Ông Trương Thanh Phong, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam tự tin, năm nay lượng gạo Việt Nam xuất khẩu có thể đạt mức 5 triệu tấn. Nhưng thị trường 6 tháng cuối năm vẫn là ẩn số.

Cơ hội và quan ngại

Tháng đầu của năm 2009 cũng là tháng Việt Nam xuất khẩu gạo đạt kỉ lục cao nhất từ năm 1989 đến nay. Tính đến ngày 9/2, Việt Nam đã xuất khẩu được 74.000 tấn gạo, giá bình quân đạt 401 đô-la Mỹ, bình quân cả tháng có thể đạt 410 đô-la Mỹ. Hiện tại các hợp đồng mà doanh nghiệp Việt Nam đã ký được lên tới 3,1 triệu tấn và có thể đạt mức 3,5 triệu tấn với thời gian giao trong 6 tháng đầu năm.

Không chỉ được về sản lượng, giá gạo xuất khẩu hiện cũng đang được xem là có lợi để các doanh nghiệp đẩy mạnh thu mua lúa hàng hóa trong dân. So với tháng 1 năm 2008, mức giá xuất khẩu của gạo Việt Nam đang tăng. Trong tuần cuối tháng 1/2009, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 20 đô-la Mỹ so với tháng trước. Trong đó, có những doanh nghiệp đã ký được hợp đồng xuất khẩu với giá rất hấp dẫn như gạo 5% tấm giá 500 đô-la Mỹ/tấn, gạo 25% tấm giá 400 đô-la/tấn (giá FOB).

Mức giá này cũng giúp cho giá thu mua lúa trong dân tăng. Hiện, giá mua lúa tại đồng đã là mức 3.600-3.900 đồng/kg, còn lúa khô mua tại kho của các doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu là khoảng 4.200-4.500đ/kg. Giá mua lúa ngoài đồng này cũng được xem là giúp nông dân lãi 50% nên từ chỗ dân mong chờ bán được lúa thì nay đang xuất hiện tình trạng phơi lúa cất đi chờ giá lên nữa.

Tuy vậy, mối quan ngại nhất của gạo Việt Nam xuất khẩu hiện nay chính là khả năng bốc xếp, giao hàng cho các hợp đồng đã ký trong 6 tháng đầu năm. Ông Phong cho hay, với số lượng gạo đã ký được hợp đồng xuất khẩu thì từ tháng 2 phải xuất 600.000 tấn/tháng. Nhưng con số này có khả năng vượt qua năng lực bốc xếp, vận chuyển hiện nay bởi gạo từ các tỉnh miền Tây Nam bộ phải lên TP.HCM mới xuất khẩu được. Khu vực Cần Thơ chưa đón được tàu lớn vào nhập hàng. Đó là chưa kể mùa mưa vào tháng 5, tháng 6 sẽ khiến cho tiến độ giao hàng có thể bị ảnh hưởng. “Với thực tế này, lo nhất là sốt giá cước và khâu vận tải trong nước”, ông Phong bày tỏ. Vì vậy, Hiệp hội cũng đang nghiên cứu cách điều hành để hàng không dồn toa, doanh nghiệp xuất khẩu gạo không bị ép giá cước. “Chúng tôi sẽ thông báo chi tiết cho các doanh nghiệp lượng hàng xuất hàng tháng của Hiệp hội để doanh nghiệp chủ động điều chỉnh kế hoạch xuất hàng của mình, tránh tình trạng bị ép giá cước”, ông Phong cho hay.

Ưu thế về giá chưa đủ xóa đi nỗi lo

Việc ký được các hợp đồng xuất khẩu với số lượng lớn trong 6 tháng của năm nay, nhiều hơn hẳn các năm trước cũng được các chuyên gia cho rằng có yếu tố giá gạo của Việt Nam rẻ hơn so với gạo Thái Lan. “Nhiều nước đang mua gạo của Thái Lan chuyển sang mua gạo của Việt Nam do giá rẻ hơn nên khủng hoảng kinh tế cũng là cơ hội cho gạo Việt Nam”, ông Phong nhận xét.

Hiện tại, thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam vẫn là Philippine, Malaysia và Cu - Ba. Sản lượng gạo xuất khẩu sang các thị trường này cũng chiếm 50% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Một số thị trường thương mại khác cũng được các doanh nghiệp xuất khẩu gạo tập trung khai thác là Indonesia, Irac và mới nhất đây là châu Phi. Tuy nhiên, ngay cả trên thị trường tập trung hay thị trường thương mại thì gạo Việt Nam không phải chỉ đối mặt với gạo Thái Lan mà còn phải cạnh tranh với đối thủ mới là gạo Ấn Độ.

Niềm vui xuất khẩu gạo chưa khỏa lấp được nỗi lo cho 6 tháng cuối năm. Ông Phong cho hay, diễn biến của thị trường gạo thế giới trong 6 tháng cuối năm còn phụ thuộc vào việc các nước xung quanh như Ấn Độ, Trung Quốc có động thái mua bán ra sao. Hiện tại, Chính phủ Ấn Độ đang thực hiện việc dự trữ gạo nên gạo Việt Nam cũng có nhiều cơ hội hơn tại các thị trường, đặc biệt là châu Phi. Tuy nhiên, nếu Ấn Độ quyết định mở kho bán lúa thì gạo Việt Nam khó lòng cạnh tranh được về giá với gạo Ấn Độ.

Một nhân tố khác cũng có ảnh hưởng lớn đến thị trường gạo thế giới là Trung Quốc. Việc hạn hán nặng dẫn tới khả năng mất mùa tại nhiều nơi ở Trung Quốc được xem là ẩn số. “Nếu Trung Quốc quyết định mua gạo thì thị trường thế giới sẽ biến động rất mạnh bởi nhu cầu mua của Trung Quốc là rất lớn. Điều đó sẽ khiến giá gạo lên không biết đến điểm nào”, ông Phong nhận xét. Những lý do này đang khiến cho các doanh nghiệp xuất khẩu gạo đau đầu với bài toán xuất ngay hay mạo hiểm chờ thêm. Tuy nhiên, với thực tế các hợp đồng đã ký được tới hơn 70% lượng gạo dự kiến xuất khẩu cho năm nay thì có thể thấy rõ sự lựa chọn của các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam.

Vẫn còn nhiều bất cập

Trên thực tế, cho dù có lúa hàng hóa đủ để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu đi nữa thì bản thân Hiệp hội và các doanh nghiệp vẫn chưa hết lo. Nỗi lo này bắt nguồn từ chính khả năng đảm bảo thực hiện các hợp đồng xuất khẩu của doanh nghiệp và từ cái cách cạnh tranh không thiện chí vẫn tồn tại bấy lâu nay khiến cho thương hiệu gạo Việt Nam chưa có cơ hội đạt được giá trị cao hơn. “Có hợp đồng xuất khẩu gạo sang Iraq với khối lượng 100.000 tấn nhưng chúng tôi rất phân vân vì ký thì có giao nổi trong 6 tháng không? Nếu không giao được lại bị phạt 10% và mất uy tín trong khi đây là thị trường mà chúng ta dày công gây dựng”, ông Phong nói. Trước đó, các doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam đã có hợp đồng 200.000 tấn vào thị trường Iraq trong 6 tháng đầu năm.

Tình trạng cạnh tranh trong giành hợp đồng xuất khẩu cũng được các doanh nghiệp lên tiếng cảnh báo. Bà Bùi Thị Minh Tâm, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Lương thực miền Bắc đề xuất, cần có cơ chế điều hành riêng cho hai Tổng công ty Lương thực Miền Bắc và Lương thực Miền Nam để có thể tiêu thụ lúa hàng hóa cho nông dân theo yêu cầu của Chính phủ và điều hành xuất khẩu theo thị trường, chứ không phải “cào bằng” như hiện nay. “Các doanh nghiệp nhỏ có thể làm theo hướng dẫn của Hiệp hội nhưng 2 tổng công ty lớn có tiềm lực tốt và dài hạn nên có thể chấp nhận giá bằng hoặc lỗ chút đỉnh để linh hoạt tìm thị trường”, bà Tâm nói.

Bên cạnh đó, chuyện làm nhiệm vụ thu mua lúa cho dân như yêu cầu của Chính phủ nhưng lại được chia chỉ tiêu xuất khẩu thấp như một vài hợp đồng gần đây cũng được Tổng công ty Lương thực miền Bắc thẳng thắn cho rằng “không công bằng”. Điểm cũng cần nói thêm là nguồn lúa gạo mà các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, không kể doanh nghiệp to hay nhỏ, tìm kiếm đều nằm ở các tỉnh ĐBSCL nên chuyện tranh mua là khó tránh khỏi.

Thực tế này cũng khiến cho hạt gạo Việt Nam còn phải vất vả để khẳng định chỗ đứng của mình!

Xuân Diệu

Xuất khẩu gạo 2009 - sự khởi đầu thuận lợi

(Cập nhật: 16/2/2009)

Mặc dù hoạt động xuất khẩu nói chung đang gặp khó khăn, nhưng xuất khẩu lúa gạo lại đang phát đi những tín hiệu khá tươi tắn. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc cho rằng, khủng hoảng tài chính toàn cầu sẽ ảnh hưởng tích cực đến hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam!

Tháng 2 - tháng xuất khẩu kỷ lục trong lịch sử xuất khẩu gạo 20 năm qua

Tháng 1-2009 mặc dù là tháng giáp hạt, nhưng cả nước đã xuất được 310.000 tấn gạo. Trong lịch sử xuất khẩu gạo 20 năm qua, đây là tháng xuất khẩu kỷ lục. Trong vòng 9 ngày đầu tháng 2, các doanh nghiệp đã xuất thêm 74.000 tấn gạo với giá bán khoảng 390 USD đến tới 400 USD/tấn, giải quyết được khoảng một nửa số gạo tồn kho từ năm 2008. Giá gạo bình quân trong tháng 2-2009 có thể đạt tới 410 USD, cao hơn tháng 1-2009. Trong tháng 2-2009, các doanh nghiệp sẽ nỗ lực giao khoảng 550.000 - 600.000 tấn. Như vậy, cả 2 tháng đầu năm có thể đạt 900.000 tấn (trong khi cùng kỳ năm trước chỉ đạt 300.000 tấn). Một số doanh nghiệp xuất khẩu gạo cho biết, trong tuần cuối tháng 1-2009, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng 20 USD so với tháng trước. Trong đó, có những doanh nghiệp đã ký được hợp đồng xuất khẩu với giá rất hấp dẫn như gạo 5% tấm có giá 500 USD/tấn, gạo 25% tấm: giá 400 USD/tấn (giá FOB).
 
Năm 2009, Việt Nam có thể đạt mục tiêu xuất khẩu được 5 triệu tấn gạo

Trong năm 2008, Việt Nam đã ký hợp đồng xuất khẩu 5,1 triệu tấn gạo, đã giao 4,65 triệu tấn, đạt kim ngạch xuất khẩu 2,9 tỉ USD, gấp hơn hai lần so với năm 2007 (1,4 tỉ USD). Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2008 cũng đạt mức cao, bình quân là 550 USD/tấn, gần gấp đôi so với năm trước.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn dự báo tổng sản lượng lúa năm 2009 có thể đạt 38 triệu tấn. Đồng bằng sông Cửu Long năm nay sẽ được mùa lớn, sản lượng chắc chắn sẽ đạt 5 triệu tấn. Dự báo được mùa đi liền với khả năng mở rộng thị trường và giá bán có xu hướng nhích lên làm cho ngay từ những ngày cuối tháng 1-2009, thị trường lúa gạo ở đồng bằng sông Cửu Long đã nhộn nhịp trở lại. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo thu mua với số lượng lớn lúa gạo nguyên liệu, chuẩn bị chế biến phục vụ cho những hợp đồng xuất khẩu đầu năm 2009.

Theo tính toán, vụ đông xuân 2009 có thể đạt 9-10 triệu tấn lúa, năng suất bình quân đạt 6,2-6,4 tấn/ha. Với giá lúa gạo ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long đang nhích lên theo chiều hướng khả quan, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long tính toán: với giá lúa trên 4.000 đồng/kg, sau khi trừ mọi chi phí, nông dân sẽ có lãi khoảng 50% - một tín hiệu đáng mừng cho thị trường lúa gạo nói riêng và cho lĩnh vực xuất khẩu nói chung, trong năm nay.

Còn theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), trong bối cảnh các nước phải tăng cường dự trữ lương thực trước những rủi ro từ khủng hoảng tài chính, trong năm 2009, Việt Nam có thể xuất khẩu được 5 triệu tấn gạo. Cũng theo FAO, năm 2009, tuy giá gạo không tăng đột biến như năm 2008, nhưng vẫn tiếp tục ở mức cao. So với năm 2003, giá gạo tăng khoảng hai lần do nhu cầu gạo của các nước tăng cao trong khi nguồn cung không tăng. Hiện giá phân bón và các vật tư nông nghiệp đã giảm tới 50%, trong khi giá xuất khẩu không giảm nhiều. Đây là tín hiệu tích cực đối với nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam, và là cơ hội để bù đắp phần nào thiệt hại mà nhà nông và doanh nghiệp Việt Nam đã gặp phải trong năm 2008.

Hiện nay, diện tích trồng lúa của Việt Nam là 7,5 triệu ha, sản lượng khoảng 39 triệu tấn. Do vậy, mục tiêu xuất khẩu 4,8 triệu tấn gạo trong năm nay là hoàn toàn có thể đạt được.

Những vấn đề cần quan tâm

Mặc dù được mùa và có những dấu hiệu tích cực về giá, thị trường tiêu thụ..., tuy nhiên, vẫn rất cần quan tâm đến những yếu tố có tác động không thuận, ảnh hưởng tới những cơ hội, triển vọng tốt đẹp.

Chẳng hạn, tình trạng người nông dân mở rộng diện tích trồng lúa một cách tự phát do giá gạo tăng cao. Có thể tham khảo kinh nghiệm của Thái Lan. Chủ tịch Hiệp hội xuất khẩu gạo Thái Lan Chookiat Ophaswongse trong chuyến khảo sát vựa lúa vùng Đông Bắc Thái Lan nói: "Chính phủ đã phát tín hiệu sai lầm ngay từ ban đầu. Giá gạo cao theo chương trình can thiệp giá của chính phủ khuyến khích người nông dân mở rộng diện tích trồng lúa trong khi giá gạo đang có xu hướng giảm". Theo ông, giá gạo hấp dẫn trong vụ mùa vừa qua đã khuyến khích người nông dân trồng thêm 450.000 rai (1 rai = khoảng 16.000 m2) lúa, tương đương khoảng 3% sản lượng lúa. Trong khi đó, thị trường gạo toàn cầu bỗng trở nên ảm đạm, không có hợp đồng lớn được ký kết. Do các nhà nhập khẩu gạo cho rằng, chính phủ có lượng gạo dự trữ rất lớn, nên họ đã giảm các hợp đồng mua gạo vì tin rằng giá gạo sẽ còn xuống thấp hơn nữa. Vì thế, Thái Lan sẽ không thể đạt mục tiêu xuất khẩu 9,5 triệu tấn gạo trong năm 2009; đồng thời, Thái Lan cũng sẽ mất một số thị trường cho Việt Nam và Ấn Độ. Thực tế cho thấy, năm 2008, Thái Lan đã được hưởng lợi, do Việt Nam và Ấn Độ hạn chế xuất khẩu gạo vì lý do an ninh lương thực trong nước. Phó Chủ tịch Charoen Laothammatas nói rằng, nếu năm 2008 là năm vàng của các nhà xuất khẩu gạo Thái Lan thì năm 2009 sẽ là năm khó khăn khi giá gạo có thể từ 1.000 USD/tấn xuống còn 300USD/tấn. Hiện đã có nhiều khách hàng từ Phi-lip-pin, Xin-ga-po và một số nước châu Phi liên hệ với các doanh nghiệp trong nước để ký hợp đồng xuất khẩu gạo. Nước nhập khẩu gạo lớn nhất thế giới Phi-lip-pin sẽ nhập khẩu của Việt Nam 1,5 triệu tấn gạo trong năm 2009.

Một hiện tượng cần quan tâm khác là tình trạng trồng lúa thơm tự phát trong vụ đông xuân ở đồng bằng sông Cửu Long đã lên tới 25% đến 30% diện tích. Lúa thơm ở đồng bằng sông Cửu Long trồng hơi khó do vùng sinh thái, thổ nhưỡng... nên chưa đạt mùi thơm theo chuẩn. Giống lúa thơm tốt thường phải trồng ở vùng nước lợ cặp ven biển mới có mùi thơm. Việt Nam lại chưa có thương hiệu về lúa thơm nên khó bán, vì thế, gạo thơm của Việt Nam chưa thể cạnh tranh với gạo thơm của Thái Lan, nên rất có thể gạo thơm chỉ bán bằng với giá gạo thường như đầu năm 2004, 2008. Vì vậy, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long khuyến nghị, đồng bào chỉ nên trồng một phần nào để cung cấp cho nhà hàng, khách sạn có nhu cầu./.

Ngọc Hồ tổng hợp

Dự đoán về tình hình lúa gạo của VN trong năm 2009


27/02/2009

Việt Nam là nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai trên thế giới chỉ sau có Thái Lan. Tuy nhiên nông dân Việt Nam, nhất là nông dân tại vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn còn gặp nhiều khó khăn do sản phẩm mình làm ra nhiều khi không bán được cũng như giá cả đôi lúc xuống dưới giá thành sản xuất. Trong năm Kỷ Sửu 2009, liệu điệp khúc được mùa rớt giá nông sản có còn lập lại như năm 2008 không. Hà Vũ của ban Việt ngữ VOA có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện Lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long về vấn đề này, mới quý vị theo dõi.

A farmer works in a rice field in Hanoi (file photo_

VOA: Theo dự đoán của Tiến sĩ thì năm nay lúa gạo tại vùng đồng bằng sông Cửu Long ra làm sao thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Ngành nông nghiệp của chúng tôi sẽ bố trí những đoàn đi khảo sát nhưng hiện nay chúng tôi đã tham khảo hết rồi. Mùa vụ năm nay cũng trúng muà không thua năm rồi, nghĩa là trà lúa rất tốt, sâu bệnh năm nay đặc biệt rất ít, ít hơn năm rồi rất nhiều, bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá không đáng kể, rầy nâu cũng ít do đó dự đoán là năm nay trúng mùa. Còn giá cả thì theo dự kiến, giá cả sẽ không lên cao, ít ra cũng khoảng từ ba nghìn rưỡi đến bốn nghìn để đảm bảo cho người dân được khoảng lãi từ 30% trở lên. Như vậy nhưng mà giá gạo trên thị trường thế giới cũng tương đối thấp do vậy dự kiến giá lúa sẽ không đột biến mà nó chỉ từ 3500 đến 4000. Còn mùa vụ thì có lẽ trúng, năm nay đồng bằng sông Cửu Long vụ Đông Xuân có thể cũng đạt từ chín triệu cho tới mười triệu tấn.”

VOA: Nếu giá ba ngàn rưỡi, bốn ngàn như vậy thì nông dân có lợi không thưa Tiến sĩ?

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Nếu 3,500 hoặc 4,000 thì trong vụ Đông Xuân này, nông dân lãi cũng khoảng 50% bởi vì theo chúng tôi tính toán thì ở vùng này tổng số một hécta chi phí các khoản, vật tư năm nay cũng tương đối thấp cộng thêm nhân công các khoản thì khoảng 11 triệu. 11 triệu mà nếu được 6 tấn thì giá thành dưới 2000, mà nếu mình bán được 4000 thì lãi khoản 50%, nếu 3,500 thì lãi khoản 40%, do đó người dân có lãi. Chỉ có cái việc là nếu qua vụ Hè Thu, mà nếu đầu tư chừng đó công việc, có khi đầu tư cao hơn do bơm nước nhưng nếu năng suất có 4 tấn thôi thì 4 tấn mà chia cho 11, 12 triệu như vậy thì khoản 3000 đồng một ký thì Hè Thu lãi ít còn Đông Xuân tương đối nhiều thì người dân nhờ vào vụ Đông Xuân này.”

VOA: Thưa Tiến sĩ như vậy giá cả của lúa gạo vùng đồng bằng sông Cửu Long thì theo tình trạng xuất khẩu lúa gạo thưa Tiến sĩ mà nếu xuất khẩu lúa gạo gặp trục trặc như năm ngoái, các thương lái không thu mua hay là các công ty xuất khẩu không thu mua thì tình trạng đó có thể nào tái diễn hay không?

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Cái này năm rồi đã rút kinh nghiệm rất sâu sắc về chuyện này. Thủ tướng có chỉ thị ngành nông nghiệp rút kinh nghiệm về vấn đề dự báo. Cái thứ hai là khi thị trường lúa gạo thế giới giá thì không cao nhưng tiêu thụ sẽ không giảm do vậy có khả năng là mình ký hợp đồng xuất khẩu được nhưng vấn đề là giá không được cao. Do vậy vấn đề giá thì nó không đột biến nhưng có một việc là nhà nước đang khuyến cáo, hỗ trợ các doanh nghiệp có tiền để làm các kho chứa, kho tồn trữ và người nông dân một số nơi, một số các hợp tác xã hoặc những nơi người ta liên doanh, liên kết với nhau người ta làm thì được hỗ trợ để làm kho. Như vậy thì một mặt cứ tới thời vụ thì bán. Thứ hai nữa là nếu bán giá còn thấp, chưa đạt, dự báo thị trường thế giới chưa được tốt thì có thể là tồn trữ được. Nếu chúng ta tồn trữ được như vậy thì bảo đảm sẽ bình ổn giá.”

VOA: Thưa Tiến sĩ thì khả năng làm kho lẫm như vậy tồn trữ bốn năm triệu tấn lúa thì khả năng thực hiện như thế nào?

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Cái khả năng thực hiện thì…nhưng trước sau cũng phải làm, nhưng cái đó làm một lần 3 triệu tấn lúa thì khó, nhưng cái dạng làm theo lộ trình từ 3 đến 5 năm thì được. Bắt đầu từ năm nay đã có một số chuẩn bị làm kho tàng và từ 3 đến 5 năm thì sẽ ổn định được vấn đề kho tàng. Nếu ổn định được kho tàng thì mình sẽ an tâm về vấn đề tồn trữ và không nên tồn trữ gạo mà chỉ tồn trữ lúa mà thôi.”

VOA: Theo Tiến sĩ thì trong năm mới này thì tình trạng gọi là được mùa rớt giá, Tiến sĩ thấy có thể xảy ra nữa không?

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Vì hệ thống phân phối thị trường của Việt Nam mấy năm trước có kém. Do đó chuyện này nó thường xuyên xảy ra. Còn năm nay rút kinh nghiệm năm rồi do đó các hệ thống phân phối Việt Nam cũng rút kinh nghiệm và làm cho tốt chuyện này thì tôi tin rằng cái việc được mùa rớt giá thì tôi tin chắc giá không cao thôi chứ không bị rớt. Như tôi dự kiến hồi nãy thì giá từ 3500 đến 4000, nó nằm trong giao động đó.”

Rice

VOA: Thưa Tiến sĩ, thị trường lúa gạo thì mặc dù có những quốc gia thấy rằng tình trạng lúa gạo thiếu hụt như vậy thì họ tăng cường sản xuất nhưng có một số quốc gia thì họ không thể nào sản xuất nổi, ví dụ như thị trường lúa gạo châu Phi thì mình có thể bán gạo ở châu Phi nhiều, Tiến sĩ thấy rằng mở rộng thị trường ra châu Phi mình có khả năng không?

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Ý kiến này thì bên Việt Nam chủ trương của chúng tôi cũng đang làm. Thứ nhất là mình không cạnh tranh gạo thơm, gạo đặc sản với Thái Lan vì thị trường gạo thơm nó hiếm, ít. Do đó ở Việt Nam mình dồn lúa chất lượng cao, lúa xuất khẩu được. Như vậy thì thị trường các nước Đông Nam Á như Philippines, Indonesia và một số nước quanh đây như Brunei, nhưng đặc biệt là các nước châu Phi, lúa gạo Việt Nam rất dễ xuất. Nhưng mà có một việc cũng khó là do ảnh hưởng suy thoái toàn cầu mà mấy ông châu Phi này thì dân thì đói, như Somalia đói dữ, đói quá, chết đói rất nhiều nhưng không có tiền mua. Do vậy là nhờ các đại gia, các tài trợ của các nước lớn mà mấy nước lớn đang bị suy thoái thì cái này khó mà ảnh hưởng, chớ mà thị trường Việt Nam loại gạo trung bình như vậy xuất sang Châu Phi thì rất là thuận lợi, thị trường không kén hàng. Nhưng mà có việc là anh mua, ảnh nghèo, ảnh không có tiền, ảnh phải nhờ qua tổ chức FAO của Liên Hiệp Quốc hay của chỗ khác. Bây giờ có một doanh nghiệp khác mua thì mới được. Đó cũng là một vấn đề khó khi xông vào thị trường châu Phi chớ lúa gạo Việt Nam vào Châu Phi rất là tốt bởi vì dân ở các vùng đó không kén gạo ngon như các nước Tây Âu.”

VOA: Thưa Tiến sĩ, những công ty xuất nhập khẩu lúa gạo có thể nào liên lạc với những tổ chức thế giới chuyên lo cứu trợ dân chúng những vùng đói kém mời chào họ thì Tiến sĩ thấy khả năng đó có thể thực hiện được không?

Tiến sĩ Lê Văn Bảnh: “Cái đó nằm trong tầm tay mình nghĩa là mình quan hệ tốt. Các đơn vị đó cũng đã đến thăm Việt Nam nhưng mà vấn đề làm sao để có nguồn tiền mua. Không phải là có ngay được, thành ra có những lúc mình cũng chào hàng như vậy, giới thiệu, cũng có những cuộc gặp gỡ trao đổi, cũng có làm nhiều động thái giao dịch buôn bán gạo. Nhưng mà để được cái này phải có vấn đề thời gian. Thứ hai nữa là phải có tài trợ thực tế chứ nhiều khi người ta hứa hẹn mà khó đạt được thì đây cũng là cái chuyện khó. Do vậy mà ở Việt Nam vừa rồi Thủ tướng cũng có giao nhiệm vụ cho các tham tán các đại sứ quán Việt Nam tại các nước để cuối cùng tham gia tìm nguồn tiêu thụ gạo.”
 
VOA: Cám ơn Tiến sĩ

 

Tiền Giang: Thương hiệu gạo Mỹ Thành sẽ xuất sang châu Âu

Ngày 12-2, tổ chức JUV SUD PB Vietnam Company Ltd. của Đức đã tổ chức trao giấy chứng nhận Global GAP cho hợp tác xã Mỹ Thành chuyên trồng lúa chất lượng cao để xuất khẩu (xã Mỹ Thành Nam, huyện Cai Lậy, Tiền Giang

Là cường quốc xuất khẩu gạo, nhưng gạo Việt Nam trên thị trường nội địa đôi lúc vẫn bị gạo Thái lấn sân, đặc biệt là ở các loại gạo đặc sản. Nguyên nhân có lẽ chính là vì thương hiệu, chỉ dẫn địa lý không rõ ràng, khiến các loại gạo đặc sản chưa được người tiêu dùng tin tưởng

 

Sau cơn sốt giá gạo hồi tháng 4, gạo loại thường đã xuống giá. Riêng gạo thơm vẫn duy trì “phong độ” và giá lúa thơm vẫn ở mức 7.200 – 7.300đ/kg, trong khi giá lúa thường chỉ 4.700đ/kg.

 

Gạo thơm bên ngoài sẽ tràn vào

“Tuy nhiên vụ đông xuân tới, diện tích lúa thơm sẽ giảm sản lượng do làm lúa loại trung bình dễ bán hơn. Lúc đó, gạo thơm Thái và Campuchia sẽ tràn vào Việt Nam”, ông Hồ Minh Khải, giám đốc công ty nông nghiệp Cờ Đỏ cảnh báo.

 

Nguyên nhân tình trạng diện tích lúa thơm có thể sẽ giảm là do giá thành sản xuất cao, sản phẩm khó bán. Chẳng hạn, gạo Jasmine phải ký hợp đồng xuất khẩu với giá 950 USD/tấn mới có lời. Nhưng chào giá đó, ai sẽ mua khi gạo đặc sản Việt Nam chưa có tiếng trên thị trường thế giới? Gạo 5% tấm của Việt Nam phổ biến đã giảm xuống 540 USD/tấn hồi cuối tháng 8.2008.

 

Việc sản xuất đại trà các loại gạo đặc sản cũng gặp trở ngại trong tiêu thụ nội địa do phải khai thác phân khúc thị trường hẹp (những người thu nhập cao), trong khi các loại gạo đặc sản giả hiệu như nàng thơm chợ đào, gạo đỏ huyết rồng... bán tràn lan.

 

“Rờ le” tự động cho gạo thơm nội địa

 

Ông Khải chuẩn bị cho một thị trường gạo thơm sau khi thoả thuận hợp tác với Co.opmart hồi tháng 3.2008. Ban đầu, hai bên tính đến khả năng chia sẻ chi phí và lợi nhuận. Nhưng do giá cả thay đổi liên tục nên ông Khải chấp nhận cung cấp nguyên liệu để Co.opmart đóng bao, chỉ cần ghi rõ chỉ dẫn địa lý. Trong điều kiện hiện nay, trữ gạo sẽ tăng chi phí 100 – 200đ/kg do lãi suất ngân hàng và các chi phí khác, đối tác chỉ cần nói rõ nhu cầu (số lượng và chủng loại), đặt tiền mua hàng và gởi gạo tại kho thì “rờ le” chương trình phối hợp sẽ tự động mở.

 

Khi cơn sốt giá gạo lên cao, có doanh nghiệp cho rằng “có bao nhiêu gạo cũng bán hết, lo làm thương hiệu, liên kết làm gì?”. Nhưng chính lúc đó, công ty nông nghiệp Cờ Đỏ thuộc huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ và Co.opmart đã ký thoả thuận hợp tác. Cờ Đỏ có 5.664 hecta đất trồng lúa, 70 – 80% diện tích làm lúa thơm Jasmine 85, VD20 và ST1 cả hai vụ hè thu và đông xuân, khả năng cung ứng lúa thương phẩm hằng năm khoảng 45.000 – 50.000 tấn lúa thơm, hệ thống kho tàng có sức chứa 20.000 tấn, 63 lò sấy công suất 12 – 15 tấn/mẻ và 100.000m2 sân phơi, 5 phân xưởng chế biến gạo công suất 600 – 700 tấn/ngày... Ông Khải xem đó là cơ sở bền vững để thực hiện chương trình cung cấp gạo cho siêu thị.

 

Ngày 31.7.2008, theo Angimex, Jasmine Châu Phú – loại gạo thơm của An Giang cũng đã bán tại 29 siêu thị trong toàn hệ thống Co.opmart. Angimex có khả năng cung cấp 350.000 tấn/năm, sức chứa kho 70.000 tấn, sản phẩm được quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000.

 

Bên cạnh việc tìm cách xuất khẩu gạo thơm, việc duy trì khả năng cung cấp cho thị trường trong nước, thậm chí chỉ cung cấp cho dân Sài Gòn thôi, bằng việc tạo ra sản phẩm có thương hiệu, phân phối ở địa chỉ tin cậy (như siêu thị) đang là hướng đi mới cho người làm gạo nội địa.

 

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng nếu có các hợp đồng xuất khẩu cấp chính phủ tạo cơ hội cho gạo thơm, thì diện tích lúa thơm mới tăng mạnh.

 

Xây dựng thương hiệu gạo: Nhìn từ phân khúc gạo thơm


Là cường quốc xuất khẩu gạo, nhưng gạo Việt Nam trên thị trường nội địa đôi lúc vẫn bị gạo Thái lấn sân, đặc biệt là ở các loại gạo đặc sản. Nguyên nhân có lẽ chính là vì thương hiệu, chỉ dẫn địa lý không rõ ràng, khiến các loại gạo đặc sản chưa được người tiêu dùng tin tưởng

Sau cơn sốt giá gạo hồi tháng 4, gạo loại thường đã xuống giá. Riêng gạo thơm vẫn duy trì “phong độ” và giá lúa thơm vẫn ở mức 7.200 – 7.300đ/kg, trong khi giá lúa thường chỉ 4.700đ/kg.

Gạo thơm bên ngoài sẽ tràn vào

“Tuy nhiên vụ đông xuân tới, diện tích lúa thơm sẽ giảm sản lượng do làm lúa loại trung bình dễ bán hơn. Lúc đó, gạo thơm Thái và Campuchia sẽ tràn vào Việt Nam”, ông Hồ Minh Khải, giám đốc công ty nông nghiệp Cờ Đỏ cảnh báo.

Nguyên nhân tình trạng diện tích lúa thơm có thể sẽ giảm là do giá thành sản xuất cao, sản phẩm khó bán. Chẳng hạn, gạo Jasmine phải ký hợp đồng xuất khẩu với giá 950 USD/tấn mới có lời. Nhưng chào giá đó, ai sẽ mua khi gạo đặc sản Việt Nam chưa có tiếng trên thị trường thế giới? Gạo 5% tấm của Việt Nam phổ biến đã giảm xuống 540 USD/tấn hồi cuối tháng 8.2008.

Việc sản xuất đại trà các loại gạo đặc sản cũng gặp trở ngại trong tiêu thụ nội địa do phải khai thác phân khúc thị trường hẹp (những người thu nhập cao), trong khi các loại gạo đặc sản giả hiệu như nàng thơm chợ đào, gạo đỏ huyết rồng... bán tràn lan.

“Rờ le” tự động cho gạo thơm nội địa

Ông Khải chuẩn bị cho một thị trường gạo thơm sau khi thoả thuận hợp tác với Co.opmart hồi tháng 3.2008. Ban đầu, hai bên tính đến khả năng chia sẻ chi phí và lợi nhuận. Nhưng do giá cả thay đổi liên tục nên ông Khải chấp nhận cung cấp nguyên liệu để Co.opmart đóng bao, chỉ cần ghi rõ chỉ dẫn địa lý. Trong điều kiện hiện nay, trữ gạo sẽ tăng chi phí 100 – 200đ/kg do lãi suất ngân hàng và các chi phí khác, đối tác chỉ cần nói rõ nhu cầu (số lượng và chủng loại), đặt tiền mua hàng và gởi gạo tại kho thì “rờ le” chương trình phối hợp sẽ tự động mở.

Khi cơn sốt giá gạo lên cao, có doanh nghiệp cho rằng “có bao nhiêu gạo cũng bán hết, lo làm thương hiệu, liên kết làm gì?”. Nhưng chính lúc đó, công ty nông nghiệp Cờ Đỏ thuộc huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ và Co.opmart đã ký thoả thuận hợp tác. Cờ Đỏ có 5.664 hecta đất trồng lúa, 70 – 80% diện tích làm lúa thơm Jasmine 85, VD20 và ST1 cả hai vụ hè thu và đông xuân, khả năng cung ứng lúa thương phẩm hằng năm khoảng 45.000 – 50.000 tấn lúa thơm, hệ thống kho tàng có sức chứa 20.000 tấn, 63 lò sấy công suất 12 – 15 tấn/mẻ và 100.000m2 sân phơi, 5 phân xưởng chế biến gạo công suất 600 – 700 tấn/ngày... Ông Khải xem đó là cơ sở bền vững để thực hiện chương trình cung cấp gạo cho siêu thị.

Ngày 31.7.2008, theo Angimex, Jasmine Châu Phú – loại gạo thơm của An Giang cũng đã bán tại 29 siêu thị trong toàn hệ thống Co.opmart. Angimex có khả năng cung cấp 350.000 tấn/năm, sức chứa kho 70.000 tấn, sản phẩm được quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000.

Bên cạnh việc tìm cách xuất khẩu gạo thơm, việc duy trì khả năng cung cấp cho thị trường trong nước, thậm chí chỉ cung cấp cho dân Sài Gòn thôi, bằng việc tạo ra sản phẩm có thương hiệu, phân phối ở địa chỉ tin cậy (như siêu thị) đang là hướng đi mới cho người làm gạo nội địa.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng nếu có các hợp đồng xuất khẩu cấp chính phủ tạo cơ hội cho gạo thơm, thì diện tích lúa thơm mới tăng mạnh.

Hieu gao Truong Tho Long Live Rice

 

Bao hiem nong dan va hưu tri, bao dam loi tuc

 

Keu goi dau tu quoc te


Chuyen mon hoa nong nghiep

 

An it gao lai