Bám chặt lấy chứng cứ là bức thư của Phạm Văn Ðồng. BẮC KINH (TH) -Tuy đã đồng ý với Hà Nội là “tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước” viên chức cầm quyền Bắc Kinh vẫn đưa ra những lời tuyên bố ngang ngược.

Theo Tân Hoa Xã hôm Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011, Dương Nghị, phát ngôn viên của Ðài Loan Vụ thuộc Quốc Vụ Viện (chính phủ) Trung Quốc tuyên bố rằng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo và các vùng nước chung quanh trên biển Nam Hải mà Việt Nam gọi là biển Ðông.

Dương Nghị nói như vậy khi bình luận sau lời phát biểu của lãnh tụ Ðài Loan Mã Anh Cửu kêu gọi một giải pháp hòa bình cho sự tranh chấp giữa Hoa Lục và Ðài Loan.

Bản tin Tân Hoa Xã nói trên kế tiếp theo bản tin cũng của Tân Hoa Xã ngày hôm qua không những cùng một luận điệu đó mà còn lôi ra bức thư của Thủ Tướng CSVN Phạm Văn Ðồng gửi Tổng Lý (thủ tướng) Trung Quốc Chu Ân Lai công nhận lập trường của Hà Nội tôn trọng hải phận 12 hải lý mà Bắc Kinh tuyên bố.

Bức thư thời đó của ông Phạm Văn Ðồng đã được Bắc Kinh bám chặt lấy, lập đi lập lại công khai suốt nhiều năm qua để cột Hà Nội vào trong các cuộc thương thuyết cũng như tranh luận hay tranh chấp. Bức thư nguyên văn như sau:

“Thưa đồng chí Tổng Lý,

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.

“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.

“Chúng tôi xin kính gởi đồng chí Tổng Lý lời chào rất trân trọng.

“Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958”

(Ký tên Phạm Văn Ðồng, chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - đóng dấu)

Bức thư này không nói gì đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng Bắc Kinh lại coi như hàm ngụ công nhận chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để đòi hỏi tôn trọng chủ quyền của họ.

Bản tin Tân Hoa Xã coi bức thư của ông Phạm Văn Ðồng là “văn kiện lịch sử” (historical record) làm căn bản cho họ đối phó với Việt Nam trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển Ðông, tức coi như sự “đồng thuận” (consensus) của các lãnh tụ cấp cao giữa hai nước.

Cái chữ “đồng thuận” được diễn giải mỗi bên một khác. Phía Hà Nội không hề thấy nhắc đến bức thư trong tất cả các bản tin, bài viết trên hệ thống báo chí chính thống những năm gần đây.

Ngược thời gian, ngày 7 tháng 8 năm 1979, tức hơn nửa năm sau khi bị Trung Quốc mang đại quân sang đánh suốt 6 tỉnh biên giới, Bộ Ngoại Giao CSVN ra bản tuyên bố “Sự diễn giải của Trung Quốc về bản công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung Quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc.”

Bản tin Tân Hoa Xã ngày 28 tháng 6, 2011 nói: “Không có sự phản đối nào của bất cứ nước nào đối với chủ quyền của Trung Quốc trên khu vực này cho đến thập niên 1970 khi các nước gồm cả Việt Nam và Phi Luật Tân tuyên bố chủ quyền một phần ở đây.” Bản tin này để lộ sự lươn lẹo cố ý của nhà cầm quyền Bắc Kinh để kêu gọi “sự đồng thuận” của Việt Nam. Chính phủ VNCH ở miền Nam thời đó và nhà cầm quyền CSVN say này luôn luôn tuyên bố chủ quyền hoàn toàn đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứ không hề nhìn nhận chủ quyền một phần.

Bản tin TTXVN tường thuật chuyến đi của Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn ở Bắc Kinh ngày 25 tháng 6, 2011 không nêu ra nhưng bản tin của Tân Hoa Xã nói cả hai nước “chống lại sự can thiệp từ những thế lực bên ngoài đối với sự tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.”

Bắc Kinh muốn Hà Nội cấm dân Việt biểu tình, cấm viết bài đả kích chính sách bá quyền của Hoa Lục nhưng viên chức cầm quyền và báo chí chính thức của họ vẫn tiếp tục áp lực với Việt Nam

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958) Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc.

Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ.

Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.

(Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện)
Chú thích: Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands
Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands



Bộ Ngoại giao Trung Quốc diễn giải về Công Hàm Bán Nước
International Recognition Of China's Sovereignty over the Nansha Islands

5. Viet Nam

a) Vice Foreign Minister Dong Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d'affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that "according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory." Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that "judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty."

b) Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail o­n September 6, 1958 the Chinese Government's Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea of the People's Republic of China should be 12 nautical miles and that this provision should apply to all territories of the People's Republic of China, including all islands o­n the South China Sea. o­n September 14 the same year, Premier Pham Van Dong of the Vietnamese Government solemnly stated in his note to Premier Zhou Enlai that Viet Nam "recognizes and supports the Declaration of the Government of the People's Republic of China o­n China's territorial sea."

c) It is stated in the lesson The People's Republic of China of a standard Vietnamese school textbook o­n geography published in 1974 that the islands from the Nansha and Xisha Islands to Hainan Island and Taiwan constitute a great wall for the defense of the mainland of China

Công nhận của thế giới về chủ quyền của Trung Quốc trên
Quần đảo Trường Sa


5. Việt Nam

a) Thứ trưởng ngoại giao Ðồng văn Khiêm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi tiếp ông Li Zhimin, xử lý thường vụ Toà Ðại Sứ Trung quốc tại Việt Nam đã nói rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc". Ông Le Doc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao Việt nam, cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng "xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống"

b) Báo Nhân Dân của Việt Nam đã tường thuật rất chi tiết trong số xuất bản ngày 6/9/1958 về Bản Tuyên Bố ngày 4/9/1958 của Nhà nước Trung quốc, rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của phía Trung quốc, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa. Ngày 14/9 cùng năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng của phía nhà nước Việt Nam, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu An Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam "nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên Bố của Nhà nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải"

c) Bài học về nước CHND Trung Hoa trong giáo trình cơ bản của môn địa lý của Việt Nam xuất bản năm 1974, đã ghi nhận rằng các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Ðài Loan hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa .

(Trích và lược dịch từ trang nhà của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc)