 |
 |
Các chuyên mục |
|
Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal
Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat
Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục
Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói
Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí
Web links
Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo
Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng
Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP
|
|
|
|
Xem bài theo ngày |
|
| Tháng Hai 2026 | | T2 | T3 | T4 | T5 | T6 | T7 | CN |
| |
|
|
|
|
|
1 |
| 2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
| 9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
| 16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
22 |
| 23 |
24 |
25 |
26 |
27 |
28 |
|
|
|
|
|
Thống kê website |
|
 |
Trực tuyến: |
8 |
 |
Lượt truy cập: |
28540678 |
|
|
|
|
| |
|
 |
 |
|
|
|
CSVN đổi quốc hiệu
22.04.2013 02:49
Sau khi chiếm trọn miền Nam 1975, chính trị bộ tự phong cho quốc gia "Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN" trước sự ngơ ngác của người dân chẳng ai hiểu XHCN là gi, chỉ nhận thấy chế độ liên tục đưa dân tộc đến tang thương, khốn khổ...
“Trở lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là tôn trọng thực tiễn”
(Dân trí) - “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần 2 đưa ra phương án trở lại cách đặt tên nước Bác Hồ đã đặt trước đây là tôn trọng lịch sử và tôn trọng thực tiễn nguyện vọng quần chúng” – GS Sử học Lê Mậu Hãn thẳng thắn bày tỏ.
GS. Lê Mậu Hãn cho biết, thời gian qua, cá nhân ông dành nhiều quan tâm và tham gia góp ý nhiều nội dung trong dự thảo Hiến pháp sửa đổi tại các hội nghị do TƯ MTTQ Việt Nam tổ chức. Trong thời gian 3 tháng lấy ý kiến, ông đã được thông tin về những đề xuất lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Mới đây, sau đề xuất lấy lại tên nước “từ thời cụ Hồ”, ông cũng nghe được những ý kiến từ những cuộc trao đổi trên đường, trong cuộc sống thường nhật. GS. Lê Mậu Hãn nêu quan điểm, tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hợp với thực tiễn Việt Nam, ngay cả ở thời điểm hiện tại và giàu ý nghĩa đối với một dân tộc có lịch sử ngàn năm văn hiến, có quá trình đấu tranh anh dũng suốt mấy chục năm chống thực dân Pháp, lật đổ ách đô hộ đó để lập nên nhà nước độc lập. Chữ “dân chủ” trong tên nước vì vậy được đặt đúng nghĩa là nhà nước của nhân dân. “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là sự công bố chính thức lần đầu tiên với toàn thế giới và Tuyên ngôn độc lập Bác đọc khi đó khẳng định công lý, lẽ phải của thực tiễn Việt Nam đã trở thành một nước tự do, độc lập. Điều đó buộc các nước khác không thể không công nhận” – ông Hãn nêu bật ý nghĩa. Chế độ Dân chủ Cộng hòa, nhà nước Dân chủ Cộng hòa, GS. Hãn khẳng định, là kết quả do sự kiện lịch sử cách mạng tạo nên, phù hợp xu thế, phù hợp nguyện vọng, mục tiêu của toàn dân tộc. Cụ thể, tư tưởng độc lập tự do là nội dung cốt lõi của tinh thần dân tộc, qua sự thể hiện này. Và theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng độc lập tự do không chỉ là đấu tranh giải phóng dân tộc mà phải xác định con đường phát triển theo hướng giải phóng con người khỏi bóc lột. Đó là lý do Bác đã chọn con đường duy nhất phù hợp là tiến lên CNXH. Theo đó, cả nước đã xác định 3 chặng đường chiến lược phải thực hiện là giải phóng dân tộc, hoàn thành thể chế dân chủ, xây dựng thành công CNXH. GS. Lê Mậu Hãn Vị GS Sử học nhìn nhận, con đường xây dựng CNXH, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là con đường lâu dài. Thời kỳ quá độ lên CNXH cũng rất lâu dài. Việt Nam mới chỉ đang ở giai đoạn đầu quá trình đó và sẽ còn gặp nhiều trắc trở hơn nữa. Tại Việt Nam chưa có CNXH thật sự. Khi nào chế độ kinh tế không còn sơ sở cho việc người bóc lột người thì mới là xã hội như tuyên ngôn mà Đảng Cộng sản đề cập. Và sự thực, các nước đi theo con đường này cũng chưa nước nào đạt được “đích” đến đó, tất cả đều ở thời kỳ quá độ. “Dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần 2 đưa ra phương án trở lại cách đặt tên nước Bác Hồ đã đặt trước đây là tôn trọng lịch sử và tôn trọng thực tiễn nguyện vọng quần chúng. Tôi cảm thấy dường như đông đảo người dân cũng mong muốn tên nước đó” – ông Hãn nhấn mạnh. Trở lại lần đổi tên nước thành Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 1976), GS. Lê Mậu Hãn cho rằng, đó là vì bối cảnh cả nước trong tư tưởng tiến nhanh, tiến mạnh lên CNXH. Ông Hãn nhấn mạnh, tư tưởng xây dựng CNXH trong suốt lịch sử cách mạng của đất nước vẫn giữ nguyên như Bác Hồ từng nói. Nhưng con đường đó còn rất lâu dài. Và việc giữ tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không có gì gọi là rời xa khuynh hướng XHCN. “Chế độ Cộng hòa Dân chủ đã được người dân đón nhận, tôn trọng, người dân sẽ bảo vệ đến cùng – như đã bảo vệ nhà nước do Cụ Hồ sáng lập, đi theo từ những ngày đầu, đã đấu tranh và chấp nhận hi sinh cả tài sản, tính mạng… để bảo vệ. Vậy nên phải dựa vào nguyện vọng toàn dân, đáp ứng cho đúng, bởi điểm nào thuyết phục thì người dân sẽ theo” – ông Hãn lập luận. Vị GS Sử học cũng bày tỏ tiếp: “Tôi thấy các đại biểu Quốc hội và bản thân cũng cảm nhận được nguyện vọng tha thiết của quần chúng làm thế nào có một xã hội ổn định. Và trong điều kiện này, trở lại cái tên vẫn đang có giá trị thực tiễn là đúng đắn. Khi căn cứ hiện thực là mức độ phát triển đã đạt đến XHCN chưa có, đặt lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ phù hợp thực tiễn. Đó sẽ là bàn đạp để cả dân tộc tiến lên”. Với những lập luận đó, ông Hãn thẳng thắn cho rằng, nói việc lấy lại tên nước làm thụt lùi lại lịch sử là không hiểu thấu đáo lịch sử và hơi chủ quan. Tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đúng với nội dung thể chế mà Bác Hồ đưa ra và đặt vấn đề trên đúng cơ sở thực tiễn mới là hướng suy nghĩ biện chứng, không vội vàng, hợp logic lịch sử.
“Đổi tên nước, thực chất là lấy lại tên nước thời Bác Hồ, tất nhiên sẽ có tốn kém một chút nhưng cái được sẽ lớn hơn rất nhiều. Cái được lớn nhất là được lòng dân và tạo thế đi lên vững chắc cho đất nước”, nguyên Chủ nhiệm VPQH Vũ Mão trao đổi. >> Đề xuất phương án mới về tên nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòaUB Dự thảo sửa đổi Hiến pháp vừa đưa ra bản dự thảo Hiến pháp mới, với nhiều điểm mới sau thời gian 3 tháng lấy ý kiến người dân. Ở một số nội dung quan trọng, bản dự thảo mới đã đưa ra 2 phương án để tiếp tục thảo luận, cân nhắc, lựa chọn. Ông đánh giá thế nào về việc này? Tôi rất quan tâm và hoan nghênh cách làm này. Dù thời gian tiếp cận ngắn, tôi chưa nghiên cứu sâu về tất cả các nội dung nhưng trước hết tôi rất vui và phấn khởi bởi thấy cách thức làm việc của UB Dự thảo sửa đổi Hiến pháp như vậy là nghiêm túc, thể hiện tinh thần trách nhiệm, có sự khiêm tốn để lắng nghe và tiếp thu. Một số nội dung quan trọng mà còn có ý kiến khác nhau, Uỷ ban đã đưa ra 2 phương án để rộng đường phân tích, trao đổi, lựa chọn. Việc làm ấy, tôi cho là cần thiết và tích cực, thể hiện sự cầu thị, tiếp thu và tinh thần dân chủ để chúng ta có thể tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung Hiến pháp có lợi nhất. Tôi tin rằng nhân dân sẽ quan tâm và đồng tình với việc làm trên. Cũng như nhân dân đã từng hoan nghênh và ủng hộ với chủ trương cho phát thanh và truyền hình trực tiếp chất vấn và trả lời chất vấn, cách đây 20 năm. Nguyên Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Vũ Mão: "Tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phản ánh đúng tình hình đất nước hiện nay". Một điểm mới rất được dư luận chú ý là đề xuất về phương án lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa như tên khai sinh nước mà Chủ tịch HCM đã nêu trong tuyên ngôn độc lập để công bố với toàn thể dân tộc và quốc tế năm 1946. Quan điểm của ông về điểm mới này? Tôi rất đồng tình và cho rằng việc này thực sự hợp lòng dân. Tôi tán thành phương án lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Có thể nêu các lý do sau đây: Một là, tên nước cần phản ánh đúng tình hình đất nước trong giai đoạn hiện nay. Hai là, nhân dân ta, Đảng ta luôn luôn có đầu óc thực tiễn. Chúng ta là những người chân thực, biện chứng, dám nhìn thẳng vào sự thật. Ba là, hiện nay Đảng ta phát động phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Việc lấy lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một việc làm rất thiết thực. Tên nước là Việt Nam dân chủ cộng hoà được Bác Hồ đặt ra, được quy định trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Chúng ta rất trân trọng vì nó thể hiện sự sáng suốt, thiết thực của Bác Hồ. Bốn là, bà con người Việt Nam ở nước ngoài luôn luôn hướng vể tổ quốc, vui mừng dõi theo những thành quả mà nhân dân ta đạt được trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong nhiều năm qua, tôi đã nhiều lần được gặp gỡ, “tiếp xúc với các cử tri Việt Kiều”. Tôi hiểu được nguyện vọng của bà con. Tôi tin rằng việc đổi lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ được bà con hoan nghênh. Như thế, càng có lợi cho sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc. Năm là, các nước cùng thể chế chính trị như nước ta thì hầu như không nước nào đổi tên để có cụm từ xã hội chủ nghĩa như nước ta. Trung Quốc từ năm 1949 đến nay vẫn giữ nguyên gọi là nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa... Tôi thực sự vui mừng khi UB Dự thảo sửa đổi Hiến pháp đưa ra 2 phương án, trong đó có phương án lấy lại tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và tôi tin đa số người dân sẽ ủng hộ phương án này. Đây cũng là việc cần thiết để tạo động lực phấn đấu cho cả nước trong tình hình hiện nay. Nói như vậy có nghĩa, tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ thể hiện được đúng đặc điểm, trình độ phát triển của Việt Nam hiện nay và sẽ có tác động tích cực tới các bước phát triển của đất nước? Lấy lại tên nước như vậy sẽ rất có lợi cho nhân dân, để người dân hiểu thực chất chế độ chính trị của mình, hiểu thực chất mức độ phát triển hiện tại của đất nước mình, để mỗi người dân không ngạo mạn, chủ quan rằng mình đang ở “mốc” xã hội chủ nghĩa. Thực chất là mình đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ (mà thời gian của thời kỳ quá độ còn dài lắm). Nhân dân là người chủ, là nền tảng và là động lực để phát triển đất nước. Lãnh đạo định hướng đúng thì nhân dân cũng sẽ nhận thức đúng. Và như thế người dân sẽ nhận rõ trách nhiệm của mình phải làm gì để để xây dựng đất nước giàu mạnh. Đồng thời cần nhận rõ, chúng ta chấp nhận cơ chế thị trường (bản chất là cơ chế vận động của tư bản chủ nghĩa), chúng ta hội nhập quốc tế thì phải rất tỉnh táo và sắc sảo để chủ động có những chiến lược và sách lược để áp dụng sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc; để xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, minh bạch. Những người lãnh đạo cần có cái nhìn thực tiễn, không chủ quan, không ngộ nhận, tức là không được phép kiêu ngạo cộng sản như Lênin đã chỉ rõ. Bài học của thế giới và thực tiễn cách mạng của nước ta đã cho thấy tự kiêu tự đại là thất bại. Nhìn ra bên ngoài, các nước theo đuổi con đường Xã hội chủ nghĩa cũng đặt tên nước khác ta và nhiều người cho rằng, tên Việt Nam dân chủ cộng hòa sẽ giúp Việt Nam có được nhiều lợi thế trong quan hệ với bên ngoài? Tôi nghĩ bạn bè quốc tế cũng rất vui đón nhận tên gọi nói trên vì thấy Việt Nam tự nhận thức đúng giai đoạn phát triển hiện tại của mình, chặng đường mà mình đang đi. Nhìn ra thế giới, nước bạn láng giềng của ta là Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, họ không cần lấy tên nước là xã hội chủ nghĩa mà họ vẫn đổi mới, khôn ngoan và tài ba để tiến lên như vũ bão, vươn lên hàng thứ 2 thế giới và đang cạnh tranh vị trí số 1 với Mỹ. Tuy nhiên, nếu thay đổi tên nước cũng kéo theo nhiều hệ lụy như phải thay đổi rất nhiều văn bản, giấy tờ, con dấu, quốc huy… thậm chí có thể phải in lại tiền? Tôi cũng hiểu và cân nhắc nhiều về điều đó. Tuy nhiên, tôi thấy ở đây, phải đi vào bản chất của vấn đề. Tất cả những việc đó chúng ta có thể chuyển đổi dần, có quá trình. Tất nhiên sẽ có tốn kém một chút nhưng tôi nghĩ cái được sẽ lớn hơn rất nhiều. Cái được lớn nhất là được lòng dân, nghĩa là tạo dựng được vị thế chắc chắn để đi lên mạnh mẽ hơn. Những thứ thu về chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều so với những tốn kém do thay đổi tên nước. Hơn nữa, cũng sẽ có cách để giảm thiểu chi phí. Chẳng hạn, không nhất thiết ngay tức thì ta phải đổi tiền vì Quốc hội có thể ra một Nghị quyết với nội dung khẳng định, các loại giấy tờ, văn bản, tiền tệ đang sử dụng với tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn có giá trị như tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc này có thể kéo dài trong 2 năm, 3 năm hoặc 5 năm… để chuyển đổi dần dần. Chúng ta đủ thông minh để giải quyết, xử lý được những chuyện không lớn này. Xin cảm ơn ông! Điều 4 đã bao hàm ý Đảng lãnh đạo quân đội Tôi rất hoan nghênh việc đưa ra 2 phương án quy định về yêu cầu sự trung thành của lực lượng vũ trang trong chương Bảo vệ tổ quốc vì đã thể hiện tinh thần khiêm tốn, cởi mở, nghiêm túc trong việc lấy ý kiến sửa Hiến pháp. Tôi đồng tình phương án 1 là giữ nguyên quy định như Điều 45 Hiến pháp hiện hành. Điều 4 về sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn thể xã hội là bao quát nhất, bao gồm cả lãnh đạo lực lượng vũ trang. Vì thế, không quy định “lực lượng vũ trang phải tuyệt đối trung thành với Đảng” thì cũng không ảnh hưởng gì đến việc Đảng lãnh đạo quân đội cũng như ảnh hưởng đến tình cảm của người dân tới hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ, không ảnh hưởng tới ý chí kiên cường của QĐND Việt Nam. Còn nếu như cố tình giữ phương án 2 có quy định này thì cũng nên nói lực lượng vũ trang trung thành tuyệt đối với tổ quốc, với nhân dân rồi mới nói tới Đảng. Tôi xin được nói tới một câu chuyện: Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam thường gần với dịp tết nguyên đán, cho nên các nơi thường có khẩu hiệu: “Mừng Đảng, mừng xuân”. Đi đến các nơi tôi đều góp ý rằng: Khẩu hiệu nên sửa lại là: “Mừng xuân đất nước, mừng Đảng quang vinh”. Cách gọi này vừa hợp lẽ vừa thân thương. |
Cấn Cường – Phương Thảo (thực hiện)
Hanoi's War & Nguyễn Thị Liên Hằng
Bài viết của Nguyễn Mạnh Trinh Một cuốn sách mới về lịch sử chiến tranh Việt Nam của một nữ giáo sư sử học Hoa kỳ gốc Việt Nam xuất bản trong năm vừa qua đã đoạt giải thưởng Edward M. Coffman năm 2012. Tác phẩm ”Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Việt Nam” và tác giả Nguyễn Thị Liên Hằng.
Giải Edward M. Coffman là một giải thưởng hàng năm về sử học của The Society for Military History cho những tác phẩm đầu tay của những tác gỉa trong nội dung hòa hợp được những vấn đề liên quan với xã hội, chính trị, kinh tế, và lịch sử ngoại giao. Giải thưởng được lấy tên của một Professor Emeritus của đại học University of Wisconsin - Madison, Edward M. Coffman, một quân sử gia nổi tiếng của Hoa Kỳ. Nguyễn Thị Liên Hằng là giáo sư sử học của đại học University of Kentucky, tốt nghiệp Ph. D. tai đại học Yale và đã được nhiều fellow ship trong đó có fellow - ship Fubright về Việt Nam khảo cứu trong hai năm 2001 và 2002. Cô di tản khỏi Việt Nam khi mới vừa 5 tháng tuổi và trong giờ chót thứ 25 của thành phố Sài Gòn trước khi bị thất thủ.
Cô là giáo sư dạy về lịch sử bang giao quốc tế của Hoa Kỳ đặc biệt là chú trọng vào vùng Đông nam Á, nhất là thời kỳ chiến tranh lạnh, tác phẩn Hanoi’s War là tác phẩm đầu tiên. Tác phẩm thứ hai đang viết với những khám phá về hệ thống quốc tế của phong trào phản chiến trong thời kỳ chiến tranh cũng như vai trò và vị trí của những khuôn mặt nổi bật của một thời ngoại giao với những tài liệu khảo sát từ văn khố Hoa Kỳ và các nước Âu Châu.
Chiến tranh Việt Nam chiếm một phần quan trọng trong quân sử Hoa kỳ. Một cuộc chiến với nhiều bí ẩn và từ từ được lộ ra từ những văn kiện bí mật của văn khố các quốc gia liên quan đến cuộc chiến. Hàng trăm cuốn sách phân tích về cuôc chiến này với nhiều khuynh hướng đặt trong bối cảnh của quan điểm chính trị riêng biệt. Trong khi hầu như là hầu hết các sử gia nghiên cứu về chiến tranh Việt nam đều chú trọng vào nguyên ủy sự can thiệp của Hoa Kỳ và Mỹ hóa những xung đột tạo ra, Nguyễn Thị Liên Hằng lại chú ý trước tiên đến những quan hệ quốc tế mà các nhà lãnh đạo Bắc Việt theo đuổi cuộc chiến và Hoa kỳ đã can thiệp vào sau đó. Những chuyện kể đầy tính xác định đã dẫn dắt độc giả đi từ nơi chốn đầy bùn sình của đồng bằng sông Cửu Long đến nơi chốn đã bị bom đạn tàn phá của bình nguyên sông Hồng, từ những hành lang đầy quyền lực ở Hà Nội và từ Sài Gòn đến dinh Bạch ốc của tổng thống Richard Nixon, và từ nơi hòa hội ở Paris đến những hội nghị cao cấp ở Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh, tất cả những khám phá cho thấy hòa bình không có một chút hy vọng nào ở Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, những siêu cường đã có ảnh hưởng rất lớn đến chiên tranh và hòa bình ở Việt Nam.
“Chiến tranh của Hà Nội” đã tỏ lộ ra rất hiển nhiên những vận động không chính thức với những người được coi là kẻ thù trong Thời kỳ chiến tranh lạnh và biểu hiện rằng cuôc chiến đấu trong bàn hội nghị để tìm kiếm hòa bình cũng ngập máu và chiều rộng có mực độ lớn hơn điều được tiên liệu. Dùng những tài liệu văn khố mà từ trước tới nay chưa được hé lộ của Bộ Ngoại Giao Việt Nam sau thời kỳ đổi mới và cùng với những tài liệu từ văn khố các quốc gia khác có liên quan đến chiến tranh Việt Nam trên cả thế giới, tác giả Nguyễn Thị Liên Hằng đã bộc lộ ra một chính sách chiến tranh của Bắc Việt: gây ra chiến tranh và tạo dựng hòa bình, không những của nhà cầm quyền Bắc Việt mà còn cả của chính phủ Nam Việt Nam, Nga Xô Viết, Trung Quốc và Hoa Kỳ để tạo thành một bối cảnh toàn diện của cuộc chiến ở mức độ thế giới.
Tác giả đã viết Hanoi’s War như một cách thế để đập tan các huyền thoại về Việt Nam: ”Trong nhiều vấn đề rút ra từ những bài học ở Việt Nam và áp dụng vào Afganistan, đó là lịch sử của chiến tranh Việt Nam thường bị hiểu lầm hoàn toàn. Lịch sử của cuộc chiến này liên tục thay đổi khi có bằng chứng mới xuất hiện, đặc biệt từ phía bên kia. Do không chú ý nhiều về việc tìm hiểu động cơ của kẻ thù, các động lực bên trong và các mối quan hệ đối ngoại, chúng ta luôn có một hình ảnh không đầy đủ và thiếu chính xác về cuộc chiến tranh đó.
Người ta thường tin rằng miền Bắc Việt quyết định đi đến chiến tranh trong năm 1959-1960 là để cứu cuộc nổi dậy ở miền Nam khỏi bị diệt trừ và đảng Cộng sản có được sự ủng hộ không mệt mỏi của người dân Việt Nam cho đến khi chiến tranh kết thúc năm 1975. Nhưng bằng chứng gần đây tiết lộ rằng quyết định của đảng đi đến chiến tranh ở miền Nam Việt Nam có một mối liên hệ mật thiết với các vấn đề ở trong nước. Chiến tranh cách mạng là một cách hiệu quả để đánh lạc hướng sự chú ý về các vấn đề trong nước, gồm một chiến dịch cải cách ruộng đất tàn phá, một phong trào trí thức bất đồng ý kiến và một kế hoạch của chính phủ không thành công để chuyển đổi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Một trong những quan niệm sai lầm nhất của cuộc chiến Việt nam là ông Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo lỗi lạc của Bắc Việt. Thực tế ông chỉ là bù nhìn, trong khi Lê Duẩn, một người đứng bên lề lịch sử, lại là một kiến trúc sư, nhà chiến lược chính và là chỉ huy trưởng của nỗ lực chiến tranh của Bắc Việt. Ông Duẩn nghiêm khắc, không ồn ào, xa lánh sự chú ý, nhưng ông có ý chí sắt đá, có kỹ năng quản trị và tập trung sự cần thiết để thống trị đảng Cộng sản.
Cùng với một nhân vật là cánh tay phải của mình, ông Lê Đức Thọ được coi như là một nhà ngoại giao cứng rắn bất khuất, người mà sau này đấu khẩu với Henry A. Kissinger trong các cuộc đàm phán hòa bình Paris, ông Duẩn xây dựng một đế chế quân phiệt vững chắc, vẫn còn chi phối Hà Nội đến ngày nay. Các chính sách hiếu chiến của họ đã dẫn dắt Bắc Việt vào cuộc chiến chống lại chế độ Sài Gòn và sau đó là Washing ton D. C. , với bảo đảm rằng một nền hòa bình được thỏa thuận sẽ không bao giờ thay thế thắng lợi hoàn toàn. Ông Duẩn thống trị đảng với một bàn tay sắt và xem ông Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người nổi tiếng với việc đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, là mối đe dọa lớn nhất đối với quyền hành của ông ta. Ông ta loại bỏ ông Hồ, tướng Giáp và những người ủng hộ họ khi quyết định gần như hầu hết các quyết định quan trọng…”
Trong phần đầu, tác giả kể lại cuộc chia tay giữa hai nhân vật trọng yếu của cuộc chiến Việt Nam là Lê Duẩn và Lê Đức Thọ vào năm 1955 bên dòng sông Ông Đốc ở Cà Mau. Lê Duẩn thì ở lại miền Nam và Lê Đức Thọ xuống tàu Liên Xô tập kết ra Bắc nhưng để rồi trong ít năm sau kéo dài đến tàn cuộc, hai người đã cùng nhau lãnh đạo cuộc chiến và là một chìa khóa chính yếu để giải quyết chiến tranh. Thời điểm năm 1955 vẫn còn trong hạn định mà hòa ước Genève cho phép tự do lựa chọn nơi cư trú của cư dân hai miền. Trong lúc ở lại miền Nam, Lê Duẩn lập ra Trung Ương Cục miền Nam với những người đứng đầu như Phạm Hùng, Nguyễn văn Linh, Võ Văn Kiệt sẽ lãnh đạo cuộc chiến trong tương lai. Trở lại Hà Nội, Lê Duẩn quyết định phải thống nhất đất nước bằng võ lực và tiến hành những nỗ lực sửa soạn cho chiến tranh. Nghị quyết 15 của đảng Lao Đông Việt nam ( tức đảng Công sản VN) đã xác định rõ mục tiêu này. Chiêu bài “chống Mỹ cứu nước” được xử dụng và tất cả những người bất đồng ý kiến với chủ trương trên bị thanh trừng triệt hạ. Hàng chục ngàn người kể cả những người có công trạng hoặc nổi tiếng bị bắt giam, tra tấn do một chế độ công an trị thi hành. Những tướng tá và nhân vật thân cận với tướng Võ Nguyên Giáp bị giam cầm, bị khai trừ khỏi đảng và nhiều khi bị thanh toán với những cái chết đầy bí ẩn. Do đó, luận cứ cho rằng tất cả đảng Cộng sản một lòng đoàn kết trong chiến tranh là một luận cứ không tưởng chẳng có một chút nào trong sự thực. Sự đoàn kết chỉ có trong tuyên truyền và chế độ Cộng sản do Lê Duẫn lãnh đạo đã dùng sự khủng bố để đàn áp và bắt buộc mọi người phải tuân theo bằng bạo lực.
Tác giả Nguyễn Thị Liên Hằng viết “Hanoi’s War: An International History of the War for Peace in Việt nam” (Chiến tranh của Hà Nội: lịch sử quốc tế của cuộc chiến cho hòa bình ở Việt Nam) với chủ đích từ những tài liệu văn kiện mới để có nhận định làm sáng tỏ hơn lịch sử của cuộc chiến đã có quá nhiều hỏa mù che phủ từ những nhận định đầy tính chủ quan của những người phân tích. Những tài liệu văn kiện mới mà tác giả đã xử dụng được trong tác phẩm là tài liệu văn khố của bộ Ngoại Giao của chế độ Việt Nam Cộng sản ở Hà Nội. Trả lời tại sao lại có được may mắn xử dụng những tài liệu trên, tác giả trong cuộc phỏng vấn nói:
“Tôi có mặt đúng chỗ đúng lúc. Khi tôi bắt đầu cuộc nghiên cứu trong những năm cuối của thập niên 1990 về cơ bản lúc đó cả văn khố chủ yếu của Việt Nam là văn khố của đảng Cộng sản, văn khố của quân đội của bộ Quốc Phòng, văn khố của bộ Ngoại Giao đều cấm không cho các học giả được tham khảo, dù là người Việt Nam hay ngoại quốc. Chỉ có các giới chức làm việc trong các bộ liên hệ mới được tham khảo tài liệu. Nhưng tới những năm 2000 thì đã có một số thay đổi về chính sách đối với người Việt ở hải ngoại. Việt Nam mở cửa rộng hơn để đón các học gỉa từ các cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Họ muốn thu hút Việt kiều và tôi đã nắm ngay lấy cơ hội”.
Có nhiều người rất ngạc nhiên vì xử dụng được những tài liệu trong văn khố thuộc hàng tối mật không phải là chuyện dễ dàng mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện được. Tác giả đã giải thích là có sự thuận lợi bởi vì giới hữu trách Việt Nam coi thường công trình và khả năng của một sử gia trẻ tuổi người Việt Nam lớn lên và sinh sống ở hải ngoại. Họ nghĩ, với một đề tài có nhiều chất thách đố như chiến tranh Việt Nam có lẽ không thích hợp với một người thuộc nữ giới…
Sử gia George C. Herring, tác giả của America’s Longest War, The United States in Việt nam” đã nhận xét: ”Xử dụng những tài liệu mới mẻ và quan trọng của những văn khố từ khắp thế giới, mà phần đông là từ Việt Nam, Nguyễn Liên Hằng đã viết và tạo dựng được những điểm son đầu tiên và xác thực của cuộc hòa đàm đã dẫn dắt đến Nghị Hội Paris. Tác phẩm Hanoi’s War là một công trình đặc sắc, là những viên gạch xây dựng không thể bỏ qua cho sự thay đổi tức thì của lịch sử của những xung đột ở Việt Nam”.
Tác gỉa đã phỏng vấn nhiều nhân vật Việt Nam ở cả hai phe như Bùi Diễm, Bùi Tín, Hoàng Minh Chính, Hữu Ngọc, Lưu Doan Huỳnh, Lưu Văn Lợi, Nguyễn Đình Ước, Nguyễn Khắc Huỳnh, Nguyễn Ngọc Dung, Trần Thị Liên… để có thể xác định rõ ràng hơn tính chính xác của các tài liệu văn bản đã xử dụng trong văn khố. Căn bản của cuốn sách là những tìm kiếm sưu khảo từ hàng ngàn tài liệu, công điện, sách báo và những phần thu thanh ghi lại những cuộc phỏng vấn hàng trăm người có liên hệ đến cuộc chiến, phải nói là một dẫn chứng đồ sộ có nhiều tính thuyết phục. ”Hanoi’s War” gồm 4 phần chia ra làm 8 chương với nội dung: Phần 1 là Con đường của cuộc chiến tranh cách mạng: Lê Duẩn nắm quyền lực và chỉ đạo cuộc chiến cũng như hoạch định chính sách ngoại giao trong thời gian chiến tranh; Phần 2: phá vỡ những huyền thoại cũ và nêu lên cuộc chiến tại Hà Nội tranh dành quyền lực mà rõ rệt nhất là trong thời kỳ Tổng Công Kích tết Mậu Thân và thời kỳ của Hội nghị hòa bình Paris và cả thời gian sau đó; phần 3: Theo đuổi bản hòa âm chiến thắng với những hoạt cảnh từ chiến trường đến bàn hội nghị cũng như cách thế vừa đánh vừa đàm của chế độ Hà Nội; phần 4 : tạo thành một nền hòa bình què quặt với những nỗ lực chống lại khuynh hướng chủ hòa trong nội bộ cũng như việc thúc đẩy cường độ chiến tranh để mưu tìm một hòa bình của kẻ chiến thắng. Nhân vật chính của “Hanoi’s War” và là nhân vật chủ chốt là Lê Duẩn. Ông ta đã áp lực để làm cho Hồ Chí Minh phải ngưng lại ý kiến không muốn thực hiện leo thang chiến tranh vào những năm 1963-1964 để tìm một chiến thắng nhanh chóng trước khi Hoa Kỳ can thiệp trực tiếp bằng quân sự vào Việt Nam. Năm 1967- 1968 ở Bắc Việt đã có một cuộc thanh trừng với quy mô lớn nhằm vào những người phản đối chính sách của Lê Duẩn nhắm vào ông Hồ, tướng Giáp và những người thân cận chống lại kế hoạch Tổng công Kích tết Mậu Thân. Mặc dù cuộc chiến ở miền Nam lúc đầu đã tập họp được nhiều người miền Bắc để hỗ trợ Đảng nhưng nó nhanh chóng trở thành một vũng lầy. Ông Duẩn và ông Thọ phản ứng bằng cách gán cho những người phản đối phương cách điều hành chiến tranh tội phản quốc. Bằng cách tăng quyền hạn của lưc lượng an ninh nội bộ và an ninh tư tưởng, và Hà Nội chinh phục cuộc chiến ở miền Nam với chiêu bài yêu nước, Lê Duẩn đã có thể tiến hành một cuộc chiến tổng lực theo như đã hoạch định cho đến năm chấm dứt chiến tranh năm 1975. Hai nước lớn trong phe Cộng sản là Trung Quốc và Liên Xô có những bất đồng sâu sắc cũng gây ra nhiều ảnh hưởng trong cuộc điều hành chiến tranh của Lê Duẩn. Chính sách đu dây lúc đầu ngả theo Trung Quốc để tiến tới một cuộc chiến tranh tổng lực và toàn diện nhưng lúc về sau khi quân đội Mỹ tham chiến trực tiếp thì viện trợ của Liên Xô đổ vào Bắc Việt. Năm 1968, sự tranh dành ảnh hưởng giữa hai nước này đã ở mức căng thẳng tột độ. Lê Duẩn tung ra hai chiến dịch:
Tổng Công Kích tết Mậu Thân và chiến dịch Xuân Hè năm 1972 mà cả hai Trung Quốc và Liên Xô không chấp thuận. Năm 1972, tổng thống Richard Nixon đi thăm Trung Quốc và Liên Xô nên cả hai nước gây áp lực để làm giảm bớt cường độ của trận chiến và kết thúc dựa trên các điều khoản của Nixon khi họ tranh dành nhau những ân huệ của Washington. Lê Duẩn phát động hai chiến dịch đẫm máu kể trên như một đòn tấn công chí mạng vào việc giảm bớt căng thẳng giữa Hoa Kỳ và hai ngước Cộng sản đàn anh này.
Tác giả ”Hanoi’s War” cũng cho rằng chính Hoa Kỳ tự đánh bại mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam là một huyền thoại. Bắc Việt đã chủ ý gây chiến tranh và định hình được các hành động của Hoa Kỳ ở Việt Nam cũng như trật tự cuộc chiến tranh lạnh trên thế giới. Chính Lê Duẩn đã dồn hết toàn lực cho chiến thắng trong năm 1964 khiến Hoa kỳ bị thúc đẩy can thiệp trực tiếp vào chiến tranh. Không phải Bắc Việt là một đối thủ thụ động mà chính họ đã gây ra cuộc chiến với sự chấp nhân hy sinh mọi thứ để đạt được chiến thắng.
Vai trò của Hoa Kỳ và đồng minh là Nam Việt Nam đôi khi lỏng lẻo và mỗi phe vì lợi ích riêng của mình nên có những hành động trái ngược nhau và bất lợi cho liên minh Washington DC – Sài Gòn. Làm chậm việc rút quân Mỹ trong năm 1969 và phá tan các cuộc đàm phán hòa bình giữa ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger và Lê Đức Thọ năm 1972-1973, các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam đã làm cho việc Mỹ rút khỏi Đông Nam Á phức tạp hơn nhiều. Mặc dù Washington DC có những lý do riêng về địa điểm chiến lược và nội bộ để can thiệp và ở lại Việt nam nhưng các nhà lãnh đạo hai phe Bắc và Nam Việt Nam đã chi phối tính chất và tốc độ can thiệp của Hoa Kỳ.
Hanoi’s War là một cách nhìn lịch sử mới dựa trên những tài liệu thu thập được từ văn khố của Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng sản. Trách nhiệm của cuộc chiến tổn hại trên 2 triệu sinh mạng người Việt là trách nhiệm của Lê Duẩn và Lê Đức Thọ với chủ trương hiếu chiến không chấp nhận sống chung hòa bình với những người quốc gia. Giải pháp hòa bình bằng thương thuyết cũng bị gạt bỏ và chủ trương trung lập chế cũng bị phê phán. Chủ trương duy ý chí này của Lê Duẩn cũng đã gây ra hai cuộc chiến tiếp theo sau năm 1975 với Trung Quốc năm 1979 và với Khờ me Đỏ năm 1980. Và cũng với đường lối ngoại giao cứng rắn nên Việt Nam bị cả thế giới cô lập tạo nên một thời kỳ tệ mạt nhất trong cả lịch sử dân tộc.
Nguyễn Mạnh Trinh
Chiến tranh và góa phụ trong xã hội Việt Nam Hai phụ nữ Việt Nam tại nghĩa trang quân đội Biên Hòa hôm 29/4/1975 AFP photo Chiến tranh Việt Nam đã lại để lại hàng triệu goá phụ, và những đứa con côi cút bị mất cha, lìa mẹ. Có người tiếp tục bước thêm bước nữa để tìm hạnh phúc mới, nhưng nhiều người đã ôm con, thờ chồng, sống cuộc đời phòng không, chiếc bóng từ khi tóc hãy còn xanh.
Họ là những cánh hoa thời loạn ly bị cuốn đi trong cơn giông bão của chiến tranh. Những tấm gương trung kiên, hy sinh thầm lặng mà không hề nhận được huy chương, không một bó hoa và tên của họ cũng không bao giờ được khắc trên bia đá để nhiều người tưởng nhớ.
Những nỗi buồn câm lặng
Trong chương trình hôm nay, nhân kỷ niệm ngày 30 tháng 4 năm 1975, tôi xin gởi đến quý độc giả hình ảnh của những goá phụ đáng kính mà chiếc bóng cô đơn của họ đã ẩn sâu sau những bức tường của những căn nhà hiu quạnh với những nỗi buồn câm lặng, chịu đựng một cách can trường.
Cuộc chiến Việt Nam đã chấm dứt cách đây 38 năm, nhà cửa đã mọc lên thay cho những hố bom. Những cánh đồng hoang lúa đã trổ bông. Cây đã nở hoa. Rừng xanh bao lần thay lá. Nhưng vết thương lòng của nhiều thế hệ vẫn còn rỉ máu. Lòng người vẫn chia cắt, ý thức hệ vẫn còn là một hố sâu ngăn cách chưa thể hàn gắn. Người dân trong nước vẫn chưa có cuộc sống bình yên, chưa tìm được tự do, hạnh phúc thật sự.
Đã có rất nhiều tài liệu, sách vở viết về "Cuộc chiến Việt Nam”.Tất cả đều cho rằng đây là cuộc chiến tranh khốc liệt, đẫm máu và đầy nước mắt. Nhưng con số thương vong chính xác vẫn chưa thống kê một cách đầy đủ. Theo Tổ chức Vietnam Agent Orange Relief & Resposibility Campain có trụ sở tại New York cung cấp thì có khoảng 4 triệu người Việt Nam của hai bên đã thiệt mạng, bị thương, hoặc mất tích trong giai đoạn 1965-1975. Riêng quân đội Hoa Kỳ đã có 58,151 người hy sinh trên chiến trường miền Nam Việt Nam. (*)
Chỉ riêng tại Miền Nam đã có 800.000 trẻ em mồ côi. Hàng triệu goá phụ và ít nhất 10 triệu người trở thành vô gia cư (**).
Những câu chuyện về cuộc đời của những goá phụ là những nỗi thống khổ và sự mất mát của họ đã vượt qua không gian và thời gian. Làm thế nào họ thích ứng sau đó và bây giờ? Làm thế nào họ được an ủi, hỗ trợ, hoặc những gì họ đã cố gắng tìm kiếm để tạo dựng lại cuộc sống, tìm cho mình và các con một tương lai hạnh phúc mới. Tất cả điều đó đã được khám phá trong những câu chuyện bi thảm dần dần được hé mở. Những bi kịch, đổ vỡ trong trái tim và cuộc đời họ rất thầm lặng như một mạch nước ngầm thấm sâu trong lòng đất.
Sau năm 1975, cộng sản đã đưa hơn 1 triệu dân quân cán chính VNCH đi học tập cải tạo. Có người đã được trở về sum họp gia đình. Nhưng có 165.000 người đã chết trong nhà tù cộng sản. (***) Miền Nam lại có thêm những goá phụ với cõi lòng tan nát.
Tôi được tiếp xúc với bà Trần Thanh Minh, người goá phụ có chồng là Giảng Viên Tâm Lý Chiến tại trường Võ Bị Đà Lạt, bị cộng sản bắt giam và ông đã chết trong tù. Bà một mình phải nuôi bốn đứa con nhỏ, cháu lớn nhất mới vừa 6 tuổi và cháu nhỏ nhất mới vài tháng tuổi. Bà đã kể lại hoàn cảnh của mẹ con bà sau cái chết của chồng:
“Ông xã tôi ra đi lúc đó tôi mới có 35 tuổi. Nhưng mà sau 20 năm ở lại với bao nhiêu những đau khổ, vật lộn với miếng ăn. Tôi đã đi bán bánh tôm, bánh cuốn ở Hồ Con Rùa. Tôi đã đi chạy thuốc tây. Tôi đã bán quà cho học trò ở trong những căng-tin trong trường. Có thể nói rằng ai sai cái gì làm cái đó. Mình làm hết cái khả năng của mình cũng không đủ nuôi con. Cho nên cái mong ước lúc bấy giờ, tôi chỉ cầu xin làm sao cho các con tôi đủ ăn, sống một cuộc đời không phải đói rét.”
Trong bài hồi ký “Chuyện Buồn Người Vợ Tù” bà đã viết “Thế là xong, là tuyệt vọng cả đời. Lúc đó, tôi sống cũng như chết rồi….” Bà đã kể thảm cảnh chết đói của chồng khi đi học tập cải tạo tại Miền Bắc với tâm trạng bồi hồi và xúc động:
“Cô Phong Thu biết tù cải tạo không tức là họ đưa đi vào rừng vào núi để làm một cái nhà tù lớn để ở trong đó lao động cuốc đất, trồng cây. Nhưng mà hơn một năm trời không có tin tức gì hết. Sau đó là nhà nước cho đi thăm nuôi. Nhưng tôi không được may mắn hơn mọi người. Khi ở trong Nam là còn được đi thăm. Nhưng khi họ chuyển nhà tôi đi ra Bắc. Tôi ra tới chỗ mới biết chồng tôi đã chết ở Vinh, Nghệ Tĩnh. Theo lời các anh kể lại là lúc bấy giờ không có ăn phải ăn lá cây chín ngày, không thuốc men là phải chết thôi. Tôi nghĩ là không thể nào quên được hết cái cảm giác trước khi tôi gục xuống thì tôi thấy như là có vật gì nó đập vào tôi, tối đen và có ánh sáng li ti phát ra. Tôi ngất đi.”
Khi tôi hỏi bà suy nghĩ gì về cuộc chiến đã qua và bà có ý kiến gì với chính sách cai trị của nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội. Bà chỉ buồn bã nói:
“ Chuyện đã qua thì tôi không có chính trị cho nên tôi cũng chẳng có ý kiến gì nhưng tôi không đồng ý với những chính sách mới là tại sao cứ phải làm khổ nhau? Tại sao không dùng những chất xám, những bộ óc siêu việt để mà xây dựng lại đàng này lại đem người ta vào rừng sâu, nước độc rồi để cho người ta đói khát chết dần, chết mòn. Rồi để cho vợ con người ta khổ sở đi kinh tế mới.
Không có một gia đình nào tôi thấy trọn vẹn hết. Người ta cố đi tìm tự do. Tại sao người ta phải đi tìm? Vì người ta khổ quá. Người ta không có ăn. Sống không được nói. Lúc nào cũng bị kiềm kẹp, lúc nào cũng lo sợ. Thành ra chính tôi đã dẫn những đứa con tôi đi vượt biên. ”
Bà đã đưa các con đi vượt biên 20 lần nhưng không thoát và phải đi tù nhiều lần. Trong nhà tù đói khát và hết sức khủng khiếp mà cho đến nay đã mấy chục năm bà vẫn không bao giờ quên.
Vết thương lòng còn mãi
Giáo Sư Pauline Laurent, tác giả cuốn Grief Denied - A Vietnam Widow's Story. Photo courtesy of griefdenied.com Ngay cả trong lòng xã hội Mỹ, cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt 40 năm nhưng nỗi ám ảnh vẫn chưa thực sự kết thúc.
Tôi có dịp trao đổi với Giáo Sư Pauline Laurent, tác giả quyển sách nổi tiếng “Nỗi Buồn bị Từ Chối- Câu chuyện về người goá phụ trong chiến tranh Việt Nam.” Grief Denied - A Vietnam Widow's Story). Bà đã kể cho tôi nghe câu chuyện cảm động về cuộc đời bà:
“Chồng tôi tên là Sgt. Howard E. Querry chết trong cuộc tấn công Mini- Tết vào ngày 10 tháng 5 năm 1968. Đó là tuần lễ mà nhiều người lính Mỹ tử trận nhiều nhất trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam.
Lúc đó, tôi mới 22 tuổi, đang mang thai đứa con đầu lòng được 7 tháng. Đơn vị anh đến gõ cửa và báo cho tôi biết chồng tôi đã hy sinh tại một thành phố gần Sài Gòn. Thi hài anh được đưa trở lại Hoa Kỳ hai tuần sau đó. Họ không cho tôi được mở nắp quan tài để nhìn anh một lần sau cùng. Thật khó khăn biết bao khi tôi chôn cất anh mà không được nhìn thấy thi thể của anh. Chúng tôi đã làm lễ chôn cất anh tại nhà thờ mà cách đây một năm chúng tôi đã làm lễ cưới tại đây. Chúng tôi cưới nhau vào tháng 9 năm 1967, anh hy sinh vào tháng 5 năm 1968, con gái tôi được sinh ra vào tháng 7 năm 1968.”
Trẻ trung, thông minh, xinh đẹp và có một địa vị xã hội cao, nhưng bà Pauline đã không tái giá. Bà sống một mình nuôi con với sự an ủi, trợ giúp của cha mẹ và gia đình. Trái tim bà không còn rung động lần thứ hai vì cảm xúc yêu thương đã chết từ khi chiếc quan tài của người chồng thân yêu chôn sâu trong lòng đất. Bà đã bị bịnh trầm cảm nhiều năm bởi nỗi buồn của bà không được lộ ra ngoài, không có ai chia sẻ. Bà nói:
“Tôi chưa bao giờ lập gia đình lần thứ hai. Trái tim tôi đã tan vỡ và không bao giờ còn chữa lành được vết thương kể từ khi anh qua đời và lúc đó tôi còn quá trẻ. Tình yêu đó vẫn chưa tan trong tim tôi. Tôi cũng có quen một vài người đàn ông sau này nhưng chưa ai làm cho tôi rung động và dẫn đến quyết định kết hôn và chung sống với họ. Không bao giờ tôi tìm được người đàn ông nào tuyệt vời như chồng tôi. Và anh cũng yêu tôi biết bao. Tôi sống chung với một vài người bạn gái nhưng chưa bao giờ chung sống với bất cứ người đàn ông nào.”
Sau đó, bà đã viết sách để bày tỏ nỗi lòng của mình. Đó là giải pháp để bà tự chữa lành vết thương, giải thoát cho bà ra khỏi sự im lặng, nỗi buồn dai dẳng và bà đã nhiều lần có ý định tự sát. Bà tâm sự:
“Tôi đã bỏ ra 10 năm để viết quyển sách (Grief Denied-A Vietnam Widow's Story - Nỗi Buồn Bị Từ Chối - Câu chuyện của một goá phụ trong cuộc chiến tranh Việt Nam”).Tôi bắt đầu viết khi tôi rơi vào trạng thái đau khổ, buồn chán và muốn tự sát. Tôi không thể tự kết liễu đời mình vì tôi còn nghĩ đến con gái của tôi. Quyển sách của tôi đang bán tại website: http://www.griefdenied.com. Nó cũng bán trên Amazon.com.
Nội dung quyển sách nói về chuyện tại sao tôi im lặng, chịu đựng suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, và tôi muốn nói cho mọi người hiểu những đau khổ của những người phụ nữ có chồng là một người lính Mỹ đã tử trận. Tôi cũng muốn nói cho mọi người biết làm thế nào để tự chữa lành vết thương trong trái tim mình. Phần sau cùng của quyển sách là niềm vui của tôi khi Alexis Monhoff, đứa cháu trai đầu tiên của tôi ra đời.”
Còn nỗi lòng của bà Trần Thanh Minh thì sao? Bà đang mơ ước những gì vào cuối cuộc đời sau biết bao bể dâu, cay đắng? Bà đã viết rằng “Tôi chắc chồng tôi cũng nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đi với anh. Chúng tôi phải nối tiếp lại những ngày hạnh phúc ngắn ngủi xa xưa. Tôi không thể sống mãi trong cô đơn để run sợ trước những ám ảnh của dĩ vãng và những nhung nhớ khôn nguôi người chồng mà tôi mãi mãi yêu thương như buổi đầu gặp gỡ” (Trích trong bài hồi ký “Chuyện Buồn Người Vợ Tù của bà Trần Thanh Minh). Bà tâm sự:
“Những người Mỹ nhân đạo đã đưa mẹ con tôi qua đây theo diện HO. Gia đình có người chết trong trại cải tạo thì họ cho tôi đi. Mẹ con chúng tôi qua đây được mười mấy năm. Cuộc sống rất là ổn định. Các cháu học hành thành tài, có gia đình hạnh phúc. Lúc này, tôi chẳng còn mơ ước gì hơn là mình sẵn sàng ra đi. Cũng hy vọng là ra đi để được đoàn tụ với người chồng mà tôi chỉ được chung sống có năm năm. Đó là nguyện ước cuối cùng của tôi. Tại vì sống ở trên đời này, mình không tìm thêm được một nửa người của mình nữa thành ra mình hy vọng nếu có thế giới bên kia thì mình sẽ được gặp lại phải không cô Phong Thu.”
Tôi cũng hỏi bà Pauline về niềm hy vọng cho những goá phụ Việt Nam và Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt nam, bà Pauline không nói gì về thù hận. Bằng một tấm lòng đầy vị tha và đầy tình người. Bà nói:
“Tôi rất đau buồn cho người Mỹ cũng như người Việt Nam về những gì đã diễn ra. Bởi vì người Mỹ không có ai nói về cuộc chiến tranh Việt Nam cho nên vết thương lòng không thể hàn gắn lại được. Hãy tiếp tục tự chữa lành những vết thương lòng và hãy tha thứ, quên đi những bi kịch đau buồn của cuộc chiến tranh đó. Vì nó đã gây ra đau thương cho rất nhiều người, cả người Mỹ và người Việt Nam.”
Người chết là hết. Họ trở về với cát bụi. Nhưng người còn sống luôn khắc khoải, sống trong nỗi tuyệt vọng, nhung nhớ và đón nhận mọi giông bão của cuộc đời.
Xin dành một vòng hoa đẹp nhất, trang trọng nhất để vinh danh những người mẹ, những người vợ đã hy sinh thầm lặng một đời để thờ chồng và nuôi các con khôn lớn. Tình yêu của họ là một viên ngọc quý báu để người đời suy gẫm và biết trân trọng hạnh phúc mà mình đang có trong tay ./.
Phong Thu, thông tín viên RFA
Dân chúng hết sợ hãi đánh trả Công An Trung úy công an bị cắn đứt lóng tayChuyện hy hữu xảy ra tại xã Tân Lập, H.Tân Thạnh (Long An). Theo tường trình của anh Nguyễn Văn Tân (35 tuổi, ngụ ấp 4, xã Tân Lập), chiều 10.4, sau khi đã uống rượu, anh chạy xe máy va quệt vào ô tô và xảy ra cự cãi với hàng xóm, sau đó bị 3 công an xã tới nhà mời về trụ sở làm việc.Tới trụ sở công an xã, anh bị còng tay và bị trung úy Châu Văn Tuyến, Phó trưởng công an xã cùng Hà Nhựt Tử, công an viên, đánh, đạp tới tấp vào mặt, vào bụng… Được tin báo Tân bị đánh, Nguyễn Văn Quốc, anh ruột của Tân, liền đến công an xã. Anh Quốc kể: “Nghe em tôi bị đánh, tôi cầm chai nước khoáng chạy tới định gửi vô cho Tân uống. Trung úy Châu Văn Tuyến ngoắc tôi vô phòng, kêu ngồi xuống ghế rồi chốt cửa lại và nhảy tới đá vào ngực khiến tôi ngã vô vách. Tôi tung cửa phòng chạy ra ngoài la lớn “công an đánh dân” liền bị anh Hà Nhựt Tử đứng bên ngoài chặn lại, đá vào bụng, còng tay tôi lại rồi cả hai cùng nhào vô đánh tới tấp… Tôi sợ quá, la lên thì anh Tuyến dùng mấy ngón tay thọc sâu vào họng tôi. Bị đau quá, tôi cắn mạnh khiến anh ta bị đứt ngang đầu ngón trỏ. Sau đó tôi bị còng tay đến chiều. Khi công an huyện tới mở còng ra, lập biên bản rồi cho về, gia đình đưa chúng tôi nhập viện đến ngày 17.4 thì xuất viện”.  Sau một tuần, mí mắt của Nguyễn Văn Tân vẫn còn thâm tím - Ảnh: H.P
|
Phó công an xã có say ? Chiều 18.4, chúng tôi đến Công an H.Tân Thạnh để xác minh sự việc nói trên. Trung tá Võ Quốc Thanh, trực ban công an huyện, yêu cầu chúng tôi ngồi chờ ông báo lãnh đạo rồi sau đó trở lại cho biết: “Lãnh đạo nói cơ quan phát ngôn là công an tỉnh. Muốn hỏi gì về tỉnh”. Chúng tôi đưa giấy công tác nhờ đóng dấu xác nhận giùm, ông Thanh cũng từ chối. Cũng trong chiều 18.4, chúng tôi gặp đại tá Phạm Hữu Châu, Phó giám đốc Công an tỉnh Long An. Ông Châu tỏ ra bất ngờ vì “chưa nghe thông tin này”. Ngay lúc đó, một sĩ quan tham mưu trình cho ông báo cáo của Công an H.Tân Thạnh, theo đó: “Công an huyện xác định Nguyễn Văn Tân có hành vi gây rối trật tự công cộng, bị công an xã mời về làm việc là đúng quy trình. Nguyễn Văn Quốc là đối tượng đang được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã theo Nghị định 163, là người không có liên quan đến việc gây rối nhưng có hành vi đánh lực lượng công an và vu khống công an đánh dân”. Viên sĩ quan tham mưu nói với phóng viên: “Vụ này công an huyện đã có báo cáo, xác minh rõ ràng hết rồi, xong hết rồi”. Khi chúng tôi hỏi: “Vậy phó công an xã có uống rượu và có bị cắn đứt lóng tay không?”, sĩ quan tham mưu nói: “Có cắn và cũng có nhậu nhưng mà ít thôi. Bình thường, đâu có gì. Tại thằng này nó ba trợn”. Trong khi đó, hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện đa khoa Tân Thạnh ghi nhận ông Tuyến, 27 tuổi, nhập viện lúc 15 giờ 30 ngày 10.4.2013 vì “bị người khác cắn đứt gọn 1/2 đốt xa ngón 1 bàn tay trái”. Đặc biệt, theo phiếu xét nghiệm của bệnh viện thì nồng độ rượu trong máu của ông Tuyến lúc nhập viện lên tới 304 mg/dl, tức là hơn gấp 3 lần mức bình thường (từ 0 đến dưới 100). Còn người bị bắt vì lý do “nhậu say gây rối” là Nguyễn Văn Tân nồng độ rượu trong máu là 151 mg/dl. Cũng theo bệnh án, Nguyễn Văn Quốc nhập viện trong tình trạng “bị xây xát da đầu vùng đỉnh, chẳm, phù má phải và đau mạn sườn”. Còn Nguyễn Văn Tân thì “bầm tím gò má 2 bên, môi dưới có vết xước mặt trong + bầm, vùng trước ngực có nhiều vết bầm…”. Hoàng Phương Bình Định: Hai đối tượng đánh công an xã ra đầu thú(Dân trí) – Ngày 14/3, Công an huyện Tuy Phước (Bình Định) cho biết, 2 trong 4 đối tượng tổ chức đánh nguyên phó công an xã dẫn đến chấn thương sọ não đã đến cơ quan này đầu thú.Hai đối tượng đó là: Lê Vũ Nhân (23 tuổi, ở Nhơn An, thị xã An Nhơn) và Nguyễn Tấn Long (25 tuổi, ở phường Nhơn Hưng, thị xã An Nhơn, Bình Định). Trước đó ngày 1/3, đối tượng cầm đầu trong nhóm này là Đinh Xuân Luận(38 tuổi, trú tại thị xã An Nhơn) đã đến cơ quan công an Tuy Phước đầu thú. Thông tin ban đầu, năm 2011, ông Phạm Tấn Đạt (55 tuổi, ở thôn Háo Lễ, xã Phước Hưng) nguyên là phó công an xã Phước Hưng có lập hồ sơ xử phạt hành chính đối với ông Lê Thanh Tâm (41 tuổi) và con ruột là Lê Thanh Tuấn (19 tuổi, cùng ngụ tại thôn Lương Lộc, xã Phước Hưng) vì có hành vi vi phạm pháp luật. Khoảng chiều 22/2, tên Đinh Xuân Luận đến nhà ông Lê Thanh Tâm nhậu thì nghe ông Tâm kể lại vụ việc trên. Sau khi nghe ông Tâm kể, tên Luận hứa với ông Tâm là sẽ cho ông Đạt bài học để cảnh cáo. Đến tối cùng ngày, tên Luận đã chở 2 tên Nhân và Long đến quán cà phê Quê Hương (ở thôn Háo Lễ, xã Phước Hưng), rồi nhờ tên Tuấn (con ông Tâm) dẫn đường đến nhà ông Đạt để gây sự. Sau đó, 1 trong 3 đối tượng này xông vào nhà đánh ông Đạt làm ông ngã đập đầu xuống nền nhà dẫn đến chấn thương sọ não. Sau khi gây án, các đối tượng này đã bỏ trốn khỏi địa phương trước khi đến cơ quan công an huyện Tuy Phước nhận tội. Được biết, hiện ông Đạt đã được mổ và vẫn đang điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định. Đánh công an viên, hai thanh niên bị khởi tốĐang hành hung người khác bị công an xã bắt gặp và can ngăn, Quy và Đầy không những không chấp hành mà còn tấn công lực lượng chức năng, khiến 1 đồng chí phải nhập viện cấp cứu. Ngày 13/4, cơ quan CSĐT Công an huyện Tam Nông (Đồng Tháp) đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Nguyễn Thanh Quy (24 tuổi) và Lê Văn Đầy (21 tuổi, cùng ngụ xã Tân Công Sính, huyện Tam Nông) để điều tra về hành vi chống người thi hành công vụ. 
Lực lượng công an viên đang tiến hành tuần tra trên địa bàn. (Ảnh minh họa. internet) Kết quả điều tra ban đầu, vào lúc 23h ngày 6/4, Công an xã Tân Công Sính tổ chức tuần tra đêm phát hiện một nhóm thanh niên đang đánh anh Ngô Thanh Mộng (20 tuổi, ngụ xã Mỹ Hội, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang) nên tiến hành can ngăn.
 NÊN ĐỌC Tuy nhiên, đối tượng Quy và Đầy không những không chấp hành mà còn tấn công gây thương tích nặng ở vùng mặt Công an viên Trần Minh Hiếu, làm anh Hiếu phải nhập viện cấp cứu. Cũng trong một vụ việc tương tự, ngày 8/4, Cơ quan CSĐT, CA huyện Thanh Oai, Hà Nội đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tạm giam đối với Nguyễn Bá Bằng, SN 1991, trú tại xã Mỹ Hưng, huyện Thanh Oai, Hà Nội về hành vi chống người thi hành công vụ.
Trước đó, tổ tuần tra của CA xã Tam Hưng đang làm nhiệm vụ, phát hiện một nhóm thanh niên đang to tiếng, cãi nhau với một thực khách. Phát hiện nhóm thanh niên có dấu hiệu gây mất trật tự công cộng, tổ công tác đã vào quán ngăn chặn. Không những không chấp hành yêu cầu của tổ tuần tra, Nguyễn Bá Bằng một thành viên trong nhóm thanh niên còn lên tiếng thách thức. Không những thế, Bằng còn đánh vào mặt một công an viên. Phải đến khi tổ công tác nổ súng cao su cảnh cáo Bằng mới chịu dừng tay. PV (tổng hợp) Giáo viên bị hiếp dâm và hành hung dã man trong đêmLợi dụng lúc nạn nhân ở nhà một mình, một thanh niên đã xông vào nhà cưỡng bức rồi thực hiện hành vi hiếp dâm. Chưa dừng lại ở đó, tên này còn dùng ống tuýp và dao đánh, chém nhiều cái vào đầu gây rách da đầu, sập gò má, gãy răng. 
Hiện trường vị trí nơi nạn nhân bị tấn công bằng vũ lực và bị xâm hại tình dục. (Ảnh NLĐ)
Nạn nhân là chị H.T.D. (SN 1987), ngụ xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch - Quảng Bình, là giáo viên một trường THCS trên địa bàn xã. Hiện tại, chị D. vẫn đang được được cấp cứu tại Bệnh viện Việt Nam-Cu Ba Đồng Hới trong tình trạng đa chấn thương nặng. Mặc dù đã hồi tỉnh và có thể nói chuyện được nhưng tinh thần chị D. vẫn đang rất hoảng loạn.  NÊN ĐỌC Trước đó, vào tối ngày 17/04, lợi dụng chị H.T.D. ở nhà một mình, một thanh niên đã xông vào nhàcưỡng bức rồi thực hiện hành vi hiếp dâm. Chưa dừng lại ở đó, chị D. còn bị tên này dùng ống tuýp và dao đánh, chém nhiều cái vào đầu gây rách da đầu, sập gò má, gãy răng. Anh Nguyễn Phúc Dũng (SN 1963), ngụ xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, là người đầu tiên phát hiện ra vụ việc khi anh nghe tiếng kêu lạ phát ra từ nhà chị D.
Qua công tác khám nghiệm hiện trường, cơ quan điều tra đã thu giữ được 1 ống tuýp sắt tròn dài khoảng 70-80cm, 1 quần lót nam nghi của đối tượng gây án vứt lại phía sau nhà nạn nhân. Ngoài việc bị đối tượng hiếp dâm hành hung, nạn nhân còn bị mất 1 chiếc ĐTDĐ trị giá hơn 3,5 triệu đồng.
Đối tượng bị nghi vấn hiện đã bỏ trốn khỏi địa phương.
Hiện lực lượng chức năng đang tiến hành truy bắt nghi can đang bỏ trốn. PV (tổng hợp)
|
|
Những nội dung khác:
|
|
|
 |
|