
Mua vũ khí Mỹ là một giải pháp, nhưng không làm giảm gánh nặng tài chính. Các siêu cường đang theo dõi đặc biệt nhất cử nhất động của Việt Nam ở Biển Đông.
Bài viết có tiêu đề: “Để tìm cách ngăn chặn (sự bành trướng của) Trung Quốc, Việt Nam phải đối mặt với những lựa chọn phòng thủ khó khăn” đăng trên tờ Today online, Singapore.
“Ngày 5/3, tàu sân bay USS Carl Vinson đã cập cảng Đà Nẵng, miền Trung Việt Nam.
Đây là lần đầu tiên kể từ sau Chiến tranh Việt Nam (cách gọi của người Mỹ, hoặc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo cách gọi của người Việt Nam), một tàu sân bay Hoa Kỳ đến neo đậu trên một vùng biển Việt Nam bằng lời mời thăm chính thức.
Cuộc viếng thăm của USS Carl Vinson nhắc nhở chúng ta rằng, so với những nỗ lực hàng thế kỉ của Việt Nam để cân bằng với quyền lực Trung Quốc, sự đối kháng của Việt Nam với Hoa Kỳ tương đối ngắn ngủi;
Và mong muốn của Hà Nội về sức mạnh ngăn chặn để quản lý những yếu tố chiến lược bất định của mình, liên quan đến bạn bè mới và kẻ thù cũ.

Các sĩ quan Việt Nam trên boong tàu sân bay Hải quân Hoa Kỳ Carl Vinson tại cảng Đà Nẵng
Việc thiết lập thế đứng quân sự của Việt Nam từ lâu đã được tiến hành dưới cái bóng của các siêu cường.
Trong 30 năm qua, Việt Nam đã phải đối mặt với 2 thách thức lớn: sự sụp đổ của Liên Xô và sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc.
Mặc dù hai diễn biến này diễn ra qua các thế hệ lãnh đạo khác nhau của Việt Nam, nhưng cả hai đều nằm trong kế hoạch quốc phòng của Hà Nội.
Giống như hầu hết các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo, trong Chiến tranh Lạnh, Việt Nam đã nhận được một khoản viện trợ quân sự lớn từ Liên Xô.
Do môi trường chiến lược của Việt Nam bị gián đoạn bởi cuộc Chiến tranh Trung — Việt năm 1979 (Trung Quốc xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam năm 1979 và kéo dài các hoạt động gây hấn đến năm 1989), Moscow đã chọn tập trung vào việc tăng cường lực lượng lục quân cho Việt Nam.

Cuộc xung đột Trung-Việt năm 1979
Mặc dù có yêu cầu từ phía Việt Nam, nhưng hải quân đã bị gạt ra ngoài lề, không có tàu ngầm nào được chuyển từ Liên Xô về cho Hà Nội.
Sau khi chấm dứt viện trợ của Liên Xô năm 1992, nền kinh tế Việt Nam đã thực hiện một bước chuyển đổi lớn lao qua chính sách Đổi mới, và việc duy trì đội quân hiện có đã trở thành gánh nặng.
Nhờ cải cách kinh tế, các nguồn lực hiện đại hóa đã xuất hiện từ giữa những năm 1990. Sự phân bố các nguồn lực được xác định bởi các yếu tố bên ngoài, đó là Trung Quốc.
Trong những năm 1990, mối quan hệ giữa Hà Nội với Bắc Kinh đã được cải thiện sau khi giải quyết xong vấn đề biên giới trên đất liền và phân định vịnh Bắc Bộ.

Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình duyệt đội danh dự tại lễ đón chính thức
Nhưng trong lúc quan hệ chính trị ấm lên, thì quân đội Trung Quốc lại nhanh chóng hiện đại hóa còn quân đội Việt Nam vẫn có nhiều mặt yếu kém và lạc hậu.
Các yêu sách hàng hải tranh chấp (trên Biển Đông) là nguyên nhân có thể nhất để xảy ra xung đột Trung — Việt.
Hiện nay, Việt Nam đang tập trung nguồn lực vào hiện đại hóa hải quân và không quân. Đó là những gì diễn ra trong một thập kỷ qua.
Từ năm 2008 đến 2012, Việt Nam đã ký kết các hợp đồng mua vũ khí lớn như tàu ngầm, tàu khu trục nhỏ và máy bay chiến đấu cũng như các thiết bị quân sự khác, từ Nga, Canada, Hà Lan, Mỹ và Nhật Bản.

Hạ thủy tàu Gepard 3.9 xây dựng cho Hải quân Việt Nam
Nhưng chủ nghĩa phiêu lưu của Bắc Kinh trên Biển Đông (theo tên gọi Việt Nam) từ cuối những năm 2000 rõ ràng là một yếu tố trong việc đổi mới tập trung vào chiến lược biển của Hà Nội, tăng cường đầu tư cho hải quân, không quân.
Sau khi mua các vũ khí trang bị hải quân, không quân tiên tiến này, vị thế của Việt Nam ở Biển Đông so với Trung Quốc ít bị tổn thương hơn trước đây.
Tuy nhiên, cách tiếp cận không đồng đều đối với hiện đại hóa có thể tạo ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan cho Hà Nội:
Việt Nam có nên tiếp tục đầu tư tập trung vào hải quân, không quân hay đầu tư cho toàn quân?
Cấu trúc của quân đội Việt Nam là di sản của Chiến tranh Lạnh, đang bị lãng quên do khả năng chiến tranh mặt đất thấp.
Một cuộc xâm lược trên đất liền từ Trung Quốc không thể bị loại trừ hoàn toàn, nhưng rất khó để tưởng tượng rằng Trung Quốc phá vỡ các hiệp ước biên giới đã ký kết, vì có nguy cơ phản ứng từ các cường quốc khác ở châu Á.
Việt Nam vẫn duy trì một hệ thống bảo vệ lãnh thổ bao gồm lục quân, biên phòng và dân quân.

Quân đội Việt Nam
Tuy nhiên, nếu không có những đổi mới đáng kể, quân đội Việt Nam sẽ ngày càng mất cạnh tranh so với Trung Quốc, đó là một nguy cơ chiến lược đối với Việt Nam.
Bắc Kinh có thể phơi bày những điểm yếu và sự sẵn sàng của Việt Nam thông qua việc triển khai các cuộc tập trận gần biên giới mà không gây ra xung đột. Hiện đại hóa quân đội Việt Nam sẽ mang lại hiệu quả ngăn chặn.
Sức mạnh của hải quân và không quân Việt Nam có thể chưa đủ trong các sự kiện khẩn cấp ở Biển Đông. Hà Nội thiếu nguồn lực để cạnh tranh trực tiếp với Bộ tư lệnh Chiến khu Nam Trung Quốc.
Trong khi đó, các hoạt động triển khai sức mạnh quân sự (bất hợp pháp) của Bắc Kinh trên các đảo nhân tạo mới sẽ làm tăng áp lực lên chiến lược của Hà Nội.
Tuy nhiên, tham vọng chiến lược của Bắc Kinh không cho phép tập trung nhiều lực lượng, vì vậy Hà Nội đã làm việc để tăng cường quan hệ với New Delhi, Tokyo và Washington.
Ví dụ được công bố rộng rãi nhất trong số này là Tổng thống Barack Obama đã dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương của Mỹ cho Việt Nam trong năm 2016.
Trong tháng 11/2017, Việt Nam đã ký hiệp định quan hệ đối tác chiến lược với Australia. Cho dù mối quan hệ phi liên minh này sẽ có tác động ngăn chặn, nhưng không chắc chắn;
Và việc bảo vệ lợi ích của Việt Nam trên Biển Đông sẽ trở nên phức tạp hơn khi Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte không sẵn lòng chống lại chủ nghĩa bành trướng từ Trung Quốc.
Mặc dù có sự tăng trưởng kinh tế ấn tượng trong 3 thập niên qua, nhưng các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam thiếu nguồn lực để đáp ứng việc hiện đại hóa lục quân, hải quân, bởi các dự án cơ sở hạ tầng trong nước cũng đang thiếu kinh phí.
Cải thiện quan hệ Việt Nam — Hoa Kỳ sẽ đưa ra nhiều lựa chọn thay thế cho di sản của Liên Xô cũ với quân đội Việt Nam, đặc biệt là giám sát hàng hải, nhưng sẽ không làm giảm gánh nặng tài chính của Việt Nam.
Tư thế phòng thủ của Việt Nam đối mặt với một tương lai khó khăn, các nhà hoạch định chính sách có trách nhiệm nặng nề.
Với những bằng chứng ngày càng tăng về sự cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, chính sách quốc phòng của Việt Nam sẽ được thực hiện dưới sự theo dõi chặt chẽ của các siêu cường quyền lực.”
Chúng tôi xin không bàn đến phương diện chiến lược quân sự mà tác giả Wu Shang-Su đề cập, chỉ xin cung cấp như một tài liệu tham khảo để quý bạn đọc có thêm thông tin và tự đánh giá.
Người viết cho rằng, trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam trên Biển Đông hiện nay, đối ngoại luôn đóng vai trò quan trọng, nhưng quyết định nằm ở đối nội.
Sửa sang nội trị, quét sạch nội xâm, tinh giản bộ máy và phát huy hết khả năng tiềm ẩn của con người Việt Nam trong học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh để gầy dựng nội lực mới là then chốt.
Bởi lịch sử các cuộc chiến chống ngoại xâm phương Bắc hàng ngàn năm về trước, cũng như trong giai đoạn cận hiện đại đều cho thấy, khi nào nội bộ có vấn đề, chia rẽ mất đoàn kết, ấy là lúc sẽ có nguy cơ nước mất nhà tan.
Bài học của Đổi mới cho thấy, nguồn lực Việt Nam cần khai thác không phải là tiền mà là chính sách và chất xám, cùng lòng tự tôn, tự hào dân tộc.

Diễu hành tại lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Hà Nội, Việt Nam
Tuy nhiên, chúng tôi thiết nghĩ các nhà hoạch định chính sách cũng cần lưu ý tới thủ đoạn tạo sự đã rồi mà Trung Quốc sử dụng trong cuộc khủng hoảng Scarborough năm 2012, xây đảo nhân tạo 2013.
Thế và lực của Trung Quốc về kinh tế, quân sự trên Biển Đông nay đã khác trước rất nhiều;
Họ có thể liều lĩnh tạo ra các sự kiện đã rồi như vậy trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của các nước ven Biển Đông, bao gồm Việt Nam, nếu họ cảm thấy có thể lấn lướt mà không bị phản ứng mạnh mẽ.
Nga buộc phải cân nhắc đến thái độ của Việt Nam, Mỹ khi tập trận với Trung Quốc
Trung Quốc tiếp tục lợi dụng Nga để tung tin nhận được sự ủng hộ trong vấn đề Biển Đông. Nhưng Nga còn có nhiều lợi ích ở Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, hơn nữa cũng phải cân nhắc đến thái độ của Mỹ.

Nga cân nhắc đến thái độ của Việt Nam, Mỹ khi tập trận với Trung Quốc (ảnh minh họa).
Đa Chiều, tờ báo của người Hoa tại Mỹ ngày 30/7 cho hay Bộ Quốc phòng Trung Quốc ngày 28/7 tuyên bố Trung Quốc và Nga sẽ tổ chức tập trận chung ở Biển Đông vào tháng 9 tới.
Nhưng, điều kỳ lạ là Nga tuyệt đối giữ im lặng, Bộ Ngoại giao Nga đến nay vẫn chưa đưa ra bất cứ bình luận gì về vấn đề này.
Trong ngày Trung Quốc công bố thông tin diễn tập, Nga và Trung Quốc cũng tổ chức Tham vấn an ninh Đông Bắc Á vòng thứ tư, quân đội hai nước cũng có đại diện tham dự. Hai bên dã bàn về vấn đề THAAD, nhưng không đề cập đến vấn đề Biển Đông.
Việc Trung Quốc và Nga có thể tổ chức tập trận chung ở Biển Đông là do Nga tương đối chủ động.
Ngay từ trước cuộc diễn tập “Liên hợp trên biển-2014”, người phát ngôn Hạm đội Thái Bình Dương Nga, Roman Martov từng tiết lộ, diễn tập “sẽ tổ chức ở Biển Đông”.
Nhưng phát biểu này lập tức bị Trung Quốc phản bác và làm rõ. Năm 2015, Nga từng mấy lần tiết lộ có ý định tổ chức tập trận chung với Trung Quốc vào tháng 5/2016.
Thứ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Antonov thậm chí tuyên bố, Nga và Trung Quốc có kế hoạch “sang năm (2016) tổ chức tập trận chung trên Biển Đông”, nhưng Trung Quốc không hề xác nhận vấn đề này.

Nga lo ngại về việc tiến hành tập trận chung với Trung Quốc ở Biển Đông. Ảnh: Đa Chiều.
Nga không muốn “làm váy cưới” cho Trung Quốc
Đến nay, thông tin về cuộc diễn tập quân sự của Trung Quốc và Nga ở Biển Đông là do Trung Quốc tiết lộ trước, phản ứng của Nga lại rất chậm chạp.
Dư luận đặt nghi vấn về thái độ “do dự”, “lo ngại” của Nga đối với vấn đề này trong thời điểm hiện nay.
Trước hết, Nga hoàn toàn không muốn “làm váy cưới” cho Trung Quốc. Trung Quốc tuyên bố thời điểm tập trận ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Nga tương đối nhạy cảm – sau phán quyết của Tòa trọng tài (được thành lập theo Phụ lục VII Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982) đối với vụ kiện giữa Trung Quốc và Philippines.

Ngày 25/8/2015, Nga và Trung Quốc tiến hành diễn tập đổ bộ liên hợp ở vịnh Peter the Great (Ảnh tư liệu)
Từ sau khi kết quả phán quyết được Tòa trọng tài công bố vào ngày 12/7/2016, Trung Quốc và Mỹ hoàn toàn không có các hành động thái quá đà, từ Philippines đến Việt Nam, thậm chí ASEAN cũng như vậy.
Điều này có nghĩa là, Trung Quốc chưa gây ra phản ứng hoặc đáp trả mạnh mẽ từ các bên.
Dựa vào thời điểm các bên “hạ nhiệt” trong vấn đề Biển Đông, Trung Quốc đã giành được “thắng lợi” ngoại giao ở Diễn đàn khu vực ASEAN (ý nói ASEAN không đưa vấn đề phán quyết của Tòa trọng tài vào Tuyên bố chung).
Đến nay, sau khi kết thúc các hội nghị của ASEAN, Trung Quốc tuyên bố có cuộc tập trận chung với Nga cho thấy Bắc Kinh có ý đồ tiếp tục nhấn mạnh với dư luận bên ngoài rằng lập trường của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông không chỉ được một số ít nước trong khối ASEAN “ngầm thừa nhận”, mà còn được các nước lớn khu vực như Nga thừa nhận.
Thực chất là Trung Quốc muốn để Nga “thêu gấm thêu hoa” cho bản thân họ, cho thấy Trung Quốc chủ động lôi kéo Nga cuộc cuộc chiến dư luận để chống lại các nước khác trong vấn đề Biển Đông.
Vào tháng 6/2016, Trung Quốc cũng đã từng lợi dụng Nga. Sau vài giờ tàu chiến Nga xuất hiện ở vùng biển đảo Senkaku, Trung Quốc đã điều tàu chiến của họ ra vùng biển này. Dư luận quốc tế cũng giải thích hành động này của Nga là “liên thủ” (hợp tác) với Trung Quốc.
Nhưng, Nga rốt cuộc cố tình đi vào vùng biển Senkaku thể hiện thái độ hợp tác với Trung Quốc hay là Trung Quốc “tương kế tựu kế”, muốn thổi vấn đề lên thì chính Nga là người biết rõ nhất.

Bộ trưởng Ngoại giao Nga và Trung Quốc tại Bắc Kinh ngày 29/4/2016. Ảnh: Chinanews
Đối với sự phức tạp của tình hình Biển Đông, Nga biết rõ mặc dù Trung Quốc tiếp tục đơn phương cho rằng Nga ủng hộ lập trường và chủ trương của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, nhưng Nga hoàn toàn không nói rõ về điểm này.
Sau khi Tòa trọng tài đưa ra phán quyết về vụ kiện của Philippines được vài ngày, Nga mới lên tiếng tái khẳng định không ủng hộ lập trường của bất cứ bên nào trong tranh chấp Biển Đông.
Nga hoàn toàn không muốn gây ấn tượng cho dư luận quốc tế là họ đứng về phía Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, cũng không muốn bị dư luận quốc tế giải thích quá mức là bị lôi kéo vào tranh chấp Biển Đông. Điều Nga hy vọng là “làm yếu vai trò” của họ trong vấn đề Biển Đông.
Thứ hai, Nga cũng phải cân nhắc quan hệ với các nước Đông Nam Á, nhất là với Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Nga hoàn toàn không bỏ ra quá nhiều nguồn lực ở khu vực Đông Nam Á, nhưng điều này không có nghĩa là Nga sẽ không coi trọng phát triển quan hệ với các nước ở khu vực này.
Vào tháng 5/2016, Nga từng tổ chức một hội nghị thượng đỉnh với các nước ASEAN. Năm 2015, Thủ tướng Nga Medvedev đã lần lượt đến thăm Việt Nam, Thái Lan và Campuchia.
Năm 2016, Nga vừa mới ký hợp đồng đặt mua máy bay chiến đấu với Myanmar. Hồi tháng 2/2016, Phó thủ tướng và Bộ trưởng Quốc phòng Thái Lan cũng đã dẫn một đoàn đại biểu khổng lồ đến thăm Nga.
Cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Mỹ ở Biển Đông đã làm cho các nước Đông Nam Á nếm trải được những khó khăn trong việc tìm kiếm cân bằng trong cuộc chơi của các nước lớn.
Nếu Nga dựa vào cơ hội tập trận với Trung Quốc, từng bước can dự vào tranh chấp Biển Đông sẽ khiến cho các nước Đông Nam Á lại phải tính tới lợi ích của một nước lớn khác. Điều này không có lợi cho Nga tìm kiếm hợp tác với các nước Đông Nam Á.

Ngày 16/5/2016, tại Moscow, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc hội đàm với Thủ tướng Nga Dmitry Medvedev. Ảnh: Trang thông tin Chính phủ.
Ngoài ra, Nga cũng cần tính tới thái độ của Việt Nam. Tình hữu nghị truyền thống sâu sắc giữa Nga và Việt Nam không nhất thiết phải nói nhiều, hợp tác quân sự giữa hai nước rất chặt chẽ.
Chẳng hạn, vũ khí và trang bị quân sự do Nga chế tạo chiếm 90% nhập khẩu vũ khí của Việt Nam.
Trong đó, tàu ngầm thông thường lớp Kilo Việt Nam đặt mua của Nga đã bàn giao 5 chiếc; ngày 27/4/2016, một nhà máy đóng tàu Nga cũng đã tổ chức lễ hạ thủy tàu hộ vệ lớp Gepard thứ ba chế tạo cho Việt Nam v.v…
Việt Nam và Trung Quốc tồn tại tranh chấp ở Biển Đông đã lâu (thực tế là Trung Quốc dùng vũ lực xâm chiếm đảo đá của Việt Nam rồi gây ra tranh chấp), Việt Nam cũng muốn nhận được sự ủng hộ của Nga trong vấn đề Biển Đông.
Sau khi nhậm chức, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã coi Nga là nước lớn đầu tiên đến thăm. Sau phán quyết của Tòa trọng tài về vụ kiện của Philippines, nếu Nga lập tức đáp ứng tập trận chung với Trung Quốc thì sẽ làm cho Việt Nam cảm thấy Nga đứng về phía Trung Quốc. Vì vậy, Nga chắc chắn phải kín tiếng.
Cuối cùng, Nga vẫn coi trọng quan hệ với các nước phương Tây, mặc dù Nga từng đưa ra chính sách “hướng Đông”. Nhưng, hiệu quả của chính sách này hoàn toàn không như ý. Không ít thỏa thuận hợp tác giữa Trung Quốc và Nga vẫn đối mặt với khó khăn trong việc thực hiện.
Quan hệ giữa Nga và Nhật Bản cũng hoàn toàn không được cải thiện. Tổng thống Nga Vladimir Putin đi thăm Nhật Bản còn chưa thực hiện được. Đối với Nga, cải thiện quan hệ với các nước phương Tây mới là quan trọng hàng đầu.

Tàu ngầm Hà Nội, lớp Kilo, Hải quân Việt Nam, mua của Nga (Ảnh tư liệu)
Sau khi rút quân khỏi Syria vào ngày 15/3, quan hệ giữa Nga và Mỹ bắt đầu ấm lên, thậm chí Nga còn nhận được cam kết rằng Mỹ tiếp tục tăng cường hợp tác ở Syria. Nga hoàn toàn không muốn bị Trung Quốc bắt làm con tin và bị Mỹ lôi kéo vào cuộc đối đầu quân sự ở Biển Đông.
Ngày 28/7, Nhà Trắng cũng đã tiến hành cảnh cáo đối với cuộc tập trận giữa Trung Quốc và Nga ở Biển Đông, cho rằng cuộc tập trận này không được làm cho tình hình tiếp tục căng thẳng.
Đây chính là lời cảnh cáo Mỹ đưa ra đối với Trung Quốc, đồng thời Mỹ cũng nhắc nhở Nga tránh bị lôi kéo vào kích động mâu thuẫn ở Biển Đông. Vì vậy, Nga phải thận trọng, không được tiếp tục gây thêm phiền phức mới trong thời điểm cải thiện quan hệ với Mỹ – Đa Chiều kết luận.