Trong một bản thông cáo, ban chỉ huy nhóm tác chiến của tàu Carl Vinson xác nhận họ đang hoạt động ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương để phối hợp với các đối tác và đồng minh, phát huy quyền tự do trên biển và cải thiện an ninh khu vực.
Hành trình của tàu sân bay Carl Vinson đang rất được chú ý vì lẽ con tàu này đã được Hoa Kỳ chọn để ghé cảng Đà Nẵng của Việt Nam, trong một chuyến thăm lịch sử dự kiến vào tháng 03/2018.
Khả năng hàng không mẫu hạm Mỹ ghé cảng Việt Nam đã khiến Trung Quốc quan ngại, mặc dù trên bình diện chính thức, Bắc Kinh luôn tuyên bố rằng đó là một diễn biến bình thường.
Trung Quốc được cho là đã bật đèn xanh cho Hoàn Cầu Thời Báo bắn đi những thông điệp cảnh báo. Ngay vào lúc chiếc USS Carl Vinson ghé Manila, cái loa của các thành phần diều hâu Trung Quốc đã khẳng định rằng việc cho chiếc tàu này vào biển Đông phản ánh một thái độ “bất an” của Washington trước đà trỗi dậy của Trung Quốc.
Hoàn Cầu Thời Báo đã trích dẫn một nhà nghiên cứu Trung Quốc, Lưu Vệ Đông (Liu Weidong), thuộc Viện Nghiên Cứu Mỹ ở Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, cho rằng: “Chính quyền Donald Trump đang cố gắng gây áp lực trên Trung Quốc bằng cách tạo ra nhiều vấn đề hơn, bao gồm cả vấn đề Biển Đông… bởi vì họ cảm thấy không thoải mái, không hài lòng trước khả năng cạnh tranh đang lên cao của Trung Quốc. Những động thái “khiêu khích” của Mỹ ở Biển Đông có thể sẽ còn xảy ra trong tương lai”.
Tờ báo đã lưu ý là tàu sân bay Carl Vinson sẽ thăm Việt Nam trong tháng 03/2018, phản ánh sự hiện diện lớn nhất của lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam kể từ 1975.
Đến lượt Mỹ tố cáo Nga tung mã độc tấn công phương Tây năm 2017
Mã độc NotPetya được sử dụng để cướp tiền trên internet.DAMIEN MEYER / AFPNgày 6/02/2018, phát ngôn viên điện Kremlin một lần nữa lại lên tiếng bác bỏ lời cáo buộc của Mỹ, theo đó quân đội Nga là thành phần đứng sau vụ tấn công bằng mã độc « NotPetya » đã khiến thế giới thiệt hại hàng tỉ đô la. Trước đó, phủ tổng thống Nga cũng đã bác bỏ cáo buộc tương tự đến từ Luân Đôn.
Đối với Nhà Trắng, chính Nga là chủ mưu trong vụ tấn công tin học bằng mã độc hồi tháng 6/2017, vừa làm tê liệt một phần hạ tầng cơ sở của Ukraina, vừa phá hoại các hệ thống máy tính tại Mỹ và châu Âu trong đó có nhiều máy chủ của các tập đoàn lớn.
Washington đồng thời cho rằng vụ tấn công tin học đó sẽ phải lãnh hậu quả quốc tế.
Trước Hoa Kỳ, cơ quan an ninh mạng của Anh cũng xác định các mục tiêu ban đầu của vụ tấn công bằng mã độc "NotPetya" là Ukraina, tuy nhiên mã độc nhanh chóng lan rộng, ảnh hưởng cả mạng lưới kinh doanh của châu Âu và Nga.
Điện Kremlin đã nhanh chóng bác bỏ các cáo buộc trên, bị phát ngôn viên Dmitry Peskov cho là vô căn cứ. Đối với phía Nga, những lời tố cáo nằm trong chiến dịch bài Nga đang được phương Tây tiến hành.
Theo hãng Reuters, lời tố cáo ngắn nhưng dữ dội của Mỹ nhắm vào Nga là một điểm mới lạ, vì đây là lần đầu tiên mà chính phủ Hoa Kỳ đã đổ lỗi cho Nga về cái được coi là một trong những vụ tấn công mạng tệ hại nhất từ trước đến nay. Trước chính quyền, các chuyên gia an ninh mạng đã quy trách nhiệm cho Nga.
Sợ xúc phạm TQ CSVN đục bịa rồi đục luôn cả thơ
Nhiều người hẳn đã quen thuộc với hình ảnh cột bia Khánh Khê ở Lạng Sơn dưới đây [ghi nhận sự hi sinh của 650 chiến sĩ thuộc sư đoàn 337 trên biên giới phía Bắc cản bước quân thù năm 1979] cách đây vài năm được báo chí phát hiện là đã bị đục bỏ dòng chữ "quân Trung Quốc xâm lược" - một hành vi không chỉ xảo trá với lịch sử, vô ơn với chiến sĩ mà còn đớn hèn và nhục nhã về chính trị.
Và, trong nỗ lực xóa bỏ ký ức tập thể về sự kiện này, người ta đã không chỉ đục bia, mà còn đục cả thơ.
Hôm nay tình cờ thấy người bạn đăng bài thơ 'Gửi em ở cuối sông Hồng' như bên dưới:
"Anh ở Lào Cai
Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt
Tháng Hai, mùa này con nước
Lắng phù sa in bóng đôi bờ
Biết em năm ngóng, tháng chờ
Cứ chiều chiều ra sông gánh nước
Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt
Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong
Đài báo gió mùa, em thương ở đầu sông
Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét
Biết mùa màng đồng quê chưa cấy hết
Tay em ngập dưới bùn, lúa có thẳng hàng không?
Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng...
Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy
Em ra sông chắc em sẽ thấy
Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông.
...
Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng
Nếu gặp dòng sông ngàu lên sắc đỏ
Là niềm thương anh gửi về em đó
Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh."
(Dương Soái)
Đây là phiên bản phổ biến của bài thơ hiện nay, được báo chí nhà nước sử dụng mỗi khi nhắc đến, kèm cả dấu 3 chấm (...) ngay trước khổ cuối cùng. [1]
Chưa bàn đến chuyện hay dở của phiên bản này, nhưng đọc lên thấy ý hiển ngôn của nó như thể tâm sự của một thanh niên đi nghĩa vụ quân sự làm lính biên phòng phía Bắc nhớ thương về người yêu ở vùng quê nào đó ở hạ lưu sông Hồng. Cả bài chỉ nhớ, thương, và kỷ niệm, chứ hoàn toàn vắng bóng sự ác liệt của chiến tranh. Bởi vậy đọc câu cuối nghe rất gượng gạo, vì sao cô gái thấy dòng sông ngàu lên sắc đỏ lại hiểu được chiến công của chàng trai? Chiến công gì ở đây, khi mà những đoạn phía trên thấy chàng trai toàn là 'lên chốt', 'xuống sông thả lá', 'gặp rét trên đỉnh đồi cao'? Nghe như một anh chàng tân binh đang 'nổ' với người yêu vậy.
Ý tứ bài thơ như thế, do đó, vừa rất thường, vừa kém tự nhiên.
Nhưng hóa ra không phải vậy, bài thơ đã bị buộc phải trở nên gượng gạo như thế. Những nhát búa của chế độ kiểm duyệt đã đục đi mất phần lịch sử bi hùng được nhắc đến trong bài thơ. Và, trong khi dấu tích cột bia Khánh Khê bị đục dễ dàng nhận ra bằng mắt thường, thì với bài thơ của Dương Soái ở trên dấu vết ấy chỉ còn lại ba chấm (...).
Mời đọc lại phiên bản đầy đủ của bài thơ 'Gửi em ở cuối sông Hồng' dưới đây, hôm nay, 17-2, không chỉ để hiểu vì sao cô gái nhìn sông Hồng ngàu lên sắc đỏ lại có thể hiểu được chiến công của chàng trai (ấy là vì nghìn xác giặc Trung Quốc đã bị hạ gục máu loang ố nơi đầu nguồn), mà còn là để nhớ tới những gì không được phép quên, dẫu bất kỳ ai, quyền cao chức trọng tới đâu, phương cách thô lậu tệ hại thế nào, luôn muốn chúng ta quên.
Gửi em ở cuối sông Hồng
(Dương Soái)
"Anh ở Lào Cai
Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt
Tháng Hai, mùa này con nước
Lắng phù sa in bóng đôi bờ
Biết em năm ngóng, tháng chờ
Cứ chiều chiều ra sông gánh nước
Nên ngày ngày cùng bạn bè lên chốt
Anh lại xuống sông Hồng cho thoả nỗi em mong
Đài báo gió mùa, em thương ở đầu sông
Đỉnh đồi cao chiến hào anh gặp rét
Biết mùa màng đồng quê chưa cấy hết
Tay em ngập dưới bùn, lúa có thẳng hàng không?
Giá chúng mình còn cái thuở dung dăng...
Anh thả lá thuyền xuôi về dưới ấy
Em ra sông chắc em sẽ thấy
Chỉ nỗi nhớ chúng mình đủ ấm mọi mùa đông.
Nhưng thơ ngây đâu còn ở chúng mình
Khi Tổ quốc trao anh lên tuyến đầu chặn giặc
Khi biên cương trong anh đã trở thành máu thịt
Đạn lên nòng anh giữ trọn nguồn sông
Nỗi nhớ cho em chưa viết được đôi dòng
Đạn quân thù bỗng cuồng điên vào thị xã
Xe tăng thù nghiến mặt sông êm ả
Nhịp cầu thù chặt đứt chờ mong
Bão lửa này mang sức mạnh hờn căm
Phá cầu thù, xé vụn xe tăng giặc
Giữa dòng sông nghìn xác thù ngã gục
Máu giặc loang ố cả một vùng
Thì hỡi em yêu ở cuối sông Hồng
Nếu gặp dòng sông ngàu lên sắc đỏ
Là niềm thương anh gửi về em đó
Qua màu nước sông Hồng, em hiểu chiến công anh.
Lào Cai, 1979"
Cuộc chiến bị lãng quên
2018-02-16

Rạng sáng 17/2/1979, Bắc Kinh ồ ạt xua quân tấn công Việt Nam, mở màn cho cuộc chiến khốc liệt 30 ngày liên tục và kéo dài 10 năm trên địa bàn 6 tỉnh biên giới Tây Bắc. Cuộc chiến không cân sức cũng đã cướp đi sinh mạng của rất nhiều dân thường và hơn 4000 bộ đội Việt Nam, chủ yếu trong độ tuổi từ 18 đến 35. Mặc dù dành chiến thắng, cuộc chiến tranh vệ quốc này lại ít khi được nhắc tới và thậm chí đã có một thời gian rất dài, nó bị chìm sâu vào quên lãng.
Khu vực biên giới Thanh Thuỷ, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang, nơi được coi là chiến trường khốc liệt nhất trong cuộc chiến tranh biên giới nổ ra từ ngày 17/2/1979 và kéo dài 10 năm sau đó với những “lò vôi thế kỷ” hay “thung lũng gọi hồn”.
hơn 30 năm qua, lúc nào tôi cũng nghĩ đến những người thanh niên tuổi ngoài đôi mươi đã nằm lại ở mặt trận. Có nhứng gia đình vẫn chưa được công nhận là gia đình liệt sỹ cho nên là chúng tôi cũng thấy rất là tủi thân - cựu chiến binh Phạm Xuân Thanh
Đây là nơi hơn 4.000 liệt sĩ đã hy sinh khi chiến đấu giành lại từng tấc đất biên cương với quân đội Trung Quốc. Trong đó, có hơn 2.000 liệt sĩ, hài cốt vẫn nằm lại trên chiến trường xưa.
Trở về từ chuyến thăm và dâng hương các đồng đội cũ đã hy sinh tại mặt trận Vị Xuyên, ông Phạm Xuân Thanh, một cựu chiến binh chia sẻ:
Đến thời điểm hiện tại thì cuộc chiến gần như đã đi vào quên lãng. Tôi cũng là một thương binh từ mặt trận trở về. Hơn 30 năm qua, lúc nào tôi cũng nghĩ đến những người thanh niên tuổi ngoài đôi mươi đã nằm lại ở mặt trận. Có nhứng gia đình vẫn chưa được công nhận là gia đình liệt sỹ cho nên là chúng tôi cũng thấy rất là tủi thân.
Trên thực tế, mặc dù đã cản trở thành công sự tấn công của quân đội Trung Quốc, dành chiến thắng về mặt quân sự, đối nội cũng như đối ngoại, cuộc phản công vệ quốc của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam thời kỳ đó đã không được công nhận và tôn vinh một cách xứng đáng. Cũng theo ông Thanh, rất nhiều những người lính cho đến thời điểm này vẫn chỉ được xác nhận là mất tích chứ chưa biết chính xác họ đã hy sinh hay còn sống. Bên cạnh đó, gần bốn chục năm đã qua, nhà nước CSVN vẫn chưa có một thống kê chính thức về số lượng người hy sinh hay mất tích trong trận chiến này cũng như tổ chức những sự kiện mang tầm cỡ quốc gia nhằm ca ngợi những đóng góp và hy sinh của họ. Thậm chí, nhiều trường hợp mang thương tật từ mặt trận trở về nhưng do mất hết giấy tờ nên cũng không được công nhận là thương binh để có thể được hưởng những chế độ, chính sách ưu đãi. Ông Thanh cho biết thêm:
Chúng tôi cũng đã đặt ra những câu hỏi ví dụ như là cuộc chiến 81 ngày đêm ở thành cổ Quảng trị, lượng người hy sinh ở đó được ca ngợi. Còn riêng ở mặt trận Vị Xuyên, lượng người hy sinh nhiều như thế tại sao không được nhắc đến. Đến bây giờ thì chúng tôi biết là vì mục đích ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc nên mọi thông tin về cuộc chiến có thể nói là không muốn được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng làm ảnh hưởng đến quan hệ hai nước láng giềng.
Khi được hỏi về thái độ im lặng này của chính quyền CSVN, giáo sư Carl Thayer, thuộc học viện quốc phòng Úc cho biết:
Thực tế về cuộc chiến tranh này đã được cắt bỏ khỏi sách lịch sử và khỏi những lễ kỷ niệm phổ biến ở Việt Nam cho đến tận năm 2014.. Tôi không nghĩ là bởi vì các lãnh đạo Việt Nam muốn giảm nhẹ một thời kỳ quan hệ của Việt Nam. Bạn có thể tìm đến viện bảo tàng chiến tranh và không thấy có một trưng bày nào về cuộc chiến này với Trung Quốc. Nó là một lỗ đen. Nhưng tất nhiên với hàng ngàn người dân Việt Nam đã mất người thân
bạn có thể tìm đến viện bảo tàng chiến tranh và không thấy có một trưng bày nào về cuộc chiến này với Trung Quốc. Nó là một lỗ đen. Nhưng tất nhiên với hàng ngàn người dân Việt Nam đã mất người thân trong cuộc chiến thì cuộc chiến này đã tồn tại - giáo sư Carl Thayer
Trên thực tế, trong thời kỳ Cải cách ruộng đất, chính quyền CSVN học tập Cách mạng văn hoá Trung Quốc đã tìm cách phá huỷ hàng vạn ngôi đình, chùa, miếu mạo vốn là nơi người dân Việt Nam thờ các vị vua qua các triều đại Đinh, Lê, Lý Trần cùng những vị anh hùng dân tộc đã có công đánh đuổi giặc Tàu. Bên cạnh đó là rất nhiều những tài liệu lịch sử lưu lại những chiến công hiển hách của dân tộc Việt trong trong suốt chiều dài 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước cũng bị chính quyền CSVN lúc bấy giờ tìm cách thiêu huỷ. Lý do theo nhiều người là để làm vừa lòng người anh em láng giềng Trung Quốc. Tuy nhiên, cho dù chính quyền CSVN có tìm cách làm cho lịch sử bị lãng quên thì trong lòng mỗi người dân Việt Nam, niềm tự hào dân tộc, tinh thần yêu nướcvà hơn cả là sự đề phòng đối với Trung Quốc thì chưa bao giờ bị dập tắt. Cũng tương tự như cuộc chiến tranh biên giới đầy mất mát đã xảy ra 39 năm trước đây, dù lịch sử Việt Nam không muốn nhắc nhiều nhưng với sự phát triển của internet và mạng xã hội, sự kiện này đã và đang được cộng đồng xã hội quan tâm nhiều hơn. Chắc chắn rằng, những hy sinh dường như bị lãng quên của những người lính trong chiến tranh biên giới năm nào, một ngày nào đó sẽ đền đáp một cách xứng đáng hơn.
Lạng Sơn: Tưởng nhớ những người giữ đất biên cương phía Bắc
TPO - Sáng nay (17/2), rất đông du khách thập phương, trong đó có những cựu chiến binh, người dân bản địa Lạng Sơn tới đền Mẫu ở trung tâm thị trấn Đồng Đăng (huyện Cao Lộc, Lạng Sơn) và pháo đài Đồng Đăng để thắp nhang tưởng nhớ những cán bộ, chiến sỹ và người dân đã hy sinh trong trận chiến biên giới 1979.

Quân Trung Quốc dùng hỏa lực đánh phá pháo đài và gặp phải kháng cự ác liệt của quân và dân ta tại pháo đài Đồng Đăng.
Trong cuốn Lịch sử sư đoàn 3 Sao Vàng còn ghi rõ: “Ngày cuối cùng tại pháo đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân Trung Quốc chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi làm thiệt mạng cả thương binh và nhân dân tới đây trú ẩn”.
Những ngày đầu cuộc chiến, nhờ vị thế hiểm yếu của pháo đài, anh em đại đội 5 C5 (Bộ đội Biên phòng địa phương) đã đánh bật hàng chục đợt tấn công của địch hòng chiếm lấy cao điểm này. Hàng trăm tên địch gục ngã sau những đợt xông lên.
“Trong số hơn 100 người dân và chiến sĩ, chỉ có sáu người sống sót thoát ra được sau đó, còn lại đều chết ngay trong lòng pháo đài”. Thời khắc bi tráng đó sau này được anh hùng Nông Văn Phjeo, chiến sĩ đại đội 5 C5, một trong số sáu người sống sót kể lại.
Năm nay, kỷ niệm 39 năm cuộc chiến giữ đất biên cương lại rơi vào ngày Mồng 2 tết Mậu Tuất, nắng ấm chan hòa, hương khói lan tỏa cùng những cánh đào đỏ tô thắm thêm truyền thống chiến đấu và bảo vệ quê hương, đất nước của người dân biên giới Lạng Sơn.
Tướng Cương nói về cuộc chiến phi nghĩa của Trung Quốc 39 năm trước
(Dân Việt) Cho đến nay, đã 39 năm kể từ ngày 17.2.1979, khi 60 vạn quân bành trướng Trung Quốc thực hiện cuộc tấn công xâm lược trên dọc tuyến biên giới hơn 1.200km phía Bắc nước ta, nhiều học giả đều khẳng định: Hành động lúc đó của nhà cầm quyền Trung Quốc là vô cùng phi nghĩa, bởi họ đã gây ra một cuộc chiến làm hàng vạn người vô tội chết và bị thương.
Theo Thiếu tướng Lê Văn Cương, gần 40 năm nhìn lại, chúng ta có đủ thời gian và cứ liệu lịch sử để khẳng định: Nhà cầm quyền Trung Quốc lúc đó đã vô cùng hoang tưởng khi đột ngột tấn công Việt Nam vào ngày 17.2.1797. Đây hoàn toàn là một cuộc xâm lược chứ không phải cuộc chiến phản vệ mà Trung Quốc từng rêu rao.

Ngay khi Trung Quốc tấn công nước ta, Lạng Sơn đã là một trong những địa phương đầu tiên phải hứng chịu sự tàn phá nặng nề nhất.
Giải nguy cho Pol Pot
Để giải mã nguyên nhân cuộc chiến tranh phi nghĩa của Trung Quốc thực hiện vào mùa xuân 39 năm trước dọc tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, chúng tôi đã có một buổi trò chuyện cùng Thiếu tướng Lê Văn Cương - nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lực của Bộ Công an và cùng lật đi lật lại câu hỏi: Vì sao Trung Quốc tiến hành xâm lược Việt Nam vào tháng 2.1979?
Sau nhiều năm nghiên cứu và trải nghiệm thực tế, tướng Cương đã tìm ra những câu trả lời không chỉ thuyết phục những học giả trong nước mà còn khiến cả những người Trung Quốc không thể không thừa nhận về một cuộc chiến phi nghĩa.
Tướng Cương khẳng định: Một phần nguyên nhân thực tế của cuộc chiến này chính là nhằm giải nguy cho tàn quân Khmer Đỏ của Pol Pot. Khi đó, quân tình nguyện Việt Nam đang giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng do Pol Pot gây ra. Thực chất Khmer Đỏ chính là một sản phẩm của Trung Quốc.
Trong cuốn “Người tù của Khmer Đỏ” xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1987, Cựu hoàng Campuchia Norodom Sihanouk đã viết: “Từ năm 1956, những kẻ cầm đầu Khmer Đỏ hàng năm đều sang Trung Quốc nhận chỉ thị và viện trợ. Khmer Đỏ đã được Trung Quốc nuôi. Bọn chúng sử dụng vũ khí Trung Quốc, chiến thuật quân sự của Trung Quốc với mục đích vừa đánh Mỹ vừa đánh Việt Nam từ 1955 - 1975, sau đó gây ra nạn diệt chủng làm 2,7 triệu người Campuchia thiệt mạng, quấy nhiễu biên giới Tây Nam tiếp giáp với Việt Nam”.
Nhận thấy tình hình hết sức nguy hiểm, quân tình nguyện Việt Nam đã giúp đỡ nhân dân Campuchia khỏi nạn diệt chủng của quân Khmer Đỏ.
Theo tướng Lê Văn Cương, để cứu nguy cho tay sai của mình, Trung Quốc đã đơn phương và bất ngờ thực hiện cuộc tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta với lý do “phát động cuộc chiến tranh phản vệ”. Thực tế khi đó, quân và dân Việt Nam chưa hề xâm phạm một xăngtimét vuông nào lãnh thổ Trung Quốc ở phía Bắc.

Thiếu tướng Lê Văn Cương nói về cuộc chiếm tranh xâm lược phi nghĩa của Trung Quốc 39 năm về trước.
Ngoài ra, tháng 1.1979, ông Đặng Tiểu Bình - lãnh tụ Trung Quốc khi đó sang thăm Mỹ. Trong cuộc gặp với Tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Jimmy Carter tại Nhà Trắng, ông Đặng Tiểu Bình đã khẳng định Trung Quốc sẽ đảm nhận vai trò làm NATO của phương Đông, đề nghị Hoa Kỳ kết hợp với Trung Quốc để đánh Nga Xô và Việt Nam.
“Trung Quốc làm điều này đã gây được sự hài lòng thích thú của giới diều hâu của nước Mỹ vì họ vừa thua trong cuộc chiến tranh với Việt Nam. Không chỉ trực tiếp tiến đánh nước ta năm 1979, sau đó Trung Quốc còn kết hợp chặt chẽ với Mỹ bao vây cấm vận nước ta tiếp theo 12 năm nữa gây bao khó khăn cho nền kinh tế nước ta”, tướng Cương phân tích.
Cũng theo ông Lê Văn Cương, sau chuyến đi này, Hoa Kỳ đã bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc. Trung Quốc bắt đầu nhận được nhiều sự viện trợ về kỹ thuật, công nghệ và tiền bạc của Hoa Kỳ. Họ đã tranh thủ nắm bắt thời cơ để vươn lên vị trí thứ 2 thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ.
Những trận đối đầu khốc liệt
Khi quân bành trướng Trung Quốc bất ngờ tiến hành cuộc xâm lược trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta với một lực lượng quân hùng hậu, phía Việt Nam lúc đó chỉ có lực lượng bộ đội địa phương và dân quân du kích. Nhưng những trận đánh đầu tiên đối mặt với quân xâm lược, quân và dân các tỉnh phía Bắc đã chiến đấu vô cùng anh dũng, khiến quân xâm lược gặp phải những tổn thất nặng nề.
Ngay khi Trung Quốc tấn công nước ta, Lạng Sơn đã là một trong những địa phương đầu tiên phải hứng chịu sự tàn phá nặng nề.
Bà Hoàng Thị Hà, năm nay 63 tuổi, nguyên giáo viên Trường Dân tộc nội trú Lạng Sơn nhớ lại: "Tuy được tuyên truyền trước là Trung Quốc sớm muộn gì cũng sẽ đánh Việt Nam, nhưng khi nghe tiếng đạn pháo vào khoảng 5h sáng 17.2.1979, lúc đầu tôi cứ tưởng là tiếng sấm. Nhưng chỉ ít giây định thần lại, chạy ra ngoài mới thấy những quầng lửa sáng bùng lên".
Cả thị xã Lạng Sơn nhanh chóng chuyển sang trạng thái chiến tranh. Những đơn vị bộ đội, công an vũ trang, dân quân tự vệ đã lập tức chiến đấu ngay, còn người dân khẩn trương tìm nơi trú ẩn hoặc sơ tán ra khỏi vùng chiến sự.

Nằm trên một ngọn đồi phía Nam thị trấn Đồng Đăng, pháo đài Đồng Đăng là một hệ thống lô cốt vững chắc do Pháp xây dựng trước năm 1945 để khống chế một vùng biên giới. Mái lô cốt bị quân Trung Quốc đánh sập. (Ảnh: Hữu Thọ)
Nhắc đến những ngày đương đầu với quân Trung Quốc tại Lạng Sơn, không thể không kể đến trận đánh tại pháo đài Đồng Đăng. Người trực tiếp chiến đấu tại pháo đài này là Đại tá - Anh hùng Nông Văn Pheo, năm nay 61 tuổi. Ông may mắn sống sót sau trận đánh vô cùng chênh lệch về lực lượng với quân xâm lược.
“Lúc đó tôi mới là binh nhất, được giao giữ súng trung liên bảo vệ hướng chính diện của pháo đài. Quân địch tổ chức hàng chục cuộc tấn công vào pháo đài trong mấy ngày liên tục. Đồng đội tôi rất nhiều người bị thương vong, nhưng tất cả bảo nhau kiên quyết bám trụ tại pháo đài. Sau 3 ngày đêm liên tục đối mặt với quân địch, vừa đói vừa khát, chúng tôi phải tìm cách vượt vòng vây, tìm nước để uống cũng như kiếm đồ tiếp tế cho đồng đội. Nhưng địch quá đông, chúng từng bước tấn công vào pháo đài, thả lựu đạn và dùng xăng để đốt cháy pháo đài”, Đại tá Pheo nhớ lại.
Để bảo toàn lực lượng, Đại tá Pheo và một số đồng đội đã phải rút lui khỏi pháo đài tìm đường về đơn vị tiếp tục chiến đấu. Theo thống kê, sau 3 ngày đêm chiến đấu anh dũng, Đại tá Nông Văn Pheo đã trực tiếp tiêu diệt 70 tên địch, góp phần gây tổn thất nặng nề cho quân địch.
Nhưng đau xót thay, sau khi pháo đài Đồng Đăng thất thủ, quân Trung Quốc đã sát hại hàng trăm đồng bào ta. Pháo đài trở thành ngôi mộ tập thể lớn nhất trong chiến tranh biên giới của nhân dân Lạng Sơn.
Trước sự tấn công ồ ạt của quân Trung Quốc, Đồng Đăng và thị xã Lạng Sơn đều bị thất thủ. Quân xâm lược đi đến đâu là tiến hành đốt phá nhà xưởng, công sở, kho tàng bến bãi tới đó. Thị xã Lạng Sơn và nhiều địa phương khác gần như bị phá huỷ hoàn toàn sau khi quân Trung Quốc rút đi.
Phản kích
Ở Cao Bằng, hướng tiến công chính của địch là ở Thông Nông - Hà Quảng và Phục Hòa - Đông Khê. Nhờ huy động một lực lượng áp đảo nên ngay từ những ngày đầu, kẻ địch đã có nhiều mũi quân thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam, chia cắt và gây rối loạn hệ thống chỉ huy của ta.
Trên hướng Hà Quảng, các trận đánh của Trung đoàn 246, Sư đoàn 346, Tiểu đoàn 6 Hà Quảng, Đồn biên phòng Sóc Giang, Nậm Nhũng… cùng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ diễn ra suốt 4 ngày, từ 17 đến 20.2 trên các chốt Cốc Ngựu, Cốc Nhu, Cốc Vường, điểm cao 505, Trúc Long-Địa Lan, Nà Xác, Trường Hà… Những trận đánh này đã chặn đứng hướng tiến công của địch ở khu vực cửa khẩu Sóc Giang.
Bị tổn thất nặng nề, ngày 22.2 quân Trung Quốc làm đường cho xe tăng vượt biên giới ở khu vực mốc 109, theo đường Pác Bó - Nà Mạ - Đôn Chương đánh vu hồi vào sau lưng và bên sườn trận địa ta, kết hợp với tấn công chính diện theo hướng cửa khẩu Bình Mãng - Sóc Giang.
Trung đoàn 246 đã chiến đấu vô cùng anh dũng, nhưng trước sức ép của quân địch, lại bị bao vây và cắt đường tiếp tế nên đã phải rút khỏi Sóc Giang lên khu vực thung lũng núi giữa Hà Quảng và Thông Nông tiến hành đánh du kích. Địch chiếm được Sóc Giang và tiếp tục phát triển xuống phía nam Hà Quảng.

Xe tăng Trung Quốc bị ta bắn hạ tại Cao Bằng, sáng 17.2. (Ảnh: Mạnh Thường)
Từ ngày 19.2, địch bắt đầu áp sát thị xã Cao Bằng từ nhiều hướng. Cuộc chiến đấu bảo vệ thị xã diễn ra suốt nhiều ngày nhưng do tương quan lực lượng quá chênh lệch, đến ngày 24.2 đối phương chiếm được thị xã Cao Bằng và có những mũi vu hồi đánh lấn xuống khu vực đường số 3, Khâu Đồn, đèo Cao Bắc. Có những mũi địch thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam 50-60km (cầu Tài Hồ Sìn). Nhiều đơn vị của ta bị tổn thất, rơi vào thế bị chia cắt, bao vây cả 4 mặt.
Ngày 26.2, Quân khu 1 quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Cao Bằng do Đại tá Đàm Văn Ngụy, Phó tư lệnh Quân khu đứng đầu. Ngày 28.2, Bộ tư lệnh Mặt trận ra lệnh cho Trung đoàn 677 và Trung đoàn 567 vượt vòng vây rút về phía sau để bảo toàn lực lượng, chuẩn bị đánh phản kích.
Trước tình hình căng thẳng, Quân khu 1 gấp rút điều động Trung đoàn 852 và 183, tiểu đoàn pháo tầm xa 122mm của Lữ đoàn 675, các tiểu đoàn bộ đội và tự vệ phía sau lên phối hợp với các đơn vị tại chỗ tổ chức phòng tuyến mới ở phía nam cầu Tài Hồ Sìn, đường số 3, mỏ thiếc Tĩnh Túc…
Theo công bố chính thức, trong một tháng chiến đấu trên hướng này các lực lượng vũ trang và nhân dân Cao Bằng đã loại khỏi vòng chiến 18.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn địch, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, giữ kỷ lục về số xe tăng, thiết giáp tiêu diệt được và số tù binh bắt sống. |
Lực lượng vũ trang ta đánh lui các đợt tiến công của quân Trung Quốc từ 20 đến 23.3, sau đó phản kích đẩy địch về khu vực cây số 5 và ngã ba Khâu Đồn, đồng thời bao vây một bộ phận mũi vu hồi của địch ở Nguyên Bình.
Ngày 1.3.1979 trên mặt trận Cao Bằng, Sư đoàn bộ binh 311 gồm Trung đoàn bộ binh 169, 529, 531 bộ binh và Trung đoàn pháo binh 456 được thành lập. Tuyến phòng ngự thứ hai được hình thành từ Tài Hồ Sìn đến Ngân Sơn. Chiến sự diễn ra quyết liệt trên khắp địa bàn tỉnh.
Sư đoàn 311 tổ chức cắt đường số 4, ngăn chặn cơ động tiếp tế của đối phương. Các tiểu đoàn đặc công 20 và 45 luồn sâu vào sau lưng địch, phối hợp với dân quân tự vệ tổ chức nhiều cuộc tập kích, phục kích gây cho quân xâm lược những thiệt hại nặng nề.
Ngày 5.3, chính quyền Bắc Kinh tuyên bố rút quân khỏi toàn tuyến biên giới phía Bắc sau khi “đã dạy cho Việt Nam một bài học”. Hai ngày sau khi Bắc Kinh tuyên bố rút quân, ngày 7.3 quân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi Thông Nông, Trà Lĩnh, vừa đi vừa tàn phá các khu vực nằm trên đường di chuyển của chúng.
Trước tình hình trên, cùng ngày hôm đó Bộ tư lệnh mặt trận hạ lệnh chuyển sang phản kích, dùng pháo binh bắn phá đội hình hành quân, các điểm tập kết người và xe cơ giới của địch... Trước áp lực tiến công của ta, nhiều đơn vị Trung Quốc vội vã rút chạy bỏ lại cả xe cộ, vũ khí và thương binh tử sĩ. Ngày 14.3, ở Minh Tâm (Nguyên Bình), một đại đội chủ lực địch bị lực lượng địa phương của ta vây hãm đã phải hạ súng đầu hàng vô điều kiện.
Ngày 15.3, quân Trung Quốc rút khỏi thị xã và huyện Hòa An; ngày 16.3 rút khỏi Trùng Khánh, Quảng Hòa và Thạch An; ngày 17.3 rút khỏi Trà Lĩnh; ngày 18.3 rút khỏi Hà Quảng và Thông Nông. Đến đây, chiến sự trên mặt trận Cao Bằng tạm thời lắng xuống.
Ngày 4.3.1979, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra lời hiệu triệu, kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước nhất tề đứng lên bảo vệ tổ quốc. Sáng 5.3, chương trình phát thanh 90 phút thường ngày của Đài tiếng nói Việt Nam phát bản tin đặc biệt với lời kêu gọi: "Hỡi đồng bào và chiến sĩ yêu quý! Quân thù đang giày xéo non sông, đất nước ta. Độc lập, tự do, chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta đang bị xâm phạm. Hòa bình và ổn định ở Đông Nam châu Á đang bị đe dọa. Dân tộc Việt Nam ta phải ra sức chiến đấu để tự vệ... Toàn thể đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước, các tôn giáo, các đảng phái, già, trẻ, gái, trai hãy phát huy truyền thống Diên Hồng, triệu người như một, nhất tề đứng lên bảo vệ Tổ quốc". Ngay sau lời kêu gọi, Ủy ban Thường vụ Quốc hội họp phiên bất thường dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh. Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra quyết định tổng động viên trong cả nước. Mọi công dân trong lứa tuổi do luật định đều phải gia nhập lực lượng vũ trang theo kế hoạch của Hội đồng Chính phủ; huy động mọi nhân lực, vật lực, tài lực cần thiết để đảm bảo nhu cầu của cuộc kháng chiến cứu nước. Cùng ngày, Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh 29 - LCT ra lệnh tổng động viên trong cả nước. Hội đồng Chính phủ ban hành nghị định về việc thực hiện quân sự hóa toàn dân, vũ trang toàn dân. Trong đó, yêu cầu nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi có đủ điều kiện, đều gia nhập hàng ngũ du kích và tự vệ. Ngoài ra, ai tự nguyện đều được đưa vào tổ chức vũ trang quần chúng. Khi xảy ra chiến sự ở địa phương, trừ những người được phép sơ tán đi nơi khác, còn tất cả mọi người phải ở lại làm nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đứng trước quyết tâm bảo vệ Tổ quốc của nhân dân Việt Nam, ngay sau lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng được phát trên Đài tiếng nói Việt Nam, ngày 5.3.1979, Trung Quốc đã phải tuyên bố đơn phương rút quân trên toàn tuyến biên giới phía Bắc. Sau hơn nửa tháng tiến hành cuộc tấn công chớp nhoáng xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam, ước tính khoảng 62.000 quân xâm lược Trung Quốc đã bị thương vong, hàng trăm xe máy phương tiện chiến tranh của địch bị ta phá huỷ và thu giữ. Tuy nhiên, cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc vẫn âm ỉ diễn ra trong suốt 10 năm sau đó, phải tới năm 1990 mới chấm dứt hoàn toàn. |

Các chuyên mục 

Tầu sân bay USS Carl Vinson, trên Thái Bình Dương. Ảnh chụp ngày 31/05/2015.CC/U.S. Navy


