Vấn đề ngày càng sáng tỏ
02.07.2011 03:51
Lữ GiangCác tài liệu được công bố từ trong nước, hoặc bằng tiếng Việt hoặc bằng tiếng Anh, trong thời gian gần đây cho thấy trong một năm trở lại đây, các chuyên gia ở Việt Nam đã càng ngày càng nhận ra được những điểm then chốt trong vấn đề Biển Đông, bỏ cách nhìn và phương thức phản chứng cũ, đi theo cách nhìn mới và phương thức phản chứng mới phù hợp với luật pháp và tập tục quốc tế hơn để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam, trong khi đó các nhà tranh đấu ở trong nước và đa số người Việt chống cộng ở hải ngoại vì không bắt kịp thời thế, vẫn có cách nhìn cũ và đi theo con đường cũ.
Cuộc hội thảo được tổ chức tại Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Tế ở Washington trong hai ngày ngày 20 và 21.6.2011 đã đưa ra ánh sáng thực chất của cuộc tranh chấp về Biển Đông hiện nay và cho Trung Quốc cũng như thế giới thấy giải pháp phải đi tới. Đây là một vấn đề rất phức tạp, nhưng chúng tôi sẽ cố gắng trình bày đơn giản để độc giả có thể nắm bắt được. LỊCH SỬ KHÔNG LIÊN QUAN GÌ CẢ! Trước tiên, Trung Quốc đã dùng “lịch sử” để chứng minh các hòn đảo nằm trên Biển Đông là của Trung Quốc, sau đó họ lại dùng “lịch sử” để chứng minh cả Biển Đông nằm trong vùng “đường lưỡi bò” là đất nước của họ. Phủ Lục Tạp Biên của Lê Quí Đôn năm 1776 cho biết Chúa Nguyễn đã cho lập đội Hoàng Sa đi kiểm hải vật trên quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Chí của Việt Nam ấn hành năm 1908 cho biết vua Gia Long (1802 – 1819) đã thiết lập đội Hoàng Sa để kiểm soát và triển khai quần đảo này. Nhưng trong bài thuyết trình vào sáng 20.6.2011, giáo sư Tô Hảo (Su Hao), Phó giám đốc trung tâm nghiên cứu quốc tế thuộc trường Đại Học Ngoại Giao Trung Quốc, lại nói rằng Trung Quốc đã có chủ quyền về lịch sử không chối cãi đối với Biển Đông từ 2000 năm về trước. Từ đời nhà Tống cách đây vài trăm năm, Trung Quốc đã có một cơ quan phụ trách hành chính về khu vực này và đã có đội tàu đi tuần trên biển. Những cuộc tranh cãi căn cứ vào “lịch sử” theo kiểu này đã kéo dàihơn nữa thế kỷ và có thể còn kéo dài vô tận, nhưng sau khi giáo sư Tô Hảo thuyết trình xong, ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN đã lên tiếng như sau: "Tôi không cho rằng Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) công nhận lịch sử là cơ sở để tuyên bố chủ quyền". Giáo sư Peter Dutton thuộc Đại học Hải quân Hoa Kỳ cũng có quan điểm tương tự: "Về quyền tài phán đối với các vùng biển, lịch sử không liên quan gì cả, mà phải tuân theo UNCLOS." Giáo sư Dutton đã nhấn mạnh rằng việc dùng lịch sử để giải thích chủ quyền làm xói mòn các quy tắc của UNCLOS. Giáo sư Carlyle Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia nói rằng việc học giả Trung Quốc sử dụng "di sản lịch sử" để giải thích về tuyên bố chủ quyền một lần nữa bộc lộ việc thiếu cơ sở pháp lý theo luật quốc tế trong tuyên bố chủ quyền này. Những lời tuyên bố này không phải chỉ nói lên những sai lầm của Trung Quốc mà của cả Việt Nam trong nỗ lực dùng tài liệu lịch sử để chứng minh chủ quyền trên Biển Đông: “Ai chiếm trước, người đó có chủ quyền”! Hiện nay. Trung Quốc đang theo đuổi chủ thuyết “vùng biển lịch sử” để xác định vùng nằm trong khu vực “đường lưởi bò” là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Chủ thuyết này đang bị phản ứng mạnh mẽ, Trung Quốc tạm thời quay trở lại chủ trương Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc theo lịch sử. VẤN ĐỀ THỤ ĐẮC CÁC HOANG ĐẢO Vấn đề thụ đắc chủ quyền đối với các hoang đảo trên biển là vấn đề thuộc quốc tế công pháp và khá phức tạp. Bắt đầu từ thế kỷ thứ 15, phong trào đi tìm thuộc địa của các quốc gia Tây phương bùng nổ mạnh, khởi đầu là Bồ Đào Nha, rồiđến Tây Ban Nha, Anh, Pháp, v.v. Đến năm 1922, thuộc địa Anh chiếm 1/4 tổng số diện tích toàn cầu với khoảng 1/8 dân số thế giới. Pháp là nước đứng thứ hai. Dĩ nhiên, trong cuộc chính phục thế giới này, vấn đề tranh chấp lãnh thổ thường xẩy ra, trong đó có vấn đề tranh chấp các hoang đảo, thường được gọi là các đảo vô chủ (ownerless islands). Để giải quyết tranh chấp về các hoang đảo trên biển, các nguyên tắc về chấp hữu đât vô chủ (possession of ownerless vacant land) ở trong dân luật của các quốc gia theo hệ thống Roman Law đã được đem áp dụng. Các nguyên tắc này được tìm thấy dễ dàng trong các bộ dân luật Pháp và dân luật VNCH trước đây. Nói một cách tổng quát, học lý, tục lệ và án lệ quốc tế chỉ công nhận quyền sở hữu của một quốc gia về một đảo vô chủ trên biển khi sự chấp hữu (possession) hội đủ những điều điều kiện sau đây: (1) Sự chấp hữu phải công khai và minh bạch (publique, non équivoque). (2) Sự chấp hữu phải hoà bình (paisible), tức không có sự đối kháng của người khác. (3) Sự chấp hữu phải liên tục và không gián đoạn (continue et non interrompue). (4) Sự chấp hữu phải với tư cách là sở hữu chủ (à titre de propriétaire). Nếu chỉ chấp hữu để làm một đài quan sát hay một nơi tạm trú, chứ không muốn làm chủ thì không được chấp nhận. Như chúng ta đã biết, các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là đảo đá (rocky islands) hay đảo đá ngầm (reefs), không thể có sự sống bình thường, nên cả Trung Hoa lẫn Việt Nam khó đáp ứng điều kiện thứ ba là đã chấp hữu một cách liên tục và không gián đoạn. Vì thế, khi Giáo sư Tô Hảo cho rằng Trung Quốc đã chấp hữu hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa cách đây 2000 năm, bà Bà Caitlyn L. Antrim, Phó Đại Diện Hoa Kỳ trong Hội Đồng LHQ về Luật Biển đã nói: "Tôi không hiểu Trung Quốc tuyên bố cái gì trong đường lưỡi bò đó. Nếu họ tuyên bố chủ quyền với các đảo do đường ấy bao quanh, thì câu hỏi đặt ra là họ có chứng minh được chủ quyền với các đảo đó hay không. Nếu Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền với các đảo từ 500 năm trước, nhưng sau đó lại bỏ trống thì tuyên bố chủ quyền trở nên rất yếu.” Nói cách khác bà Antrim muốn lưu ý Trung Quốc rằng dù Trung Quốc có chấp hữu các đảo trong đường lưỡi bò 500 trước, nhưng sự chấp hữu đó không liên tục, bị gián đoạn, thì không thể được coi như đã thụ đắc chủ quyền trên các đảo đó. Điều kiện thứ hai là phải sự chấp hữu hoà bình, không có ai phản kháng. Nếu theo điều kiện này thì cả Trung Quốc lẫn Việt Nam khó hội đủ vì khi bên này chấp hữu, bên kia đã phản kháng ngay. Năm 1887, khi thảo luận về hiệp ước vịnh Bắc Bộ, Trung Quốc yêu cầu thảo luận luôn về Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng Pháp gạt đi, nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Vì có sự phản kháng của Trung Quốc, sự chấp hữu của Pháp và Việt Nam không thể được coi là hoà bình. Trong thực tế, sự chấp hữu có khi còn tiến hành bằng bạo lực, như trường hợp Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974 và 6 đảo ở Trường Sa năm 1988 (sát hại 74 người). CHỦ THUYẾT “VÙNG BIỂN LỊCH SỬ” “Đường lưỡi bò” mà Trung Quốc đưa ra hiện nay lúc đầu là do chủ trương của chính phủ Tưởng Giới Thạch. Tháng 1 năm 1948, Bộ Nội Vụ nước Cộng Hòa Trung Hoa chính thức công bố một bản đồ có tên “Nanhai zhudao weizhi tu” (Bản đồ các đảo trên Nam Hải), trên bản đồ này có xuất hiện một đường hình chữ “U”. Đó là một đường đứt khúc gồm 11 đoạn, bao gồm cả bốn nhóm quần đảo, bãi ngầm lớn trên biển Đông, đó là các quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa). Tuy nhiên, theo bản đồ do chính phủ CHNDTQ của Mao Trạch Đông công bố năm 1953, đường này chỉ còn lại 9 đoạn. Hai đoạn đứt khúc đã bị hủy bỏ, một đoạn nằm giữa đảo Hải Nam và bờ biển VN trong vịnh Bắc Bộ, và một đoạn nằm giữa Đài Loan và các đảo Lưu Cầu (Ryukyu) của Nhật Bản. Đường này được vẽ sát vào bờ của các quốc gia ở quanh Biển Đông như Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines, bao gồm 80% Biển Đông và thường được gọi là “đường chữ U” (U shaped line), “đường đứt đoạn” (dotted line) hay “đường lưỡi bò”. Ngày 7.5.2009 Trung Quốc đã gởi cho Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc một công hàm phản đối việc Việt Nam nộp Báo cáo về Ranh giới thềm lục địa nới rộng của Việt Nam. Kèm theo công hàm này là một sơ đồ trên đó thể hiện đường yêu sách 9 đoạn trên Biển Đông như đã nói trên. Công hàm nói rõ: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở biển nam Trung Hoa (tức biển Đông - TN) và các vùng nước kế cận, và có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng nước liên quan cũng như đáy biển và lòng đất đáy biển ở đó (xem sơ đồ kèm theo)”. Dựa vào đâu Trung Quốc đã coi 80% Biển Đông là của Trung Quốc? Trung Quốc quan niệm rằng vùng nước được con đường chữ U bao bọc được coi là “vùng nước lịch sử” theo chế độ nội thủy của Trung Quốc, theo đó tất cả các đảo, đá, bãi ngầm, vùng nước nằm trong con đường đó đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Nói cách khác, Trung Quốc coi Biển Đông chỉ là vùng ao hồ của Trung Quốc. Quan niệm “vùng nước lịch sử” (historic water) này lấy ở đâu ra? Trong luật quốc tế về biển năm 1958 cũng như năm 1982 không hề nói đến “vùng nước lịch sử”. Người ta chỉ tìm thấy nó trong phán quyết ngày 18.12.1951 của Toà Án Công Lý Quốc Tế (International Court of Justice) xét xử vụ tranh chấp giữa Anh và Na Uy về vùng đánh cá. Trong phán quyết này tòa đã nói đến “quyền sử hữu lịch sử” (historic title). Hội Nghị LHQ về Luật Biển ngày 27.4.1958 đã ra nghị quyết yêu cầu Đại Hội Đồng LHQ cho nghiên cứu về “chế độ pháp lý của vùng nước lịch sử” (the juridical regime of historic waters), kể cả các “vịnh lịch sử” (historic bays). Theo Niên giám của Uỷ Ban Luật Quốc Tế năm 1962, Vol. 11, khái niệm "vùng nước lịch sử" “có gốc trong thực tế lịch sử mà các quốc gia thông qua các thế hệ khẳng định và duy trì chủ quyền trên vùng biển mà họ coi là quan trọng đối với họ, không chú ý nhiều đến ý kiến khác nhau và thay đổi về những gì mà luật pháp quốc tế nói chung có thể quy định liên quan đến việc phân định lãnh hải”. Nói một cách vắn tắt, “vùng nước lịch sử” là vùng biển mà một quốc gia đã chấp hữu qua nhiều thế hệ và trở thành vùng sống còn của quốc gia đó. Trong các cuộc họp về dự thảo Công Ước LHQ về Luật Biển từ năm 1973 đến năm 1982, Colombia đã yêu cầu đưa “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào dự thảo công ước, nhưng LHQ không xét. Cuối cùng, Ủy Ban Luật Quốc Tế của LHQ đã quyết định không đưa chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” vào Công Ước LHQ về Luật Biển năm 1982, có lẽ vì các lý do sau đây: Chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” rất mơ hồ và có thể đưa tới những tranh chấp chính trị. Luật Biển mới đã ấn định lãnh hãi rộng đến 12 hải lý (thay vì 3 hải lý như cũ) và vùng khai thác kinh tế đến 200 hải lý, nên chế độ “vùng nước lịch sử” và “vịnh lịch sử” không cần thiết nữa. Nay Trung Quốc đi lượm lại một chế độ pháp lý về luật biển đã bị Công Ước LHQ về Luật Biển 1982 loại bỏ để xác định chủ quyền của họ trên Biển Đông. Nhưng Trung Quốc cũng không xác định được sự chấp hữu liên tục, không gián đoạn và yên ổn của Trung Quốc trên Biển Đông trong lịch sử, không xác định được ngay cả tọa độ chính xác từng đoạn của “đường lưỡi bò”. Vã lại, ngày 4.9.1958 của Chính phủ nước CHNDTQ đã đưa ra bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc là 12 hải lý, bao gồm cả đất liền và các đảo ngoài khơi. Khi tuyên bố như vậy Trung Quốc đã thừa nhận Biển Đông thuộc về nhiều quốc gia và là biển quốc tế. Nay Trung Quốc lại đưa ra “đường lưỡi bò”, coi Biển Đông như ao hồ của mình, tức là tự mâu thuẫn. Dĩ nhiên, Đài Loan ủng hộ tuyên bố về “đường lưỡi bò” do Trung Quốc đưa ra vì chủ trương đó do chính phủ Tưởng Giới Thạch đưa ra từ năm 1948, và khác với một số người Việt chống cộng ở hải ngoại, Đài Loan vẫn coi Trung Quốc là tổ quốc của mình, mặc dầu đang do Cộng Sản cai trị. GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ Nhiều người đã đặt câu hỏi tại sao không đưa vấn đề Biển Đông ra trước LHQ hay Tòa Án Quốc Tế? Câu trả lời là rất khó thực hiện được. Tại Hội Đồng Bảo An LHQ, Trung Quốc có quyền phủ quyết nên khó có thể thông qua nghị quyết nào trái với ý của họ. Pháp Viện Quốc Tế (International Court of Justice) có nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế, nhưng muốn đưa ra trước pháp viện này, hai bên phải cam kết thi hành phán quyết của toà. Nếu Trung Quốc không chịu cam kết, toà không xử được. Toà Án Quốc Tế về Luật Biển (International Tribunal for the Law of the Sea) cũng qui định rằng các bên tranh chấp phải đồng ý đưa nội vụ ra toà, tòa mới xử được. Vã lại, dù có tranh tụng, Việt Nam chưa chắc đã thắng, vì cả Việt Nam lẫn Trung Quốc rất khó chứng minh được quyền sở hữu chấp hữu (possessory title) về một số đảo đá trên Biển Đông theo đúng các tiêu chuẩn luật định. Trong cuộc hội thảo về Biển Đông tại Washington vừa qua, phóng viên Việt Hà của đài RFA đã hỏi Đại diện Việt Nam là luật sư Nguyễn Duy Chiến, cộng tác viên của Học viện quốc tế, về vấn đề này, ông đã trả lời: “Đấy là cái đánh giá của mình, mình có nhiều chứng cứ như vậy, nhưng còn cái ra tòa án thế nào thì còn tùy thuộc vào các thẩm phán họ quyết định”. Để giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông, hôm 4.11.2001, các quốc gia thuộc khối ASEAN đã ký một bản Tuyên Bố về Ứng Xử của Các Bên ở Biển Đông (Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea – gọi tắt là DOC) cam kết tôn trọng luật pháp quốc tế và các hiệp ước đã ký kết, giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ và quyền hạn bằng các phương tiện hòa bình. Trung Quốc đã ký kết nhưng sau đó lại không tuân theo. Tiếp pheo, các nước ASEAN đã soạn thảo xong Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông (Code of Conduct in the South China Sea – gọi tắt là COC), nhưng Trung Quốc không chịu thông qua. Ông Termsak Chalermpalanupap, Phụ Tá Đặc Biệt của Tổng Thư ký ASEAN cho biết những nỗ lực mà ASEAN đã làm nhằm đưa ra tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông thành một bản quy tắc có tính ràng buộc nhưng cả 20 lần đề nghị đều bị Trung Quốc từ chối. Hiện ASEAN đang đưa ra đề nghị thứ 21 liên quan đến vấn đề này. Năm 2011, Trung Quốc đã tiến lên hàng thứ hai sau Mỹ về phát triển kinh tế, về chi phí quốc phòng, về tiêu thụ dầu lửa, v.v., nên Trung Quốc cũng muốn bắt chước Mỹ, “biểu dương khí thế” của Trung Quốc. Mỹ và NATO đã tấn công Iraq và Libya để giành quyền khai thác dầu lửa, cạnh tranh với Trung Quốc, tại sao Trung Quốc không dùng sức mạnh của mình để giàng quyền khai thác dầu lửa ở Biển Đông? Nhưng Trung Quốc đã đi quá sớm, vì sức mạnh hải quân Trung Quốc còn thua Mỹ đến 20 năm. MÓN NỢ CỦA VIỆT NAM Trong cuộc hội thảo tại Washington, ông Tô Hảo, học giả của Trung Quốc, đã nói rằng “trong hệ thống luật quốc tế có một nguyên tắc là nếu một nước đã có tuyên bố về chủ quyền và một số nước đã chấp nhận tuyên bố này. Tuy nhiên rất tiếc là hiện có một số nước đã thay đổi quan điểm của mình”. Lời tuyên bố này đặc biệt ám chỉ Việt Nam. Năm 1958, một bản hoà tấu đã được thực hiện: Ngày 4.9.1958, Bắc Kinh chính thức tuyên bố hải phận của họ bao gồm 12 hải lý từ bất kỳ mốc lãnh thổ nào của Trung Quốc, trong đó tính gồm cả các đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa và các đảo khác thuộc về Trung Quốc. Hà Nội hợp tấu ngay: Ngày 14.9.1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng gởi công hàm công nhận tuyên bố nói trên của Bắc Kinh. Về pháp lý, chúng ta có thể coi lời tuyên bố của Thủ Tướng Đồng là không có giá trị vì lúc đó Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về VNCH. Hơn nữa, theo hiến pháp 1956, mọi quyết định liên quan đến lãnh thổ đều phải có sự phê chuẩn của quốc hội, công hàm của Thủ Tướng Đồng không hội đủ điều kiện đó. Nhưng về phương diện khác, có thể coi công hàm của Thủ Tướng Đồng như một lời hứa bán. Lúc đó, nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” được áp dụng, tức hứa bán có giá trị như bán, khi hai điều kiện sau đây hội đủ: (1) Vật hứa bán đã được xác định, đó là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (2) Giá bán cũng đã được thỏa thuận, đó là Trung Quốc viện trợ cho Hà Nội đủ phương tiện để đánh chiếm miền Nam. Do đó, Trung Quốc có thể bắt Hà Nội phải giao nạp Hoàng Sa và Trường Sa sau khi chiếm miền Nam. Hoa Kỳ và các cường quốc Tây phương chỉ can thiệp khi nào Trung Quốc nhất quyết dùng chế độ “quyền sở hữu lịch sử” (historic title) để chiếm Biển Đông, phương hại đến hải lộ quốc tế. Hoa Kỳ sẽ không can thiệp vào sự tranh chấp về "quyền sở hữu chấp hữu” (possessory title) các đảo trên Biển Đông. Vậy Hà Nội chỉ còn có thể trông chờ vào “Quy Tắc Ứng Xử ở Biển Đông” mà ASEAN chờ thông qua. Biểu tình, tuyên ngôn, tuyên cáo, kháng thư, hịch tướng sĩ... chẳng có ảnh hưởng gì. Ngày 28.6.2011 Lữ Giang
Bắc Kinh vẫn đòi chủ quyền các đảo ở biển Ðông
Bám chặt lấy chứng cứ là bức thư của Phạm Văn Ðồng. BẮC KINH (TH) -Tuy đã đồng ý với Hà Nội là “tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước” viên chức cầm quyền Bắc Kinh vẫn đưa ra những lời tuyên bố ngang ngược.
Theo Tân Hoa Xã hôm Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011, Dương Nghị, phát ngôn viên của Ðài Loan Vụ thuộc Quốc Vụ Viện (chính phủ) Trung Quốc tuyên bố rằng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các quần đảo và các vùng nước chung quanh trên biển Nam Hải mà Việt Nam gọi là biển Ðông.
Dương Nghị nói như vậy khi bình luận sau lời phát biểu của lãnh tụ Ðài Loan Mã Anh Cửu kêu gọi một giải pháp hòa bình cho sự tranh chấp giữa Hoa Lục và Ðài Loan.
Bản tin Tân Hoa Xã nói trên kế tiếp theo bản tin cũng của Tân Hoa Xã ngày hôm qua không những cùng một luận điệu đó mà còn lôi ra bức thư của Thủ Tướng CSVN Phạm Văn Ðồng gửi Tổng Lý (thủ tướng) Trung Quốc Chu Ân Lai công nhận lập trường của Hà Nội tôn trọng hải phận 12 hải lý mà Bắc Kinh tuyên bố.
Bức thư thời đó của ông Phạm Văn Ðồng đã được Bắc Kinh bám chặt lấy, lập đi lập lại công khai suốt nhiều năm qua để cột Hà Nội vào trong các cuộc thương thuyết cũng như tranh luận hay tranh chấp. Bức thư nguyên văn như sau:
“Thưa đồng chí Tổng Lý,
“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:
“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.
“Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt bể.
“Chúng tôi xin kính gởi đồng chí Tổng Lý lời chào rất trân trọng.
“Hà Nội ngày 14 tháng 9 năm 1958”
(Ký tên Phạm Văn Ðồng, chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa - đóng dấu)
Bức thư này không nói gì đến các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nhưng Bắc Kinh lại coi như hàm ngụ công nhận chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để đòi hỏi tôn trọng chủ quyền của họ.
Bản tin Tân Hoa Xã coi bức thư của ông Phạm Văn Ðồng là “văn kiện lịch sử” (historical record) làm căn bản cho họ đối phó với Việt Nam trong cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo trên biển Ðông, tức coi như sự “đồng thuận” (consensus) của các lãnh tụ cấp cao giữa hai nước.
Cái chữ “đồng thuận” được diễn giải mỗi bên một khác. Phía Hà Nội không hề thấy nhắc đến bức thư trong tất cả các bản tin, bài viết trên hệ thống báo chí chính thống những năm gần đây.
Ngược thời gian, ngày 7 tháng 8 năm 1979, tức hơn nửa năm sau khi bị Trung Quốc mang đại quân sang đánh suốt 6 tỉnh biên giới, Bộ Ngoại Giao CSVN ra bản tuyên bố “Sự diễn giải của Trung Quốc về bản công hàm ngày 14 tháng 9 năm 1958 của thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa như một sự công nhận chủ quyền của phía Trung Quốc trên các quần đảo là một sự xuyên tạc trắng trợn khi tinh thần và ý nghĩa của bản công hàm chỉ có ý định công nhận giới hạn 12 hải lý của lãnh hải Trung Quốc.”
Bản tin Tân Hoa Xã ngày 28 tháng 6, 2011 nói: “Không có sự phản đối nào của bất cứ nước nào đối với chủ quyền của Trung Quốc trên khu vực này cho đến thập niên 1970 khi các nước gồm cả Việt Nam và Phi Luật Tân tuyên bố chủ quyền một phần ở đây.” Bản tin này để lộ sự lươn lẹo cố ý của nhà cầm quyền Bắc Kinh để kêu gọi “sự đồng thuận” của Việt Nam. Chính phủ VNCH ở miền Nam thời đó và nhà cầm quyền CSVN say này luôn luôn tuyên bố chủ quyền hoàn toàn đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa chứ không hề nhìn nhận chủ quyền một phần.
Bản tin TTXVN tường thuật chuyến đi của Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn ở Bắc Kinh ngày 25 tháng 6, 2011 không nêu ra nhưng bản tin của Tân Hoa Xã nói cả hai nước “chống lại sự can thiệp từ những thế lực bên ngoài đối với sự tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc.”
Bắc Kinh muốn Hà Nội cấm dân Việt biểu tình, cấm viết bài đả kích chính sách bá quyền của Hoa Lục nhưng viên chức cầm quyền và báo chí chính thức của họ vẫn tiếp tục áp lực với Việt Nam
Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải
(Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958) Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:
(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc.
Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc
(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ.
Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc.
(Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện) Chú thích: Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands

Bộ Ngoại giao Trung Quốc diễn giải về Công Hàm Bán Nước International Recognition Of China's Sovereignty over the Nansha Islands
5. Viet Nam
a) Vice Foreign Minister Dong Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d'affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that "according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory." Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that "judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty."
b) Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail on September 6, 1958 the Chinese Government's Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea of the People's Republic of China should be 12 nautical miles and that this provision should apply to all territories of the People's Republic of China, including all islands on the South China Sea. on September 14 the same year, Premier Pham Van Dong of the Vietnamese Government solemnly stated in his note to Premier Zhou Enlai that Viet Nam "recognizes and supports the Declaration of the Government of the People's Republic of China on China's territorial sea."
c) It is stated in the lesson The People's Republic of China of a standard Vietnamese school textbook on geography published in 1974 that the islands from the Nansha and Xisha Islands to Hainan Island and Taiwan constitute a great wall for the defense of the mainland of China
Công nhận của thế giới về chủ quyền của Trung Quốc trên Quần đảo Trường Sa
5. Việt Nam
a) Thứ trưởng ngoại giao Ðồng văn Khiêm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khi tiếp ông Li Zhimin, xử lý thường vụ Toà Ðại Sứ Trung quốc tại Việt Nam đã nói rằng "theo những dữ kiện của Việt nam, hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa là môt bô phận lịch sử của lãnh thổ Trung quốc". Ông Le Doc, quyền Vụ trưởng Á châu Sự vụ thuộc Bộ Ngoại giao Việt nam, cũng có mặt lúc đó, đã nói thêm rằng "xét về mặt lịch sử thì các quần đảo này đã hoàn toàn thuộc về Trung quốc từ thời nhà Tống"
b) Báo Nhân Dân của Việt Nam đã tường thuật rất chi tiết trong số xuất bản ngày 6/9/1958 về Bản Tuyên Bố ngày 4/9/1958 của Nhà nước Trung quốc, rằng kích thước lãnh hải của nước Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý và điều này được áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của phía Trung quốc, bao gồm tất cả các quần đảo trên biển Nam Trung Hoa. Ngày 14/9 cùng năm đó, Thủ tướng Phạm Văn Ðồng của phía nhà nước Việt Nam, trong bản công hàm gởi cho Thủ tướng Chu An Lai, đã thành khẩn tuyên bố rằng Việt Nam "nhìn nhận và ủng hộ Bản Tuyên Bố của Nhà nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trong vấn đề lãnh hải"
c) Bài học về nước CHND Trung Hoa trong giáo trình cơ bản của môn địa lý của Việt Nam xuất bản năm 1974, đã ghi nhận rằng các quần đảo từ Trường Sa và Hoàng Sa đến đảo Hải Nam và Ðài Loan hình thành một bức tường phòng thủ vĩ đại cho lục địa Trung Hoa .
(Trích và lược dịch từ trang nhà của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc)
NGƯỜI VIỆT TRONG NƯỚC BẤT AN VỀ NHỮNG THỎA THUẬN GIỮA ÐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ TRUNG CỘNG VỀ BIỂN ÐÔNG Tin tổng hợp - Trên các trang mạng, sự thấp thỏm về chủ quyền biển đảo từ giới trí thức, sinh viên, blogger phản kháng có thể nhìn thấy rất rõ. Những ngày cuối cùng của tháng 6 bước qua đầu tháng 7, là những giây phút mà rất nhiều người nín thở chờ đợi kết quả của các vụ thương thuyết về chủ quyền Biển Ðông giữa Ðảng Cộng sản Việt Nam và Ðảng Cộng sản Trung Cộng. Ở mạng xã hội Facebook, người ta cũng nhìn thấy nhiều tuyên ngôn nêu rõ ý nghĩa này, xuất phát từ các nhóm blogger ẩn danh yêu nước như Nhật Ký Yêu Nước, Talamot, Truyền thông Liên mạng vân vân. Chẳng hạn như nhóm Talamot, ghi rõ trong hiển văn ngắn của họ là sự kiện lãnh đạo Trung Cộng và Cộng sản Việt Nam thỏa thuận riêng biệt với nhau về vấn đề Biển Ðông cho người Việt cảm giác bất an, cần phải đòi hỏi sự việc này được đem ra ánh sáng dư luận.
Rõ ràng cuộc thương thuyết giữa Trung Cộng và Việt Nam là một cái nồi đang đậy nắp kín, mà chỉ có số phận một dân tộc sẽ chịu thiệt thòi là Việt Nam. Ai quan tâm đến tương lai của đất nước, đều cảm thấy phập phồng âu lo. Báo chí trong nước được lệnh hạ giọng chỉ trích Trung Cộng và và ém nhẹm những kết quả thương thuyết quan trọng. Người Việt chỉ biết đến hiện tình đất nước của mình sau khi đọc được bản tin của Tân Hoa Xã, với nội dung hết sức bí hiểm là Trung Cộng đã kêu gọi Việt Nam hãy thực hiện đầy đủ một thỏa thuận song phương trên vấn đề Biển Ðông, vốn đã đạt được trong thời gian diễn ra chuyến viếng thăm của phái viên đặc biệt của Việt Nam Hồ Xuân Sơn vào tuần trước.
VIỆT NAM CHUẨN BỊ THÔNG QUA LUẬT BIỂN, PHÁT GIÁC VỈA DẦU MỚI VỚI LƯU LƯỢNG LỚN Tin Hà Nội - Trong khi đó tại Việt Nam, báo chí trong nước loan tin Quốc Hội khóa 13 của Cộng sản Việt Nam đã xem xét về luật Biển và sẽ thông qua vào kỳ họp thứ 2 vào tháng 10 sắp tới. Luật này trước đó nhà nước Cộng sản Việt Nam đã lùi thời hạn trình duyệt và nêu lý do là còn một số vấn đề chưa thống nhất. Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo cũng được đưa vào chương trình chuẩn bị của năm 2012.
Hôm nay cũng có tin từ Liên doanh Vietsopetro, vào ngày hôm qua khi thử khoan ở giếng khoan thăm dò số 50 ở khối sụt phía tây bắc mỏ Bạch Hổ, đã cho giòng dầu tự phun mạnh với lưu lượng 4560 thùng một ngày. Ðây là một vỉa dầu mới độc lập với các phát giác dầu khí trước đây tại vòm nâng của mỏ Bạch Hổ. Vỉa dầu sẽ góp phần gia tăng trữ lượng cũng như hoàn thành sản lượng khai thác của Vietsopetro vào năm 2011. Ðiều này lại chứng minh thêm một lần nữa là khu vực biển Ðông là nơi có một trữ lượng dầu khí rất lớn, nên đang là miếng mồi ngon cho Trung cộng để chiếm đoạt trong tham vọng bá quyền của quốc gia Cộng sản này.
Việt Nam tuyên bố trong nửa đầu năm nay, đã phải nhập cảng xăng dầu trị giá 5.5 tỉ mỹ kim, tăng gần 70% so với cùng kỳ năm ngoái với tổng cộng hơn 6 triệu tấn. Về xuất cảng, Việt Nam xuất ra gần 4 triệu tấn dầu thô, thu về 3.38 tỷ đô-la.(SBTN) Hiện đã xuất hiện những lời kêu gọi tuổi trẻ tiếp tục xuống đường biểu tình vào chủ nhật tuần này, nhưng qua những tin tức hôm nay cho thấy Trung cộng đã ra lệnh cho đàn em Cộng sản Việt Nam phải làm mọi cách để bịt kín những dư luận phản đối, và ngăn cản những cuộc biểu tình của người Việt cả trong nước lẫn hải ngoại trong những ngày tới.(SBTN) Philippin tỏ ra thân thiện nhưng kiên quyết trong vụ giằng co với TQ về tranh chấp lãnh thổCác giới chức Philippin cho biết họ dự trù mở các cuộc đàm phán cấp cao với Trung Quốc trong những tháng sắp tới để duy trì quan hệ tốt đẹp, bất kể cuộc tranh luận sôi nổi trong mấy tuần qua về lãnh hải có tranh chấp ở vùng biển Nam Trung Quốc. Hình: VOA - S. Orendain Tại một cuộc họp báo với giới truyền thông nước ngoài ở Manila, Ngoại trưởng Philippin nhắc lại lập trường của Philippin 'những gì của chúng ta là của chúng ta' Ngoại trưởng Philippin Albert del Rosario cho biết văn phòng của ông dự định nhận lời mời đi thăm Bắc Kinh vào những tháng sắp tới như một cơ hội để tái khẳng định quan hệ tốt đẹp với Trung Quốc. Ông nói cho đến nay nước ông đã ký 100 hiệp định với Trung Quốc có liên quan đến thương mại và đầu tư, quốc phòng, an ninh và giáo dục.
Ông nói: “Tôi tin rằng mối bang giao là lành mạnh và nếu có những khó khăn ở Trường Sa hay vùng biển Nam Trung Quốc hoặc Biển Tây Philippin, thì chúng ta phải loại trừ thách thức đó vào lúc này và giải quyết một cách riêng rẽ đừng để tác động có hại đến bang giao của chúng ta.”
Nhưng tại một cuộc họp báo với giới truyền thông nước ngoài ở Manila hôm nay, Ngoại trưởng Philippin nhắc lại lập trường của Philippin “những gì của chúng ta là của chúng ta”, và nói rằng công cuộc hợp tác và thăm dò chung phải thắng thế trong những khu vực có tranh chấp ở Biển Nam Trung Quốc.
Ông nói rằng kể từ hồi tháng 2, Trung Quốc đã tiến hành hơn 7 vụ xâm nhập và khu vực mà các giới chức ở Manila nay gọi là Biển Tây Philippin.
Vùng biển này chứa nhóm đảo Trường Sa được cho là có trữ lượng lớn về dầu khí. Khu vực này cũng là nơi tập tung những tuyến hàng hải quốc tế quan trọng.
Trung Quốc, Philippin, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Đài Loan đều đòi chủ quyến một phần hoặc toàn bộ Trường Sa và phần lớn những vụ xung đột đều có liên quan đến vùng đảo này.
Bắc Kinh nhấn mạnh rằng gần như toàn bộ khu vực Biển Nam Trung Hoa đều thuộc chủ quyền Trung Quốc từ nhiều thế kỷ.
Tuần trước, ông Del Rosario đã gặp Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, người đã tái khẳng định sự cam kết của Hoa Kỳ đối với việc tôn trọng một hiệp ước quốc phòng chung đã có từ nhiều thập niên với Philippin.
Các giới chức Hoa Kỳ cho hay họ có lợi ích trong việc giữ cho các tuyến đường biển này được tự do.
Bà Clinton nói Washington vẫn trung lập trong những vụ tranh cãi về lãnh hải trong vùng Biển Nam Trung Hoa nhưng bà cũng nói Hoa Kỳ sẽ giúp Philippin có được thiết bị quân sự “với giá hợp lý.”
Chiến hạm lớn nhất của Philippin là một khu trục hạm của Hoa Kỳ đã sử dụng trong Thế chiến thứ hai. Ông del Rosario nói tân trang các thiết bị cũ rất tốn kém và phải mất nhiều thời giờ để hoàn tất. Vì thế, ông nói bộ Quốc phòng Philippin đang tính chuyện thuê các thiết bị quân sự của Hoa Kỳ.
Ngoại trưởng Philippin nói: “Mà theo tôi có thể có lợi về mặt có khả năng thủ đắc thiết bị mới hơn được giao hàng sớm hơn và dĩ nhiên với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, có được loại thiết bị ít tốn kém hơn.”
Tuy nhiên, ông del Rosario nói ông không tin rằng căng thẳng trong vùng Biển Nam Trung Hoa sẽ đi đến bất kỳ giai đoạn chiến tranh nào cần sử dụng đến vũ khí.
Hoa Kỳ lâu nay vẫn tán thành các cuộc đàm phán đa phương có liên quan đến Biển Nam Trung Hoa. Nhưng Trung Quốc nhiều lần nói với Washington nên đứng ngoài vụ tranh chấp này.
| Friday, 01 July 2011 00:40 | Cali Today News - Dường như TQ nhất quyết không để cho VN được yên thân. Sau nhiều tuần quậy tưng bùng trên Biển Đông, giờ đây, TQ cho người sang VN quậy tan nát trên bộ bằng một chiến thuật khác. Thứ năm 30/6 nhiều tờ báo ở VN có nói về hiện tượng từng đoàn doanh nhân TQ sang VN vơ vét mua hàng nông sản. Hiện tượng này đã có vài năm nay, nhưng thời gian gần đây, số lượng bị “vét” lên quá cao. Chẳng những cao mà còn đều đặn và hiện nay không có dấu hiệu nào cho thấy “cơn dịch vét hàng VN” sắp chấm dứt. Hiện tượng này khiến vật giá leo thang ngay tại VN vì thiếu hàng để bán và người dân trong nước lãnh đủ. 
Bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó Chủ tịch hiệp hội Hàng Xuất Cảng Thủy Hải Sản VN (VASEP), nói rằng những năm trước doanh nhân Tàu sang thu mua tôm trực tiếp từ các trại nuôi tôm của VN. Giờ đây các “chú Ba” này ra tận “đầu hẽm”, đón các con tàu đánh cá VN từ ngoài khơi vào, tung tiền mua sạch luôn các hải sản khác. Các công ty VN thiếu hàng xuất cảng, đẩy giá mua lên cạnh tranh mà vẫn thua các “chú Ba” Miền Trung VN bị dịch thu mua từ ‘các xì thẩu’ nặng nhất. Hậu quả là giá tôm trắng vọt lên 90,000 đông/kí lô, trong lúc năm ngoái giá mua chỉ là 57,000 đồng/kí. Bà Sắc báo động tình trạng này sẽ ‘giết’ các công ty xuất cảng thủy hải sản của VN. Từ đầu năm 2011 đến nay đã có 147 công ty loại này ở VN đã đóng cửa vì không mua được hàng. Bà Sắc cho là đã đến lúc chính phủ VN nên bắt chước Indonesia vì quốc gia này đã cấm xuất cảng nguyên liệu thủy hải sản kiểu đó. Bà Sắc nói ‘VN cần phải bảo vệ thị trường nội địa’. Các “chú Ba” còn nhắm vào hồ tiêu, theo lời ông Đỗ Hà Nam, Chủ Tịch Hiệp Hội Tiêu VN (VPN) cho hay. Đã có tới 20% toàn bộ sản lượng tiêu VN bị thương lái TQ thu vét. Cao su cũng thế, có đến 70% số cao su làm ra ở VN trực chỉ thị trường TQ. Ngoài ra còn đường cát, heo, vịt, trứng gà cũng bị vơ vét từng đống lớn. Đặc biệt vịt là sản phẩm bị chiếu cố thật mặn mà, khiến giá mỗi con tăng từ 60,000 đồng lên 120,000 đồng, tức tăng gấp đôi. Ngay cả vịt đang đẻ sai trứng cũng bị lôi đầu ra bán cho các chàng luôn miệng nói ‘hảo, hảo lớ!’ Sau “Biển Đông dậy sóng” giờ đây đến “đất bằng dậy sóng”, các ‘anh em đồng chí ta’ định chơi trò bóp bao tử dân VN, sau khi định giật đảo ngoài khơi không xong? Trường Giang |
|
|