Văn hóa Chửi của người Bắc
23.02.2009 16:08
| Ăn hàng Hà Nội: Miệng nhai, tai nghe chửi | | 07:00' 17/02/2009 (GMT+7) | - Với ối người, "bún quát, phở đuổi, cháo chửi" hấp dẫn như... màn biểu diễn họ được thưởng thức khi ăn. Tiếng chửi thậm chí còn khiến đồ ăn thêm hương vị, quán thêm "phong cách" khiến thực khách nhớ rồi thành nghiện "ghé".
|
"Thượng đế"... ăn xin Khi mà quán cháo chửi nổi tiếng cạnh Nhà thờ Lớn... hết chửi (có thể do thưa khách dần, và cháo gà không đủ hấp dẫn thực khách bằng những món ăn hiện đại mới "nổi"), người sành ăn Hà Nội lại bổ sung vào danh sách ghé chân, là những quán ăn mới, vừa bán vừa chửi "ác liệt" hơn.  | | Bà chủ quán bún ngan trên phố Trần Hưng Đạo, tay bán, miệng leo lẻo mắng người làm. Ảnh: Hoàng Dũng |
Quán bún canh dọc mùng nổi tiếng thơm ngon với món lưỡi, sườn, giò heo chấm xì dầu, hông chợ Ngô Sĩ Liên (Hà Nội) ít khi ngớt tiếng léo nhéo chua loét của bà chủ ngoài 50. Mỗi câu hỏi của khách là một cơ hội cho bà... "xả giận".
Trưa 15/02, một khách mới dừng xe trước quán hỏi: "Chị ơi, để xe ở đâu?". Bà đốp ngay vào mặt: "Để lên nóc nhà này này!". Một thực khách gọi rau sống đến lần thứ 3, bị bà chồm qua bàn bán hàng quát với vào nhà: "Đây không có rau, tự trồng mà ăn!".
Nghe bà chửi đã quen, một chị khách sau bữa trưa ngon miệng dũng cảm lại gần bà bảo: "Chị gói cho em 1 cái lưỡi về nhà, nhà em ít người, chị cho cái be bé". Bà chủ quán ngồi cạnh nồi canh nghi ngút khói, mặt đỏ phừng phừng quắc mắt: "Đây không có hàng bé! 60 nghìn đổ đầu". Chị khách bắt đầu hãi, gật đầu ngay. Nhưng bà hàng chưa hết cơn. Bà vừa gói hàng, múc nước chấm, vừa nguýt chị khách: "Đã muốn ăn ngon lại còn đòi rẻ!". Rồi cơn cáu giận dâng cao trào, bà móc cái lưỡi lợn ra khỏi túi nilon định đưa cho khách, ném vào rổ: "Thôi không bán nữa đâu, về đi!". Chị khách tím mặt lủi thủi ra về.
Tại nhiều quán đông và ngon khác ở Hà Nội, cảnh các thượng đế "xin ăn" không khiến nhiều người ngạc nhiên. Chị Hồng Hạnh (Vĩnh Hồ, Hà Nội) kể, một lần cùng chồng đến quán mỳ vằn thắn trên phố Trần Hưng Đạo, chờ mãi không thấy nhân viên đến hỏi, chồng chị đành ra tận quầy bà chủ quán gọi món. 10 phút sau không thấy ai mang đồ ăn ra, hai vợ chồng ngại quán đông, đứng dậy ra về. Vừa ra khỏi cửa, đã nghe một giọng đàn ông chửi với theo: "Loại giẻ rách, có C. tiền mà ăn!".
"Mình mất tiền, chẳng phải để được cung phụng nhưng ít ra cũng phải được phục vụ cho đáng đồng tiền. Đi ăn để bị chửi, nhục lắm" - chị Hạnh nói. Nỗi nhục đi ăn bị chửi, với chị Hằng (một phiên dịch) đến giờ vẫn còn đầy. Trước Tết, chị cùng bạn đến hàng quẩy trên phố Tô Hiến Thành. Gọi 2 suất nhưng bà chủ mang ra một đĩa đầy và bảo ăn không hết thì trả lại. Đĩa quẩy còn 5 cái, chị Hằng xin trả lại để tính tiền, bà hàng trừng mắt: "Mang về cho chó nó gặm nhé, chó chê thì vứt sọt rác". Chị Hương và vợ chồng chị Hạnh không bao giờ quay lại những quán chửi đó nữa, nhưng mỗi lần đi qua, họ thấy người ăn vẫn vòng trong vòng ngoài. Có vẻ như nhiều thực khách không "nặng nhẹ" chuyện bị chửi, và quán vẫn giữ "phong cách". "Phong cách" vừa bán, vừa chửi  | Quẩy chửi Hà Nội. Ảnh: Hoàng Dũng |
Bị chửi mà vẫn ăn được, nữa là vừa ăn vừa được... xem chửi. Cũng nóng mặt đấy, nhưng... vui. Chị Cẩm Tú, một giáo viên từng giật mình khi vừa ngồi xuống ghế đã nghe bà chủ một quán bún ngan trên đường Trần Hưng Đạo xa xả: "Mày đi đâu mà giờ mới vác xác đến, ở nhà chôn bố mày à?".
Thì ra nạn nhân là cô giúp việc mới đang chôn chân chịu trận trước bà chủ và hàng chục thực khách đang tất bật nhai và... nhẫn nại nghe. Bà chủ quán thấy nhiều người ngẩng đầu ngó, như được động viên, tay làm hàm càng... chửi!. Một khách thấy chị Tú mắt tròn mắt dẹt thì bảo: "Bà này phải được chửi bán mới... hăng. Cái cô người làm này mới nên chưa quen, chứ giúp việc cũ biết tính bà, bị bà chửi rách tai vẫn toe toét".
Ở hàng hủ tiếu nổi tiếng trong "ngõ ẩm thực" phố Hàng Chiếu, bà hàng cũng phải chửi người làm liên tục mới bán được. Được cái, bà này chua với người làm bao nhiêu thì ngọt với khách bấy nhiêu. Nên "bài chửi" của bà du dương với cả "nốt thăng" lẫn "nốt giáng": "Mày có rồ không mà cắt rau dài thế này? - Em không ăn rau sống, nhỉ?", "Cái con ngu vạ ngu vật kia, khách chờ vòng trong vòng ngoài mà cứ đứng như con chết rồi thế kia? - Chưa đến lượt em, đợi tí, gái nhé!", "Xéo về quê mà hốc C.! Loại lười thối thây như mày chỉ tổ ngứa mắt tao! - Ngồi xuống đây em, chật chội tí, thông cảm nhá!"...
Qua trò chuyện, nhiều người khẳng định họ đều ít nhất 1 lần vừa ăn hàng vừa... được nghe chủ quán chửi người làm. Bà Lan (bán hàng lưu niệm) kể: Cuối tuần trước, cả nhà bà đến quán hải sản biển B.H trên phố Tô Hiến Thành. Bà chủ ở đấy đang quát tháo một nhân viên, thỉnh thoảng lại xỉa xỉa con dao về phía cậu người làm; cậu này thì mặt lạnh tanh như không nghe thấy gì. Các cháu bà Lan ngồi cạnh sợ rúm ró trước lưỡi dao sắc lẻm thỉnh thoảng vung loang loáng trước mặt.
Trước những chủ quán mồm năm miệng mười, chửi người làm như hát hay, ối khách nghẹn. "Nuốt chưa hết miếng đã muốn đứng lên, ăn một lần là cạch đến già" - bà Lan nói. Nhưng cũng với ối người, nghe chửi ở quán hàng thường như... vừa ăn vặt vừa xem biểu diễn (cốt sao tiếng chửi không dành cho mình!). Tiếng chửi thậm chí còn khiến đồ ăn (vốn đã ngon hơn nhiều quán) thêm hương vị, quán thêm "phong cách" khiến người ăn nhớ rồi thành nghiện "ghé".
Thế nên, "phong cách bán hàng" kiểu... chửi không chỉ tự phát ở các quán hàng nhỏ, mà còn được lẳng lặng xây dựng ở hệ thống nhà hàng bậc trung như L.V (phố Lý Thường Kiệt), Q.N (phố Phan Bội Châu)... Mặc kệ những khách âm thầm ôm bực về nhà rồi cạch mặt nhà hàng, nhà hàng kiên trì giữ "phong cách", để lượng "fan" sẵn sàng xem chửi khi chống cằm đợi thức ăn đông dần. Cứ thế, "bún quát, phở đuổi, cháo chửi" không còn xa lạ với một bộ phận người Tràng An. Và đôi khi, một số người âm thầm chấp nhận như một "nét riêng" của Hà Nội.
Hoàng Dũng
Phiếm luận - Nam ăn Bắc chửi
Thanh Văn
LGT: Tác giả là dân "Bắc kỳ" chính cống. Ông hiện cư ngụ tại Sydney, Úc.

class=articlehometextNói chuyện ăn uống hay chửi bới nhau thì sự thật viết ra hàng chục cuốn sách chưa chắc đã hết huống chi trong phạm vi một bài viết ngắn ngủi như bài này. Thế cho nên ở đây tác gỉa chỉ xin mạn phép "bàn" tới một vài món ăn mà đa số dân ăn nhậu ngày nay không những ở miền Nam Việt Nam bây giờ mà ở khắp nơi trên thế giới có dân Việt "gốc" miền Nam đều khoái. Còn chuyện chửi thì hẳn quý độc gỉa cũng đã từng nghe nhắc đến chuyện dân "Bắc kỳ" chửi mất gà, chửi trong cơn ghen v..v.. họ chửi có bài có bản đến độ gần đây một nhà văn, nhà báo, cũng là nhà tranh đấu cho tự do dân chủ khá nổi tiếng ở trong nước là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ có bút hiệu là Hà Sĩ Phu đã gọi là "văn hóa chửi" khi đề cập đến chuyện chửi của người Việt nhất là người Việt miền Bắc.
Bây giờ thì xin nói chuyện ăn uống của dân miền Nam trước. Miền Nam Việt Nam được gọi là miền có mưa năng hai mùa. Thời tiết hay ông trời "dường như" có vẻ ưu đãi người miền Nam, không bắt chịu đựng nhiều sự thay đổi của thời tiết nên chỉ cho miền Nam có 2 mùa mưa nắng. Quanh năm khí hậu ôn hòa khiến thời tiết "hình như" như cũng làm tâm tinh người miền Nam thoải mái, chân thật và không "thớ lợ" như dân miền Bắc, "sắc mắc" như dân miền Trung. Bởi bản tính hiền hòa và "đơn giản" người miền Nam ăn uống cũng giản đơn như sống. Ngày xưa khi những người di dân đầu tiên từ "đàng ngoài" và “đàng trong” theo chân các đạo quân Nam tiến của Chúa Nguyễn. Những người đầu tiên sống ở miền Nam đã phải biến chế thực phẩm tại địa phương thành những món ăn theo nhu cầu sinh tồn. Rồi vì một mặt vừa phải chống trọi với thiên nhiên, một mặt phải chiến đấu với giặc gĩa cho nên dù có muốn bầy vẽ cho đủ thứ như khi còn sống ở quê xưa cũng không thể làm được nên "phải" đơn giản bớt đi cho dễ dàng và nhanh chóng. Riết rồi lâu ngày thành quen, nếp sinh hoạt dần dần ăn sâu vào tiềm thức trở thành bản tính lưu truyền đời này đến đời khác mà ngày nay người miền Nam có vậy.
Một trong những món ăn rất phổ thông và cũng rất "khoái khẩu" của dân miền Nam là món canh chua. Món canh chua không phải là món "độc đáo" của miền Nam, Miền Bắc cũng có nhưng gọi là "riêu", miền Trung cũng có vậy nhưng 2 miền Bắc, Trung nấu nướng cần kỳ, vật liệu tuyển lựa kỹ càng làm cho món ăn mỗi khi muốn ăn phải chuẩn bị kỹ lưỡng, đôi khi hóa thành nhiêu khê khiến không phổ biến rộng rãi được.
Miền Nam như đã ghi ở trên vì bản tính người miền Nam xuề xòa, vật liệu địa phương lại đa dạng nên nồi canh chua của người miền Nam cũng vì thế mà thay đổi đa dạng theo từng địa phương. Nhưng tựu trung mục đích là cung cấp một món ăn với cách nấu nướng đơn giản nhưng lại hợp khẩu vị của đại đa số khiến món ăn trở thành phổ biến và được khai thác trong mọi tình huống của những cuộc ăn nhậu. Người ta có thể "đãi" canh chua cá bông lau, canh chua cá bống mú, canh chua cá chẽm. trong bữa tiệc cưới, trong các bữa tiệc quan trọng khác như cúng giỗ, cỗ bàn đãi đằng quan chức, khách sang đến canh chua cá chốt, canh chua tép, canh chua mắm ruốc chỉ cốt làm cớ để chuyên chở khối lượng cơm cần phải nuốt trôi xuống bao tử mà có sức ra làm đồng, đi đánh cá v..v.. Nói khác đi là hoàn cảnh nào cũng có thể có một nồi canh chua trong một thời gian thích hợp cho nhu cần ăn uống.
Nếu miền Bắc nấu "riêu" với trái sấu, trái nhót trái me thì miền Trung nấu canh chua với trái khóm, trái khế, trái me. Miền Nam thì chả kiếm đâu ra các trái sấu, trái nhót, có gì nấu nấy nên có me thì nấu với me, có khế thì nấu với khế, có khóm thì nấu với khóm, chẳng có những thứ đó thì ít trái chùm ruộc, vài nắm lá me non, vài trái cóc, thậm chí nếu chỉ có độc nhất ít trái cà chua thì nấu nồi canh chua đơn giản gọi là "nấu xuông" cũng được vậy. Cái quan trọng của nồi canh chua là "ngon" và "vừa miệng" chứ không phải để "trình diễn". Một chi tiết nữa thiết nghĩ cũng phải nhắc đến là như trên đã viết miền Nam mưa nắng hai mùa nên canh chua ăn mùa nào cũng được, trong hoàn cảnh nào cũng thấy ngon miệng và nhiều khi rất thống khoái là đằng khác.
Kẻ viết bài này có một vài kinh nghiệm ăn canh chua ở miến Nam như sau: Hồi trước năm 1975, khi phục vụ tại tỉnh Bến Tre tôi thường nhân dịp về tỉnh công tác hay có dịp thường tìm đến một quán ăn có một người đầu bếp Việt gốc Hoa ở gần khu chợ để thưởng thức món canh chua cá bông lau do người đầu bếp này nấu. Cá bông lau là loại cá giống cá tra tức là cá da trơn nhưng khác cá tra là đuôi nó có xọc mầu đỏ sống ở vùng nước lợ (tức là nước ngọt có pha nước mặn từ biển tràn vào). Vào mùa nước sông Cửu Long cạn, nước biển tràn vào sông Hàm Luông, ngược lên đến tận tỉnh lỵ nên cá bông lau lúc này dân đánh cá có thể đánh bắt ngay tại khúc sông trong phạm vi tỉnh lỵ, cá bắt được nhiều khi còn tươi rói đã được nhà hàng mua ngay để nấu canh chua bán cho thực khách, vì nguyên liệu tươi tốt, lại do tài nấu nướng giỏi, món canh chua của nhà hàng tôi ghi trên rất nổi tiếng ở Bến Tre thời bấy giờ. Trước đó ít năm khi còn phục vụ ở Bình Dương, tôi được ăn món canh chua lươn ở nhà hàng của một vị giáo sư trường mỹ nghệ Bình Dương cũng rất là đặc sắc, ăn một lần là khó thể quên thế nào cũng tìm đến ăn nhiều lần tiếp theo. Ngay tại quận lỵ Mỏ Cày thời tôi làm việc khoảng các năm 1972-1974 có một vị Trưởng chi Thanh Niên, anh này ngoài tài nghệ chuyên môn về thể thao như đánh tennis rất hay trước 1975 từng làm huấn luyện viên môn này cho các quan đầu quận, sau 1975 nghe nói cũng nhờ cái tài này mà anh vẫn được các quan chức của chế độ mới "trọng dụng" như xưa, anh còn một tài vặt là nấu ăn và món ruột của anh là món canh chua thịt gà. Tôi đã được vài lần ăn canh chua gà do anh nấu, qủa là xuất sắc và đặc biệt. Bà gìa anh thì có món "dưa lỗ tai heo" cũng là món "đặc sản" mà sau nay dù đã đi khắp năm châu bốn bể tôi cũng không tìm thấy ở đâu có bán.
Canh chua chủ yếu là phải có vị chua, vị chua này như trên đã trình bầy có thể là do vị chua tiết ra từ qủa me, qủa sấu, qủa nhót của miền Bắc, của trái me, trái dứa, trái khế của miền Trung, trái cóc, trái me, trái bần, trái chùm ruộc, nắm lá me, lá vang chua của miền Nam, nhưng nồi canh sẽ mang vị ngon khác nhau tùy theo cái món làm cho nó mang tên như nấu với cá bông lau thì thành canh chua cá bông lau, nấu với gà thì thành canh chua gà, nấu với lươn thì thành canh chua lươn, nếu chỉ nấu với nấm rơm và đậu hủ thì thành canh chua chay. Gọi là món chay nhưng không phải chỉ giành riêng cho nhà chùa mà dân nhậu khắp nơi miền Nam ai nhậu với canh chua chay cũng đều khoái hết, do đó nó không "độc quyền" của nhà chùa mà phổ biến khắp dân gian miền Nam.
Một món ăn bình dân nữa tưởng cần phải nhắc đến ở đây là món mực khô nướng. Hồi năm 1954 khi mới từ Bắc di cư vào Nam tôi chỉ thấy một số người Việt gốc Hoa có những xe bán khô mực nướng trên xe có một dụng cụ chuyên dùng để "cán" cho con khô mực vừa mỏng ra vừa gần đứt thành từng sợi nhỏ cho dễ ăn. Sau này đi khắp miền Nam tôi thấy không phải chỉ ở thành phố mới có các xe bán khô mực nướng như thế người dân miền Nam ăn khô mực nướng ở khắp mọi nơi, nướng khô mực bằng nhiều cách khác nhau, không hẳn "phải" trên bếp than củi kiểu của các xe bán khô mực của người Việt gốc Hoa mà nhiều khi chỉ cần một đống lửa có sẵn nhân đốt lên vì một mục đích khác cũng có thể nướng khô mực để có một món nhậu rất "bắt" vậy. Thỉnh thoảng cũng có người "cấu kỳ" cho rằng nướng khô mực bằng vỏ sọ dừa khô mới "ngon" vì vỏ sọ dừa khô khi cháy còn bốc mùi thơm của dầu dừa, mùi thơm này "quện" vào con khô mực nướng khiến ăn vừa có mùi mực, lại có thêm mùi thơm của dầu dừa nữa. Điều quan trọng ở đây là món ăn bình dân này có thể tìm thấy ở bất cứ đâu ở miền Nam Việt Nam. Món ăn này tuyệt đối không "kỳ thị" giầu nghèo, sang hèn, nam nữ, tuổi tác, nghĩa là bất cứ ai cũng có thể "xực" và khoái nó hết.

Điều đáng nói ở đây là ngày nay hai món ăn kể trên không những phổ biến rộng rãi khắp nước từ Nam ra Bắc (tất nhiên ở miền Nam thì phổ thông hơn) mà nó còn ra hải ngoại. Thử vào các nhà hàng Việt Nam ở Mỹ, ở Canada, ở Pháp, ở Úc mà xem, món canh chua là một món nhất định không thể thiếu trong thực đơn của các nhà hàng đó. Thậm chí nếu ai du lịch lên tận Bắc Âu, như Na Uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Phần Lan, hay Nhật bản nếu vào các nhà hàng ăn Việt Nam ở những xứ này thì nhất định cũng sẽ thấy thực đơn có món canh chua. Nói chung là món canh chua của Việt Nam nhất là miền Nam Việt Nam nay đã thành một món ăn "quốc tế" xuất hiện không những khắp nơi trong nước mà còn khắp thế giới đấy. Còn món khô mực nướng thì bất cứ xiêu thị Á Châu nào cũng có bán, người ta "đóng bao" bằng nylon bán dưới nhiều dạng và trọng lượng khác nhau. Khô mực nướng không hoàn toàn chỉ do Việt Nam chế tạo mà ngày nay nhiều nước Á Châu khác như Tầu, Đại Hàn, Nhật và cả Indonesia, Malaysia cũng đều có sản xuất và bán.
Ngày nay ở miền Nam Việt Nam cái vụ ăn uống đã trở thành bùng phát dữ dội : nhà hàng tiệm ăn mọc ra như nấm, đường nào, phố nào cũng đầy rẫy các tiệm ăn, nhà hàng. Người ta “thi đua” kéo nhau đến các tiêm quán ăn nhậu với bất cứ lý do gì.
Nói chuyện ăn cũng là "từ" ăn, tiếng Việt là loại đơn âm nhưng lại đa nghĩa. Chỉ một chữ ăn thôi nhưng nếu nó đi kèm một chữ khác thì nó lại có nghĩa khác. Thí du: ăn thuốc là hút thuốc, ăn dầu là xe hay máy tiêu thụ xăng dầu, ăn bớt là lén bớt tiền dùng vào mục chi nào đó, ăn quit là vay nợ lấy tiền rồi "chém vè" bỏ chạy, không chịu hoàn trả, ăn đút lót là nhận tiền hay đồ vật hối lộ v..v.. nhiều lắm, kể sao cho xiết, nhưng có một điều rất rõ ràng là các quan chức nhà nước Việt Nam, và những kẻ sống bám vào đám cầm quyền này mà ăn nên làm ra nay trở thành "tư bản đỏ" thì tiền vào thì có, tiền ra nhất định là KHÔNG. Thử nhìn xem hàng chục năm nay rồi, thiên tai bão lụt hàng năm xẩy ra trong nước năm nào mà không có; người chết hàng đống, người mất nhà mất cửa hằng hà xa số có thấy các"nhà tư bản đỏ" bỏ ra một xu nào cứu trợ các nạn nhân, đồng bào ruột thịt khốn khổ đó hay không? Hay chỉ thấy họ lớn họng kêu gọi "khúc ruột ngàn dặm" hãy vì tình lá lành đùm lá rách, móc hầu bao mà cứu giúp nạn nhân thiên tai trong nước mà thôi!
Ấy thế mà có một giới hiện nay ở miền Nam "ăn" được tiền của "tư bản đỏ" đấy. Xin thưa ngay là giới "gõ đầu trẻ", tức là giới thầy cô giáo đấy ạ! Các thầy cô bầy ra chuyện "dậy kèm" để moi tiền của bọn "tư bản đỏ". Chúng "muốn con hay chữ" thì "phải yêu lấy thầy", do đó nay phải biếu, mai phải xén, phải móc hầu bao cho con học kèm với các thầy cô. Bởi các thầy cô áp dụng "chiến thuật" "tiền nào của nấy" tiền chi đến đâu, dậy đến đó. Lương nhà nước trả không đủ sống thì dậy theo kiểu"chết đói". Các thầy cô cần sống nên phải "vẽ" ra chuyện dậy kèm để vừa kiếm sống, vừa có dịp móc túi bọn "tư bản đỏ". Có điều tội nghiệp cho con em các nhà nghèo không có thể theo đuổi các lớp học kèm đành mang phận "dốt" vậy. Thành thử có lẽ ngày nay ở trong nước chỉ có giới này là giới "ăn" được tiền của đám "tư bản đỏ" đấy qúy vị ạ!
Bây giờ "bàn" đến cái chi tiết thứ hai nêu lên ở đề tài bài viết, đó là "Bắc chửi". Chuyện chửi mất gà, chửi vì ghen có bài bản đến độ Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ gọi là "văn hóa chửi" thì xin miễn bàn ở đây. Chỉ xin nêu ra ở đây chuyện dân Miền Bắc ngày nay chửi đảng cộng sản Việt Nam và các quan chức nhà nước tham nhũng như chửi chó. Sự kiện này nó phổ thông đến độ bất cứ ai từ hải ngoại về thăm Việt Nam, nếu ra Bắc đi thăm các thắng cảnh ở miền Bắc, nếu gợi chuyện với tài xế dù là Taxi hay xe ca, xe khách hay xe của các công ty du lịch thì sẽ lập tức được nghe các bác tài này "mở máy" chửi dảng cộng sản và các quan chức nhà nước tham nhũng "như chớp". Họ chửi cũng "có bài có bản", có căn nguyên, lý do, có dẫn chứng cụ thể chứ không phải chửi vu vơ cho xướng miệng. Người mới về thăm quê sau nhiều năm xa xứ mới nghe họ chửi sẽ ớn, nghi là công an cố tình gài bẫy Việt kiều anh nào "dại dột" mở miệng chửi theo thì sẽ gặp rắc rối về sau. Thực sự không phải như vậy; họ chửi thật đấy, ai tò mò len lỏi vào các khu dân nghèo, như lê la ở chợ Đồng Xuân, "đấu" với mấy bà bán hàng ở chợ mà xem hay tham gia những bữa ăn nhậu có các cựu bộ đội, cựu công nhân viên nhà nước vốn là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam thì sẽ thấy là họ chửi nhà nước, chửi đảng cộng sản ào ào, chửi thẳng thừng, chửi vung "xích chó" chả nể nang gì hết.
Nếu ai có thắc mắc hỏi tại sao họ dám chửi như thế thì họ cho hay là :"ối dào! Thiên hạ chửi tùm lum đã lâu, chúng nó nghe riết "chai" lỗ tai rồi nên mặc kệ. Chỉ khi nào "có hành động hay ý định chống đối cụ thể" nhằm lật đổ chế độc tài do chúng đang nắm giữ thì sẽ thấy chúng phản ứng rất dữ dội. Chúng sẽ "thẳng tay" đàn áp sẽ dùng "chuyên chính vô sản" không nương tay. Còn ngoại gỉa chúng mặc kệ coi như đó là cái nút an toàn của nồi xúp de mà thôi.
Dưới đây xin nêu ra một vài thí dụ để chứng minh cho nhận định trên như sau:
Ngày xưa Chiêu Lỳ có bài thơ yết hậu rất nổi danh và rất phổ thông trong làng "chai lọ" là :
Sống ở dương gian đánh chén nhè, Chết xuống âm phủ cắp kè kè ! Diêm Vương phán hỏi mang gì đấy? Be !
Ngày nay dân miền Bắc và nhất là Hànội đã nhại bài thơ của Chiêu Lỳ ghi trên thành những bài như sau :
Bài nhại thứ nhất :
Sống ở dương gian nói huyên thuyên, Chết xuông âm phủ rủng rỉnh tiền; Diêm Vương phán hỏi nghề gì vậy? Đảng viên !
Bài nhái thứ hai :
Sống ở dương gian chẳng sợ tù, Chết xuống âm phủ vẫn ô dù ! Diêm Vương phán hỏi từ đâu tới? Bắc Bộ Phủ !
Rồi nữa các đảng viên "cốt cán" nhưng nay thuộc nhóm không có "ô dù", cay cú cũng làm thơ chửi đảng như bài thơ "Thường dân" dựa theo câu "quan nhất thời dân vạn đại" :
Đông thì chật, ít thì thưa, Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân. Quanh năm chân đất, đầu trần, Tác tan sau những vũ vần bão giông. Trước là cây mác, cây chông, Đánh giặc cứu nước... nay không là gì! Thấp cao đâu có xá chi; Ngàn năm cỏ vẫn xanh rì cỏ thôi! Ăn của đất uống của trời, Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin. Ồn ào mà vẫn lặng im; Mặc ai voi chó nổi chìm thiệt hơn! Chỉ mong ấm áo no cơm, Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành. Hòa vào trời đất mà xanh; Vô tư mấy kiếp mới thành "thường dân" !
Mạnh mẽ hơn nữa, nữ văn sĩ Dương Thu Hương, một người tự nhận là một nhà tranh đấu cho dân chủ ở trong nước, trong một bài viết về cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam, khi bàn đến vụ bắt bớ hàng loạt những người tranh đấu cho dân chủ kể từ năm 2002 và nhất là vụ xử án ông Phạm Quế Dương. Ông Dương bị kết tội làm gián điệp. Bà đã viết về bản luận tội của nhà cầm quyền Việt Nam như sau:
“tính chất phi lý, phi pháp, phi nhân biểu hiện ở bản luận tội vừa tàn bạo, vừa đê tiện của người đại diện cho chính quyền và ban văn khố tư tưởng Việt Nam. Cái thứ tổ chức đặc trưng cho các nhà nước xây dựng theo mô hình phát xít. Tôi chỉ bàn tới tính ngạo ngược hiển hiện ra trong từng lời từng chữ của họ. Vu khống sỉ nhục, tàn diệt vốn là hành xử tự nhiên của kẻ cầm quyền ở những xứ sở chưa phát triển, dân trí thấp kém”.
Cũng trong bài viết đó bà Dương Thu Hương đả nhận định về nhà cầm quyền Việt Nam như sau: “Nhà nước Việt Nam một chính quyền thồi rữa một cách công khai, vô năng một cách hiển nhiên trên nhiều lãnh vực và tàn bạo một cách ngạo ngược trong việc đàn áp dân chúng”.
Bà cũng nêu lên dân chúng bêu rếu nhà nước và đảng CSVN như vụ nông dân Hải Hưng đã đặt tên mới cho đảng CSVN là đảng cộng đớp Việt Nam, rồi bà còn ghi thêm là đám dân đen ở các thành phố, đô thị tục tĩu hơn đã đổi thành đảng cộng mút”.
Chửi như thế thì thật là cạn tầu ráo máng rồi còn gì nữa. Đúng là chửi hay chỉ có dân Bắc kỳ.
| Kẻ Sĩ Bắc Hà

| | |  | | < /script> | 
| |
| Chuyện Bắc Chuyện Nam
Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm
Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Đau
Bắc Cuốc nhanh, Nam Đi bộ mau mau
Bắc bảo Muộn thì Nam cho là Trễ
Nam Mần sơ sơ Bắc Nàm nấy nệ
Bắc Lệ trào Nam Chảy nước mắt ra
Bắc nói Úi Chà , Nam kêu Ui Da
Bắc Bước vào kia, Nam Đi vô trỏng
Nam kêu Vạc Tre, Bắc là Cái Chõng
Nam Trả Treo, Bắc Lý Luận ngược xuôi
Nam biểu Vui Ghê, Bắc nói Buồn Cười
Bắc chỉ Thế Thôi , Nam là Vậy Đó
Nam làm Giỏ Tre, Bắc đan cái Rọ
Nam Muỗng cà phê, Bắc gọi cái Thìa
Nam Muỗng canh, Bắc gọi cái Cùi dìa
Nam Đi tuốt, thì Bắc Lìa xa mãi
Nam Nói Dai, Bắc cho là Lải Nhải
Nam kêu Xe Hơi, Bắc gọi Ô Tô
Nam xài Dù, thì Bắc lại dùng Ô
Nam Đi trốn, Bắc cho là Lánh mặt
Nam la Hơi Mắc, Bắc là Khá Đắt
Nam Mần Ăn, thì Bắc cũng Kinh Doanh
Nam Chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh
Nam biểu Từ Từ, Bắc khuyên Gượm lại
Nam Ngu Ghê, còn Bắc là Quá Dại
Nam Sợ Ghê, Bắc thì Hãi Quá đi
Nam Nói Gì ? Bắc hỏi Dạ bảo chi
Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải
Bắc gọi Thích ghê, Nam kêu là Khoái
Bắp Nam kêu hái, Bắc bảo Vặt Ngô
Bắc thích cứ Vồ, Nam ưng là Chụp
Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
Nam nói: mày đi ! Bắc rên: cút xéọ
Bắc bảo: cứ véo ! Nam: ngắt nó đị
Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn !
Bắc nói tiền đồn, Nam kêu chòi gác
Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke
Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi haỵ
Bắc nấu thịt cầy, Nam chê thịt chó
Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi !
Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội
Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
Bắc kéo xe lôi, xích lô Nam đạp
Bắc bảo cao to Nam cho là lớn
Đùa mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt đã nhiều, Nam kêu là xạo
Nam thời mập bạo, Bắc bảo béo ghê
Bắc bảo sướng phê, Nam rên đã quá !
Bắc hay đi phá Bắc đả bằng gươm
Nam chọc bị lườm, kiếm Nam , Nam thọt
Bắc ngồi bia bọt, Nam nhậu lade
Bắc bùi bùi lạc rang, Nam thơm thơm đậu phụng
Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn
Nam toe toét "hổng chịu đèn", Bắc vặn mình "em chả"
Bắc giấm chua "cái ả", Nam bặm trợn "con kia"
Nam chửi "tên cà chua", Bắc rủa "đồ phải gió"
Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ
Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt !
Khuyết Danh |
CHỬI HAY
Miền Bắc là cái nôi cuả văn hoá Việt. Ca dao, tục ngữ, thơ phú miền Bắc đều bắt nguồn trước nên phong phú và trau chuốt hơn miền Trung và miền Nam dù miền Trung đã một thời là kinh đô triều Nguyễn cuối cùng. Ta nghe anh chàng Hoài Linh hay cô Hồng Đào “chửi xoen xoét” mà lại vui tai, thích thú hơn nghe các cô ca sĩ hạng nhì hát nhiều. Mà có phải tại người chửi có chất giọng hay gì cho cam, người ta chửi hay vì người ta có nhiều vốn liếng ngữ vựng, có óc tưởng tượng, biết cách xếp đặt câu chửi trở thành bài bản văn vẻ, vần điệu. Tiểu muội đã nói tới các bà Bắc Kỳ chửi hay. Các bà chửi hay vì các bà chửi nhiều, các bà có dịp “trau dồi nghiệp vụ” đều đều. Ngoài Bắc đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, dân chúng nghèo khó nên dễ đụng chạm quyền lợi, dễ thành xung đột. Bản tính nhiều bà lại chua ngoa, đanh đá hơn các bà Nam kỳ tuy dữ thiệt nhưng lại phổi bò, chửi ào ào cho xong để còn qua chuyện khác, “Sức đâu ở không chửi hoài?”
Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh. Ngoài Bắc hồi xưa có nghề đi đòi nợ mướn. Mấy người hành nghề này được gán cho tên “Mấy mụ nặc nô”. Mấy mụ nặc nô này chuyên môn tới nhà con nợ, chửi bới, nằm vạ, phá hoại, ăn ị ra tại nhà khổ chủ cho tới bao giờ khổ chủ chịu không thấu phải lạy van, cầm bán cả đồ đạc, gà, chó, con cái đi để trả nợ. Có điều hình như nghề chửi của mấy mụ nặc nô chả thấm thía gì với những người dân trong “nếp sống văn hoá mới” của XHCH. Một bà Bắc Kỳ- Hà Nội, nổi tiếng lừng lẫy hiện nay, nổi hơn cả chủ tịch Nông Đức Mạnh hay cả ông tướng Võ Nguyên Giáp. Ông tướng một thời được giao chức vụ “quản lý” dân số và được chị em khen ngợi: Ngày xưa đại tướng cầm quân, Ngày nay đại tướng cầm ...quần chị em! Hai câu “ca dao thời đại” đó chẳng là hai câu chửi thần sầu à? Đại tướng gì mà cứ khư khư cầm cái giải rút của chị em? (ngoài Bắc xài giải rút, không có dây thun như trong miền Nam) Đại tướng nghe được chắc cũng ê chề, tê tái cõi lòng. Và Trời đất ơi! Tiểu muội tin bằng chết rằng đó là tác phẩm đắc ý cuả một bà Bắc kỳ nào đó lúc đang bị ẩn ức vì bị... đại tướng Võ Nguyên Giáp đang cầm quần bà, không cho bà thoải mái... đẻ. Các bà vẫn bị khoá chặt vào cái nguyên tắc ba khoan mắc dịch truyền lại từ thời “Bác”còn sinh tiền: Khoan Yêu, khoan cưới và khoan đẻ!
Độc đáo nhất là sau bao năm ở với “Bác và Đảng”, được hưởng lối giáo dục “Trăm năm trồng người” để trở thành “Con người mới cuả XHCH”, các bà trở thành nổi tiếng lẫy lừng về tài ăn nói sống sượng, trắng trợn và bẩn thiủ mà những người sống và lớn lên dưới “chế độ Mỹ, Nguỵ” cuả chúng ta chào thua cả nón, nghe các bà chửi là lùng bùng lỗ tai! Bà Bắc Kỳ Dương Thu Hương lúc đầu nổi tiếng về cuốn tiểu thuyết “Thiên Đường Mù” trong đó nhục mạ Việt Nam Cộng Hoà bằng cách cho trinh sát ta hiếp dâm các “chị em đồng chí gái”, sau đó lại còn cắt vú và các bộ phận sinh dục quăng đầy trong rừng (!). Bà Bắc Kỳ này lúc đó đầu óc còn đỏ chét, đặc sệt nên viết sặc mùi tuyên truyền và ngu thấu trời. Bà làm như trinh sát ta đi vào rừng Trường Sơn trong vùng địch cả mấy chục người một lượt (?) thong thả, khoẻ re như cưỡi xe đi chơi ...xa lộ để hưỡn hưỡn, điên điên làm chuyện... hiếp dâm rồi xẻo quăng tùm lum cuả tới 5, 6 chị em bộ đội (?). Bà nói bà đi theo toán quân “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, Mà lòng phơi phới ngập tương lai..” Vậy mà không cần biết tới điều kiện tối thiểu cuả trinh sát là tình báo, thu lụm tin tức, phải bảo mật tuyệt đối, không được tiết lộ một tí ti hình tích, sơ hở một chút là ...tiêu! Điên điên mà làm những việc như bà tưởng tượng và gán cho các trinh sát ta là ồn ào tự sát rồi còn gì? Nhưng thôi, đó là chuyện ngày xưa, khi bà còn chui rúc trong rừng, còn được “soi sáng dưới ngọn đèn chỉ đạo cuả đảng” còn “sáng mắt, sáng lòng” để nhắm mắt làm nhiệm vụ ca ngợi “Bác và đảng”. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bà chui được vào miền Nam và bật ngưả khi thấy sự phồn vinh, nền văn hoá, tinh thần văn minh, lịch sự và sự lễ độ, ngôn ngữ có giáo dục của các em học sinh miền Nam. Bà đau quá vì thấy mình bị lưà to. Nỗi đau cuả bà chắc cũng bằng nỗi đau cuả nàng Kiều khi mắc lưà Thúc Sinh.
Bà là người thái quá nên cái gì cũng thái quá. Lúc trước bà chửi lính ta, bà nhắm mắt, muá bút chửi không cần suy nghĩ, không cần đúng sai. Bây giờ, bà cay cú vì bị lừa gạt cả cuộc đời thanh xuân để phục vụ một chế độ độc tài, hà khắc, hại dân, hại nước. Bà tức mình, cay đắng, chua chát, thù hằn “Bác và đảng” hơn nên cách chửi cũng hung hăng, trắng trợn, cay cú và độc hại hơn. Điều ngon lành cuả bà là sau khi mở mắt vào ngày 30/4/75 bà đã sáng suốt nhận ra con đường “Bác (dẫn bà) đi” là... con đường “bi đát”. Khi biết bị lưà vào con đường sai bét, bà có đảm lược dám nói những gì mình nghĩ. Tuyệt vời nhất, bà có ngòi bút cay độc, sống sượng và sắc bén coi bộ cả đảng với biết bao văn nô cũng không chống đỡ nổi những khi bà tung chưởng mịt mù trời đất, chửi bằng đủ những ngôn từ thô tục để trả thù. Bà là người khôn ngoan, đấu ngang ngửa hay còn cao tay cả cái nhà nước với bộ chính trị cuả VC. Bà là người Cộng sản chửi Cộng Sản một cách bình dân, trắng trợn và hay không đối thủ. Mỹ có câu nói về thế lực đồng tiền: “When money talks, everybody listens”. Câu này áp dụng vào trường hợp cuả bà là hết xẩy. Khi bà chửi, mọi người dỏng tai nghe. Đảng ta và các văn nô, báo... hại cuả “nhà nước” nghe để... chửi lại, để chống đỡ, để tìm cách hạ nhục bà. Hơn nữa, còn phải nghiên cứu kỹ lưỡng để vạch lá tìm sâu, để chụp mũ, để kết án, để bỏ tù và nếu có thể để ... “Chẹt chết”, gây tai nạn xe cộ như ngày nào “Bác” thông đồng với Trần Quốc Hoàn dựng màn kịch tại nạn xe cộ “chẹt chết” cô Nông Thị Xuân, người tình, mẹ cuả cậu Trung, con đẻ cuả Bác! Không ai biết ta bằng mình! Không ai hiểu người Cộng Sản hơn người Cộng Sản! Không ai chửi Cộng Sản đúng hơn, hay hơn, sâu sắc hơn , cay độc hơn người Cộng Sản! Người ngoài nghe bà chửi để tìm được những điều thuộc tuy chưa thuộc về “thâm cung bí sử” nhưng cũng đầy chi tiết thích thú, hay ho bởi vì bà ở ngay trong lòng VC, bà hiểu họ như hiểu chính bà. Bà là nạn nhân trực tiếp nên bà biết rõ, bà chửi đúng chỗ, đúng người, bà chửi thật, chửi thẳng. Hãy nghe bà chửi: “Triều đình CS là triều đình duy nhất cho tới nay, dậy con gái, con dâu vu khống cha hiếp dâm, dậy con trai chỉ vào mặt bố “đả đảo thằng bóc lột”, dậy láng giềng tố cáo điêu chác, đâm chém, dầy xéo mồ mả cuả nhau... Khi con người đã đủ can đảm vu khống, nhục mạ ngay bố mẹ đẻ cuả mình thì họ thừa sự nhẫn tâm để làm những điều ác gấp ngàn lần thế với tha nhân.... “Cả những người còn đang bảo vệ đảng CS cũng phải lên tiếng chửi ruả nhà cầm quyền là kẻ đểu cáng, tán tận lương tâm... “Đòi hỏi nhà nước CHXHCN Việt Nam chơi đàng hoàng,đúng luật, biết tự trọng và liêm sỉ thì cũng hoang tưởng như tin Chủ nghiã Cộng Sản khoa học cuả ông Lê-Nin vậy. “Ở nơi nào những hệ tự tưởng tự cho phép chúng là kim chỉ nam cho lương tâm nhân loại, là thứ duy nhất đúng để dẫn dắt con người tới một “ngày mai tươi sáng”, ở đó,cuộc sống đích thực cuả con người phải bị diệt vong.. “Những xứ sở mà kẻ lãnh đạo cố tìm cách giam dân chúng trong sự ngu dốt, sợ hãi, cô lập tinh thần để chúng mặc sức bóc lột họ và tàn phá tài nguyên quốc gia một cách có tính toán và thành hệ thống những khoản tiền lớn chuyển ra nước ngoài...”
Bà sống và “tiếp thu” chữ nghiã XHCN, cuả “nếp sống văn hoá mới” nên những “từ” trắng trợn, được bà tuôn ra chửi rủa rất tự nhiên, rất nhuyễn, rất “chỉnh” nên bà chửi tục ro ro, không ngượng ngập, nghe thật kêu, thật đã lỗ tai. Khuôn mặt các lãnh đạo VC dưới mắt bà: “...nhân cách một trong các bậc lương đống triều đình các ông chỉ là loài đểu giả, tâm tính hiểm ác, vô luân.” Và cách đối xử cuả nhà nước với một người đàn bà: “Bộ nọải vụ cuả CS đã nhiều lần cử những thằng thanh niên đến tìm cách ve vãn tôi và chờ cơ hội đến để họ có thể quay phim, chụp ảnh làm nhục tôi. Trong xã hội Việt Nam, hình ảnh một người đàn bà làm tình với một người đàn ông thì đó là cách đào mồ hay nhất để chôn sống một người đàn bà. Không những chôn mà còn nhục mạ cả gia đình người đó nữa... “Thiếu tướng Quan Phòng và Trung tướng Dương Thông đã gán cho tôi tội gián điệp, bán bí mật quốc gia cho nước ngoài. Họ còn sỉ nhục tôi khi nói rằng tôi có cuộc sống trụy lạc với ông Bùi Duy Tâm. Họ bảo rằng tôi với ông Tâm làm tình trên cạn, làm tình dưới nước như chiếc xe tăng, vừa bò trên cạn, vừa lội dưới nước. ... Một đảng viên đã phải thốt “Đảng không còn việc gì làm nữa mà rúc vào cái khu cuả người đàn bà hay sao?” Đến bấy giờ các quan chức CS mới tỉnh ngủ mà ngưng nhục mạ tôi”.
Lãnh đạo như vậy, Cán bộ như vậy và Đảng như vậy thì còn gì không đáng cho bà chửi? Ông Dương... Thông vô phúc đụng tới bà Dương... Thu Hương thì ông phải trả món nợ máu kinh khủng còn thiếu bà: “Trong cuộc gặp Dương Thông, kẻ đại diện cho quyền lục của CS, tôi thấy thật là thảm hại. Nhất là về kiến thức thì phải nói tất cả các hạng người này chúng nó chỉ biết nói những lời viết sẵn trên giấy tờ chứ không bao giờ nghĩ được câu gì từ trong óc não chúng nó... Tôi nói thẳng vào mặt Dương Thông: “Ông là một con điếm, con điếm bán mình theo hạng tồi tàn nhất ở viả hè bán mình năm xu...” Khi tôi nói thế, mặt Dương Thông thâm tím lại, người run bắn lên. Bản mặt ấy đã từng đưa hàng trăm người vào nhà tù, khiến hàng vạn người lo sợ. Thế mà lúc đó thâm tím lại. Tôi bảo: “...Trước khi gặp ông, người ta đồn ông ghê gớm lắm, nhưng bây giờ, tôi thấy mặt ông giống bộ phận sinh dục cuả một con ngựa già, vừa tăm tối, vừa nhơ nhuốc. Tôi không ngờ kẻ làm nghề công an chuyên đàn áp người khác mà lại run rẩy như vậy...” Người CS chửi người CS đã hay, người Bắc CS chửi lại càng xuất sắc nhưng chửi kiểu ... huỵch toẹt như bà thì tiểu muội chưa hề thấy. Nghe thiệt đã đời! Nhưng đến chỗ bà so sánh mặt ông Dương Thông với “cuả” con ngựa già thì tiểu muội đành không đồng ý với bà. Bà so sánh vậy tội nghiệp cho... con ngưạ quá! Con ngựa già nó chỉ già chứ có làm gì nên tội mà bà nỡ so sánh với bản mặt ông Dương Thông, kẻ thù cuả bà, kẻ đã hãm hại bao nhiêu người vô tội, kẻ vô liêm sỉ, kẻ có chức quyền cuả nhà nước ta? Bà nói vậy tội chết!
Bà chửi nghe đã lỗ tai thật. Cứ tưởng tượng bà vừa xỉ vả, xiả xói vừa nhẩy lên đong đỏng, vỗ bôm bốp trước mặt Dương Thông. Mà đừng tưởng bà là người không được giáo dục đàng hoàng nhá. Hãy nghe bà kín đáo khoe nề nếp gia phong cuả bà: “Xưa kia, bố tôi cho rằng: Bỏ chồng là điếm nhục gia phong... Thế nên bằng mọi cách, ông bắt ép tôi phải quay về với người chồng cũ. Và dù tôi đã thành thân, đã có hai đứa con, đã thành người viết văn, đã kiếm được tiền để thêm vào nuôi ông và gia đình, bởi lương hưu cuả ông rất thấp, bố tôi vẫn quỳ gối, quay mặt vào tường rồi làm kiểm thảo đọc trước mặt ông và họ hàng... Những cuộc kiểm thảo kéo dài hơn hai năm, liên miên, không mệt mỏi...” Nghe bà kể chuyện mà tưởng đang xem tiểu thuyết cuả Nguyễn Công Hoan thời tiền chiến!
Bà đang hăng, thừa thắng xông lên chửi nên có những điều bà nói nghe hơi ngược đời. Chẳng hạn bà nói ông Bùi Duy Tâm về Việt Nam: “Ông Tâm đã lấy xe cuả ông Thông để gặp bà Nguyễn Thị Định, đến bộ Tổng Tham Mưu để bàn việc bán các kho vũ khí Long Thành. Có nghiã là ông Tâm đã gặp tất cả những người cầm quyền cao nhất xứ sở này...” Chà chà, kho vũ khí Long Thành! Hồi xưa, khi ba tiểu muội về hưu, cụ mua một miếng vườn ở Long Thành, gần trường Thiết giáp nhưng tiểu muội không biết có kho đạn ở đó không? Chỉ nghe có kho đạn Long Bình. Vụ nổ kho đạn Long Bình sau 1975 đã làm những người dân Sài Gòn sung sướng, hồi hộp, nôn nóng ao ước, khắc khoải đợi chờ vì tưởng quân ta kéo về lấy lại thủ đô! Mà dù có kho vũ khí Long Thành đi nữa thì sau gần 30 năm được “nhà nước ta tiếp quản”, kho vũ khí mà ăn được thì đã bị chia chác, ăn hết nhẵn. Nếu không ăn được mà bán được thì... tham nhũng cũng đã tìm cách “móc ngoặc”để tuồn ra bán cho ...Cambodia hay cho ...Tầu khi họ đánh nhau với nhà nước ta, kho vũ khí cũng chẳng còn. Nếu không làm gì được, đành để đấy thì vũ khí cũng hư hỏng, gỉ sét, ông Tâm lấy ở đâu và tư cách gì bán cho ...những người cầm quyền VC? Giá bà nói ông Tâm chạy affair, chào bán vũ khí ông ...lụm được cuả Mỹ ở đâu đâu bên ...Tây đem về bán cho VC nghe còn có lý hơn. Nhưng mà thôi, bà chửi hay và sướng tai bắt chết, có sai sót tí tỉnh cũng ... chẳng sao. Chỉ có điều, mỗi khi nghe bà khoái chí đại ngôn... chửi nhà nước cuả bà thì mình cũng nên cẩn thận, suy nghĩ chút đỉnh.
*** Đừng tưởng chỉ các bà biết chửi, các ông Bắc Kỳ dưới XHCH cũng chửi ra gì lắm. Chẳng qua chỉ vì theo đúng tục ngữ ta: - Đi với bụt mặc áo cà-sa, đi với ma mặc áo giấy. Ở với “nhà nước ta” mãi, có là thánh cũng phát điên lên mà chửi um lên. Hãy xem “Ông Nhà nước ta”, những người tự phong “đầy tớ nhân dân” phát biểu xanh dờn: - Ông là đầy tớ nhân dân, ông không ham chức quyền, ông chỉ ham phục vụ, ông quyết làm đầy tớ nhân dân cả đời. Đứa nào dám ngăn không cho ông phục vụ nhân dân, ông đánh bỏ mẹ! Ông nhà nước cương quyết phục vụ nhân dân nhưng “nhân dân” thì cứ dẫy nẩy, bảo rằng không cần được phục vụ kiểu đó. Gần đây nhất, trong phong trào tranh đấu cho nhân quyền, Hoà thượng Quảng Độ, Linh mục Nguyễn Văn Lý, cụ Lê Quang Liêm, ông Hoàng Minh Chính, luật sư Lê Chí Quang đều đồng thanh phản đối và điểm mặt “nhà nước ta” bằng những câu rất tới: - Phản đạo lý nhân văn, vu khống trắng trợn... - Mất dây thần kinh liêm sỉ - Toà án dù bị nhân dân phản đối vẫn cứ im tịt, điếc đặc. - Bạo tàn và độc tài hơn cả Phát Xít và Hít-le! Còn những lời chửi nào đúng hơn nữa chăng? Chắc phải chờ nghe bà Dương Thu Hương chửi tiếp.
Kathy Trần
Nghệ Thuật Chửi Của Người Việt
Với lối chửi bóng gió, đầy tính ám chỉ về nội dung và có cấu trúc chặt chẽ, vần điệu về hình thức, người Việt có thể chửi từ giờ này qua giờ khác,ngày này qua ngày khác mà không nhàm chán. Đó là một “ nghệ thuật” độc đáo mà có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có được (?) (Trần Ngọc Thêm & Tuyết Mai ) “ Chỉ vì mất một con gà Rêu rao bà chửi suốt ba ngày liền Chỉ sang từ phía láng giềng Réo từ nội ngoại tổ tiên muôn đời” (không nhớ tên tác giả) Hơn 10 năm sống trên đất Hoa Kỳ, vài lần tôi bắt gặp người Việt chửi nhau bằng mồm.( hai người đứng chửi qua lại) Sở dĩ thời gian dài như thế kia mà tôi chỉ hiếm hoi thấy có vài lần. Có lẽ vì tôi ít thường ra chỗ đông người và ít tiếp xúc với đồng hương nên không “ bắt gặp” chăng? Chứ còn chửi nhau trên báo chí tôi thấy hoài. Cũng không lâu lắm, có dạo một số tờ báo ở San Jose chửi nhau như cơm bữa. Tôi không biết lý do tại sao cùng nghề nghiệp mà họ chửi nhau. Có lẽ là họ không ưa nhau về quan điểm (chính trị?) Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này tôi không đề cập đến việc chửi nhau của báo chí, mà chỉ nói đến việc chửi của người đời. Thực ra thì dân tộc nào cũng có chửi, thậm chí có từ lâu đời, chửi tục cũng có và chửi thanh cũng có. Cuộc sống phức tạp vốn nhiều quan hệ nên hay có va chạm, xung đột. Mà đã có xung đột thì cần phải giải quyết. Người ta có thể hòa giải bằng “đối thoại”, song cũng không ít người sử dụng “ đối đầu”. Mà đối đầu “ hiền lành” nhất là “ đấu võ mồm” tức như ông bà ta xưa thường nói là chửi nhau. Nói đến chửi người Việt Nam nào cũng nghĩ ngay đến hiện tượng vô văn hóa, những câu chửi tục tĩu …; như chỉ bộ phận sinh dục, bài tiết, quan hệ tình dục…. Họ gán cho đối phương là “ họ hàng” của loài vật mà theo họ có những đặc tính xấu, bị xã hội chỉ trích như: bò, chó , heo, rắn rết, giòi bọ, dê ( xồm) …..Một số người ôn tính hơn, họ chỉ hạ thấp đối phương một cách tương đối. Họ hạn chế ở mức độ ví đối phương với những thứ giả người như: bất nhân, ngợm, quỉ quái, yêu tinh…; nêu những khuyết điểm hoặc gán ghép cho đối phương những khuyết điểm vật chất tinh thần xã hội, ví dụ: ( đồ, con, quân, lũ , bọn) què, mù ( đui) …; ngu, ngốc, điên, khùng…; đểu cáng, ác độc, vô luân, bất hiếu…; phản động, lừa đảo, ăn cắp…. Các cách chửi theo lối này hầu hết các dân tộc đều sử dụng và phổ biến trong dân gian. (fuck you, bitch, damn …người Mỹ thường hay xài) Nhưng riêng dân tộc Việt Nam ngoài những “kiểu chửi” phổ thông như vậy, người Việt còn có đặc tính chửi dài, chửi dai như giẻ rách, chửi có bài bản, văn vẻ, vần điệu…. Đôi khi người chửi mạ lỵ, mạt sát, đay nghiến…, sau câu chửi là muốn đối phương “ chết” ngay theo ý của mình. Thông thường người ta tức lúc nào chửi lúc đó. Người Việt thì không vậy, họ chờ khi thật đông người mới chửi và khi chửi lại cố tình đệm thêm “ới làng trên, xóm dưới” hoặc “ trời cao, đất dày ơi” như kêu gọi mọi người đến nghe hay “ bà con cô bác coi đó….” có tính cách phân chứng. Khi còn ở Việt Nam ông bạn tôi, Hai Đầu Tém đã kể lại một vụ chửi nhau giữa hai người đàn bà về việc hai đứa trẻ con đánh nhau: “Bà Lan Vồ nắm tay thằng Tí Lù kéo lê sang trước cửa nhà mụ Minh Đốp Chát kêu ơi ới. -Bà Minh Đốp Chát ơi ra đây mà coi…Thằng con “giời đánh thánh đâm” của bà nó đánh thằng Tí Lù nhà tôi u đầu, vỡ trán bà ra đây đền cho con tôi. -Cái gì đó; thằng nào con nào “ réo” bà vậy? ( Bà Minh Đốp Chát từ trong nhà bước ra) Thấy bà Minh Đốp chát bà Lan Vồ nhảy lên đong đỏng. -Bà đền “cơm thuốc “ cho thằng Tí Lù nhà tôi ngay kẻo tôi đi thưa cảnh sát cả nhà bà tù mọt gông đấy. Bà Minh Đốp Chát đến sờ đầu thằng Tí Lù. - Có một chút xíu như thế “lày”….mà nhà bà tính nằm vạ hả? Bà chấp đó giỏi đi thưa đi! - Bà nói cái gì? Con nhà bà đánh con người ta mà còn lên giọng. Thứ đồ xấc xược…đồ mường mán. - Ê chửi bà đó hả? Hãy cút xéo đi nhé nếu không bà cho một trận nên thân bây giờ. ( Bà Minh Đốp Chát bỏ vào nhà) - Bà ngon hả, cái thứ nạ dòng, thứ Hà Bá… đeo…. đéo….mầy.” Không chịu về nhà, bà Lan Vồ đứng trước cửa nhà bà Minh Đốp Chát chửi mãi.Vì chỗ quen biết với chồng bà lúc còn trong quân ngũ, bạn tôi (Hai Đầu Tém) khuyên bà về nhà đừng chửi nữa tránh xô xát sau này, nhưng Lan Vồ không nghe còn quay lại mắng cho ông ta một mách: “Ông binh bà ấy hả, giời ơi con mụ đó nó vừa gì mà ông binh nó, hay là ông đã... “ quất” nó rồi. Ờ mụ ấy nó góa chồng đó, nó còn ngựa lắm đó. Tôi biết mà! Thảo nào ông cứ rề rà xách con “ chim mồi “ của ông đi tới đi lui khu vực gần nhà con mẽ hoài”. Định phân bua nhưng thấy vô ích đối với con người đàn bà đang hăng tiết vịt, ăn nói hồ đồ, ông bạn tôi không thèm trả lời. Bình thường người ta khiêm tốn trong cách xưng hô, nhưng ở đây người chửi cố tình làm ngược lại. Truyện Phao của Đỗ Phồn đã tả lại cái cách xưng hô không theo lẽ thông thường như sau: “Cha bố tiên sư thằng Cò! Cha bố tiên nhân thằng Cốc! Cha họ nội ngoại họ gần xa, họ năm đời giở lên, họ ba đời giở xuống thằng Cò, thằng Cốc! Cha tam đại, tứ đại, ngũ đại mày thằng chủ thằng Cò, thằng Cốc! Cha đứa già đứa trẻ, đứa nhớn đứa bé, đứa mẹ đứa con, đứa đỏ như son, đứa vàng như nghệ, nhà thằng Cò, thằng Cốc, bảo nhau định vỡ nợ của bà.” Chửi như trong truyện trên không thấy có lời nào tục tĩu, nhưng chúng ta vẫn nhận ngay ra lời chửi. Người chửi đã tự tôn mình lên mức ngang hàng với cha của bố những người đứng đầu trong dòng họ đối phương. Năm vừa qua, khi đi phân phối Giai phẩm Xuân Quí Mùi báo Saigon USA cho các thân chủ quảng cáo, ký giả Kiến Nâu (1) được xem một vụ chửi nhau té lửa giữa hai vợ chồng trên màn ảnh truyền hình của một trung tâm băng nhạc Việt Nam tại khu thương mại Grand Century Mall thành phố San Jose. “Vợ, một người đàn bà miền Bắc gốc Hà Đông có thân hình nhỏ nhắn, lưng ong, ngực nở. Anh chồng là một người đàn ông quê Rạch Giá tính chơn chất, thật thà. Bắt đầu câu chuyện chửi nhau: số là gần Tết người vợ đòi về thăm cha mẹ ruột của mình. Anh chồng đồng ý cho đi, nhưng đã ba ngày không thấy vợ trở về bèn điện thoại sang gia đình bên vợ nhưng không nghe ai trả lời cả. Sáng ngày thứ tư, sau khi đi làm về, anh chồng chạy u đến nhà bố mẹ vơ, nhà đã đóng cửa không một ai trong nhà. Anh chồng bỏ ra về. Trên đường về nhà chợt thấy vợ mình đứng cạnh và nói chuyện với một vài người đàn ông khác trong một nhà hàng trên đường Tully. Anh chồng đến trước mặt vợ có vẻ bực dọc hỏi: - Em đi đâu mà mấy bữa nay không về nhà? - Thì đi qua nhà ba mẹ chứ đi đâu! - Đi qua ba mẹ mà sao không có trong nhà ba mẹ, anh điện sang nhiều lần không một ai trả lời? - Ừ, thì không có ai ở nhà làm sao mà trả lời. - Thôi được rồi ! Tôi hiểu hết rồi. - Anh hiểu cái gì? Mấy ngày nay em đi du hí, du thực với mấy thằng quỉ này chứ gì? - Ê anh nói bậy tôi không nhịn à nghen! Tôi không quen với mấy người đó nghen. - Anh chồng trở nên khó chịu trở giọng: - Mầy không quen sao tao thấy mầy nói chuyện với bọn nó? - Ừ, thì người ta hỏi, tôi trả lời chứ câm hay sao. Tôi không muốn anh ghen bóng, ghen gió nghe chưa! - Bây giờ mầy có về nhà không? - Tôi không về, tôi phải ở nhà mẹ tôi vài hôm nữa để … - Không có để có đùn gì hết. Về ngay. - Ê ra lệnh hả, muốn làm nhục tôi hả? Thôi nghe chưa! Tôi nói là tôi không về bây giờ được. - Tao biết mầy ngon. Thật ông bà xưa nói không sai:” Đàn bà con mắt có khoai, Liếc chồng thì ít, liếc trai thì nhiều” - Ối giời đất ơi! Làng nước xuống đây mà nghe này. Tự nhiên cái thằng chồng mắm thối của tôi nó xổ thơ ra. Thối quá, thối quá… - Đúng rồi tao cho mầy thúi luôn, mầy ngộp thở luôn, té xỉu luôn.“Đàn bà má đỏ hồng hồng,thấy trai thì lấp, thấy chồng thì lơ”.Tao biết rồi, mầy là người đàn bà trắc nết, lẳng lơ…. - Thôi nhé nãy giờ tôi nhịn nhiều rồi nhé. Giữa đám đông không tôn trọng tôi gọi tôi bằng “ mầy” thì tôi cũng chẳng sợ gì gọi anh bằng”thằng”. Ê cái thằng béo, mặt thịt mắt lờ đờ máu bò điên há mõm ra mà nghe bà dạy đây nầy. Nghe chưa! Nghe chưa! Tao bảo mầy câm mầy mà há mõm ra mầy chết liền. Nghe chưa nãy giờ mầy nói nhiều rồi. Mầy không còn tiêu chuẩn nào để mầy nói nữa, giờ để bà nói. Mầy đứng im đó nhé. Nếu có mõi chân thì ngồi xuống mà ngồi xuống không được ngồi trên xe nhé, phải lựa thềm xi măng mà ngồi. Bà dặn như thế bởi vì sáu bẩy lần mầy đã ngồi vào trong bãi “ cức chó” rồi. Mầy nghe bà nói rồi nhớ mà nuốt những lời bà vào trong bụng để nhớ đây này. Bà cho mầy biết nghe chưa,” cây muốn lặng mà gió chẳng đừng”, tự nhiên mầy xổ thơ mầy chửi bà, trong khi mầy đụng ngay đúng cái lò “thơ tiên sư bố” của bà để bà nổi giận đùng đùng lên, có nghĩa là mầy chọc tức bà. Mầy lỡ mầy mở cái lò thơ của bà thì ráng lắng tai mà nghe nghen! Mầy nói mầy học cha, học mẹ mầy lấy tao, tao cũng học cha, học mẹ tao phải lấy mầy thằng khốn nạn kia! “Thầy u khéo đẻ con ra, Đặt vào hũ muối xót xa cả người,”như thế này. (khóc kể lể) Ới cái thằng khốn nạn! Bố mẹ tao thì ham nhà mầy cao, cửa rộng trên núi trên non nên xúi lấy mầy, tưởng rằng bến sạch nước trong ai dè bến lỡ bùn lầy thối um. Mầy coi cái mặt mầy đi nhé, đầu toàn là đá sỏi, người mầy thì mít đặc. Ôi giời làng nước ơi ra đây mà xem nè! “Chồng người ăn gạo thì khôn, Chồng tôi ăn cám ngu hơn con lừa”. Con lừa, con lừa…Thằng lừa… - Mầy nói gì, tao con Lừa hả? Còn mầy …mầy là con Bò cái. - Mầy nói cái gì con bò cái; mầy gán tao con bò cái hả? Tao con bò cái còn đỡ. Còn cái thứ cao như voi mà tối ngủ còn đái dầm. Làng nước ơi chồng tôi tối ngủ còn đái dầm. Mầy im mầy định la lên để làng nước biết tao đái dầm hả? Tại sao hồi tao - mầy mới cưới nhau mầy bảo đái đi, đái đi cho thơm mền thơm chiếu. Ừ, lần đầu ngửi thấy thơm, lần thứ nhì ngửi thấy khai, còn lần thứ ba đái người ta thấy thối, thối, thối…quá. Tao cho mầy biết cở đái dầm như mầy thì chỉ xứng với mấy con mắm ở vệ đường thôi. Bà cốc cần cái thứ như mầy. Bà đi về nhà mẹ bà đây bà không về nhà mầy nữa. - Đứng lại. Con bò cái đứng lại. Tao sẽ bóp cổ, bóp……“cái….của mầy.” - Làng nước ơi ra coi nó đòi vặn họng vợ nó đây này. Bớ làng nước ơi thằng Tỏn nó giết tôi.” Câu chuyện trên màn ảnh truyền hình vẫn tiếp tục, nhưng vì phải giao báo kịp thời cho quí độc giả và thân chủ quảng cáo, ký giả Kiến Nâu phải bỏ ngang việc theo dõi câu chuyện chửi nhau trên màn hình để làm nhiệm vụ của mình mà lòng không muốn chút nào. Theo truyền thống thì người Việt không ai có thể chịu được khi bị kẻ khác lôi tên ông bà, cha mẹ ra mình ra chửi. Cho nên người ta cũng không lạ khi thấy trong cuộc sống, trẻ em giấu tên cha mẹ vì sợ các bạn lôi ra chửi. Hồi còn là Tổng Thư Ký trường Việt Ngữ ở San Francisco, ký giả Kiến Nâu đã bắt gặp một học sinh gái đang ngồi khóc ở một góc sân chơi. Hỏi ra em cho biết, vừa bị một bạn học cùng lớp chửi tên cha mẹ em vì em va chạm vào người bạn ấy trong khi đang chơi trò đuổi bắt với một bạn khác. Nhân dịp này, nhà trường đã có giúp đỡ hai em hòa lại và giải thích cho các em hiểu về việc kêu tên các bậc sanh thành ra chửi là một điều không tốt. Bà K người cùng khu phố của ký giả Kiến Nâu thường hay gây sự và chửi bới mọi người xung quanh, ai cũng đều ớn lạnh khi nói đến tên bà. Kiến Nâu nghĩ rằng mọi người tránh né đụng chạm với bà không chắc người ta sợ bà vì người ta ghê tởm không thèm “ điếm xỉa” đến mà thôi. (xin nhắc một tí theo lời bác sĩ bà là người bình thường không tâm thần) Thế rồi “ được đàng chân, lân đàng đầu”. Một ngày nọ không còn người hàng xóm nào để bà gây sự bà bèn lôi đứa cháu nội mới 10 tuổi của bà ra chửi cho đã miệng (vì nín chửi đã lâu) bởi lỗi thằng Đực Cu làm bể bình rượu thuốc của bà. Với giọng Huế đanh đảnh, trầm trầm như đưa câu móc ruột người. Bà K rủa xả: - Cái thằng chết dầm, mắt mi đã đui hay sao mà mi không thấy đồ quí của bà. Bình rượu của bà đã cất 18 năm nay, bà ngâm mọi “ của quí “ vào đấy, nở nào mi “té nổ lọt tròng” làm vỡ của bà. Thứ đồ chết tiệt. Mi vào đây, hốt lên cho bà, mi mà hốt không được bà sẽ bắt thằng cha, con mẹ của mi đền vào đấy. Thằng Đực Cu khóc lớn lên khi bà K lôi cổ nó đánh mấy roi. Tiếng khóc mỗi ngày càng lớn vang trong trưa hè vốn có tập quán im lặng trong khu phố lao động nằm sát nghĩa trang Gò Vấp làm mọi người chú ý. Ông Năm Xích Lô Đạp nhà sát vách chịu không nổi tiếng khóc như cầu cứu của thằng Đực Cu nên “liều” bước sang can thiệp. - Ô làm răng mà thằng Đực Cu nó khóc thế? Bà K không trả lời ngay câu hỏi của ông Năm, nhưng mắt lườm lườm ngó thẳng vào người ông Năm rồi hỏi gắt. - Mi qua đây kiếm chuyện hả, mắc mớ gì tới mi mà mi hỏi đon hỏi ren. Bà đánh thằng Cu nhà bà chứ có đánh Cu mi đâu mà đau? Mi vô duyên quá! Về nhà ngủ trưa để lấy sức mà “đạp” nuôi con mụ nhà đi nhé. - Cái phố này có tí xíu, o đánh cháu khóc như “tru” ai làm răng ngủ được. - Mi ngủ không được mặc kệ mi chứ mắc mớ gì tới bà. - Ê, o đừng có nói ngang nghe chưa! Mích lòng đấy! Từ trước đến nay Năm Xích Lô này nhịn o nhiều lắm rồi nghen. - Giờ thì mi làm răng bà? Cái đồ chuột thúi, rút cống rãnh nhà bà. Đàn ông gì mà tài lai chuyện nhà người ta mà hóa nhà mình. Đồ cú vọ. Tiên sư tổ cha nhà mi. - Thôi nghen! O chửi ông Năm thì ông Năm phải bẻ răng O thôi. Ông Năm Xích Lô xấn tới định vả vào cái mỏ nhọn quắc của bà K, nhưng vợ ông bà Tám Ú chạy qua can thiệp lôi ông về, đồng lúc có khách gọi xích lô đi Trung Chánh nên chỉ còn bà K đứng chửi lớ ngớ một mình. Chuyện mất một con gà không phải là chuyện lớn, nhưng nếu tiếp tục mất thì không thể chấp nhận được. Bởi vậy mà phải ra tay để cho kẻ có tính xấu kia từ nay đừng có động đến gia đình “bà” và cách tốt nhất là phải làm đối phương xấu hổ “ đau” trước xóm giềng. Lời chửi của mụ đàn bà trong tác phẩm “ Bước Đường Cùng” của nhà văn Nguyễn Công Hoan và sau này do hai nghệ sĩ Hồng Vân và Lê Vũ Cầu biểu diễn qua vỡ kịch “ Mất Gà” cho thấy tính “ chửi dai, chửi dài”, “có vần có điệu” cuả phụ nữ miền Bắc Việt Nam có “nghệ thuật” như thế nào rồi! “ Làng trên xóm dưới, bên sau bên trước , bên ngược bên xuôi! Tôi có con gà mái xám nó sắp ghẹ ổ, nó lạc ban sáng mà thằng nào con nào, đứa ở gần mà qua, đứa ở xa mà lại, nó dang tay mặt, nó đặt tay trái, nó bắt mất của tôi, thì buông tha thả bỏ nó ra, không tôi chửi cho đới! Chém cha đứa bắt gà nhà bà ! Chiều hôm qua, bà cho nó ăn hãy còn, mà bây giờ nó bị bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì buông tha nó ra, cho nó về nhà bà. Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào mả thằng tam tứ đại nhà mầy ra, bà khai quật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên. Nó ở nhà bà, nó là con gà, nó về nhà mày, nó biến thành cú thành cáo, thành thần nanh đỏ mỏ; nó mổ chồng mổ con, mổ cả nhà mày cho mà xem. Ơi cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia! Mày mà giết gà nhà bà thì một người ăn chết một, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba. Mày xuống âm phủ thì quỷ sứ thần linh nó rút ruột ra…” Tuy là rủa xả như vậy nhưng đối phương không thể chửi lại hoặc ra “ võ tay chân” với người chửi vì lời chửi chỉ là những lời cạnh khóe, bóng gió, chả ai dại gì mà ra mặt. Việc chửi tuy không nêu đích danh nhưng nhờ một số chi tiết ám chỉ nên vẫn đạt được mục đích là làm cho đối phương mất mặt trước mọi người và hả cơn giận trong lòng. Theo kinh nghiệm của các vị trưởng lão 3 miền ( Bắc , Trung, Nam) thì người Việt sống phía Bắc Việt Nam thường khi chửi có nhiều đặc tính: dài, dai, văn vẻ, vần điệu mang đầy tính ám thị và quyết liệt. Người Việt sống khúc giữa dãi hình cong chữ S cũng thế, lối chửi không khác gì mấy đối với các đồng bào miền Bắc đôi khi còn có tính cách “ đay nghiến”, chua chát. Riêng người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long ít hay có lối chửi ám thị. Họ chơn chất nói điều gì là nói thẳng “toạc móng heo”,nên khi tức giận “chửi” họ vẫn còn mang âm hưởng thật thà. Thứ Bảy ngày 18- 06-2003,tại một bãi đậu xe trên đường Senter ký giả Kiến Nâu chứng kiến hai người đàn bà “đấu võ mồm” với nhau. Một người độ tuổi trung niên hơi mập đi chiếc xe Lexus màu trắng; bà còn lại gầy hơn có vẻ son phấn đi chiếc Mercedes màu đen. Kiến Nâu không biết nguyên nhân vụ chửi nhau, nhưng thấy bà “mập” la lớn và hùng hổ. - Tôi cho chị biết, chị mà không nhìn nhận việc làm trầy chiếc xe của tôi, tôi sẽ gọi cảnh sát. Người đàn bà gầy: - Chị nói ai làm trầy xe của chị? Chị vu oan giá họa cho tôi, chị kêu cảnh sát thì cứ kêu đi. Thứ đồ cà chớn. - Chị nói ai cà chớn? Tôi nói chị đó. Thưở đời nay, xe bị ai làm trầy trụa lại đi đổ thừa cho tôi. - Người ta thấy chị… - Thấy làm sao? Cái thứ ba trợn ba trạo, ĐM lãi nhãi một hồi nữa tao cho mấy thằng em tao nó “ lắp chim” bây giờ. - Được rồi tao không tranh cãi với mầy nữa, tao đi một vòng trở lại mầy sẽ biết tay tao. Đồ như cây tăm, xương xẩu lòi ra cả chó cũng không gặm xác mà còn làm tàng. Không chắc là người miền Nam không có những tính văn vẻ và dai dẳng trong khi chửi, nhưng thấy một điều là khi “lâm chiến chửi” người miền Nam có tính hùng hổ cộc lốc, ngắn ngủn và rồi dễ chấp nhận những gì cảm thấy sai trái khi hiểu ra. Nhà nghiên cứu văn học trẻ Trần Ngọc Thêm và Tuyết Mai cho rằng: “ Với lối chửi bóng gió, đầy tính ám chỉ về nội dung và có cấu trúc chặt chẽ, vần điệu về hình thức, người Việt có thể chửi từ giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác mà không nhàm chán. Đó là một “ nghệ thuật” độc đáo mà có lẽ không một dân tộc nào trên thế giới có được.” Chú thích: (1) Ký giả Kiến Nâu tức ký giả Duy Văn Chủ Bút Tuần Báo Đời Mới Magazine San Jose Bắc California.
| Khi người Bắc "chửi" kiểu toán học Tiên sư đứa nào bắt mất con gà nhà bà, gà ở nhà bà con công con phượng, gà về nhà mày thành con ó con hâu. Bà … bà…bà… U cho con xin chén trà để con chửi tiếp….. bà chửi theo kiểu toán học cho mà nghe nhá…Bố mày là A, mẹ mày là B, bà cho vào ngoặc bà khai căn cả họ nhà mày… Bà rủa mày ăn miếng rau mày ói ra miếng thịt, mày tắm trong ao mày chết chìm trong chậu…
Bà khai căn cả họ nhà mày, xong rồi bà tích phân n bậc, bà bắt cả hang, cả hốc, ông cụ ông nội, cả tổ tiên nhà mày ra mà đạo hàm n lần.
Ái chà chà…mày tưởng à. Mày tưởng nuốt được con gà nhà bà là mày có thể yên ổn mà chơi trò “cộng trừ âm dương” trên giường với nhau à…..Bà là trị cho tuyệt đối hết cả họ chín đời nhà mày, cho chúng mày biết thế nào là vô nghiệm, cho chúng mày không sinh, không đẻ, không duy trì được nòi giống nữa thì thôi…Bà sẽ nguyền rủa cho chúng mày đời đời chìm đắm trong âm vô cùng, sẽ gặp tai ương đến dương vô cùng, cho chúng mày chết rục trong địa ngục, cho chúng mày trượt đến maximum của sự vô hạn tối tăm…
À, mày chơi toán học với bà à…U cho con xin thêm chén nước ạ ..Thằng khốn ấy nó là tiến sĩ toán lý, không chửi bằng toán học thì không xong với nó u a…....Vâng vâng, u rót cho con đầy đầy vào, nữa đi…để con lấy hơi chửi tiếp, con sẽ chửi từ số học lên tích phân, xuống đại số rồi sang hình học cho u xem…
Tiên sư nhà mày, mày tưởng ngày nào mày cũng rình mò tiệm cận hàng rào nhà bà là bà không biết đấy phỏng? Bà là bà giả thiết mày ăn cắp hơn hai chục con gà nhà bà,…mày về mày vỗ béo để nhồi đường cong cho con vợ mày, à à, mày vẽ nữa đi, mày tô nữa đi. Mày tô, mày vẽ, mày nhồi cho đến khi đường cong con vợ mày nó nứt toát, nó gẫy khúc ra, chọc xiên chọc xẹo đi, rồi đi lên đi xuống nữa vào, rồi có ngày con vợ mày sẽ hạ vuông góc một mạch thẳng xuống nóc tủ....thôi con ạ ….....ái chà chà…mày tưởng mày dùng cả Topo học mày vẽ thòng lọng mày bắt gà nhà bà mà được à.
Nãy giờ bà chửi mày thanh thoát như thế thì mày bảo bà giỏi văn giỏi toán nhá. Bà mà bắt được mày bà oánh cho một trận thì mày lại khen bà là văn võ song toàn cho mà xem.
Thôi hôm nay bà gào thế là mệt rồi , bà nghỉ, ngày mai bà chửi tiếp khi nào rảnh bà phởn bà rủa tiếp cho mà nghe |
|