Hong Kong United Co., Ltd.: Công ty ma được Tàu cộng dùng làm vỏ bọc để nắm lấy công trình nhiệt điện Quỳnh Lập IVũ Đông Hà (Danlambao) - Bộ Công thương vừa lấy Công trình Nhiệt Điện Quỳnh Lập I ra khỏi tay Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản của Việt Nam và giao cho Tàu cộng. Tàu cộng đã dùng một công ty đã không còn hoạt động từ nhiều năm để đồng đứng tên làm chủ thầu cho công trình trị giá 2 tỷ đô. Đó là công ty Hong Kong United Co., Ltd. ( 1)
Hong Kong United Co., Ltd. được thành lập vào năm 1956 và chấm dứt hoạt động vào năm 1966. Đây là một công ty điện ảnh với một vài phim được sản xuất như:
Kẻ vực dậy công ty Hong Kong đã chết này, biến nó thành một chi nhánh và cho nó vào làm ma tại Quỳnh Lập là tập đoàn Sunshine Kaidi New Energy Group Co., Ltd của Tàu cộng.
*
Đây không phải là lần đầu tiên Tàu cộng sử dụng công ty ma với sự thông đồng của đảng nhà nước CSVN. Vào tháng 6, 2016 lãnh đạo cộng sản Hà Tĩnh đã thông qua chủ trương chấp thuận cho một công ty được cho là của Đài Loan sử dụng 1.000 ha đất tại Vũng Áng, Hà Tĩnh. Công ty này mang tên Wei Yu Engineeringsẽ phát triển những dự án bao gồm dự án chăn nuôi, công nghiệp thực phẩm và xây dựng cầu cảng với vốn đầu tư là 2,5 tỷ USD. ( 2)
Tuy nhiên, dựa vào những thông tin tại các trang web chuyên nghiệp của Hong Kong về các công ty thì Wei Yu Engineering Group Company Limited đã giải tán - dissolved! ( 3)
Rõ ràng là đối diện với làn sóng phản đối của người dân về hiểm hoạ Việt Nam bị Hán hoá, đảng và nhà nước CSVN đã thông đồng với Bắc Kinh để áp dụng trò xảo trá "văn bản không có chữ nào là Trung Quốc". Những công ty Đài Loan, Hồng Kông được cho xuất hiện trong các công trình xây dựng lớn tại Việt Nam nhưng chỉ là những công ty đã chết được vực sống lại trên giấy tờ để làm vỏ bọc của Tàu cộng chiếm cứ những công trình bạc tỷ tại Việt Nam.
Bộ Công thương nói riêng và tập đoàn cai trị nói chung biết rõ chuyện này. Nhưng đó là... chủ trương lớn của đảng. Đó là ý đảng tại Ba Đình và lòng dân ở tận Bắc Kinh.
*
Chú thích:
26.06.2018
Thêm một địa bàn và công trình chiến lược rơi vào tay Tàu cộngVũ Đông Hà (Danlambao) - Đó là Nhà máy Nhiệt điện Quỳnh Lập I tại Nghệ An. Công trình này đang được điều hành bởi Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (TKV) của Việt Nam. Bộ Công thương vào tháng 6/2018 đã gửi kiến nghị cho Nguyễn Xuân Phúc để giao công trình cho tập đoàn liên danh Geleximco - Công ty TNHH Hong Kong United (HUI). (1)
Đây là một tập đoàn made in China vừa nhận được "món quà dâng tặng" công trình 2 tỷ đô bởi Bộ Công thương.
Tiến trình Tàu hoá và bành trướng của Tàu cộng với "bàn đạp" Geleximco
Tập đoàn GELEXIMCO, tên chính thức là Công ty CP Xuất nhập khẩu Tổng hợp Hà Nội, được thành lập ngày 09 tháng 01 năm 1993 với 4 lãnh vực hoạt động chính: Hạ tầng, Bất động sản, Tài chính, Ngân hàng. Đây không phải là một công ty chuyên về xây dựng và quản trị nhà máy nhiệt điện.
Vào đầu tháng 7, 2017 Geleximco ngỏ ý về dự tính sẽ đầu tư vào 5 công trình nhiệt điện bao gồm: Quỳnh Lập I & II; Quảng Trạch I, II; và Hải Phòng III. (2)
Trong dự tính ban đầu này, Geleximco cho biết sẽ phối hợp với Tập đoàn Sunshine Kaidi New Energy Group Co., Ltd. cho việc đầu tư, xây dựng.
Sunshine Kaidi là một tập đoàn Tàu cộng, chuyên về xây dựng các công trình nhiệt điện, có văn phòng, trụ sở chính đặt tại Wuhan bên Tàu. (3)
Tuy nhiên, 3 tháng sau, tháng 10, 2017 trong tờ trình chính thức gửi đến Thủ tướng để xin được trở thành công ty đảm trách xây dựng công trình nhiệt điện Quỳnh Lập I và Quảng Trạch II , một liên doanh mới xuất hiện trong văn bản này: Geleximco và Hong Kong United Co., Ltd., viết ngắn gọn là Geleximco-HUI.
Nhìn vào tên gọi của liên doanh này người ta không thấy "China" - Trung Quốc (như trong dự thảo Luật Đặc Khu!). Tuy nhiên, HUI - Hong Kong United Co., Ltd là một chi nhánh của tập đoàn Sunshine Kaidi. Và nó chỉ là một công ty sản xuất phim ảnh!
Tấm bình phong Geleximo - một công ty xuất nhập khẩu và Hong Kong United Co - một công ty sản xuất phim ảnh được hình thành để chiếm cứ các công trình nhiệt điện Việt Nam.
Đằng sau nó là 1 tập đoàn lớn của Tàu với sự chống lưng về tài chánh của các tập đoàn Ngân Hàng Tàu cộng, đứng đầu là Ngân Hàng Phát Triển Trung Quốc. 80% số vốn bỏ ra là tiền mượn từ các nhà băng Tàu cộng (4).
Hiện nay Tàu cộng là nhà đầu tư nhiệt điện lớn nhất tại Việt Nam, chiếm 50% toàn bộ đầu tư từ ngoại quốc. Tổng cộng số vốn đầu tư cho đến nay là 20,5 tỉ đô la và đã xây dựng, nắm trọn 15 công trình nhiệt điện: An Khánh 1, Cao Ngạn, Cẩm Phả 1 and 2, Duyên Hải 1 and 3, Hải Phòng 1 and 2, Mao Khê, Quảng Ninh 1 and 2, Sơn Động, the Uông Bí, Vĩnh Tân 2, và Vũng Áng 1. Những công trình nhiệt điện khác đang ở vào giai đoạn khởi công bởi nhà thầu Tàu cộng là Hải Dương, Duyên Hải 2 & 3, Thái Bình 2, Thăng Long, và Vĩnh Tân 1 (5). Trở lại Quỳnh Lập I. Toàn bộ công trình nhiệt điện này đang được điều hành bởi Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản của Việt Nam cùng với công ty Kospo và Samtan của Hàn Quốc đảm trách. Bộ Công thương đã đá gà nhà ra và mời cáo giặc vào chuồng để:
- Làm dày thêm danh sách những căn cứ địa của Tàu trên lãnh thổ Việt Nam;
- Gia tăng khả năng kiểm soát và khống chế tình hình điện lực của Việt Nam;
- Nâng cao hiểm họa tiêu diệt môi trường Việt Nam qua ô nhiễm than made in China.
- Đẩy mạnh, tiến nhanh việc thực hiện âm mưu Hán hóa và biến Việt Nam thành một tỉnh lỵ của Tàu.
Bên cạnh 3 "đại khu" Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc là những "tiểu khu" Tàu mà đảng và nhà nước CSVN đã và đang tiếp tục giao cho Bắc Kinh.
Quỳnh Lập I là một trong những "tiểu khu" sẽ bị cắm cờ 5 sao đó. Đại nạn Trung Hoa thời cận đạiTrần Gia Phụng (Danlambao) - Vào gần cuối thế kỷ 19, bị các nước Tây phương đe dọa, Trung Hoa khốn đốn không kém Việt Nam, nhưng triều đình nhà Thanh (cai trị Trung Hoa 1644-1911) vẫn tự nhận Trung Hoa là thượng quốc, có ưu quyền đối với Việt Nam.
1. Trung Hoa tự nhận ưu quyền thượng quốc
Trên đường tìm kiếm thuộc địa sau cuộc cách mạng kỹ nghệ ở Âu Châu, Pháp viện dẫn lý do triều Nguyễn (cai trị Việt Nam 1802-1945) đàn áp Ky-Tô giáo, Pháp đem quân tấn công Đà Nẵng ngày 1-9-1858, mở đầu cuộc xâm lăng Việt Nam. Pháp chiếm các tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long, buộc triều đình Huế phải ký hòa ước ngày 5-6-1862, nhượng ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường (ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ) cho Pháp.
Không dừng lại ở đó, Pháp tiếp tục chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ là Vĩnh Long, An Gia, Hà Tiên năm 1867, và tiến quân ra đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất năm 1873, chiếm Hà Nội, Ninh Bình, Hải Dương, Nam Định. Pháp ép triều đình Huế ký hòa ước ngày 15-3-1874, nhường đứt luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ cho Pháp, để Pháp trả lại các tỉnh Bắc Kỳ.
Hòa ước ngày 15-3-1874 gồm 22 điều khoản, trong đó điều khoản số 2 nói rằng “Tổng thống Pháp nhận Đại Nam là một quốc gia độc lập, không phải thần phục nước nào, hứa giúp Hoàng đế Đại Nam nếu cần, bảo vệ an ninh trong và ngoài nước.” Điều khoản số 3 tiếp theo “Để đáp lại sự bảo hộ ấy, Hoàng đế Đại Nam từ nay chịu theo chính sách ngoại giao hiện thời của nước Pháp.” Nói cách khác, từ nay Việt Nam phải lệ thuộc nền ngoại giao của Pháp, và không được thần phục hay giao thiệp với nước khác mà không có sự đồng ý của Pháp.
Khi hòa ước 1874 đã được hai bên Việt Pháp phê chuẩn và trao đổi, đại diện Pháp tại Bắc Kinh là De Rochehouart chuyển bản hòa ước nầy cho chính phủ Trung Hoa ngày 24-5-1875. Triều đình nhà Thanh trả lời rằng: “Chí Giao Chỉ tức Việt Nam bổn hệ Trung Hoa thuộc quốc.” (nghĩa là: “Từ [thời] Giao Chỉ đến Việt Nam vốn là thuộc quốc của Trung Hoa.”)
Câu nầy được tòa lãnh sự Pháp dịch qua Pháp văn theo nghĩa là: “An Nam cũng là xứ được gọi là Việt nam. Xứ nầy từng là nước thần phục Trung Hoa.” (Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, Tp HCM: Ban Khoa học Xã hội, 1990, tr. 142.) Do cách hành văn khác nhau, Trung Hoa nghĩ rằng họ đã phản đối Pháp, nhưng Pháp lại cho rằng Trung Hoa chẳng phản đối gì.
Trong cuộc tiếp xúc với thủ tướng Pháp là Charles de Freycinet ngày 25-1-1880, đại sứ Trung Hoa tại Pháp là Tăng Kỷ Trạch khẳng định với Pháp rằng Việt Nam là chư hầu của Trung Hoa. (Yoshiharu Tsuboi, sđd. tr. 142.) Vua Trung Hoa lúc nầy là Quang Tự (Kuang-hsu) hay Thanh Đức Tông (Qing Te-tsung, trị 1875-1908) mới 10 tuổi và bà thái hậu Từ Hy (Tzu-His hoặc Ci Xi, 1835-1908) giữ quyền nhiếp chính.
Tăng Kỷ Trạch còn viết thư ngày 10-11-1880 khi ông đến St Pétersbourg (Nga), yêu cầu ngoại trưởng Pháp cho Trung Hoa biết lập trường của Paris về những biến chuyển ở Bắc Kỳ. Trong thư trả lời ngày 27-12-1880, ngoại trưởng Pháp Barthélemy St. Hilaire đáp lại rằng theo điều 2 hòa ước 1874, Pháp có bổn phận và trách nhiệm với Việt Nam. Thư nầy được gởi đến cho Tăng Kỷ Trạch và chính phủ Trung Hoa.
Tăng Kỷ Trạch cho đại diện Pháp ở St. Pétersbourg biết rằng Pháp có thể chiếm Trung Kỳ, nhưng nếu chiếm Bắc Kỳ thì sẽ gây quan ngại cho Trung Hoa, vì vùng nầy tiếp giáp với biên giới Trung Hoa. Ngoại trưởng Pháp liền ra lệnh cho viên đại diện Pháp báo cho Tăng Kỷ Trạch biết rằng từ năm 1874, ngoài nước Pháp Việt Nam đã hoàn toàn cắt đứt liên hệ với các nước khác. (Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn 1883-1945, tập 1, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1999, tt. 273-274.)
Về phía Việt Nam, dầu đã ký hòa ước 1874, chịu nhận nền ngoại giao Pháp, vua Tự Đức vẫn gởi phái bộ ngoại giao sang Trung Hoa năm 1876, để chúc mừng vua Thanh Đức Tông (Te-tsung) (trị vì 1875-1908) tức vua Quang Tự (Kuang-hsu), lên thay vua Thanh Mục Tông (Mu-tsung) (trị vì 1862-1874) tức vua Đồng Trị (T'ung-chih) từ trần năm 1874. Tháng 7-1880, vua Tự Đức còn cử sứ sang Trung Hoa thêm lần nữa. Chuyến đi nầy, chẳng những có tính cách ngoại giao thông lệ bốn năm một lần cống sứ, mà còn để nhờ Trung Hoa giúp đỡ.
Năm sau (1881), Trung Hoa gởi Đường Đình Canh sang kinh đô Huế bàn chuyện buôn bán, lập chiêu thương cuộc. Những sự kiện nầy không thể qua mặt người Pháp. Khâm sứ Pháp tại Huế là Rheinart đã báo cáo đầy đủ các chuyến đi sứ của Việt Nam sang Trung Hoa cho thượng cấp ngày 2-8-1882. (Yoshiharu Tsuboi, sđd. tt. 298-299.)
Về phía nhà Thanh, tại Bắc Kinh, đại diện Trung Hoa phản đối với đại sứ Pháp, cho rằng Việt Nam là thuộc quốc của Trung Hoa và yêu cầu Pháp rút quân khỏi Bắc Kỳ để duy trì tình hữu nghị Hoa Pháp. Tại Paris, ngày 6-5-1882, đại sứ Tăng Kỷ Trạch cũng lên tiếng phản đối Pháp và yêu cầu Pháp rút quân.
Thủ tướng Pháp là Freycinet cho rằng lời lẽ của họ Tăng bất nhã, nên thông báo cho đại sứ Pháp tại Bắc Kinh tin cho chính phủ Trung Hoa biết rằng Pháp sẽ không nói chuyện với Trung Hoa và yêu cầu Trung Hoa đừng xen vào chính sách Pháp ở Bắc Kỳ. (Alfred Schreiner, Abrégé de l'histoire d'Annam, Sài Gòn: 1906, tr. 353.)
Về quân sự, ngày 30-6-1882, tổng đốc Vân Nam (Trung Hoa) loan báo rằng quân đội Trung Hoa sẽ tiến vào lãnh thổ Bắc Kỳ để truy đuổi các thổ phỉ Cờ đen. Trong tháng sau, tướng Tạ Kính Bưu đem ba doanh quân Vân Nam đến đóng tại Quản Ty (Hưng Hóa). [Một doanh khoảng 1,000 quân.] Vào tháng 9, nhà Thanh cử tướng Hoàng Quế Lan đem mười hai doanh quân đóng ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Ninh, và tướng Triệu Ốc đem năm doanh quân đóng ở Tuyên Quang. Tài liệu Pháp cho rằng số quân Trung Hoa tại Bắc Kỳ lúc đó lên đến 20,000 người. Dầu vậy, lực lượng Trung Hoa dần dần bị Pháp đẩy lui.
Trong thực tế, Trung Hoa điều quân qua Việt Nam nhắm mưu lợi, chứ chẳng phải thực tâm giúp đỡ Việt Nam chống Pháp, nên khi thấy không thể chiến thắng được Pháp, Trung Hoa quay qua thương thuyết với Pháp để chia phần ở Việt Nam.
2. Trung Hoa âm mưu chia hai Bắc Kỳ với Pháp
Ngày 27-10-1882, Paris thông báo cho đại sứ Pháp ở Trung Hoa là Bourée biết, trong phiên họp ngày 21-10, chính phủ Pháp quyết định bảo hộ Việt Nam, để Bourée nói chuyện với Bắc Kinh. Trước sự cương quyết của Pháp, vào đầu tháng 11-1882, Lý Hồng Chương (Li Hongzhang hay Li-Hung-Tchang), một viên chức cao cấp trong Tổng lý nha môn, cơ quan phụ trách ngoại giao của triều đình Trung Hoa, đề nghị với Bourée rằng Trung Hoa và Pháp chia nhau bảo hộ Bắc Kỳ. Bourée báo cáo sáng kiến của Lý Hồng Chương về Pháp.
Lúc đó, các chính phủ Paris kế tiếp nhau, đều muốn chiếm Bắc Kỳ nhưng vừa ngại tốn kém vì Quốc hội Pháp không chuẩn chi, vừa ngại đụng chạm với Trung Hoa, nên đường lối của chính phủ Pháp không rõ ràng và hay thay đổi. Ngày 5-12-1882, Bourée cho Paris biết là Bắc Kinh đã ra lệnh quân Thanh rút khỏi Bắc Kỳ về Vân Nam và Quảng Tây. Cũng trong ngày nầy, bộ Hải quân và Thuộc địa Pháp ra lệnh cho soái phủ Sài Gòn tránh đụng chạm với quân Trung Hoa. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tr. 291)
Ngày 20-12-1882, tại Thiên Tân (Tianjin hay Tientsin), Bourée và Lý Hồng Chương ký tạm ước về Bắc Kỳ, theo đó Trung Hoa chiếm phía bắc sông Hồng (vùng núi non và hầm mỏ), và Pháp chiếm phía nam sông Hồng (vùng châu thổ, sản xuất nông phẩm). Lào Cai được xem là một thương cảng Trung Hoa, nhưng người Pháp được quyền tự do buôn bán với Vân Nam. (Khối Quân sử, Quân dân Việt Nam chống Tây xâm (1847-1945), Quân sử III, Sài Gòn: Bộ Tổng tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, 1971, tr. 164.) Tạm ước nầy thật ra rất mơ hồ, chỉ lấy sông Hồng chia hai địa phận, nhưng chưa vạch ra cụ thể ranh giới giữa hai bên Pháp và Trung Hoa ở Bắc Kỳ.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu, tạm ước Thiên Tân bị bãi bỏ. Nguyên tại Paris, chính phủ Charles Duclerc sụp đổ ngày 22-1-1883. Armand Fallières tạm thay một thời gian, thì Jules Ferry trở lại làm thủ tướng lần thứ hai ngày 21-2-1883. Lúc đó, Pháp dứt khoát về vấn đề Ai Cập (Egypt) vì nước nầy đã do nước Anh đô hộ từ 1882. Jules Ferry dồn nỗ lực về phía Việt Nam.
Việc làm đầu tiên của chính phủ Jules Ferry về Việt Nam là bãi bỏ tạm ước Thiên Tân mà Bourée đã ký với Lý Hồng Chương, vì theo chính phủ nầy, tạm ước đã giành cho Trung Hoa quá nhiều quyền lợi ở Bắc Kỳ. Quyết định bãi bỏ được báo cho Trung Hoa biết ngày 5-3-1883. Hai tháng sau, đại sứ Bourée bị triệu hồi. Chính phủ Pháp đưa Tricou, nguyên đại sứ Pháp tại Nhật Bản, sang Bắc Kinh làm đại sứ từ ngày 1-6-1883.
Ngày 18-8-1883, đại sứ Trung Hoa là Tăng Kỷ Trạch giao cho chính phủ Pháp lập trường sáu điểm của Trung Hoa về Bắc Kỳ, theo đó: (1) Ngoại trừ Nam Kỳ, Pháp không được chiếm bất cứ phần lãnh thổ nào của An Nam; (2) An Nam là chư hầu của Trung Hoa; (3) Pháp phải triệt binh khỏi những nơi đã chiếm của An Nam, mở một số hải cảng để giao thương, và các cường quốc có quyền đặt tòa lãnh sự tại các cảng nầy; (4) Sông Hồng phải được mở rộng để giao thương; (5) Trung Hoa sẽ bảo đảm việc tự do giao thương trên sông Hồng; (6) Những hòa ước giữa Pháp va Việt Nam phải được Trung Hoa chấp thuận. (Vũ Ngự Chiêu, tt. 328-329.)
Trong khi đó, Pháp đưa quân từ Bắc Kỳ, tiến đánh cửa Thuận An (Huế) ngày 20-8-1883. Thất bại, triều đình Huế đành xin điều đình và ký hòa ước ngày 25-8-1883, gồm 27 điều khoản, trong đó điều 1 viết rằng “Nước Nam nhận và chịu sự bảo hộ của nước Pháp với những hậu quả của mối tương giao nầy theo luật pháp ngoại giao Âu Châu, nghĩa là nước Pháp chủ trương mọi sự giao thiệp của nước Nam với các nước ngoài, kể cả nước Tàu, và nước Nam có giao thiệp ngoại giao với nước nào thì chỉ do một mình nước Pháp môi giới mà thôi.”
Bảo hộ xong Việt Nam, hai ngày sau, ngoại trưởng Pháp từ chối yêu cầu sáu điểm của Trung Hoa trong thư trả lời ngày 27-8, và cho Trung Hoa biết rằng Pháp sẵn sàng giải quyết vấn đề an ninh biên giới và quyền lợi người Hoa buôn bán trên sông Hồng.
Ngoại trưởng Pháp còn gởi công văn ngày 15-9-1883 cho chính phủ Trung Hoa, một lần nữa xác nhận rằng Pháp không chấp nhận tạm ước Thiên Tân ngày 20-12-1882, giữa đại sứ Bourée và Lý Hồng Chương về Bắc Kỳ. Công văn ngày 15-9 còn đưa ra đề nghị mới của Pháp gồm hai điểm: (1) Lập một khu phi quân sự giữa hai vĩ tuyến 21 và 22, nếu một bên muốn động binh để đánh dẹp thổ phỉ thì phải có sự đồng ý của bên kia. (2) Thị trấn Man Hao trên sông Hồng trong lãnh thổ Trung Hoa sẽ được mở ra cho việc giao thương. Chính sách của chính phủ Jules Ferry được Quốc hội Pháp hậu thuẫn mạnh mẽ trong cuộc đầu phiếu tại Quốc hội ngày 31-10-1883. (Vũ Ngự Chiêu, sđd. tt. 330-332.)
Hai chính phủ Pháp-Hoa tranh cãi không dứt về vấn đề Bắc Kỳ. Pháp muốn độc quyền tại miền Bắc Kỳ, trong khi Trung Hoa muốn chia một phần Bắc Kỳ cho Trung Hoa, và bảo đảm an toàn biên giới Việt Hoa. Trung Hoa tin tưởng rằng Pháp khó có thể chiến thắng lực lượng Trung Hoa ở Bắc Kỳ. Ngoài ra, Trung Hoa còn hy vọng hai nước Anh và Đức sẽ can thiệp, nhưng lúc đó, Anh đang bận rộn ở Ai Cập và Đức muốn Pháp bành trướng ở Bắc Kỳ hơn là tập trung lực lượng để chống Đức ở biên giới giữa hai bên.
Cuối cùng, tại Bắc Kỳ, Pháp đã đánh đuổi quân Trung Hoa và quân Cờ đen chạy lên miền biên giới, làm chủ tình hình Bắc Kỳ. Lúc đó, Trung Hoa thấy không thể kiếm lợi được ở Việt Nam mà còn lo ngại Pháp sẽ tiến chiếm Đài Loan hay Hải Nam để đòi chiến phí, nên Trung Hoa bắt đầu thay đổi chính sách.
3. Hiệp Ước Thiên Tân Lần Thứ Nhất (11-5-1884)
Đầu tiên, Lý Hồng Chương, nhờ một thân hữu tên là Detring, người Đức, công chức cao cấp trong ngành thương chánh Trung Hoa và đã phục vụ 20 năm ở Quảng Châu, vận động với chính phủ Pháp. Vào tháng 4-1884, Detring đem việc nầy thảo luận với một người bạn là trung tá Ernest François Fournier, hạm trưởng tuần dương hạm Volta, đang đóng ở Quảng Đông. Fournier trình bày lại ý định của Lý Hồng Chương với cấp chỉ huy là phó đô đốc Lespès, tư lệnh hạm đội Pháp tại Trung Hoa và Nhật Bản. Một mặt, Lespès thuận cho Fournier nói chuyện với Lý Hồng Chương, một mặt Lespès trình về Paris.
Fournier nhờ Detring chuyển cho Lý Hồng Chương một văn thư cho biết các điều kiện về phía Pháp để đi đến một cuộc dàn xếp với Trung Hoa: giải nhiệm đại sứ Tăng Kỷ Trạch, từ bỏ ưu quyền đối với Việt Nam, rút lui quân đội Trung Hoa khỏi Bắc Kỳ, và bồi hoàn chiến phí. (Alfred Schreiner, sđd. tt. 371-372.)
Để tỏ thiện chí, triều đình Trung Hoa quyết định chấm dứt nhiệm vụ đại sứ ở Pháp của Tăng Kỷ Trạch, mà vẫn giữ ông ta làm đại sứ ở Anh; và Trung Hoa cử Hứa Cảnh Trừng làm đại sứ tại Pháp, Đức, Ý, Hòa Lan và Áo.
Cuộc nói chuyện tiếp tục, Fournier đến Thiên Tân, gặp Lý Hồng Chương và nhanh chóng ký hiệp ước ngày 11-5-1884, gồm năm khoản, thường được gọi là hiệp ước Fournier hay hiệp ước Thiên Tân, đại để như sau: 1) Pháp hứa tôn trọng biên giới Việt Hoa. 2) Trung Hoa cam kết rút quân khỏi Bắc Kỳ và tôn trọng những hòa ước ký kết giữa Pháp và Việt Nam. 3) Pháp không đòi bồi thường chiến phí. 4) Hủy bỏ những hiệp ước trước đây giữa Trung Hoa và Việt Nam, và nuớc Pháp cam kết không làm tổn hại thể diện Trung Hoa. 5) Hai bên thỏa thuận sẽ gặp nhau lại trong vòng 90 ngày để ký kết hiệp ước chính thức.
Ernest F. Fournier tiếp tục thương lượng với Lý Hồng Chương về thời biểu Trung Hoa rút quân. Ngày 17-5, Fournier trao cho Lý Hồng Chương một giác thư (mémorandum) theo đó Pháp sẽ tiếp thu Lạng Sơn, Cao Bằng ngày 5-6-1884, và Lào Cai ngày 1-7-1884. (Alfred Schreiner, sđd. tr. 362.)
Nhận được tin nầy, trung tướng Millot, tư lệnh lực lượng Pháp ở Bắc Kỳ nghĩ rằng Pháp có thể chiếm đóng vùng Lạng Sơn, Cao Bằng khoảng từ 15 đến 20-6, nên ông cử quân đi tiếp thu Lạng Sơn. Trên đường đi Lạng Sơn, ngang qua thị trấn Bắc Lệ ngày 22-6, đoàn quân Pháp bị quân Trung Hoa tấn công dữ dội và gây thiệt hại nặng nề.
Chính phủ Paris được tin vụ Bắc Lệ, liền ra lệnh cho đại diện Pháp ở Bắc Kinh gởi cho triều đình Mãn Thanh một tối hậu thư ngày 12-7, yêu cầu Trung Hoa phải ra lệnh quân đội mình lập tức rời Bắc Kỳ, hạn chót là 31-7, và triều đình Trung Hoa phải bồi thường 250 triệu quan chiến phí, nếu không Pháp sẽ đánh Trung Hoa.
Phó đề đốc Courbet, đang chỉ huy hạm đội Pháp ở Bắc Kỳ, được cử kiêm luôn chỉ huy hạm đội Pháp ở Trung Hoa, đem quân đến cửa sông Mân ở Phúc Châu (Fou-Tchéou), thủ phủ tỉnh Phúc Kiến (Fukien) ngày 16-7, trong khi một hạm đội Pháp khác đến đảo Cơ Long (Kélung) ở eo biển Đài Loan. Ngày 5-8-1884, Pháp bắt đầu tấn công, gây thiệt hại nặng cho Trung Hoa.
Trên biển, hạm đội Pháp truy lùng và tấn công các tàu của Trung Hoa, phong tỏa cửa sông Dương Tử (Yang-tse), vùng Thượng Hải, và cho đến cuối tháng 3-1885, Pháp làm chủ hoàn toàn quần đảo Bành Hồ (Pescadores) ở eo biển Đài Loan. (Quân sử III, tt. 227-228.)
4. Hiệp Ước Thiên Tân Lần Thứ Hai (9-6-1885)
Trong khi Pháp khó thắng Trung Hoa, thì rõ ràng Trung Hoa thất thế cả ở Trung Hoa lẫn ở Bắc Kỳ. Cả hai bên Pháp và Trung Hoa đều muốn tìm kiếm một giải pháp hòa bình vì hoàn cảnh riêng của mỗi bên. Sau những cuộc thảo luận kéo dài, hai bên dự tính đi đến việc ký kết hòa ước vào cuối tháng 3-1885, thì chính phủ Jules Ferry sụp đổ. Chính phủ Brisson lên thay thế. Bộ trưởng ngoại giao vẫn là Charles Freycinet.
Cuộc đàm phán về một hòa ước mới bắt đầu tại thành phố Thiên Tân từ ngày 13-5-1885 giữa hai bên Pháp-Hoa; kết thúc bằng Hiệp ước hoà bình, hữu nghị và thương mại ký ngày 9-6-1885 giữa Jules Patenôtre (đại diện Pháp) và Si Tchen, Lý Hồng Chương và Teng Tcheng Sieou (đại diện Trung Hoa). Hòa ước Thiên Tân lần thứ hai nầy gồm 10 điều khoản, có thể được tóm lược như sau:
Trung Hoa đồng ý rút quân về nước (điều 1). Trung Hoa nhìn nhận việc Pháp bảo hộ Việt Nam (điều 2). Hai bên sẽ tiếp tục hòa đàm về vấn đề biên giới Việt Hoa (điều 3). Hai bên sẽ thảo luận về một hiệp ước thương mại (điều 5, 6, 8). Pháp đồng ý rút quân khỏi Đài Loan và Bành Hồ (điều 9). Như thế là chiến tranh Pháp Hoa về vấn đề Bắc Kỳ kết thúc. Bắc Kinh gởi một phái đoàn đến Hà Nội để giúp chấm dứt tranh chấp Pháp Hoa, và đưa quân đội nhà Thanh trở về Trung Hoa.
Kết luận
Dầu Việt Nam, quốc hiệu của nước ta từ khi vua Gia Long lên ngôi năm 1802, là một nước độc lập, Trung Hoa vẫn mặc nhiên xem Trung Hoa là thượng quốc và có ưu quyền với Việt Nam. Khi người Pháp xuất hiện, Trung Hoa tự xem có quyền thương lượng với Pháp về Việt Nam, chia phần với Pháp và quyết định số phận Việt Nam. Cho đến khi bị Pháp đánh bại, Trung Hoa đành nhượng bộ, nhưng vẫn không từ bỏ định kiến “thượng đẳng” đối với Việt Nam, và chờ đợi cơ hội để tái lập quyền lực hoặc mưu cầu quyền lợi trên đất nước Việt Nam. Cơ hội đó là việc giải giới quân đội Nhật Bản ở Đông Dương sau thế chiến thứ hai, vào năm 1945.
26.06.2018
Người Hoa (giản thể: 华人; phồn thể: 華人; Hán-Việt: Hoa nhân hay giản thể: 唐人; phồn thể: 唐人; Hán-Việt: Đường nhân) hay dân tộc Hoa (giản thể: 华族; phồn thể: 華族) là một trong 54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam [5]. Các tên gọi khác của họ là Khách nhân, người Hán, người Tàu,...[6]. Dân tộc Hoa cùng với dân tộc Ngái và Sán Dìu được xếp vào nhóm ngôn ngữ Hán.[7] Thông thường, người Hoa ở Việt Nam được gọi là người Việt gốc Hoa để tránh trường hợp gây tranh cãi về thuật ngữ và thái độ kỳ thị.[8]
Những người có nguồn gốc từ Trung Quốc (gọi chung là người Trung Quốc) đã qua lại làm ăn, sinh sống với người Việt đã từ lâu đời, tùy theo từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh tiếp xúc hoặc nguyên nhân di cư mà người Trung Quốc đã tự xưng về tên dân tộc của mình khác nhau. Người Trung Quốc thường tự gọi mình là dân của các triều đại mà họ cho rằng văn minh, tự hào hoặc cho rằng nó phổ biến và được người bản xứ biết rõ, hoặc đã biết từ lâu như "người Đường" (Thoòng dành), "người Thanh", "người Bắc" (quốc). Người Hoa còn tự gọi họ theo quê quán: người Quảng (Quảng Đông), người Tiều (Tiều Châu/Triều Châu), người Hẹ, người Khách, người Hải Nam(Hải Nam), người Phúc Kiến (Phúc Kiến)... Người Việt còn có lệ gọi người Hoa là "người Ngô". Lệ này bắt nguồn từ lịch sử thời Xuân Thu có "nước Ngô" và "nước Việt". Điển hình là bản Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi vào thế kỷ XV sau khi Bình Định Vương Lê Lợi đuổi được giặc nhà Minh. Người Hoa khi sang sinh sống làm ăn tại Việt Nam thì hay tự giới thiệu họ là Đường Nhân (âm tiếng Quảng: Thoòng Dành) nghĩa là người từ nhà Đường (Trung Quốc) sang Việt Nam. Đúng ra họ phải tự nhận là Hán Nhân(người nhà Hán) thì đúng hơn vì họ là dân tộc Hán, nhưng họ biết người Việt rất ghét và dị ứng chữ "nhà Hán" vì nhà Hán đã đô hộ người Việt rất lâu, và họ sợ nếu tự nhận là Hán Nhân thì sẽ bị ghét và không tồn tại được trên nước Việt Nam, nên họ tìm một chữ khác là Đường Nhân (người nhà Đường, cũng là một triều đại Trung Quốc) sẽ dễ được người Việt chấp nhận hơn. Từ phổ thông người Việt hay dùng để gọi người Hoa là "người Tàu"; "chệt" có hàm ý miệt thị; từ "cắc chú", đọc trại từ chữ "khách trú" vì người Hoa không được nhìn nhận là cư dân mà chỉ là dân ở trú mà thôi. Bản báo sau đây đưa ra nguồn gốc khác cho "các chú" nhưng không có cơ sở: Theo Gia Định báo, đăng trong số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16 tháng 2 năm 1870: phần tạp vụ (một bài thuộc vào loại phiếm luận ngày nay) Người bên Tàu thường gọi là người Trung-Quốc nghĩa là nước ở giữa vì thuở xưa bên ấy có 18 nước chư hầu; chỗ Kinh thành Hoàng-đế ở lại vô ở giữa các nước chư hầu nên gọi là Trung Quốc. Người bên Tàu thường kêu mình là Đường-nhơn hay Thanh-nhơn, nghĩa là người nhà Đường nhà Thanh. An-nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v...
Từ Ba Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm an và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn Chợ Lớn, Hà Tiên; từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị. Còn có cách giải thích khác: Người Việt thường xưng hô theo thứ tự như anh Hai (con cả) anh Ba (con thứ)... Vì lý do đó mà người Tàu thường lễ phép gọi thân mật người Việt đang làm ở các cơ quan Pháp thời đó là anh Hai (cậu Hai) và xem mình là em (anh Ba). Từ đó người Việt mới gọi anh Ba (Tàu) là vậy. Một giả thuyết khác cho rằng, do người Hoa thường gọi mình là 人唐, phiên âm "jintau", nên người Việt gọi họ là Tàu. Thời vua Minh Mạng, người Hán thường được gọi là 唐人, "Đường nhân" theo cách đọc Hán - Việt hiện tại, tuy nhiên, theo cách phát âm của tiếng phổ thông 唐人 thường được đọc thành "toàng dién", "Tàu nhân" theo tai nghe của người Việt. Lại một số ý kiến khác cho rằng chữ "người Tàu" mà người Việt hay gọi người Trung Quốc bắt nguồn từ chữ của người Tây phương (người Pháp) thường hay gọi dân gốc Hoa. Người châu Âu thời ấy thường hay gọi người gốc Trung Hoa di cư sinh sống ở đất nước họ bằng chữ "Tao" ("Les Taos": người Tao, bọn Tao) theo một hàm nghĩa miệt thị và xem thường. Chữ "Tao" đó trong ngôn ngữ Pháp và Âu châu thì không có nghĩa nào trong từ điển là để chỉ "người Trung Hoa", mà từ đúng phải là "Chinois", tuy nhiên chữ "Tao" chỉ là một từ lóng để ám chỉ người Trung Hoa (theo một ý nghĩa không lấy làm hay lắm) mà không có trong từ điển chính thống. Chính vì ý nghĩa có hàm ý miệt thị và dè bỉu một dân tộc (racism) nên nó không được các nhà ngôn ngữ học Tây phương đưa vào từ điển, mà chỉ nằm trên cửa miệng của những nhà thực dân Âu châu khi đến Việt Nam, họ sử dụng như một thói quen trong khẩu ngữ hàng ngày mỗi khi nhìn thấy một người Trung Quốc thì gọi là "Tao", người Việt cũng bị ảnh hưởng người Pháp và gọi theo là "dân Tao" hoặc "người Tao" khi nói về dân Trung Quốc, lâu dần Việt hóa trại âm ra thành "người Tàu" cho dễ gọi. Vì lẽ đó mà người Hoa thường tỏ ra không thích khi một người khác gọi họ là "người Tàu", nếu căn cứ theo cách giải thích này thì sẽ hợp lý hóa cho sự khó chịu của người Hoa khi bị gọi là "người Tàu". Nếu chữ "người Tàu" là bắt nguồn từ "tàu thuyền" (theo phương tiện họ hay dùng để đi lại giao thương) thì không việc gì họ phải không thích hoặc thấy khó chịu cả. Hoặc nếu từ chữ 唐人 (Đường nhân - người Hoa tự nhận là người nhà Đường thay vì người nhà Hán, vì họ sợ người Việt ghét nhà Hán đã đô hộ ngàn năm thì sẽ ghét lây họ) mà được đọc là "Tang ren" theo âm tiếng Hoa rồi trại thành "Tàu nhân" thì cũng lại càng không có lý do để họ cảm thấy khó chịu khi bị gọi bằng chữ "người Tàu", vì chính chữ đó là từ chữ "Đường nhân - Tang ren" mang ý nghĩa đáng tự hào và chính họ tự nhận mình như vậy. Chỉ có thể là chữ Tao theo nghĩa tiêu cực từ phương Tây dùng để gọi người Hoa, rồi Việt hóa thành "Tàu" theo đúng tầng nghĩa miệt thị từ gốc Tây phương, mới làm cho người Hoa cảm thấy khó chịu khi bị gọi như vậy. Thực tế ở Việt Nam, người Hoa sẽ cảm thấy không vui khi người Việt Nam gọi họ là "Tàu" hoặc "người Tàu". Người Bắc thì kêu là Ngô, nghĩa là nước Ngô, có kẻ lại cắt nghĩa rằng vì bởi nó hay xưng mình là Ngô nghĩa là tôi. Từ này không còn còn phổ biến nữa. Kêu Các-chú là bởi người Minh-hương mà ra; mẹ An-nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy. Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tâng Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An-nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân. Người An-nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu các ảnh là Chệc.. Nay không còn phổ biến nữa. [9] Một danh từ để chỉ người Trung Quốc được chấp nhận và sử dụng phổ biến trên khắp thế giới là "người Hoa", danh xưng này cũng đúng về mặt học thuật. Danh xưng "người Hoa" (华人 - Hoa nhân) được chính người Trung Quốc và các cộng đồng người Hoa khắp thế giới sử dụng để gọi dân tộc của họ. Ở Việt Nam, người gốc Trung Quốc được người Việt gọi xen kẽ bằng "người Tàu" hoặc "người Hoa", về sau danh xưng "người Tàu" cũng dần ít được sử dụng vì dễ gây hiểu lầm là hàm ý miệt thị, nên danh xưng "người Hoa" được sử dụng về mặt chính thức một cách rộng rãi hơn. Nếu xếp theo phân loại của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì người Hoa là dân tộc Hán.
Người Trung Quốc bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên, từ đầu thời kỳ Bắc thuộc. Trong 2 thiên niên kỷ kể từ đó, nhiều làn sóng người Trung Quốc, gồm lính, quan, dân, tội phạm... đã đến định cư tại Việt Nam. Nhiều thế hệ người Trung Quốc định cư tại Việt Nam đã có quan hệ hợp hôn với người Việt bản xứ và con cháu họ dần trở thành người Việt Nam. Vào thế kỷ XVII tại Trung Quốc, sự sụp đổ của nhà Minh dẫn đến làn sóng người Hoa trung thành với nhà Minh và không thần phục nhà Thanh bỏ quê hương di dân sang vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Năm 1671, Mạc Cửu và gia đình đến vùng đất Mang Khảm (nay là Hà Tiên), khi đó vẫn thuộc quyền kiểm soát của vương quốc Chân Lạp. Mạc Cửu đã mở rộng quyền kiểm soát ra các vùng lân cận, và sau đó quy thuận chúa Nguyễn. Sách Đại Nam Thực lục (Tiền biên) chép: - Kỷ Mùi (1679), mùa xuân tháng Giêng, tướng cũ nhà Minh là Long Môn tổng binh Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến; Cao Lôi Liêm, tổng binh Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình đem hơn 3000 quân và hơn 50 chiến thuyền đến các cửa biển Tư Dung (cửa Tư Hiền) và Đà Nẵng, tự trần là bồ thần (bề tôi mất nước, trốn ra nước ngoài) nhà Minh, không chịu làm tôi tớ nhà Thanh, nên đến xin để làm tôi tớ.
- ...
- Binh thuyền của Ngạn Địch và Hoàng Tiến vào cửa Soài Rạp đến đóng ở Mỹ Tho, binh thuyền của Thượng Xuyên và An Bình thì vào cửa Cần Giờ, đến đóng ở Bàn Lân (Biên Hòa). Họ vỡ đất hoang, dựng phố xá, thuyền buôn của người Thanh và các nước Tây dương, Nhật Bản, Chà Và[10] đi lại tấp nập[11].
Những cộng đồng người Hoa này được gọi là người Minh Hương. Chữ "hương" ban đầu dùng chữ 香 có nghĩa là "thơm" khi kết hợp với chữ Minh 明 có nghĩa là hương hỏa nhà Minh (明香), đến năm 1827 thì vua Minh Mạng cho đổi chữ Hương 香 sang chữ Hương 鄉 nghĩa là "làng" để tránh đụng chạm với nhà Thanh,[12] từ đó Minh Hương (明鄉) có thể hiểu là "làng của người Minh" và cũng có thể hiểu là "làng sáng sủa". Năm 1698, ở vùng Phiên Trấn - Bến Nghé - Sài Gòn đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, Chợ Lớn cũ. Từng có câu ca dao nói về phong hóa làng Minh Hương: - Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
- Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương.
 Đình Minh Hương Gia Thạnh, quận 5, TP. HCM Tuy thu lợi từ những người Hoa định cư tại Việt Nam, nhưng các vị vua chúa Việt Nam chưa bao giờ cảm thấy yên tâm về lòng trung thành của họ. Tại thời điểm xấu nhất của quan hệ giữa hai bên, 10 ngàn người Hoa vùng cù lao Phố đã bị quân Tây Sơn tàn sát vào thế kỷ XVIII. Những khi khác, người Hoa rất có khiếu làm ăn, được hưởng tự do và sự giàu có nhưng họ luôn bị người Việt kỳ thị.[13] Sau khi nhà Nguyễn ban hành quy chế thành lập các Bang Hoa Kiều, người Hoa sinh sống ở Việt Nam có tất cả là 7 bang: Quảng Triệu (còn gọi là Bang Quảng Đông), Khách gia, Triều Châu, Phước Kiến, Phước Châu, Hải Nam và Quỳnh Châu. Trụ sở của 7 Bang (giống như Văn phòng Đại diện) thường được gọi là "Thất Phủ công sở" hoặc "Thất Phủ hội quán". Đến thế kỷ XIX, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, Chợ Lớn. Thời kì này người Hoa sang Việt Nam theo các đợt tuyển mộ phu đồn điền của người Pháp. Tháng Giêng năm 1885, Pháp ra lệnh sát nhập Bang Phước Châu vào trong Bang Phước Kiến; sát nhập Bang Quỳnh Châu vào trong Bang Hải Nam. Vì vậy mà từ đó về sau, người Hoa chỉ còn 5 bang. Ngoài ra, riêng đối với Bang Khách gia ở Việt Nam thì không chỉ có người Hẹ. Theo lệnh của Thực dân Pháp, những người Trung Quốc sinh sống ở Việt Nam nhưng có nguyên quán (Tổ tịch) không thuộc 4 Bang kia, tất cả đều phải chịu sự quản lý của Bang Khách gia. Vì vậy mà trong Bang Khách gia Việt Nam có những người gốc Giang Tô, Thượng Hải, Chiết Giang, Hồ Bắc, Hồ Nam... Khoảng thời gian từ 1939-1945, có một số lượng người Hoa từ Quảng Đông chạy sang Việt Nam lánh nạn khi đế quốc Nhật Bản xâm chiếm Trung Hoa lục địa Năm 1949, lại thêm một số người Hoa chạy sang Việt Nam khi Trung Quốc Quốc dân Đảng thua ở lục địa. Trước 1945, tại Việt Nam, chính quyền thuộc địa Pháp giảnh độc quyền buôn bán 3 mặt hàng quan trọng nhất là gạo, muối và rượu. Đặc biệt là thuốc phiện được Pháp công khai buôn bán, khuyến khích người Việt sử dụng chứ không bị cấm như ở chính quốc. Lợi nhuận từ thuốc phiện đã đóng góp tới 25% vào ngân sách của Pháp Đông Dương. Tổng ngân sách năm 1905 là 32 triệu đồng Đông Dương, trong số này nguồn thu từ độc quyền bán thuốc phiện là 8,1 triệu. Tính đến năm 1900 thì lợi nhuận Pháp thu được từ thuốc phiện đạt hơn phân nửa số tiền thu nhập của toàn Liên bang Đông Dương.[14] Việc phân phối bán lẻ thuốc phiện được Pháp dành cho tư nhân, đa số là người Hoa[15] Người Hoa thu được những món lợi lớn từ việc buôn thuốc phiện cho Pháp trong thời kỳ này, từ đó tạo nguồn lực cho việc họ khống chế kinh tế miền Nam cho tới thập niên 1980. Từ trước năm 1949, người Hoa ở Việt Nam vẫn giữ quốc tịch Trung Quốc, chính phủ Trung Hoa Dân quốc tuyên bố rằng tất cả người Hoa ở nước ngoài đều là công dân Trung Quốc, rằng Trung Quốc có quyền ngoài-lãnh thổ: quyền can thiệp vào các quốc gia khác để bảo vệ công dân của mình. Đến thập kỉ 1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới chính thức thu hồi lời tuyên bố trên. Ở miền Bắc, năm 1955, hai chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thống nhất rằng người Hoa ở Việt Nam do chính quyền Việt Nam quản lý và được hưởng đầy đủ quyền lợi của công dân Việt Nam, quá trình bỏ dần quốc tịch Trung Quốc để thành công dân chính thức của Việt Nam sẽ kéo dài nhiều năm. Trong thời gian Chiến tranh Việt Nam, người Hoa ở miền Bắc được hưởng tất cả các quyền của công dân Việt Nam, kể cả quyền bầu cử, nhưng lại không phải chịu nghĩa vụ quân sự. Thập kỉ 1960, do ảnh hưởng của Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc khi một số người Hoa bắt đầu các hoạt động "Hồng Vệ binh" của mình và tố cáo Đảng Cộng sản Việt Nam theo chủ nghĩa xét lại, áp lực của chính quyền tăng lên đối với việc chuyển đổi quốc tịch của người Hoa sang quốc tịch Việt Nam. Năm 1970, để giảm khả năng thao túng tiềm tàng của Trung Quốc đối với người Hoa, chính phủ bắt đầu giảm các bài học lịch sử và ngôn ngữ tại các trường học của người Hoa. Từ vài năm trước đó, các biển hiệu bằng tiếng Trung bắt đầu biến mất tại các thành phố Hà Nội và Hải Phòng. Ở miền Nam, từ năm 1956, chính phủ Ngô Đình Diệm đề ra chính sách buộc tất cả người Hoa phải nhập quốc tịch Việt Nam hoặc bị trục xuất. Tháng 5 năm 1957, Bắc Kinh phản đối rằng đây là "sự xâm phạm tàn nhẫn các quyền hợp pháp của người Hoa".[16] Đến năm 1961, theo một báo cáo của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa, hơn 1 triệu người Hoa sống ở miền Nam chỉ còn chừng 2.000 người là không chịu đổi quốc tịch, phần lớn là những người đã già[17]. Thời điểm năm 1965, có khoảng 200 nghìn người Hoa, phần lớn sống tập trung ở quanh Sài Gòn, chia thành 5 bang, gồm Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hẹ (hay còn gọi là Khách gia, Hà Cá) và Hải Nam. Đa số các xưởng cơ khí, chế tạo máy móc, dệt may ở Chợ Lớn đều do người Quảng Đông làm chủ. Người Phúc Kiến giỏi về giao thương với hàng loạt các công ty vận tải đường thủy, đường bộ. Người Triều Châu làm ăn nhỏ lẻ bằng cách mở tiệm ăn, tiệm tạp hóa, người Hẹ chuyên về tiểu thủ công nghiệp như lập lò rèn, nhà máy nước đá, đóng giày, làm bánh. Người Hải Nam chuyên kinh doanh thủy hải sản. Trong một bản tường trình gửi Thủ tướng Nguyễn Cao Kỳ có đoạn: "Họ (những con buôn người Hoa) chi phối giá cả từ trên xuống dưới. Vàng chẳng hạn, cứ mỗi tối họ điện thoại sang Hồng Kông để nắm giá rồi sáng hôm sau, họ thông báo giá vàng trong ngày cho tất cả những đầu mối ở Sài Gòn, Chợ Lớn và các tỉnh miền Tây. Phân bón cũng vậy, qua tin mật báo của cảm tình viên Tổng đoàn, trong 6 kho ở bến Chương Dương, bến Hàm Tử, bến Bình Đông hiện vẫn còn trên dưới 50 nghìn tấn nhưng trên thị trường, họ ra lệnh cho các đại lý chỉ bán nhỏ giọt vì họ nắm được thông tin là phân sẽ lên giá…"[18]. Trong khi ở miền Bắc, Hoa kiều không đóng vai trò đặc biệt trong nền kinh tế nhà nước quản lý tập trung, thì ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối, và tín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện...và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ, và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường.[19] Những ảnh hưởng ngầm của Hoa kiều chi phối miền Nam trước 1975[sửa | sửa mã nguồn]Theo một số tài liệu, từ đầu thế kỷ XX, Thiên Địa hội đã phát triển khá mạnh ở thành thị và thôn quê 6 tỉnh Nam Kỳ, nơi tiếp nhận rất nhiều Hoa kiều sang làm ăn mua bán (mặt hàng nông sản, lúa gạo). Xu thế này vẫn tiếp diễn trong suốt thời kỳ Pháp thuộc và Việt Nam cộng hòa trước năm 1975. Các hoạt động ngầm của giới tội phạm gốc Hoa tại Việt Nam có liên hệ chặt chẽ với hội Tam Hoàng tại Hồng Kông, Đài Loan. Những hoạt động bất hợp pháp như tổ chức cờ bạc, mãi dâm, bảo kê, cho thuê nặng lãi, buôn bán thuốc phiện,... diễn ra bán công khai và được chính quyền thời bấy giờ nhắm mắt cho qua, vì những khoản tiền khổng lồ mà các tổ chức này nộp về chính quyền qua những thỏa thuận ngầm. Khu Đại Thế Giới (Chợ Lớn) từng là địa bàn cát cứ hoạt động rất mạnh của giới xã hội đen gốc Hoa và là một điểm nóng trong các địa bàn hoạt động mạnh của Hội Tam Hoàng Trung Hoa tại Đông Nam Á. Họ thậm chí còn mua chuộc được một số tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa, quận trưởng, tỉnh trưởng, để có thể giành được những hợp đồng đầu tư. Thực tế hội Tam Hoàng Trung Hoa đã bén rễ rất sâu và phức tạp vào xã hội và kinh tế miền Nam trước 1975. Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, khoảng 4% dân số Việt Nam là người Việt gốc Hoa, trong đó có hơn 1,5 triệu Hoa kiều sinh sống chủ yếu ở khu vực Chợ Lớn, Sài Gòn, và chỉ có khoảng 300.000 người Việt gốc Hoa sống ở miền Bắc.[20] Vấn đề về người Hoa càng thêm phần trầm trọng khi họ treo quốc kỳ Trung Quốc và ảnh Mao Trạch Đông trong vùng Chợ Lớn,[21] làm chính phủ Việt Nam nghi ngờ lòng trung thành của họ. Tháng 1 năm 1976, chính phủ lệnh cho người Hoa ở miền Nam đăng ký quốc tịch. Đa số đăng ký là quốc tịch Trung Quốc mặc dù họ đã chuyển sang quốc tịch Việt Nam từ những năm 1956-1957. Tháng 2 năm đó, người Hoa được lệnh đăng ký lại theo quốc tịch đã nhận thời Việt Nam Cộng hòa. Những người vẫn tiếp tục đăng ký là quốc tịch Trung Quốc sau đó bị mất việc và giảm tiêu chuẩn lương thực. Cuối năm đó, tất cả các tờ báo tiếng Trung bị đóng cửa, tiếp theo là các trường học của người Hoa. Với những hành động này, chính phủ Việt Nam đã lờ đi thỏa thuận rằng sau khi thống nhất sẽ tham khảo ý kiến của Trung Quốc về vấn đề người Hoa ở Việt Nam. Chính sách của Việt Nam năm 1976 (đánh tư sản những người Hoa và tịch thu tài sản của họ) đã bị ảnh hưởng bởi thay đổi nhanh chóng của mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, với nỗi e ngại rằng Trung Quốc có thể sử dụng Hoa kiều để ép Việt Nam theo các chính sách của mình. Vấn đề Hoa kiều được chính phủ Việt Nam xem là một thử thách đối với chủ quyền quốc gia hơn là một vấn đề nội bộ đơn giản.[21] Năm 1977, lạm phát 80% cùng với vấn đề tiếp diễn của sự thiếu thốn và nạn đầu cơ lương thực, Chính phủ Việt Nam sợ rằng Hoa kiều có thể bị lôi kéo theo các mục tiêu của Trung Quốc.[21] Kèm theo đó là sự ngừng trệ nghiêm trọng của các vùng kinh tế phía Tây Nam do các xung đột tại biên giới với Campuchia. Người Hoa ở Chợ Lớn tổ chức biểu tình đòi giữ quốc tịch Trung Quốc. Những điều này làm cho chính phủ Việt Nam lo lắng về nguy cơ đất nước bị rối loạn cả từ bên trong lẫn từ bên ngoài và coi Hoa kiều là một lực lượng ở Việt Nam và sẵn sàng tiếp tay với Trung Quốc để phá hoại. Mặc dù không có bằng chứng cụ thể về các hoạt động phá hoại, nhưng sự giàu có của cộng đồng Hoa kiều bị xem là mối đe dọa đối với chính quyền Việt Nam.[20] Trong các tháng 3, 4 năm 1978, khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của Hoa kiều bị quốc hữu hóa. Vị thế kinh tế của đa số tư sản Hoa kiều bị hủy bỏ, nhà nước thắt chặt kiểm soát nền kinh tế. Quan hệ ngày càng xấu đi giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng làm tăng thêm số người Hoa rời Việt Nam. Phía Trung Quốc tố cáo Việt Nam đã xua đuổi người Hoa sống ở phía Bắc về Trung Quốc. Đầu tiên là những vụ di cư nhỏ lẻ, sau đó là trào lưu ồ ạt người di tản đi đến những bờ biển của các nước láng giềng. Kết quả là số người di tản từ Việt Nam tăng gấp đôi trong 6 tháng đầu năm 1979, trong những người di tản trong những năm 1978-1979, Hoa kiều chiếm số lượng rất lớn. Cộng thêm vào đó là khoảng 250.000 Hoa kiều sang Trung Quốc qua biên giới phía Bắc từ tháng 4 năm 1978 đến mùa hè năm 1979.[22] Trung Quốc đã gọi đây là vấn đề "nạn kiều". Đến năm 1982, do khó khăn kinh tế và quan hệ chính trị thù địch giữa Việt Nam với Trung Quốc, người Hoa ở miền Nam đã vượt biên qua đường biển, đường bộ để trốn qua nước thứ ba. Khoảng 2/3 trong số nửa triệu người vượt biên từ Việt Nam là người gốc Hoa.[20] Đến năm 1989, số người gốc Hoa tại Việt Nam đã giảm từ 1,8 triệu năm 1975 xuống còn 900.000. Người gốc Hoa không còn kiểm soát nền kinh tế Việt Nam như trước nữa, và các phong tục, ngôn ngữ gốc Hoa của họ về mặt hình thức không còn phổ biến như trước. Đây là một ngoại lệ hiếm hoi so với những nước khác: người gốc Hoa về mặt hình thức (không phải bản chất) đã gần giống như bị đồng hóa bởi người Việt Nam. Và cũng khó phân biệt giữa một người gốc Hoa và một người Việt về mặt hình thức nhưng họ vẫn giữ nguyên vẹn phong tục tập quán của tổ tiên mình. Mặc dù người Việt có thể phản đối hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông hoặc các chính sách ngang ngược của chính quyền Trung Quốc, nhưng không ai nghĩ đến việc trả thù những gia đình người gốc Hoa ở địa phương họ sinh sống. Sau khi Nguyễn Văn Linh thực thi chính sách Đổi mới vào năm 1986, sự kỳ thị chống người Hoa đã giảm rõ rệt, và kéo theo đó là chính sách khoan hòa với người Hoa để giảm xung đột với Trung Quốc. Đi kèm theo đó, chính phủ Việt Nam đã bắt đầu chính sách hỗ trợ và đảm bảo văn hóa của người Hoa tại Việt Nam được giữ gìn. Cùng với đó, người Hoa cũng dần lấy lại ảnh hưởng kinh tế ở Việt Nam. Về mặt tư tưởng – nhận thức, cho đến cuối thế kỷ 20 – đầu thế kỷ 21, người gốc Hoa đã hòa nhập sâu sắc vào xã hội Việt Nam đến mức họ tự xem mình là người Việt Nam và mang gốc gác văn hóa thuộc dân tộc Hoa (được công nhận trong 54 dân tộc Việt Nam), chứ không phải là Hoa kiều sinh sống trên nước Việt Nam. Và về mặt tâm lý – tình cảm, đại đa số bộ phận người Việt gốc Hoa có khuynh hướng ủng hộ lập trường và quan điểm của phía chính phủ Việt Nam hơn trong việc xử lý các sự vụ bất đồng - tranh chấp (nếu có phát sinh, với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa), một số ít ỏi người Việt gốc Hoa khác (trong đó đa phần là người lớn tuổi) thì có thái độ trung lập ôn hòa và không thể hiện ý kiến trong các sự vụ kiểu này. Sự kiện biến động ở Hồng Kông 1997[sửa | sửa mã nguồn]Tính cho đến thời điểm trước, trong, và sau năm 1997, có nhiều nguồn dư luận trong cộng đồng dân cư Hồng Kông rằng họ sẽ có thể phải rời bỏ Hồng Kông để sang một nước thứ ba lánh nạn, khi Hồng Kông được trao trả từ tay nước Anh về cho Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Viễn cảnh một nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hà khắc sẽ tiếp quản và cai trị mọi mặt từ chính trị đến đời sống của người dân Hồng Kông vốn đã quen với các giá trị kiểu mẫu của phương Tây, đã khiến một số lượng dân cư tại đây cảm thấy bất an và tìm đường sang một nước thứ ba để tránh xáo trộn và không bị đàn áp. Một trong những nơi có thể tiếp nhận được làn sóng người di cư Hồng Kông là Việt Nam. Thực tế, có một số nhà đầu tư đã nhạy bén và đón đầu xu thế này, một số công trình dân cư được đầu tư tài chính xây dựng nên tại thành phố Hồ Chí Minh (chủ yếu là Chợ Lớn), tiêu biểu là Thuận Kiều Plaza, công trình này được thiết kế theo đúng kiểu mẫu của dạng cao ốc căn hộ tại Hồng Kông (trần nhà thấp và không gian mỗi căn hộ là rất nhỏ) để đón làn sóng di dân Hồng Kông. Tuy nhiên, làn sóng ồ ạt người di cư Hồng Kông sang Việt Nam đã không xảy ra, một số lượng ít di dân Hồng Kông chọn sang Mỹ hoặc Canada - nơi có cộng đồng Hoa kiều đông đảo hơn, một số chọn lựa ở lại Hồng Kông đánh cược với thời cuộc thay vì phải lánh nạn sang một nước thứ ba và khởi nghiệp từ đầu. Và vì thế đã không có thêm một làn sóng di dân mới nào nữa từ Trung Hoa sang Việt Nam ở thời điểm cuối thế kỷ XX. Dân số, nơi cư trú và ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]Theo thống kê của cuộc điều tra dân số năm 1999, tổng số người Hoa ở Việt Nam là 862.371 (1,13% dân số ở Việt Nam), được xếp hạng thứ sáu, trong đó có khoảng 50% người Hoa sinh sống tại vùng Chợ Lớn của Thành phố Hồ Chí Minh. Họ tập trung đông nhất ở các khu thương mại trong Quận 5, 11 (khoảng 45% dân số mỗi quận), 6, 8, 10 với 5 nhóm ngôn ngữ chính: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và tiếng Khách Gia (Hakka, đôi khi còn gọi là tiếng Hẹ). Một thực tế là đối với cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh đa phần giao tiếp bằng tiếng Quảng Đông là chủ đạo (so với các nhóm ngôn ngữ còn lại), và tiếng Quảng Đông là ngôn ngữ gần như chiếm chủ đạo trong các giao dịch làm ăn nội bộ của cộng đồng người Hoa Chợ Lớn, các nhóm cộng đồng phương ngữ khác (Triều Châu, Phúc Kiến, Khách Gia, Hải Nam) cũng tùy biến sử dụng tiếng Quảng Đông trong giao dịch làm ăn ở vùng Chợ Lớn do tính phổ dụng của nó. Số người Hoa còn lại sinh sống ở các tỉnh toàn quốc, mà hầu hết là ở nhiều tỉnh miền Tây Việt Nam. Nhiều ngôi đền và nhà cửa của người Hoa ở khu Chợ Lớn và cảng thương mại Hội An từ thế kỷ XVII đã được khôi phục và xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia và quốc tế, giờ đây mỗi năm đón hàng triệu lượt khách du lịch. Kể từ năm 2007, chính quyền Tp. Hồ Chí Minh đã cho tổ chức Lễ hội Văn hóa Người Hoa định kỳ hàng năm. Trong những khía cạnh quan trọng, người Việt gốc Hoa đã trở nên không thể phân biệt được khi sinh sống trong cộng đồng, và họ đã thành công đến mức, mặc dù các đám đông có thể phản đối những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng không ai nghĩ đến việc trả thù nhằm vào các gia đình người gốc Hoa sống cạnh nhà mình.[20] Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hoa ở Việt Nam có dân số 823.071 người, có mặt tại tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Hoa cư trú tập trung tại: thành phố Hồ Chí Minh (414.045 người, chiếm 50,3% tổng số người Hoa tại Việt Nam), Đồng Nai(95.162 người), Sóc Trăng (64.910 người), Kiên Giang (29.850 người), Bạc Liêu (20.082 người), Bình Dương (18.783 người), Bắc Giang (18.539 người).[23] Quá trình hòa nhập và giao thoa văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]Đa phần người gốc Hoa thế hệ sau này ở Việt Nam đã có thể giao tiếp và sử dụng tiếng Việt một cách khá hoàn chỉnh và trôi chảy, một phần nguyên nhân có thể thấy qua sự cố gắng của chính quyền trong việc quảng bá và cập nhật ngôn ngữ tiếng Việt đối với cộng đồng người gốc Hoa. Đơn cử như việc quốc hữu hóa các cơ sở, trường học tư nhân do các bang hội người Hoa lập nên. Các cơ sở giáo dục này được cộng đồng người Hoa lập ra nhằm mục đích giáo dục cho con em người Hoa, theo chương trình và ngôn ngữ riêng của họ (tiếng Quảng Đông, Triều Châu hoặc Phúc Kiến), điều này một mặt đã giúp bảo tồn tiếng nói và ngôn ngữ Trung Hoa cho con em họ, mặt khác lại là trở ngại cho chính các thế hệ học sinh gốc Hoa vì không được dạy và làm quen với tiếng Việt bài bản. Thực tế cho thấy, sẽ là rất khó khăn cho một cá nhân khi phải sinh sống trên một đất nước mà không thông thạo hoặc am hiểu ngôn ngữ bản xứ của đất nước đó. Do vậy chính sách của nhà nước Việt Nam là cố gắng cập nhật và đồng bộ hóa chương trình giáo dục trên toàn quốc theo một chuẩn duy nhất, lấy tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy chính (đối với các cơ sở giáo dục của người Hoa), bên cạnh đó tiếng Hoa sẽ được ưu tiên chọn lựa để làm ngoại ngữ chính được giảng dạy ở các cơ sở giáo dục này (bên cạnh tiếng Anh). Nhờ đó các thế hệ người Hoa sau này có thể vừa hiểu biết thông thạo ngôn ngữ tiếng Việt, vừa giữ được ngôn ngữ tiếng nói của dân tộc Hoa (từ trường lớp, giao tiếp ở gia đình hoặc nội bộ, hoặc tiếp thu thêm ở các trung tâm giảng dạy Hoa văn). Thực tế là, người Việt gốc Hoa hiện nay vừa giao tiếp thành thạo tiếng Việt với người bản xứ, trong khi vẫn sử dụng tiếng Hoa trong các giao dịch nội bộ. Thông thạo được tiếng Việt là điều rất khó tìm thấy ở các thế hệ người Hoa trước đây. Có thể thấy một ví dụ hình ảnh sinh động: ở thời điểm 2015, một cô cháu gái ở một gia đình gốc Hoa sẽ nói tốt tiếng Việt lẫn Hoa, còn người ông hoặc bà của cô ấy chỉ có thể giao tiếp bằng tiếng Hoa trong khi tiếng Việt bập bẹ rất hạn chế. Điều đó không hề nói lên rằng chính quyền Việt Nam chủ ý muốn "đồng hóa" người gốc Hoa, đó đơn giản chỉ là hảo ý mong muốn cập nhật tiếng bản xứ (Việt ngữ) cho cộng đồng gốc Hoa, để giúp họ hòa nhập tốt nhất vào xã hội mà không gặp bất cứ trở ngại nào về ngôn ngữ, đó là quyền lợi chính đáng mà người Việt gốc Hoa đáng được hưởng. Vả chăng việc cập nhật và sử dụng tiếng Việt không hề làm mất đi ngôn ngữ Hoa trong các thế hệ trẻ người Hoa, họ vẫn sử dụng và thực hành tiếng Hoa tại gia đình hoặc trong các giao tiếp hội nhóm nội bộ, hoặc quy củ hơn là tham gia một lớp Hoa văn ở một trung tâm ngoại ngữ. Tiếng Việt cũng là ngôn ngữ dung nạp và sử dụng khoảng 60% từ vựng có nguồn gốc Trung Quốc (từ Hán Việt) nên cũng tạo nên sự gần gũi tương đồng và thích nghi giữa cộng đồng gốc Hoa và người Việt bản địa. Về văn hóa, người Hoa và Việt Nam có rất nhiều điểm tương đồng trong tập quán, tín ngưỡng, các quy chuẩn khuôn khổ đạo đức, và trong nhân sinh quan xã hội nói chung. Do đó, người Hoa hòa nhập rất dễ dàng vào xã hội người Việt. Điều này là rất khác nếu so với các cộng đồng người Hoa ở những đất nước như Malaysia, Indonesia hoặc Thái Lan, vốn có một nền văn hóa và tư tưởng khác hoàn toàn với văn hóa Trung Hoa. Tuy nhiên chính vì có rất nhiều điểm tương đồng giữa văn hóa Việt Nam và Trung Hoa mà có sự nhầm lẫn rằng người Hoa tại Việt Nam đang dần giống với người Việt và đánh mất bản chất. Thực tế, thì ngoài những điểm rất tương đồng trong văn hóa và tư tưởng, người Hoa vẫn có những bản sắc riêng [24][25][26][27] mà có thể khác biệt đôi chút với người Việt, như các ngày lễ hội riêng trong tập quán tín ngưỡng của người Hoa (lễ Nguyên Tiêu, lễ Đông Chí, lễ vía Quan Công, lễ vía bà Thiên Hậu,...). Và một số quy chuẩn ứng xử của người Hoa trong một số tình huống cũng có thể sẽ khác đôi chút với người Việt [28][29][30]. Về ẩm thực, có thể thấy người Hoa đã có sự giao lưu rất lớn với nền ẩm thực bản địa Việt Nam. Một số ý kiến cho rằng món "ngưu nhục phấn" (tiếng Quảng Đông: ngầu dục phẳn) của người Hoa sinh sống ở Hà Nội đầu thế kỷ XX, vốn làm từ sợi bánh gạo nấu với thịt bò hầm, là khởi nguồn để người Việt biến tấu thành món "phở bò" quốc hồn quốc túy của Việt Nam [31], tuy nhiên qua khảo sát từ các nhà chuyên môn thì khẩu vị và cách thức chế biến của hai loại món ăn này cũng có khác nhau về cơ bản. Bên cạnh đó, người Hoa ở Chợ Lớn (thành phố Hồ Chí Minh) cũng đã mang theo nền ẩm thực Hoa đến quảng bá ở mảnh đất này từ rất lâu và mặc nhiên được xem là nét đặc sắc của văn hóa ẩm thực địa phương (Sài Gòn) [32][33]. Các món hấp, chiên, xào chảo, chưng, hầm, tiềm,... theo phong cách Hoa đã được người gốc Hoa giới thiệu và đã hòa nhập rất sâu vào nền ẩm thực tại địa phương (Sài Gòn) [34][35]. Ở chiều ngược lại, những sản vật đặc thù tại địa phương đã được thêm vào các thành phần nguyên liệu chế biến món ăn, thay thế cho các thành phần nguyên liệu vốn cần để chế biến món ăn đó mà ở địa phương lại không có. Song song đó, những món ẩm thực của người Việt gốc Hoa cũng được tùy biến điều chỉnh về hương vị cho phù hợp hơn với khẩu vị của người Việt bản địa, nhưng vẫn giữ căn bản đặc trưng của món ăn đó. Do đó, đơn cử một món ăn "cơm xào thập cẩm" của người Việt gốc Hoa tại Việt Nam sẽ có thể khác biệt với món "cơm xào thập cẩm" nguyên bản Trung Hoa về thành phần và hương vị. Các phương pháp chế biến món ăn của người Việt và người Hoa cũng lại rất giống nhau, đơn cử như cách chế biến nước dùng (nước lèo) từ xương heo hầm (hoặc xương gà); các loại cơm hoặc món sợi (mì, hủ tiếu, miến, bún) cũng khá tương đồng trong chế biến và các nguyên liệu chính (thịt thái nhỏ, thịt băm, và đồ lòng động vật)[36]. Quan niệm và phong cách ẩm thực của người Hoa và người Việt cũng là điểm tương đồng, khi nhấn mạnh yếu tố thực-dưỡng: ăn cũng giống như việc uống thuốc và bồi bổ, vì cùng là đi qua đường miệng, nên yếu tố bổ dưỡng và tác dụng của món ăn đối với cơ thể rất được xem trọng. Bên cạnh đó ẩm thực Hoa và Việt cũng chú trọng đến các yếu tố hài hòa phối hợp cân bằng giữa các thành phần món ăn, xoay quanh việc cân đối giữa yếu tố nóng-lạnh (theo quan niệm ẩm thực Trung Hoa và Việt Nam): một món ăn phải cân bằng giữa các nguyên liệu mang tính nóng (làm tăng nhiệt cơ thể), tính hàn (làm hạ nhiệt cơ thể) và tính ôn (trung tính, không nóng không lạnh) mới có thể mang lại sự quân bình và hấp thu tốt cho sức khỏe. Đó là sự giao thoa và hòa nhập rất tốt của người Hoa trong xã hội Việt Nam. Hiện tại ở thành phố Hồ Chí Minh có một ấn bản Hoa văn của tòa báo Sài Gòn Giải Phóng là tờ "Sài Gòn Giải Phóng nhật báo" (西貢解放日報 - phiên âm tiếng Quảng Đông: Xấy Cung Cải Phoong yạch pôu) xuất bản hàng ngày trong tuần, phục vụ cho cộng đồng người Việt gốc Hoa. Về phát thanh, đài tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh (VOH) có mục tin tức bằng tiếng Quảng Đông và tiếng Quan Thoại phát thanh hàng ngày trong tuần phục vụ cộng đồng người Việt gốc Hoa, và một chương trình ca khúc tiếng Hoa phát thanh định kỳ. Về thương mại và phúc lợi xã hội[sửa | sửa mã nguồn]Người Việt gốc Hoa cũng được ghi nhận là một cộng đồng có năng khiếu và tư chất hoạt động kinh doanh, thương mại rất giỏi. Hầu như ở bất cứ nơi nào có đông đảo người gốc Hoa, nơi đó đều trở nên nhộn nhịp về thương mại và có một xung lực kích thích nền kinh tế giao thương mạnh mẽ. Tương tự như Singapore, Đài Loan, Hong Kong hoặc Malaysia, vốn do cộng đồng người gốc Hoa làm nền tảng đầu tàu kéo cả nền kinh tế quốc gia đó đi lên, người gốc Hoa ở Việt Nam cũng có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế địa phương. Bên cạnh đó, họ còn đóng góp tài chính và vật lực, xây dựng nhiều bệnh viện, trường học, cơ sở hạ tầng cho chính địa phương nơi họ cư trú, chẳng hạn các bệnh viện lớn lâu đời ở địa bàn Chợ Lớn (thành phố Hồ Chí Minh) đều do các cộng đồng gốc Hoa chung tay đóng góp xây dựng nên, như bệnh viện Nguyễn Tri Phương (y viện Quảng Đông cũ) do cộng đồng nhóm Quảng Đông xây dựng năm 1907, bệnh viện An Bình (y viện Triều Châu cũ) do cộng đồng nhóm Triều Châu xây dựng năm 1916, bệnh viện Nguyễn Trãi (y viện Phúc Kiến cũ) do cộng đồng nhóm Phúc Kiến xây dựng năm 1909, bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TPHCM (y viện Sùng Chính cũ) do cộng đồng tiếng Hẹ (Khách Gia - Hakka) xây dựng nên năm 1920, và cả bệnh viện Chợ Rẫy cũng được xây dựng trên một mảnh đất mà trước đó là một ngôi chợ của người Hoa Chợ Lớn và mảnh đất rẫy trồng rau và hoa màu của cộng đồng người Hoa gốc Triều Châu và Quảng Đông sinh sống ở đó, vì thế bệnh viện cũng mang tên là Chợ Rẫy từ đó. Những cơ sở y tế an sinh của riêng từng cộng đồng các nhóm ngôn ngữ Hoa đó vốn ban đầu chỉ có chức năng hội chuẩn - cứu tế cho các đồng hương Hoa kiều của từng cộng đồng gốc Hoa riêng lẻ (vì các cơ sở lúc mới thành lập còn quá nhỏ bé và thiếu thốn điều kiện), về sau dần được mở rộng và nâng cấp để tiếp nhận và chăm sóc sức khỏe cho cả người dân địa phương (cả Hoa và Việt). Đó là những đóng góp rõ ràng của người Việt gốc Hoa cho phúc lợi và dân sinh địa phương, và cũng như cách họ đền ơn cho mảnh đất đã dung dưỡng và cưu mang họ. Những người Việt gốc Hoa nổi tiếng (đương đại)[sửa | sửa mã nguồn]Người Việt gốc Hoa ở Việt Nam do nguyên nhân khách quan nên rất ít hoặc không tham gia chính trị ở nước sở tại; ngược lại người Việt gốc Hoa lại đóng góp rất đáng kể trong các lĩnh vực kinh doanh, văn hóa, giải trí, thể thao,... Một số lượng đáng kể những doanh nghiệp do người Việt gốc Hoa làm chủ đã đóng góp một phần rất lớn cho nền kinh tế Việt Nam thời kỳ đổi mới, trong đó chủ đạo là cộng đồng doanh nghiệp của người Việt gốc Hoa trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn). Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn), trong số lượng hàng trăm ngàn doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, thì số doanh nghiệp gốc Hoa đã chiếm đến 30% tổng số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh [37] . Có thể đơn cử nêu một số người Việt gốc Hoa nổi tiếng như: - Trầm Bê - doanh nhân, sáng lập viên - Chủ tịch hội đồng quản trị bệnh viện Triều An
- Trương Mỹ Lan - doanh nhân, chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát
- Trần Kim Thành - doanh nhân, người sáng lập kiêm chủ tịch HĐQT công ty cổ phần Kinh Đô
- Lâm An Dậu - doanh nhân, người sáng lập kiêm chủ tịch công ty cổ phần Vĩnh Tiến
- Trịnh Đồng - doanh nhân, người sáng lập kiêm chủ tịch công ty cổ phần Đại Đồng Tiến
- Đặng Văn Thành - doanh nhân, người sáng lập và nguyên chủ tịch HĐQT ngân hàng thương mại cổ phần Sacombank
- Cô Gia Thọ - doanh nhân, chủ tịch HĐQT công ty cổ phần tập đoàn Thiên Long
- Ông Dục Sơ - doanh nhân, người sáng lập và giám đốc công ty TNHH Tân Hiệp Hưng
- Thái Tuấn Chí - doanh nhân, chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc công ty cổ phần tập đoàn Thái Tuấn
- Kao Siêu Lực - doanh nhân, sáng lập viên và chủ tịch tập đoàn bánh kẹo thực phẩm ABC (Đức Phát)
- Lương Vạn Vinh - doanh nhân, sáng lập viên, tổng giám đốc công ty cổ phần hóa-mỹ phẩm Mỹ Hảo
- Trần Duy Hy - doanh nhân, tổng giám đốc công ty nhựa Duy Tân
- Lý Ngọc Minh - doanh nhân, sáng lập viên và tổng giám đốc công ty gốm sứ Minh Long
- Vưu Khải Thành - doanh nhân, người sáng lập và chủ tịch hội đồng thành viên công ty TNHH Bình Tiên (thương hiệu giầy dép Biti's)
- Trần Tuấn Nghiệp - doanh nhân, Tổng giám đốc - phó Chủ tịch hội đồng quản trị tập đoàn thép Hữu Liên Á Châu
- Lý Siêng - doanh nhân, người sáng lập - tổng Giám đốc công ty TNHH Nhơn Hòa (thương hiệu cân Nhơn Hòa)
- Hồ Dzếnh - nhà thơ
- Vương Hồng Sển - nhà văn hóa
- Lý Lan - dịch giả
- Lý Đức - vận động viên thể hình, vô địch châu Á bộ môn thể dục thể hình 5 năm liên tiếp (1997-2001)
- Giang Quốc Cơ, Giang Quốc Nghiệp - anh em vận động viên xiếc-kung fu, kỉ lục Guinness Thế giới nội dung giữ thăng bằng 2 người
- Lương Chủ Tình - vận động viên nghệ thuật múa lân sư rồng, vô địch giái Lân sư rồng toàn châu Á 2017
- Tiêu Lam Trường (nghệ danh: Lam Trường) - ca sĩ, giám khảo âm nhạc, diễn viên
- Lương Chí Cường - ca sĩ, giải nhất cuộc thi Tiếng hát truyền hình TP.HCM 1996
- Tăng Thanh Hà - diễn viên điện ảnh
- Đàm Vĩnh Hưng - ca sĩ
- Lương Bích Hữu - ca sĩ
- Hồng Quang Minh - diễn viên hài
- Trường Vũ - ca sĩ dòng nhạc trữ tình
- Ưng Đại Vệ - ca sĩ, nhà sản xuất âm nhạc
- Hứa Vĩ Văn - ca sĩ, người mẫu, diễn viên
- Ông Cao Thắng - ca sĩ, diễn viên
- Harry Lu (Lữ Chấn Vũ) - diễn viên, người mẫu
- Huỳnh Trấn Thành (nghệ danh: Trấn Thành) - diễn viên, MC nổi tiếng
- Thủy Tiên - ca sĩ, người mẫu, diễn viên
- Phương Mỹ Chi - ca sĩ dòng nhạc dân ca
|