Ngọc Hồ tổng hợp | Dự đoán về tình hình lúa gạo của VN trong năm 2009 | 27/02/2009
| |
Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới chỉ sau có Thái Lan. Tuy nhiên nông dân Việt Nam, nhất là nông dân tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn gặp nhiều khó khăn do sản phẩm mình làm ra nhiều khi không bán được cũng như giá cả đôi lúc xuống dưới giá thành sản xuất. Trong năm Kỷ Sửu 2009, liệu điệp khúc được mùa rớt giá nông sản có còn lập lại như năm 2008 không. Hà Vũ của ban Việt ngữ VOA có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long về vấn đề này, mới quý vị theo dõi.
 |
|
VOA: Theo dự đoán của Tiến sĩ thì năm nay lúa gạo tại vùng đồng bằng sông Cửu Long ra làm sao thưa Tiến sĩ?
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Ngành nông nghiệp của chúng tôi sẽ bố trí những đoàn đi khảo sát nhưng hiện nay chúng tôi đã tham khảo hết rồi. Mùa vụ năm nay cũng trúng muà không thua năm rồi, nghĩa là trà lúa rất tốt, sâu bệnh năm nay đặc biệt rất ít, ít hơn năm rồi rất nhiều, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá không đáng kể, rầy nâu cũng ít do đó dự đoán là năm nay trúng mùa. Còn giá cả thì theo dự kiến, giá cả sẽ không lên cao, ít ra cũng khoảng từ ba nghìn rưỡi đến bốn nghìn để đảm bảo cho người dân được khoảng lãi từ 30% trở lên. Như vậy nhưng mà giá gạo trên thị trường thế giới cũng tương đối thấp do vậy dự kiến giá lúa sẽ không đột biến mà nó chỉ từ 3500 đến 4000. Còn mùa vụ thì có lẽ trúng, năm nay đồng bằng sông Cửu Long vụ Đông Xuân có thể cũng đạt từ chín triệu cho tới mười triệu tấn.”
VOA: Nếu giá ba ngàn rưỡi, bốn ngàn như vậy thì nông dân có lợi không thưa Tiến sĩ?
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Nếu 3,500 hoặc 4,000 thì trong vụ Đông Xuân này, nông dân lãi cũng khoảng 50% bởi vì theo chúng tôi tính toán thì ở vùng này tổng số một hécta chi phí các khoản, vật tư năm nay cũng tương đối thấp cộng thêm nhân công các khoản thì khoảng 11 triệu. 11 triệu mà nếu được 6 tấn thì giá thành dưới 2000, mà nếu mình bán được 4000 thì lãi khoản 50%, nếu 3,500 thì lãi khoản 40%, do đó người dân có lãi. Chỉ có cái việc là nếu qua vụ Hè Thu, mà nếu đầu tư chừng đó công việc, có khi đầu tư cao hơn do bơm nước nhưng nếu năng suất có 4 tấn thôi thì 4 tấn mà chia cho 11, 12 triệu như vậy thì khoản 3000 đồng một ký thì Hè Thu lãi ít còn Đông Xuân tương đối nhiều thì người dân nhờ vào vụ Đông Xuân này.”
VOA: Thưa Tiến sĩ như vậy giá cả của lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long thì theo tình trạng xuất khẩu lúa gạo thưa Tiến sĩ mà nếu xuất khẩu lúa gạo gặp trục trặc như năm ngoái, các thương lái không thu mua hay là các công ty xuất khẩu không thu mua thì tình trạng đó có thể nào tái diễn hay không?
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Cái này năm rồi đã rút kinh nghiệm rất sâu sắc về chuyện này. Thủ tướng có chỉ thị ngành nông nghiệp rút kinh nghiệm về vấn đề dự báo. Cái thứ hai là khi thị trường lúa gạo thế giới giá thì không cao nhưng tiêu thụ sẽ không giảm do vậy có khả năng là mình ký hợp đồng xuất khẩu được nhưng vấn đề là giá không được cao. Do vậy vấn đề giá thì nó không đột biến nhưng có một việc là nhà nước đang khuyến cáo, hỗ trợ các doanh nghiệp có tiền để làm các kho chứa, kho tồn trữ và người nông dân một số nơi, một số các hợp tác xã hoặc những nơi người ta liên doanh, liên kết với nhau người ta làm thì được hỗ trợ để làm kho. Như vậy thì một mặt cứ tới thời vụ thì bán. Thứ hai nữa là nếu bán giá còn thấp, chưa đạt, dự báo thị trường thế giới chưa được tốt thì có thể là tồn trữ được. Nếu chúng ta tồn trữ được như vậy thì bảo đảm sẽ bình ổn giá.”
VOA: Thưa Tiến sĩ thì khả năng làm kho lẫm như vậy tồn trữ bốn năm triệu tấn lúa thì khả năng thực hiện như thế nào?
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Cái khả năng thực hiện thì…nhưng trước sau cũng phải làm, nhưng cái đó làm một lần 3 triệu tấn lúa thì khó, nhưng cái dạng làm theo lộ trình từ 3 đến 5 năm thì được. Bắt đầu từ năm nay đã có một số chuẩn bị làm kho tàng và từ 3 đến 5 năm thì sẽ ổn định được vấn đề kho tàng. Nếu ổn định được kho tàng thì mình sẽ an tâm về vấn đề tồn trữ và không nên tồn trữ gạo mà chỉ tồn trữ lúa mà thôi.”
VOA: Theo Tiến sĩ thì trong năm mới này thì tình trạng gọi là được mùa rớt giá, Tiến sĩ thấy có thể xảy ra nữa không?
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Vì hệ thống phân phối thị trường của Việt Nam mấy năm trước có kém. Do đó chuyện này nó thường xuyên xảy ra. Còn năm nay rút kinh nghiệm năm rồi do đó các hệ thống phân phối Việt Nam cũng rút kinh nghiệm và làm cho tốt chuyện này thì tôi tin rằng cái việc được mùa rớt giá thì tôi tin chắc giá không cao thôi chứ không bị rớt. Như tôi dự kiến hồi nãy thì giá từ 3500 đến 4000, nó nằm trong giao động đó.”
 |
|
VOA: Thưa Tiến sĩ, thị trường lúa gạo thì mặc dù có những quốc gia thấy rằng tình trạng lúa gạo thiếu hụt như vậy thì họ tăng cường sản xuất nhưng có một số quốc gia thì họ không thể nào sản xuất nổi, ví dụ như thị trường lúa gạo châu Phi thì mình có thể bán gạo ở châu Phi nhiều, Tiến sĩ thấy rằng mở rộng thị trường ra châu Phi mình có khả năng không?
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Ý kiến này thì bên Việt Nam chủ trương của chúng tôi cũng đang làm. Thứ nhất là mình không cạnh tranh gạo thơm, gạo đặc sản với Thái Lan vì thị trường gạo thơm nó hiếm, ít. Do đó ở Việt Nam mình dồn lúa chất lượng cao, lúa xuất khẩu được. Như vậy thì thị trường các nước Đông Nam Á như Philippines, Indonesia và một số nước quanh đây như Brunei, nhưng đặc biệt là các nước châu Phi, lúa gạo Việt Nam rất dễ xuất. Nhưng mà có một việc cũng khó là do ảnh hưởng suy thoái toàn cầu mà mấy ông châu Phi này thì dân thì đói, như Somalia đói dữ, đói quá, chết đói rất nhiều nhưng không có tiền mua. Do vậy là nhờ các đại gia, các tài trợ của các nước lớn mà mấy nước lớn đang bị suy thoái thì cái này khó mà ảnh hưởng, chớ mà thị trường Việt Nam loại gạo trung bình như vậy xuất sang Châu Phi thì rất là thuận lợi, thị trường không kén hàng. Nhưng mà có việc là anh mua, ảnh nghèo, ảnh không có tiền, ảnh phải nhờ qua tổ chức FAO của Liên Hiệp Quốc hay của chỗ khác. Bây giờ có một doanh nghiệp khác mua thì mới được. Đó cũng là một vấn đề khó khi xông vào thị trường châu Phi chớ lúa gạo Việt Nam vào Châu Phi rất là tốt bởi vì dân ở các vùng đó không kén gạo ngon như các nước Tây Âu.”
VOA: Thưa Tiến sĩ, những công ty xuất nhập khẩu lúa gạo có thể nào liên lạc với những tổ chức thế giới chuyên lo cứu trợ dân chúng những vùng đói kém mời chào họ thì Tiến sĩ thấy khả năng đó có thể thực hiện được không?
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Cái đó nằm trong tầm tay mình nghĩa là mình quan hệ tốt. Các đơn vị đó cũng đã đến thăm Việt Nam nhưng mà vấn đề làm sao để có nguồn tiền mua. Không phải là có ngay được, thành ra có những lúc mình cũng chào hàng như vậy, giới thiệu, cũng có những cuộc gặp gỡ trao đổi, cũng có làm nhiều động thái giao dịch buôn bán gạo. Nhưng mà để được cái này phải có vấn đề thời gian. Thứ hai nữa là phải có tài trợ thực tế chứ nhiều khi người ta hứa hẹn mà khó đạt được thì đây cũng là cái chuyện khó. Do vậy mà ở Việt Nam vừa rồi Thủ tướng cũng có giao nhiệm vụ cho các tham tán các đại sứ quán Việt Nam tại các nước để cuối cùng tham gia tìm nguồn tiêu thụ gạo.” VOA: Cám ơn Tiến sĩ
Là cường quốc xuất khẩu gạo, nhưng gạo Việt Nam trên thị trường nội địa đôi lúc vẫn bị gạo Thái lấn sân, đặc biệt là ở các loại gạo đặc sản. Nguyên nhân có lẽ chính là vì thương hiệu, chỉ dẫn địa lý không rõ ràng, khiến các loại gạo đặc sản chưa được người tiêu dùng tin tưởng Sau cơn sốt giá gạo hồi tháng 4, gạo loại thường đã xuống giá. Riêng gạo thơm vẫn duy trì “phong độ” và giá lúa thơm vẫn ở mức 7.200 – 7.300đ/kg, trong khi giá lúa thường chỉ 4.700đ/kg. Gạo thơm bên ngoài sẽ tràn vào “Tuy nhiên vụ đông xuân tới, diện tích lúa thơm sẽ giảm sản lượng do làm lúa loại trung bình dễ bán hơn. Lúc đó, gạo thơm Thái và Campuchia sẽ tràn vào Việt Nam”, ông Hồ Minh Khải, giám đốc công ty nông nghiệp Cờ Đỏ cảnh báo. Nguyên nhân tình trạng diện tích lúa thơm có thể sẽ giảm là do giá thành sản xuất cao, sản phẩm khó bán. Chẳng hạn, gạo Jasmine phải ký hợp đồng xuất khẩu với giá 950 USD/tấn mới có lời. Nhưng chào giá đó, ai sẽ mua khi gạo đặc sản Việt Nam chưa có tiếng trên thị trường thế giới? Gạo 5% tấm của Việt Nam phổ biến đã giảm xuống 540 USD/tấn hồi cuối tháng 8.2008. Việc sản xuất đại trà các loại gạo đặc sản cũng gặp trở ngại trong tiêu thụ nội địa do phải khai thác phân khúc thị trường hẹp (những người thu nhập cao), trong khi các loại gạo đặc sản giả hiệu như nàng thơm chợ đào, gạo đỏ huyết rồng... bán tràn lan. “Rờ le” tự động cho gạo thơm nội địa Ông Khải chuẩn bị cho một thị trường gạo thơm sau khi thoả thuận hợp tác với Co.opmart hồi tháng 3.2008. Ban đầu, hai bên tính đến khả năng chia sẻ chi phí và lợi nhuận. Nhưng do giá cả thay đổi liên tục nên ông Khải chấp nhận cung cấp nguyên liệu để Co.opmart đóng bao, chỉ cần ghi rõ chỉ dẫn địa lý. Trong điều kiện hiện nay, trữ gạo sẽ tăng chi phí 100 – 200đ/kg do lãi suất ngân hàng và các chi phí khác, đối tác chỉ cần nói rõ nhu cầu (số lượng và chủng loại), đặt tiền mua hàng và gởi gạo tại kho thì “rờ le” chương trình phối hợp sẽ tự động mở. Khi cơn sốt giá gạo lên cao, có doanh nghiệp cho rằng “có bao nhiêu gạo cũng bán hết, lo làm thương hiệu, liên kết làm gì?”. Nhưng chính lúc đó, công ty nông nghiệp Cờ Đỏ thuộc huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ và Co.opmart đã ký thoả thuận hợp tác. Cờ Đỏ có 5.664 hecta đất trồng lúa, 70 – 80% diện tích làm lúa thơm Jasmine 85, VD20 và ST1 cả hai vụ hè thu và đông xuân, khả năng cung ứng lúa thương phẩm hằng năm khoảng 45.000 – 50.000 tấn lúa thơm, hệ thống kho tàng có sức chứa 20.000 tấn, 63 lò sấy công suất 12 – 15 tấn/mẻ và 100.000m2 sân phơi, 5 phân xưởng chế biến gạo công suất 600 – 700 tấn/ngày... Ông Khải xem đó là cơ sở bền vững để thực hiện chương trình cung cấp gạo cho siêu thị. Ngày 31.7.2008, theo Angimex, Jasmine Châu Phú – loại gạo thơm của An Giang cũng đã bán tại 29 siêu thị trong toàn hệ thống Co.opmart. Angimex có khả năng cung cấp 350.000 tấn/năm, sức chứa kho 70.000 tấn, sản phẩm được quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000. Bên cạnh việc tìm cách xuất khẩu gạo thơm, việc duy trì khả năng cung cấp cho thị trường trong nước, thậm chí chỉ cung cấp cho dân Sài Gòn thôi, bằng việc tạo ra sản phẩm có thương hiệu, phân phối ở địa chỉ tin cậy (như siêu thị) đang là hướng đi mới cho người làm gạo nội địa. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng nếu có các hợp đồng xuất khẩu cấp chính phủ tạo cơ hội cho gạo thơm, thì diện tích lúa thơm mới tăng mạnh. Xây dựng thương hiệu gạo: Nhìn từ phân khúc gạo thơm Là cường quốc xuất khẩu gạo, nhưng gạo Việt Nam trên thị trường nội địa đôi lúc vẫn bị gạo Thái lấn sân, đặc biệt là ở các loại gạo đặc sản. Nguyên nhân có lẽ chính là vì thương hiệu, chỉ dẫn địa lý không rõ ràng, khiến các loại gạo đặc sản chưa được người tiêu dùng tin tưởng
Sau cơn sốt giá gạo hồi tháng 4, gạo loại thường đã xuống giá. Riêng gạo thơm vẫn duy trì “phong độ” và giá lúa thơm vẫn ở mức 7.200 – 7.300đ/kg, trong khi giá lúa thường chỉ 4.700đ/kg.
Gạo thơm bên ngoài sẽ tràn vào “Tuy nhiên vụ đông xuân tới, diện tích lúa thơm sẽ giảm sản lượng do làm lúa loại trung bình dễ bán hơn. Lúc đó, gạo thơm Thái và Campuchia sẽ tràn vào Việt Nam”, ông Hồ Minh Khải, giám đốc công ty nông nghiệp Cờ Đỏ cảnh báo. Nguyên nhân tình trạng diện tích lúa thơm có thể sẽ giảm là do giá thành sản xuất cao, sản phẩm khó bán. Chẳng hạn, gạo Jasmine phải ký hợp đồng xuất khẩu với giá 950 USD/tấn mới có lời. Nhưng chào giá đó, ai sẽ mua khi gạo đặc sản Việt Nam chưa có tiếng trên thị trường thế giới? Gạo 5% tấm của Việt Nam phổ biến đã giảm xuống 540 USD/tấn hồi cuối tháng 8.2008. Việc sản xuất đại trà các loại gạo đặc sản cũng gặp trở ngại trong tiêu thụ nội địa do phải khai thác phân khúc thị trường hẹp (những người thu nhập cao), trong khi các loại gạo đặc sản giả hiệu như nàng thơm chợ đào, gạo đỏ huyết rồng... bán tràn lan. “Rờ le” tự động cho gạo thơm nội địa Ông Khải chuẩn bị cho một thị trường gạo thơm sau khi thoả thuận hợp tác với Co.opmart hồi tháng 3.2008. Ban đầu, hai bên tính đến khả năng chia sẻ chi phí và lợi nhuận. Nhưng do giá cả thay đổi liên tục nên ông Khải chấp nhận cung cấp nguyên liệu để Co.opmart đóng bao, chỉ cần ghi rõ chỉ dẫn địa lý. Trong điều kiện hiện nay, trữ gạo sẽ tăng chi phí 100 – 200đ/kg do lãi suất ngân hàng và các chi phí khác, đối tác chỉ cần nói rõ nhu cầu (số lượng và chủng loại), đặt tiền mua hàng và gởi gạo tại kho thì “rờ le” chương trình phối hợp sẽ tự động mở. Khi cơn sốt giá gạo lên cao, có doanh nghiệp cho rằng “có bao nhiêu gạo cũng bán hết, lo làm thương hiệu, liên kết làm gì?”. Nhưng chính lúc đó, công ty nông nghiệp Cờ Đỏ thuộc huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ và Co.opmart đã ký thoả thuận hợp tác. Cờ Đỏ có 5.664 hecta đất trồng lúa, 70 – 80% diện tích làm lúa thơm Jasmine 85, VD20 và ST1 cả hai vụ hè thu và đông xuân, khả năng cung ứng lúa thương phẩm hằng năm khoảng 45.000 – 50.000 tấn lúa thơm, hệ thống kho tàng có sức chứa 20.000 tấn, 63 lò sấy công suất 12 – 15 tấn/mẻ và 100.000m2 sân phơi, 5 phân xưởng chế biến gạo công suất 600 – 700 tấn/ngày... Ông Khải xem đó là cơ sở bền vững để thực hiện chương trình cung cấp gạo cho siêu thị. Ngày 31.7.2008, theo Angimex, Jasmine Châu Phú – loại gạo thơm của An Giang cũng đã bán tại 29 siêu thị trong toàn hệ thống Co.opmart. Angimex có khả năng cung cấp 350.000 tấn/năm, sức chứa kho 70.000 tấn, sản phẩm được quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000. Bên cạnh việc tìm cách xuất khẩu gạo thơm, việc duy trì khả năng cung cấp cho thị trường trong nước, thậm chí chỉ cung cấp cho dân Sài Gòn thôi, bằng việc tạo ra sản phẩm có thương hiệu, phân phối ở địa chỉ tin cậy (như siêu thị) đang là hướng đi mới cho người làm gạo nội địa. Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng nếu có các hợp đồng xuất khẩu cấp chính phủ tạo cơ hội cho gạo thơm, thì diện tích lúa thơm mới tăng mạnh. Hieu gao Truong Tho Long Live Rice Bao hiem nong dan va hưu tri, bao dam loi tuc Keu goi dau tu quoc te Chuyen mon hoa nong nghiep
An it gao lai |
|