Nhà thơ Nguyễn Vỹ
01.12.2008 00:45
Nguyễn Vỹ sinh năm 1912 tại làng Tân Hội (sau đổi là Tân Phong, năm 1945 lại đổi là Phổ Phong), huyện Ðức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Cha ông tên Nguyễn Tuyên từng làm quan ở huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định, nhưng vì chống Pháp nên từ chức, mẹ là bà Trần Thị Luyến. Ngoài ra ông có người bác là Nguyễn Thuyên từng bị quân Pháp đày Côn Đảo, anh họ là Nguyễn Nghiêm, thủ lĩnh phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh ở Quảng Ngãi năm 1930 sau bị giết hại tại tỉnh nhà.

Ông từng theo học tại trường Trung học Pháp-Việt ở Qui Nhơn 1924-1927, rồi gián đoạn vì tham gia các cuộc vận động chống thực dân, sau đó ông ra miền Bắc theo học ban tú tài tại Hà Nội. Năm 1934, ông xuất bản tập thơ đầu tiên, tên là Tập thơ đầu. Tập thơ này gồm hơn 30 bài thơ Việt và thơ Pháp. Tập thơ đầu in ra không được nhiều thiện cảm, bị cho là rườm rà, "nhiều chân" và là đối tượng chê bai chính của Lê Ta trên các báo. Năm 1937, Nguyễn Vỹ sáng lập tờ Việt Pháp lấy tên là Le Cygne, tức Bạch Nga. Báo này ngoài Nguyễn Vỹ còn có nhà văn nổi tiếng bấy giờ là Trương Tửu cộng tác. Sau do Nguyễn Vỹ có viết nhiều bài viết chỉ trích đường lối cai trị của người Pháp nên tờ báo bị đóng cửa, bị rút giấy phép vĩnh viễn. Còn bản thân ông bị qui kết tội “phá rối trị an và phá hoại nền an ninh quốc gia”. Kết quả: ông bị tòa án thực dân tuyên phạt 6 tháng tù và 3000 quan tiền phạt. Ông mãn tù năm 1939, lúc Pháp thất trận, quân Nhật vào chiếm đóng. Nguyễn Vỹ lại tranh đấu chống Nhật, ông dùng ngòi bút cho xuất bản hai quyển sách chống chế độ quân phiệt Nhật là: “Kẻ thù là Nhật bản”; “Cái họa Nhật-bản”. Lần này, Nguyễn Vỹ lại bị quân Nhật bắt giam tại ngục Trà Khê (sau này trong tạp chí Phổ thông bộ mới, Nguyễn Vỹ có kể lại những ngày sống trong tù ngục với tựa bài “ Người tù 69”). Năm 1945, thế chiến thứ hai chấm dứt, Nguyễn Vỹ ra tù, sáng lập tờ báo Tổ quốc tại Sài Gòn, trong ấy có những bài công kích chính quyền đương thời nên chỉ ít lâu sau, báo Tổ quốc bị đóng cửa. Sau đấy, Nguyễn Vỹ lại cho ra tờ Dân chủ xuất bản ở Ðà Lạt, chống chính sách quân chủ lập hiến của Bảo Ðại. Tồn tại chẳng bao lâu, đến lượt báo Dân chủ bị đình bản. Năm 1952, một nhật báo khác cũng do Nguyễn Vỹ chủ trương là tờ Dân ta, sống được một thời gian, cuối cùng cũng bị đóng cửa như các tờ báo trước của ông. Mãi đến năm 1958, ông đứng ra chủ trương bán nguyệt san Phổ Thông, chú trọng về nghệ thuật và văn học, tạp chí này được kể là có nhiều uy tín đối với làng báo miền Nam.Ngoài ra, ông còn cho ra tuần báo Bông Lúa, Tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm… Năm 1956, Nguyễn Vỹ được mời làm cố vấn cho chính quyền thời bấy giờ, nhưng chỉ ít lâu sau ông rút lui. Trong khoảng thời gian này ông được phép tái bản nhật báo Dân ta (bộ mới) nhưng đến năm 1965 cũng lại bị đóng cửa và từ 1967 Nguyễn Vỹ chỉ còn chủ trương tạp chí Phổ-thông mà thôi. Vào ngày 4 tháng 2 năm 1971, ông mới có bằng lái xe mượn xe của người bạn lái đi chơi thì gặp tai nạn qua đời trên đoạn đường Tân An ( thuộc tỉnh Long An) - Sài Gòn, hưởng dương 59 tuổi.
Tác phẩm- Tập thơ đầu - Premières poésies (Thơ Việt và Pháp), tác giả xuất bản, Hà Nội, 1934
- Đứa con hoang (tiểu thuyết) Nxb Minh Phương, Hà Nội, 1936
- Grandeurs et Servitudes de Nguyễn Văn Nguyên (tập truyện ngắn Việt Nam bằng Pháp văn) Nxb Đông Tây, Hà Nội, 1937
- Kẻ thù là Nhật Bản (luận đề chính trị), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1938
- Cái họa Nhật Bản (luận đề chính trị), Nxb Thanh Niên, Hà Nội, 1938
- Đứng trước thảm kịch Việt Pháp - Devant le drame Franco Vietnamien, (luận đề chính trị bằng Việt và Pháp văn) tác giả xuất bản, Đà Lạt 1947
- Hào quang Đức Phật (luận đề tôn giáo) tác giả xuất bản, Đà Lạt 1948
- Thi sĩ Kì Phong (tiểu thuyết, 1938)
- Chiếc Bóng (tiểu thuyết, Nxb Cộng Lực, Hà Nội 1941)
- Chiếc áo cưới mầu hồng (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sàigòn 1957
- Người yêu của hoàng thượng (tiểu thuyết, Nxb Minh Phương, Hà Nội 1958)
- Giây bí rợ (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sàigòn 1957
- Hai thiêng liêng I
- Hai thiêng liêng II (tiểu thuyết), Nxb Dân Ta, Sàigòn 1957
- Hoang vu (thơ) Nxb Phổ Thông, Sàigòn 1962
- Mồ hôi nước mắt (tiểu thuyết), Nxb Sống Mới, Sàigòn 1965
- Những đàn bà lừng danh trong lịch sử (biên khảo), Nxb Sống Mới, Sàigòn 1970
- Tuấn, chàng trai nước Việt I
- Tuấn, chàng trai nước Việt II, (chứng tích thời đại), Nxb Triêu Dương, Sàigòn, 1970
- Văn thi sĩ tiền chiến (ký ức văn học), Nxb Khai Trí, sàigòn, 1970
- Buồn muốn khóc lên (thơ) 1970
- Mình ơi (văn hóa tổng quát) 1970
- Thơ lên ruột (thơ trào phúng) 1971
| Đọc Thơ Nguyễn Vỹ: 'viết Trong Lúc Say'gửi Trương Tửu TRẦN KHẢI THANH THỦY . Việt Báo Thứ Bảy, 11/29/2008, 12:00:00 AM | Đọc thơ Nguyễn Vỹ: 'Viết trong lúc say'gửi Trương tửu Trần Khải Thanh Thủy Nguyễn Vỹ sinh năm 1912 tại Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, mất năm 1971, tại Sài Gòn, trong một tai nạn xe hơi, vừa kịp tới tuổi lục thập... Cả cuộc đời tròm trèm một hoa giáp, ông đã làm không biết bao nhiêu điều... nhi nhĩ nghịch, đến mức tam tứ phen vào tù. Thời kỳ đầu, ông cắt tóc đi tu, lánh mình chốn cửa phật, tay lần tràng hạt, miệng tụng nam mô... Rồi như không chịu nổi sự tĩnh lặng, âm u, yếm khí của nhà chùa, ông quyết định phá giới, vứt bỏ tất cả để hoà nhập với đời... Từ một vị chân tu khoác áo cà sa, gọt đầu nhẵn thín, thành thợ gánh cát ở bãi sông, bán kẹo ở Hà Nội... Sức dài vai rộng, chí lớn hiển hiện như chim hồng hộc, khổng tước, đại bàng mà chỉ làm một việc tẻ nhạt là gánh cát thuê, bán kẹo dỗ trẻ con, vừa hèn yếu, lại không thể thoả chí tang bồng, ông bèn bỏ lại mảnh đất nghìn năm văn vật, vào tận Sài Gòn bươn chải kiếm sống... Sau quãng thời gian lăn lộn, bán báo cho các ông chủ bút... vừa tích luỹ vốn sống, vừa học hỏi kinh nghiệm, ông nghiệm ra viết báo cũng chẳng phải điều gì ghê gớm lắm như trước ông thường lầm tưởng, ông bèn "khăn áo gió đưa", quay lại mảnh đất kinh kỳ đô hội để hành nghề viết văn, viết báo, sau đó cùng nhà văn Trương Tửu, nhà thơ nguyễn Bính, Họa sĩ Nguyệt Hồ thành lập nhóm Việt Pháp, ra tờ Le Cygne, do ông làm chủ bút, nhằm truyền bá tư tưởng tiến bộ trong công chúng. Vốn cương trực, thẳng thắn, từng lăn lộn với đời, qua cả chốn thiền tu, tịch mịch cũng như khắp các hang cùng, ngõ hẻm của Sài Gòn, Hà Nội, trong cõi đời ô trọc. Nay lại có nơi chốn để thử sức, ông bộc phát tất cả những gì làm ông bức xúc, khao khát, ngún cháy. Tư tưởng ông lập tức trở thành cái gai trong mắt chính quyền bảo hộ của nhà nước đại pháp. Sau bao lần phỉnh nịnh, dỗ dành, doạ nạt không được, chính quyền thực dân đã kết án ông 6 tháng tù giam cùng 3000 quan tiền phạt. Dĩ nhiên tờ Le Cygne vĩnh viễn bị đóng cửa để làm gương cho tất cả những ai dám nho nhoe công kích chính sách, đường lối cai trị của nhà nước đại Pháp . 6 tháng trôi nhanh như một giấc ngủ ngày, ra tù, trở về, Nhật đã thay thế và hất cẳng pháp, ông lại tiếp tục cầm bút, coi cây viết như một vũ khí, một hòn than phải cháy hết mình để chống lại chính sách bạo ngược, quân phiệt của quân đội Nhật... Rồi, như một định đề chân lý, trong xã hội cực kỳ bất công phi lý, chỗ đứng tất yếu của những người con yêu chuộng hoà bình, công lý sẽ là cửa nhà tù. Không làm gì để bịt tiếng nói quả cảm, phản kháng của ông, người Nhật lại quyết định tống ông vào tù. Ra khỏi cổng nhà tù, chán mảnh đất Hà Nội- nơi "réo hồn núi sông" nhiều năm mà không trả được thù, rửa được nhục, ông lại lặn lội vào Sài Gòn làm báo Tổ Quốc, báo Dân chủ, rồi báo Dân ta, để vung cao ngòi bút, tiếp tục đấu tranh không khoan nhượng với chính quyền thuộc địa, bảo vệ quyền lợi cho người dân, cho tới khi tất cả các tờ báo mà ông tham gia cộng tác lần lượt bị đóng cửa...Ngày 7- 2.1971 thực sự là ngày định mệnh đối với cuộc đời hừng hực khí thế của ông.Một tai nạn xe hơi trên đường Sài Gòn - Tiền Giang đã cướp ông đi giữa tuổi đời 59. Sau đó trang đời ông mới thật sự nhi nhĩ thuận, đúng với cách nói của người xưa" lục thập nhi nhĩ thuận (60 tuổi nhìn điều gì cũng thấy thuận). Với các Bút danh: Tân Phong, Tân Trí, Lệ Chi, Cô Diệu Huyền, ông để lại cho đời một khối lượng tác phẩm khá đồ sộ, bao gồm: Tập thơ đầu (1934); Đứa con hoang (1936)...Kẻ thù là Nhật Bản (1938) Cái họa Nhật Bản (1938), Hào quang Đức Phật (1948) Hoang vu (1962) cùng hàng nghìn bài báo lớn nhỏ, mang nặng tính hiện thực phê phán, tố cáo sự thối nát bất công trong xã hội đương thời. Trong số hàng trăm bài thơ ông để lại cho đời, bài "Viết trong lúc say, gửi Trương Tửu", vẫn là bài nổi trội về phong cách, cá tính, gây ấn tượng với bạn đọc hơn cả. Cho dù đã 70 năm trôi qua, nó vẫn giữ nguyên vẹn gía trị phê phán, tố cáo, đặc biệt trong thời buổi lừa dối, nhiễu nhương xã hội chủ nghĩa này Xin giới thiệu để bạn đọc cùng thưởng thức Viết trong lúc say Gửi Trương Tửu Nay ta thèm rượu nhớ mong ai Một mình nhấp chén chẳng buồn say Trước kia hai thằng hết một nậm Trò chuyện dông dài mặt đỏ thẫm Nay một mình ta một be con Cạn rượu rồi thơ mới véo von * Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác Mà vẫn coi tiền như cỏ rác Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang Rủ nhau chè chén nói huênh hoang Xáo trộn văn chương với chả cá Chửi đông chửi tây chửi tất cả Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê * Bây giờ thời thế vẫn thấy khó Nhà văn An Nam khổ như chó Mỗi lần cầm bút viết văn chương Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương Rồi nhìn chúng mình hì hục viết Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết Mà thương cho tôi thương cho anh Đã rụng bao nhiêu mớ tóc xanh * Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng Tôi làm trạng nguyên, anh tể tướng Rồi anh bên võ, tôi bên văn Múa bút tung gươm hả một phen Cho bõ căm hờn cái xã hội Mà anh thường kêu mục nát thối Cho người làm ruộng kẻ làm công Đều được an vui hớn hở lòng * Bao giờ chúng mình gạch một chữ Làm cho đảo điên pho lịch sử Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa Hất mồ nhổm dậy cười say sưa Để xem hai chàng trai quắc thước Quét sạch quân thù trên đất nước Để cho toàn thể dân Việt Nam Đều được tự do muôn muôn năm Để cho muôn muôn đời dân tộc Hết đói rét lầm than tang tóc * Chứ như bây giờ là trò chơi Làm báo làm bung chán mớ đời Anh đi che tàn một lũ ngốc Triết lí con tườu, văn chương cóc Còn tôi bưng thúng theo đàn bà Ra chợ bán văn ngày tháng qua * Cho nên tôi buồn không biết mấy Đời còn nhố nhăng ta chịu vậy Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa Bực chí thành say mấy cũng vừa * Mẹ cha cái kiếp làm thi sỹ Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ Rốt cuộc chỉ còn... mộng với mơ. Cả bài thơ là một sự tả chân, là thơ mặt phẳng, là hiện thực phê phán xã hội mục ruỗng, thối nát nên không cần phải bình xét, người đọc cũng cảm nhận được nội dung bài thơ một cách thấu đáo. Điều tác giả muốn đề cập ở đây là bối cảnh xã hội Việt Nam sau 70 năm (1938-2008) vẫn không hề thay đôỉ. Cho dù có ví cánh nhà văn An Nam khổ như chó, cũng không có gì là cực đoan. Cách ví này, nửa thế ký sau ông, nhà thơ, nhà báo Yên Thao( nguyên phóng viên báo Hà Nội mới), đã từng áp dụng và đọc oang oang giữa hội nhà văn Việt Nam trong các kỳ đại hội, thậm chí từ dùng còn mạnh bạo, bộc trực hơn : Ghét nhau chung chiếu không ngồi Chung chăn không đắp, chung nồi không ăn Chỉ riêng cái hội nhà văn Ghét nhau... như chó, vẫn... lăn lưng vào(!)... Nhà văn Dương Thu Hương trong một bài viết cũng khẳng định ngay cả hội xích lô ba gác cũng tử tế hơn hội viên hội nhà văn Việt Nam với nhau, khi một người không may bị thương, phải đi bệnh viện, tất cả cá hội viên đều tự nguyện góp những đồng tiền nghèo nàn,còm cõi của mình để đến thăm người bị nạn. Riêng 700 hội viên hội nhà văn thì...không có được tính qủang đại, hào hiệp ấy. Cho dù trên thi đàn văn học họ có đăng đàn diễn thuyết, hay liên tục kêu gào đi chăng nữa, nhưng mảnh đất độc tài, khô cằn với đồng lương bố thí của đảng (lại không hề đề cao tri thức, nghệ thuật) chỉ có thể đẻ ra các thói đời ti tiện, vụ lợi, cơ hội mà thôi . Xét về mặt này, Nguyễn Vỹ bản lĩnh, hào phóng hơn hẳn, ít nhất trong cuộc đời làm báo của mình, dù nghèo nàn, so súi, túng kiết, ông cũng đã từng "đi mây về gió", vung tay qúa trán, bóc ngắn cắn dài... Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác Mà vẫn coi tiền như cỏ rác Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang Rủ nhau chè chén nói huênh hoang Trong tác phẩm: Nguyễn Bính - Thơ và Đời ( Nhà xuất bản Văn học 2000) Ông Đỗ Đình Thọ kể: Một lần René Creyssac -Trưởng phòng Kiểm duyệt báo chí của sở Mật Thám Bắc Kỳ đến trụ sở báo Le Cygne dò xét... Để mua chuộc René Creyssac, cả nhóm quyết định rủ y đi nhậu kèm chiêu đãi "nàng tiên nâu." Vừà bước vào tiệm, nhìn hàng chữ " Phi Yến Thu Lâm" và hình ảnh bày chim yến bay trong rừng thu do chủ tiệm thuê người vẽ minh hoạ, nhằm qủang cáo cho cửa tiệm của mình, René Creyssac xuất khẩu thành...thơ "Phi yến thu lâm... nghĩ cũng hay" Sẵn máu văn chương, Nguyễn Bính nối ngay: "Nằm trên giường, tựa nằm trên mây" Vốn giỏi tiếng pháp, lại thêm chất thơ chảy rần rật trong huyết quản Nguyễn Vĩ xuất... chương "Uyn, Đơ, Troa, Cát -- Ken- cờ- Píp" (quelques Pipes) Hứng khởi, Nguyệt Hồ kết: "Quật ngã An Nam, ngã cả Tây"! Thế là bài thất ngôn tứ tuyệt, liên hoàn của cả bốn người nói về cảnh đèn bàn, thuốc phiện, cùng cái thú "đi mây về gió" đã hoàn chỉnh, thật vui và cũng thật ý nghĩa, hoàn toàn phù hợp với bối cảnh lúc bấy giờ "Phi yến Thu Lâm... nghĩ cũng hay" "Nằm trên giường, tựa nằm trên mây" Một, hai, ba bốn... ôm tẩu hút "Quật ngã An Nam, ngã cả Tây"! Tuy nhiên vì sự bạo bút trong phong cách của mình mà cá tính quyết định số phận, ông không thoát khỏi cửa nhà tù của cả Pháp lẫn Nhật. Sau đó phải chuyển sang làm ở nhiều toà báo khác nhau, hết báo tây lại báo ta, hết Sài Gòn lại Hà Nội, hết báo đàn ông, lại đàn bà... Nhờ Trương Tửu vốn yêu quý và trọng chất nghĩa khí trong con người ông hết mực mà bài thơ còn giữ lại được trọn vẹn 8 khổ 54 câu như thế này, trong thực tế, khi đăng trên trang nhà Phụ Nữ ( 1938) bài thơ đã bị René Creyssac cắt bỏ 14 câu . Từ câu 26: "Cho bõ căm hờn cái xã hội, đến câu 40 :"Hết đói rét lầm than tang tóc" Từ câu 41 đến câu 54, tâm trạng đau buồn của Nguyễn Vỹ - một thi sĩ bất như ý, không hợp thời, thật trùng hợp với tâm trạng chung của hàng vạn cánh nhà báo Việt Nam hiện tại, dưới ngọn cờ định hướng của đảng Chứ như bây giờ là trò chơi Làm báo làm bung chán mớ đời Khi đó, tờ báo nơi Trương Tửu là phóng viên có tên là Hữu Ích ( do Lê Văn Trương phụ trách) còn Nguyễn Vĩ lúc này là phóng viên của báo Phụ Nữ, do bà Nguyễn Thị Thảo là chủ bút, nên mới có câu: Anh đi che tàn một lũ ngốc Triết lí con tườu, văn chương cóc Còn tôi bưng thúng theo đàn bà Ra chợ bán văn ngày tháng qua Thời nào, dù là phong kiến, để quốc hay xã hội chủ nghĩa thì nhà văn nhà báo vẫn phải phụng sự một lũ lãnh đạo dốt nát, tham tàn, cho dù tờ báo có lấy tên là "Hữu ích" đi chăng nữa thì cũng chỉ là cái vỏ của ngôn từ mà thôi, còn thực chất bên trong vẫn chỉ là một sự rỗng tuếch, thậm chí còn là... độc hại, hữu hại, như 600 tờ báo của đảng cộng sản Việt Nam . Con tườu là một tên gọi khác của khỉ, cái lũ đã xấu cả về hình thể, lại chuyên bắt chước, đã thế lại ngộ nhận mình là một bậc sáng tạo, siêu phàm, thông minh, siêu việt... Một sự khiêu khích, lố bịch đến tức cười. Vì vậy triết lí con tườu là thứ triết lí của kẻ chuyên ăn theo, nói leo, bắt chước, không còn một tý nhân phẩm nào, ngược lại chỉ đơn thuần là ... hầu phẩm mà thôi Văn Chương Cóc là thứ văn chương giản lược, tối nghĩa, không phải thơ mà chỉ còn là thẩn theo kiểu "con cóc nhẩy ra, con cóc nhẩy vào, con cóc nằm im"... chỉ là một thứ cóc cáy, ghẻ lở, không có chút gía trị cả về nghệ thuật cũng như sự thẩm mỹ Chính vì não lòng buồn chán, lại muốn thơ phải véo von, ông mới lấy rươụ ra để giải sầu: Nay một mình ta một be con Cạn rượu rồi thơ mới véo von Khổ cuối bộc lộ rõ sự bất phùng thời, cũng là sự bạo bút, đầy cá tính của ông Ngay cả nghề viết văn, viết báo mà người đời cho là danh giá, bản thân ông cũng nhìn nhận như một nước cờ cao, cuối cùng gặp vận bĩ cũng vẫn...cứ khốn, lại phải cất mồm, vung bút chửi, để giảm thiểu stress Mẹ cha cái kiếp làm thi sỹ Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ Rốt cuộc chỉ còn... mộng với mơ./. 70 năm đọc lại thơ ông, liên hệ với hoàn cảnh thực tại của cả vạn các nhà văn, nhà báo dưới sự lãnh đạo của đảng, mới thấy kiếp nhà văn Việt Nam thật khổ như chó, khổ hơn cả thời Nguyễn Vĩ. Chí ít, cái còn lại của ông sau bao đau đớn mất mát, ê chề nơi xã hội thối nát, vẫn là "mộng với mơ". Còn nhà thơ Việt Nam hiện tại, trong nền văn nghệ của đảng, với đồng lương chết đói ( vẫn cố phải bôi cho đủ tháng) thoả mãn bần cố nông không xong, lấy đâu ra mộng với mơ? Ngược lại chỉ là sự chụp dựt, cơ hội, đục nước béo cò, bán lương tâm để đổi lấy lương tuần* mà thôi. Hà Nội 20-11-2008 Trần Khải Thanh Thuỷ ( Giới thiệu và bình) ------- *Trên thực tế đồng lương của Việt Nam cả tháng, so với thế giới chỉ bằng 2,3 ngày, chỉ đủ để chi tiêu trong một tuần, nên cán bộ, công nhân, trí thức đều gọi chính xác là lương tuần thay vì nhà nước quy định là lương tháng.
| NGUYỄN VỸ NHÂN TÍCH CỦA MỘT VÙNG ĐẤT VÀ MỘT THỜI ĐẠI
Đỗ Lai Thúy
Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay co...
THÀNH NGỮ
1. Quảng Ngãi, xét về địa lý, có điều thiệt thòi là nằm giữa Quảng Nam - Đà Nẵng và Bình Định. Trên đường thiên lý Bắc Nam, từ Đà Nẵng khách thường đi tuột vào Bình Định, bỏ qua Quảng Ngãi như một vùng đất trung chuyển, không có bản sắc riêng. Về văn hóa, quả thật người ta cũng nghĩ như thế. Sau khi đã no nê với Ngũ Hành Sơn, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn, du khách hăm hở vào Bình Định xem nốt cụm tháp Dương Long, Cây me Nguyễn Huệ, thành Hoàng đế, đầm Thị Nại... Dù cho Quảng Ngãi hay co, cũng khó mà kéo níu được chân của người ngang bước.
Lần đầu tiên tôi đến Quảng Ngãi là năm 1984, khi đó tỉnh chỉ là một bộ phận của Nghĩa Bình. Công việc của tôi bấy giờ là phụ tá Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện làm phim tài liệu Đất Tây Sơn và một số chuyên san Etudes Vietnamiennes về tuồng và võ, mà đấy lại là hai đặc sản của đất Bình Định, nên, quả thực, về đất và người Quảng Ngãi tôi chỉ có một ấn tượng mía đường.
Năm 2006, sau hơn hai mươi năm, tôi mới có dịp trở lại đất này. Quảng Ngãi bây giờ đã là một chủ thể hành chính và, do đó, một chủ thể văn hóa. Tôi đã đi ngang dọc Quảng Ngãi, từ núi Ấn sông Trà đến bãi biển Sa Kỳ, lần theo dấu tích Bích Khê, thậm chí ra cả đảo Lý Sơn. Có thể nói, tôi đã phát hiện ra một Quảng Ngãi trong Quảng Ngãi mà tôi đã biết trước đây. Bởi thế, trước khi từ biệt núi Ấn sông Trà, tôi nói với anh Nguyễn Đăng Vũ, Phó giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin:
- Nếu đọ di tích, nhất là di tích Chăm, với Quảng Nam và Bình Định, thì Quảng Ngãi chỉ có thua. Nhưng tôi thấy các anh rất giàu một loại di tích khác: đó là con người. Con người, nhất là người tài, để lại những giá trị văn hóa to lớn cho đất nước. Con người, cũng như những tượng đài văn hóa khác, dễ bị thời gian vùi lấp, nhất là khi ta nhìn bằng con mắt ý hệ, dễ bị biến thành những di tích, phế tích. Việc phục dựng một con người văn hóa khó hơn nhiều sự phục dựng những ngôi đền miếu. Nhưng chính con người lại là thế mạnh của Quảng Ngãi. Một vùng đất trung chuyển, do tính mở của nó, lại dễ làm nảy sinh những tài năng phóng khoáng và độc lập. Mà Quảng Ngãi hình như thời nào cũng có nhân tài. Từ những nhân tài trị quốc, chính trị, quân sự đến thơ văn, như Trương Đăng Quế, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chánh, Bích Khê, Trà Giang, Thanh Thảo... Những tài năng này mọc ra từ tấm lòng nhân ái mênh mông và tinh thần trách nhiệm với đất nước của người dân Quảng Ngãi. Những tấm lòng biển khơi ấy tôi đã thấy ở đền thờ sống trước khi những người đi tiếp vận và trấn giữ hải đảo Trường Sa xuất phát ở Lý Sơn thuở chưa xa.
2. Về Quảng Ngãi lần này, trong những anh tài xứ sở, tôi muốn nói tới trường hợp Nguyễn Vỹ, như là một phát hiện của mình và cho mình. Trước đây, tôi chỉ biết Nguyễn Vỹ qua vài dòng tiểu sử ngắn ngủi và hai bài thơ lạ lùng Sương rơi và Gửi Trương Tửu của ông trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân. Bây giờ chính trên quê hương ông, tôi mới biết Nguyễn Vỹ còn có một nhân cách, một sự nghiệp văn chương và báo chí tương xứng với hai bài thơ trên.
Nguyễn Vỹ, với các bút hiệu Tân Phong, Lệ Chi, cô Diệu Huyền, Tâm Trí, sinh năm 1910 ở làng Tân Hội (sau đổi là Tân Phong), huyện Đức Phổ, trong một gia đình yêu nước và cách mạng. Thân phụ Nguyễn Vỹ là Nguyễn Tuyên đang làm quan ở huyện Tuy Phước, Bình Định thì từ chức; bác ruột là Nguyễn Thuyên từng tham gia phong trào Duy tân năm 1908 và bị đày ra Côn Đảo; anh họ là Nguyễn Nghiêm, lãnh đạo phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh ở Quảng Ngãi hồi năm 1930 và bị Pháp giết. Một gia phong như thế không thể không để lại những ảnh hưởng cho Nguyễn Vỹ
Thuở nhỏ, Nguyễn Vỹ học tiểu học ở Quảng Ngãi, học trung học ở Quy Nhơn. Tại đây, ông tham gia bãi khóa để tang Phan Chu Trinh, bị đuổi học nên phải ra Hà Nội học tú tài. Ông tham gia viết các báo Văn học tạp chí, Tiểu thuyết thứ Năm, L'ami du peuple (Bạn dân), La Patrie Annamite (Tổ quốc An Nam)..., rồi đứng ra chủ trương Le Sygne (Thiên Nga). Năm 1937, bị 6 tháng tù ở Hà Nội vì một bài báo trên Le Sygne đụng chạm đến thực dân Pháp. Năm 1940, bị Pháp rồi Nhật bắt đi tù ở Trà Khê Phú Yên. Mãi tới 1945, ông mới được thả tự do. Từ năm 1946, ông sống ở Đà Lạt, rồi Sài Gòn, đứng chủ nhiều tờ báo như Dân ta, Phổ thông, Bông Lúa, tuần báo thiếu nhi Thằng Bờm. Ông nổi tiếng là người dám nói sự thật. Nguyễn Vỹ chết vì tai nạn xe hơi ngày 14-2-1971.
Nguyễn Vỹ để lại một khối lượng đồ sộ tác phẩm. Thơ có: Tập thơ đầu - Primières poésies (Hai thứ tiếng Việt và tiếng Pháp, 1934), Hoang vu (1962); truyện ngắn có: Vinh và nhục của Nguyễn Văn Nguyên (Đông Tây, Hà Nội, 1936); tiểu thuyết có: Đứa con hoang (Minh Phương, Hà Nội, 1938), Người yêu của hoàng thượng (Minh Phương, Hà Nội, 1938), Thi sĩ Kỳ Phong (Nam Ký, Hà Nội, 1938), Chiếc bóng (Cộng Lực, Hà Nội, 1941), Dây bí rợ (1957), Chiếc áo cưới màu hồng (1957), Hai thiêng liêng (1957), Mồ hôi nước mắt (1965); chính luận có: Kẻ thù là Nhật Bản (tiếng Pháp, 1938), Cái họa Nhật Bản (tiếng Pháp, 1938), Đứng trước tấn kịch Pháp - Việt (tiếng Pháp, 1947); biên khảo có: Những người đàn bà lừng danh trong lịch sử (1970); cuối cùng là hai cuốn sách đặc biệt: Tuấn, chàng trai nước Việt (tập 1 và 2, 1970) và Văn thi sĩ tiền chiến (1970). Tôi nói hai tác phẩm này là đặc biệt không chỉ bởi thể loại, mà, quan trọng hơn, chúng chứa đựng nhiều chứng tích của một thời đại.
3. Viết Tuấn, chàng trai nước Việt, Nguyễn Vỹ không viết theo thể loại hồi ký. Bởi, viết hồi ký, tuy nói lên được những cảm nhận cá nhân trước cuộc đời, trước thời cuộc, nhưng dễ bị bó hẹp vào câu chuyện cái tôi. Mà Nguyễn Vỹ thì không muốn thế. Ông muốn nói về cả thế hệ mình, thế hệ trước mình và sau mình. Tóm lại, xã hội Việt Nam từ những năm đầu thế kỷ XX đến 1945. Và những vấn đề của nó. Nhưng ông cũng không muốn viết theo thể tự truyện, tuy được tự do hư cấu vì đó là truyện, nhưng vẫn đảm bảo được tính chân xác của sự kiện do nhân vật kể về mình. Đi giữa hồi ký và tự truyện, Nguyễn Vỹ vừa đảm bảo được tính chân xác của tư liệu, sự trải nghiệm bên trong, chủ quan của người kể chuyện, vừa đủ khách quan để dựng lại chân dung các thế hệ người. Ông gọi tác phẩm của mình bằng cái tên có thể hiểu như là thể loại cũng được và như là nội dung cũng không sai: chứng tích thời đại (ở Tuấn, chàng trai nước Việt), chứng dẫn thời đại (ở Văn thi sĩ tiền chiến).
Ai muốn lấy tư liệu về một xã hội Việt Nam quân chủ Nho giáo nông nghiệp cổ truyền đang từng bước chuyển sang hiện đại phương Tây hóa như thế nào, tưởng không đâu hơn ở Tuấn, chàng trai nước Việt. Ở đó sẽ thấy những do dự vừa bi vừa hài của việc thay đổi trang phục, đầu tóc, học chữ ta (tức chữ Hán) hay chữ tây (không chỉ chữ Pháp, mà ban đầu cả chữ quốc ngữ nữa!); rồi bao giờ thì xuất hiện chiếc xe đạp, chiếc đồng hồ, lần đầu tiên dân chúng được nhìn thấy máy bay; rồi ông đồ đi xe ô tô cảm hứng làm thơ, người thanh nữ đầu tiên đi xe đạp từ Sài Gòn ra Hà Nội là ai và vì sao tổ chức chuyến đi này; rồi vân vân và vân vân. Đó là những chứng tích cụ thể, sống động xảy ra ở Quảng Ngãi, Quy Nhơn - Bình Định, miền Trung và toàn cõi Việt Nam. Đó là những chứng tích do một chàng trai lớn lên, đổi thay cùng với đất nước nhìn thấy, trải nghiệm và kể lại. Nhưng điều hay hơn ở Nguyễn Vỹ là xuyên qua rừng tư liệu ấy, người đọc có thể rút ra sự hình thành một thế hệ thanh niên của đất nước tiêu biểu cho thời đại bấy giờ. Đó là thế hệ Nguyễn Vỹ, thế hệ của Tuấn mà ông định danh là chàng trai nước Việt.
Những người học tiếng Pháp đầu tiên, lứa đầu của tiểu học Pháp - Việt thì sớm ra đời làm thầy thông thầy phán. Chữ Pháp cũng như học thức của họ chưa đủ để cho đầu óc khỏi lệ thuộc. Còn những con cái gia đình có công với cuộc chinh phục Pháp được đi du học nước ngoài về thì đa phần trở thành những "ông Tây An Nam". Họ "thừa" chữ Pháp nhưng lại thiếu một căn bản dân tộc. Bởi thế, chỉ có lứa của Tuấn, đang học trung học vào năm 1925, 1926, khi phong trào đòi ân xá Phan Bôi Châu và đám tang Phan Chu Trinh lan rộng toàn quốc, là hội tụ đủ điều kiện để trở thành một thế hệ trí thức mới. Họ có đủ tiếng Pháp để tiếp tu văn hóa Pháp từ chính quốc và, quan trọng hơn, được tài bồi một lòng yêu nước, một tư tưởng chống thực dân Pháp, cuối cùng họ đủ đông để trở thành một thế hệ. Tôi tạm gọi họ là tầng lớp Tây học bản địa. Họ sẽ trưởng thành vào đầu năm 1930, thay thế xứng đáng cho tầng lớp trí thức Nho học, để xây dựng một nền văn hóa mới, văn hóa đô thị hiện đại kiểu phương Tây.
4. Tân nhạc, hội họa sơn dầu, kịch nói, báo chí xuất bản, điện ảnh, đặc biệt là văn học với thơ mới, tiểu thuyết, phê bình văn học, đều là thành quả của thế hệ trí thức này. Chân dung của họ đã được Nguyễn Vỹ vẽ lại một cách sống động, đặc sắc như là những chứng dẫn thời đại trong Văn thi sĩ tiền chiến.
Trước hết, họ là những người rất trẻ. Trẻ về tuổi đời. Họ đều nổi danh ở tuổi 19, 20. Học vấn của họ cũng không phải là cao. Đa phần tốt nghiệp tú tài (THPT), số ít tốt nghiệp thành chung (THCS), thậm chí có người mới hết tiểu học. Thế mà họ đã làm được những kỳ công văn hóa, thực hiện được cuộc cách mạng văn chương. Lý giải điều này, qua Nguyễn Vỹ, có thể thấy những chàng trai nước Việt này đều có lòng yêu nước và biểu hiện của nó là khát vọng xây dựng một nền văn chương mới cho dân tộc. Bởi thế họ có tư thế (để) tiếp thu văn chương Pháp, không phải với tư cách chịu ảnh hưởng, bắt chước, lệ thuộc, mà là sự phát triển tương ứng. Đây là lối tiếp thu chủ động, sáng tạo, tiếp thu tinh thần và vật liệu của người để xây dựng ngôi nhà riêng của mình. Thật khác với vài lối tiếp thu sau này. Họ yêu tiếng Pháp, say mê văn chương Pháp mà vẫn viết ra những câu văn rất Việt.
Những cách tân văn chương của họ thành công dễ dàng còn do họ được tiếp sức bởi một không khí thời đại: Sự phấn đấu cho công cuộc hiện đại hóa văn chương như là sự khẳng định trình độ và tư cách dân tộc. Tinh thần này được kết tinh trong thái độ của công chúng bấy giờ. Người đọc thuở ấy chờ đợi từng số báo Phong hóa, Ngày nay, từng bài thơ Huy Cận, Xuân Diệu, từng truyện ngắn, tiểu thuyết của Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng... Có thể nói, lớp độc giả ấy đồng hành cùng với tác giả. Họ đòi hỏi, cảm thông và bận tâm cùng với tác giả. Họ tham dự vào công cuộc đổi mới văn chương, như người tham dự vào một lễ hội, không còn phân biệt ai là chủ thể ai là khách thể, mà là chủ khách thể hoặc khách chủ thể. Sự đồng sáng tạo này giữa người sáng tác và người đọc về sau không còn lặp lại, phải chăng vì thế mà chúng ta còn chưa có cuộc cách mạng văn chương lần thứ hai?
Mặc dù là những người yêu tiếng Pháp và say mê văn chương Pháp, trong đó có nhiều người viết văn Pháp nổi tiếng như Phạm Văn Ký, Từ Bộ Hứa, Nguyễn Tiến Lãng, nhưng họ, những văn thi sĩ tiền chiến ấy, đều là những người máu thịt với văn hóa, văn chương dân tộc. Họ đều giỏi thơ Đường, thuộc nhiều ca dao tục ngữ, mê hát dân ca, tuồng chèo như cha ông họ. Xây dựng một nền văn hóa mới, hiện đại, họ không cắt đứt truyền thống, phủ nhận truyền thống, cũng như không bê nguyên truyền thống mà quay lại khai thác truyền thống nhằm phục vụ hiện đại. Những tác phẩm văn chương sáng tạo, mới mẻ, nhưng cũng hết sức nhuận nhị trong sáng của thế hệ này có thể giúp chúng ta ngày nay rút ra một bài học cho đổi mới là: chỉ khi đứng trên đỉnh cao trí tuệ của thế giới hiện đại thì việc khai thác quá khứ dân tộc mới có hiệu quả, mới đóng góp được cho tương lai.
Đặc điểm cuối cùng của thế hệ văn thi sĩ tiền chiến này là họ đều là những trí thức tự do. Nhiều người đã hành nghề công chức, nhưng họ đều bỏ để ra làm nghề dạy tư, luật sư tự do, bác sĩ có phòng khám riêng, hoặc làm báo, viết văn, làm thơ sống bằng đồng tiền nhuận bút khá bấp bênh. Bởi thế, họ đều nghèo, có tư cách và, quan trọng hơn, giữ được tư cách. Họ sống và suy nghĩ một cách độc lập, không bị mua chuộc, không bị lôi kéo bởi bả vinh hoa hay sức ép của chính quyền thuộc địa. Ở Việt Nam, đây là lần đầu tiên có một lớp người trí thức tách ra khỏi ông quan, nhà văn nhà thơ tách ra khỏi người viên chức. Văn chương của họ, bởi thế, cũng lần đầu tiên thoát khỏi tính công cụ có mục đích tự thân là tìm kiếm cái đẹp.
5. Trở lại, Nguyễn Vỹ quả thực là con người điển hình của thế hệ trí thức mới này. Ông là người yêu nước chống Pháp ngay từ học sinh trung học và chống Nhật sau này. Ông khát khao xây dựng một nền văn chương mới. Tham gia viết hầu hết các thể loại, nhưng ông thành công hơn cả với tư cách một nhà thơ. Hai kiệt tác, Sương rơi và Gửi Trương Tửu là hai điệu tâm hồn ông, điệu tâm hồn thế hệ ông. Một, Sương rơi với thể thơ hai chữ tả giọt sương rơi đều đều, chậm chậm gợi một cảm giác mất mát của tình yêu và hai, Gửi Trương Tửu, với thể thất ngôn trường thiên đượm vẻ hài hước cay chua thể hiện tâm trạng phẫn uất của một nhà văn An Nam trong xứ sở thuộc địa.
Sự cách tân thơ Việt của Nguyễn Vỹ còn được thể hiện ở việc mở rộng câu thơ đến 12 chân. Sự không thành công của trường phái Bạch Nga này có thể là bấy giờ trong cái vỏ ngoài có vẻ bắt chước của nó là sự còn quá mới, vượt ngưỡng tiếp nhận của người đọc, hay thực sự câu thơ Việt (tức cái hơi của người Việt) chỉ thích hợp với độ dài vừa phải của thể thơ 5, 7 chữ? Những nhà thơ thể nghiệm hiện nay liệu có học được gì ở Nguyễn Vỹ?
Làm cả thơ bằng tiếng Pháp, viết cả tiểu luận bằng Pháp văn, nhưng trước sau Nguyễn Vỹ vẫn tha thiết với sự nghiệp văn chương tiếng Việt. Ông đã hơn một lần gửi thông điệp khuyến cáo các nhà văn viết tiếng Pháp như Phạm Duy Khiêm, Phạm Văn Ký, Nguyễn Tiến Lãng... quay về viết Việt văn để có đóng góp cho văn hóa văn chương dân tộc. Bởi, theo ông, những nhà văn nói trên dù giỏi đến đâu vẫn chỉ là những kẻ "ngụ cư" văn hóa, chờ đến khi được ghi nhận là "chính cư" thì đã không còn là người Việt Nam rồi!
Nguyễn Vỹ, tóm lại, sự nghiệp văn chương, sự nghiệp báo chí, so với những người cùng thời, không phải là lớn lắm. Nhưng cuộc đời hoạt động văn chương và báo chí sôi nổi, nhất là những quan sát, trải nghiệm những sự thay đổi của xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX được ghi lại trong Tuấn, chàng trai nước Việt và Văn thi sĩ tiền chiến, đã để lại những chứng tích giá trị. Như thế, với tư cách một chứng nhân và một người tham dự, cuộc đời Nguyễn Vỹ - người con của Quảng Ngãi và con người của thế hệ mình - là một giá trị văn hóa.
6-2007
Đ.L.T
Source: http://www.vanhoanghethuat.org.vn
Thơ Nguyễn Tất Nhiên Duyên tình con gái Bắc Ta sẽ về thương lại nhánh sông xưa Thương lại bóng hình người năm năm trước... Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền Nhớ dịu dàng nhưng thâm ý khoe khoang Nhớ duyên dáng, ngây thơ mà xảo quyệt ! Ta sẽ nhớ dặn dò lòng nên tha thiết Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ Nên yêu đương bằng khuôn mặt khờ khờ Nên hùng hộ để đợi giờ thua thiệt ! Nghe nói em vừa thi rớt Luật Môi trâm anh tàn héo nụ-xa-vời Mắt công nương thầm khép mộng-chân-trời Xin tội nghiệp lần đầu em thất vọng ! (dù thật sự cũng đáng đời em lắm rớt đi Duyên, rớt để thương người !) Ta -- thằng ôm hận tú tài đôi Không biết tìm ai mà kể lể Chim lớn thôi đành cam rớt lê. Ngày ta buồn thần thánh cũng thôi linh ! Nếu vì em mà ta phải điên tình Cơn giận dữ đã tận cùng mê muội Thì đừng sợ, Duyên ơi, thiên tài yếu đuối Tay tre khô mối mọt ăn luồn Dễ gãy dòn miểng vụn tả tơi xương Khi tàn bạo siết cổ người yêu dấu ! Em chẳng bao giờ rung động cũ Ta năm năm nghiệt ngã với tình đầu Nên trở về như một con sâu Lê chân mỏng qua những tàn cây rậm Nuôi hy vọng sau ngàn mưa nắng lậm Lá xanh em chưa dấu lở loang nào Ðể ta còn thi sĩ nhất loài sâu Nhìn lá nõn, tiếc, thèm...đâu dám cắn ! Nếu vì em mà thiên tài chán sống Thì cũng vì em ta ngại bước xa đời ! (1972) |
|
|