Dành biển VN, Tàu ngầm Trung Quốc cắm quốc kỳ dưới đáy biển Đông
27.08.2010 12:50
Tàu ngầm loại Song 039 của quân đội Trung Quốc apl-chine.com
Hãng tin chính thức của Trung Quốc China News Service hôm nay (26/8), trích nguồn từ Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc và Cục Hải dương Trung Quốc, loan tin một tàu ngầm của nước này đã cắm lá quốc kỳ dưới đáy Biển Đông, mà Trung Quốc gọi là biển Hoa Nam. Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 7 vừa qua, chiếc tàu ngầm nói trên đã lặn tổng cộng 17 lần và đã lặn xuống độ sâu lên tới 3.759 mét. Tuy nhiên, hãng tin China News Service lại không nói rõ là tàu ngầm này đã lặn xuống ở đâu, tại sao đến bây giờ thông tin này mới được loan tải, cũng như là tàu ngầm có đi vào những khu vực đang có tranh chấp chủ quyền trên biển Đông hay không. Hãng tin này chỉ nói đây là lần đầu tiên một tàu ngầm của Trung Quốc lặn đến độ sâu như thế. Trên đài truyền hình Trung Quốc hôm nay, một kỹ sư đặc trách các cuộc lặn ở biển sâu tuyên bố rằng : “ Thành công này cho thấy là nước ta đã trở thành một trong số ít các quốc gia nắm vững công nghệ lặn dưới biểu sâu”. Theo nhận định của hãng tin Reuters, cuộc lặn thử nghiệm này làm nỗi rõ tham vọng của Bắc Kinh trong việc khai thác các tài nguyên dưới đáy Biển Đông. Trong bối cảnh mà Trung Quốc khẳng định chủ quyền trên toàn bộ biển Đông, hôm qua, kết thúc chuyến viếng thăm kéo dài bốn ngày Bắc Kinh, thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh tuyên bố là Việt Nam vĩnh viễn không trở thành đồng minh của Hoa Kỳ. Ông Nguyễn Chí Vịnh bác bỏ tin cho rằng Việt Nam đang thiết lập mối “quan hệ tam giác” giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Theo tờ China Daily, tuyên bố nói trên của ông Nguyễn Chí Vịnh đã được giới phân tích ở Bắc Kinh đánh giá cao, cho rằng đây là dấu hiệu tích cực thúc đẩy quan hệ Việt-Trung. Ngoài ra, thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam còn bày tỏ sự hài lòng trước sự phát triển của Trung Quốc, đặc biệt là về mặt quân sự. Theo ông Nguyễn Chí Vịnh, Trung Quốc sẽ không sử dụng sức mạnh của mình để phương lại đến những nước khác, cũng như phương hại đến hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới”. Ông Nguyễn Chí Vịnh còn chuyển lời mời Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt đến dự cuộc họp các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng, sẽ diễn ra tại Hà Nội vào tháng 10 tới. Trung Quốc hy vọng ASEAN dùng nhân dân tệ để trao đổi mậu dịch Bắc Kinh dự tính sẽ thay đô la bằng đồng nhân dân tệ bằng trong thanh toán mâu dịch với ASEAN AFP / Frederick Brown Trung Quốc hôm nay 26/8 đã tỏ ý hy vọng là đồng nhân dân tệ sẽ được sử dụng tối đa trong các thương vụ giữa nước này và các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, tức ASEAN. Bắc Kinh tìm cách nâng cao việc sử dụng đồng nhân dân tệ ở nước ngoài, nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào đồng đô la Mỹ và tăng cường vai trò quốc tế của đồng tiền Trung Quốc Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc, ông Trần Đức Minh cho biết: « Chúng tôi sẽ nghiên cứu khả năng thanh toán bằng đồng nhân dân tệ hay bằng đồng tiền quốc gia của từng nước » đối với các nước ASEAN, trong khuôn khổ Hiệp định tự do mậu dịch có hiệu lực từ năm nay. Lời tuyên bố trên đây được đưa ra bên lề hội nghị thường niên bộ trưởng thương mại Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, đang diễn ra tại Đà Nẵng. Theo các nhà phân tích, Bắc Kinh tìm cách nâng cao việc sử dụng đồng nhân dân tệ ở nước ngoài, nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào đồng đô la Mỹ và tăng cường vai trò quốc tế của đồng tiền Trung Quốc. Mặc cho các thành công của xuất khẩu, đồng nhân dân tệ hiện nay vẫn đóng một vai trò thứ yếu trong trao đổi thương mại quốc tế, do các quy định chặt chẽ về hối đoái. Trong vòng hai năm gần đây, Trung Quốc đã ký các hiệp định trao đổi tiền tệ với nhiều nước, và đưa ra các hoạt động thử nghiệm việc thanh toán bằng đồng nhân dân tệ đối với một số quốc gia, đặc biệt là các nước Đông Nam Á. Xin nhắc lại, ASEAN hiện có 10 nước thành viên, gồm Việt Nam, nước đương kim chủ tịch, Thái Lan, Lào, Cam Bốt, Philippines, Malaysia, Singapore, Indonesia, Brunei và Miến Điện. Khu vực tự do mậu dịch Trung Quốc – ASEAN tập hợp 1,7 tỉ người tiêu thụ.
Ngày 16/08/2010, Nhật Bản công bố số liệu về Tổng Sản phẩm Quốc nội GDP trong quý 2 năm 2010 của mình, đạt 1.288 tỉ đôla. So với GDP của Trung Quốc loan báo trước đó là 1.337 tỉ đôla thì rõ ràng là ngôi vị cường quốc kinh tế thế giới thứ hai của Nhật Bản đã bị Trung Quốc soán đoạt. Đối với Trung Quốc, thực tế đã rõ : họ đã vươn lên hạng thứ hai thế giới về phương diện kinh tế, chỉ còn thua Mỹ mà thôi. Vào hạ tuần tháng 07/2010, ngay từ trước khi Tokyo loan báo số liệu GDP của mình, ông Dịch Cương, Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã tuyên bố hùng hồn là : "Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới ". Tuy nhiên Tokyo đã cố gắng bám lấy vị trí thứ hai khi xác định rằng tính cả hai quý 1 và 2 trong năm nay, thì GDP của Nhật Bản vẫn cao hơn Trung Quốc. Thật vậy, nếu xét theo cả 6 tháng đầu năm, thì GDP Nhật Bản đạt 2.587 tỉ đô la, cao hơn một chút so với mức của Trung Quốc là 2.532 tỉ đô la. Giải thích của Tokyo cũng hợp lý, thế nhưng, theo các nhà quan sát, với tốc độ tăng trưởng kinh tế èo uột tại Nhật Bản và cực nhanh tại Trung Quốc hiện nay, sớm muộn gì thì ngôi vị cường quốc kinh tế thứ hai của Bắc Kinh sẽ được xác lập vững chắc, có thể là ngay trong năm nay hay vào năm tới. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, GDP của Trung Quốc sẽ đạt 5.400 tỉ đô la vào cuối năm nay, cao hơn mức của Nhật Bản chỉ là 5.300 tỉ mà thôi. Có điều, theo giới phân tích, dù kinh tế Trung Quốc đã vươn lên được hàng thứ hai thế giới, ít ra là vào quý 2 năm nay, sự phát triển của nước này vẫn chưa bền vững và đồng đều. Chính Phó Thống đốc Ngân hàng Trung Ương Trung Quốc Dịch Cương đã thừa nhận : « Vấn đề hiện nay của nền kinh tế Trung Quốc chính là chất lượng tăng trưởng ». Các thách thức đặt ra cho nền kinh tế Trung Quốc hiện nay rất nhiều, từ việc nước này còn khá lệ thuộc vào xuất khẩu và đầu tư, cho đến sự kiện khoảng cách giầu nghèo quá lớn lao. Một thí dụ đơn giản : Trung Quốc đang có hàng chục tỷ phú nằm trong danh sách những người giàu nhất thế giới do tập chí Mỹ Forbes thực hiện, thế nhưng thu nhập bình quân của hàng trăm triệu cư dân nước này lại thuộc diện thấp nhất thế giới. Chỉ so sánh riêng với Nhật Bản, thì vào năm 2009, thu nhập bình quân theo đầu người tại Trung Quốc ở mức gần 3.600 đô la, trong lúc tại Nhật Bản, con số này lên đến khoảng 37.800 đô la, tức là cao hơn gấp 10 lần. Phân tích của giáo sư Ngô Vĩnh Long tại Hoa Kỳ Chất lượng tăng trưởng là gì ? Quan trọng như thế nào đối với một nước ? và trong trường hợp Trung Quốc, sự tăng trưởng kém chất lượng sẽ có hệ quả ra sao đối với người dân ? Để hiểu rõ vấn đề này, RFI đã phỏng vấn giáo sư Ngô Vĩnh Long, chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc và châu Á tại trường Đại học Maine, Hoa Kỳ. Giáo sư Long trước hết giải thích về nguyên nhân chính giúp Trung Quốc giành được vị trí cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới từ tay Nhật Bản vào quý 2 năm 2010. GDP Trung Quốc tăng nhanh nhờ mức đầu tư cực lớn - Trung Quốc đầu tư rất nhiều cho GDP của họ, mỗi năm là chiếm khoảng 40% đến 42%, trong khi Nhật Bản, vì suy thoái trong 20 năm qua, cũng như vì giảm phát cho nên đầu tư vào tăng trưởng GDP thấp hơn rất nhiều, chỉ khoảng 18% đến 20%. Do đó kinh tế Nhật trong quý 2 vừa qua chỉ tăng được hơn 0,1%, trong lúc Trung Quốc lên đến 10%. Đó là lý do tại sao GDP của Trung Quốc mới vượt qua GDP của Nhật Bản. - Nếu Trung Quốc cứ đầu tư cao như vậy, càng ngày mức tăng trưởng của Trung Quốc càng cao, còn Nhật Bản thì sẽ thấp hơn, thì lẽ dĩ nhiên, về xa về dài, nếu tính trên GDP, Trung Quốc càng ngày càng tăng trưởng cao hơn Nhật. Nhưng vấn đề không phải là ở chỗ đó. Thu nhập theo đầu người của Trung Quốc còn rất thấp trong lúc chênh lệch giàu nghèo lại cực cao - Trước hết dân số của Trung Quốc rất lớn, cho nên nếu tính GDP thì cuối năm nay chẳng hạn, GDP của Trung Quốc sẽ ở khoảng 4.900 tỷ hay 5.000 tỷ đô la, Nhật cũng sẽ là 5.000 tỷ hay hơn 5000 tỷ một chút. Nhưng hiện nay, GDP trên đầu người của Nhật là gần 40.000 đô la trong khi GDP trên đầu người của Trung Quốc là 3.600 đô la, chưa bằng 1/10. - Trong khi đó thì khoảng cách giàu nghèo ở Trung Quốc rất lớn, cho nên khi nói đến vấn đề tăng trưởng GDP, ta cũng phải xem tình trạng phân cấp giàu nghèo như thế nào. Tôi cho rằng sự phân cấp giàu nghèo về lâu về dài sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế chung. "Chất lượng tăng trưởng" của Trung Quốc còn kém cỏi - Chất lượng tăng trưởng rất quan trọng. Trung Quốc đã có thể tăng trưởng GDP khoảng 10% một năm trong hai mươi mấy năm nay, nhưng đó là vì họ đầu tư - như tôi đã nói - rất cao. Và cái lý do khiến họ đầu tư cao được, đó là vì chính phủ nắm tiền tệ, nắm các ngân hàng, nên tha hồ tung tiền ra. Khi nào có nợ xấu thì họ dẹp sang một bên. Vì thế cho nên, trong khi các nước trên thế giới đang bị suy thoái, không bỏ tiền ra đầu tư, thì Trung Quốc cứ đầu tư tràn lan. - Cái thứ hai nữa là người dân ở Trung Quốc tiêu xài rất ít. Khoản tiêu thụ của người dân Trung Quốc chỉ chiếm 40% của GDP mà thôi. Còn ở Nhật, mặc dù bị suy thoái trong 20 năm qua, nhưng mức tiêu dùng của người dân vẫn còn khoảng 60% GDP. Cho nên mặc dù xuất khẩu càng ngày càng ít đi, nhưng Nhật sẽ không bị khó khăn lắm về lâu về dài trong vấn đề phát triển nếu mà thế giới càng ngày càng suy thoái thêm. - Trong khi đó Trung Quốc phải dựa vào xuất khẩu rất nhiều cho nên, suy thoái kinh tế trên thế giới mà kéo dài thì Trung Quốc sẽ bị khó khăn. Chỉ có một điều là Trung Quốc xuất khẩu những mặt hàng rẻ tiền thì những người nghèo, ít thu nhập của các nước trên thế giới vẫn mua hàng Trung Quốc. Đó là lý do tại sao mà trong hai ba năm qua, trong khi kinh tế thế giới suy thoái, xuất khẩu của Trung Quốc cũng vẫn tăng như thường. Các quốc gia khác phải nhập siêu, nhất là Mỹ hay một số nước Âu Châu khác. Kế hoạch kích thích kinh tế đã giúp Trung Quốc thổi phồng tăng trưởng - Kế hoạch kích thích kinh tế làm cho Trung Quốc đỡ suy thoái hơn. Tuy nhiên, vấn đề này cũng nên đặt lại như sau. Khi tính GDP, Trung Quốc gộp luôn giá trị nhà cửa, đường xá mới xây. Trong 2 năm qua, họ xây cất rất nhiều nhà cửa, và làm rất nhiều đường xá. Hiện có nhiều cái nhà đang bỏ trống, (thành ra nhiều người sợ là sẽ có một cái bong bóng về địa ốc bên Trung Quốc). Nhưng khi cất nhà nhiều mà để trống như vậy, hay là xây những con đường đi vào những nơi mà không cần dùng, nhưng họ vẫn tính vào GDP. - Cho nên tính mức GDP thuần túy như vậy là không thực tế. Bởi vì vấn đề là mức tiêu dùng của người tiêu thụ trong nước có tăng được hay không. Trung Quốc trong 3 năm qua vẫn nói là thu nhập bình quân của Trung Quốc mặc dầu có tăng lên, nhưng nhiều người vẫn còn rất nghèo. Trung Quốc hiện nay là một nước mà theo Liên Hiệp Quốc, nằm ở hạng 125 hay 127 của các nước nghèo nhất thế giới, nghèo hơn cả Angola nếu tính như vậy. Cho nên chỉ tính GDP một cách chung chung là không phản ánh sự thật của xã hội. - Cái giá phải trả rất lớn. Ví dụ như Trung Quốc chưa giải quyết được nạn ô nhiễm trong nước. Nhưng nếu họ bỏ tiền ra để giải quyết vấn đề ô nhiễm thì GDP sẽ không phát triển với cái tỷ lệ như hiện nay. Trong khi đó thì Nhật Bản từ những năm 70 đã bắt đầu giải quyết vấn đề ô nhiễm trong môi trường của họ rồi. Bây giờ Nhật Bản là một trong những quốc gia sạch nhất ở Đông Á. Như vậy trong những năm tới họ không cần phải bỏ nhiều tiền để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường chẳng hạn. Theo tôi, nhìn vào vấn đề phát triển, ta phải nhìn toàn thể chứ chỉ nhìn GDP không mà thôi thì không thấy rõ. Khái niệm "chất lượng tăng trưởng" cần được quan tâm nhiều hơn - Nó liên quan không những đến vấn đề phát triển bền vững, mà còn liên quan đến vấn đề là con người ở trong một nước có vui mạnh hay không. Điều đó cũng sẽ giúp con người làm việc tốt hơn. Một vấn đề nữa là đối với một nước nền giáo dục, hệ thống y tế có tốt hay không. Và nếu giáo dục, y tế tốt thì người dân mới khoẻ mạnh để làm việc tốt hơn. - Hiện nay, nền giáo dục Trung Quốc không tồi lắm, nhưng vấn đề y tế thì càng ngày càng gây khó khăn cho Trung Quốc. Cái vấn đề này cũng là một cái gánh nặng đối với Trung Quốc về lâu về dài. Tạm thời, Trung Quốc không chi phí vào các ngành này, nhưng mà nếu họ bỏ tiền ra để lo các vấn đề y tế, giáo dục, môi trường... thì GDP của họ sẽ không phát triển nhanh như hiện nay. Trung Quốc lợi dụng thế mạnh kinh tế hiện nay để chèn ép nước khác - Trung Quốc cũng biết như thế cho nên lợi dụng tình trạng các nước khác như Nhật, Mỹ, Âu Châu, chưa hồi phục sau khủng hoảng, Trung Quốc đang dùng thế mạnh của mình hiện nay trong kinh tế cũng như là quân sự để bắt các nước khác nhượng bộ. Đó là lý do tại sao mà trong hai ba năm qua, mà nhất là trong những tháng qua, Trung Quốc rất đẩy mạnh vấn đề quân sự không những ở Đông Nam Á mà còn ở nhiều nơi khác trên thế giới. - Cả thế giới, kể cả Nhật Bản, cũng muốn kinh tế của Trung Quốc tiếp tục tăng. Kinh tế Trung Quốc mà tăng, có nhiều người giàu lên, thì những người này sẽ mua hàng chế biến tốt của Nhật, của Mỹ hay của nước khác. Hay là Trung Quốc muốn GDP tăng lên thì cần mua nhiên liệu, nguyên liệu từ các nước khác. Các quốc gia này cũng có lợi, và cũng muốn Trung Quốc tăng trưởng. - Vấn đề là thái độ của Trung Quốc như thế nào trong việc đối xử với các nước khác. Nếu Trung Quốc làm áp lực nhiều quá, tôi nghĩ là nhiều người sẽ thấy là chơi với Trung Quốc không tốt. Tôi nghĩ là vai trò cường quốc kinh tế thứ hai thế giới buộc Trung Quốc phải có trách nhiệm với quốc tế. Thế nhưng hiện nay có một số lãnh tụ bên Trung Quốc cho rằng họ đang mạnh lên thì họ phải dùng cái thế mạnh đó để bắt ép các nước khác, nhất là những nước xung quanh. Làm như vậy sẽ tạo ra phản ứng mạnh đối với Trung Quốc.
Tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc tăng tốc Tàu ngầm và chiến hạm Trung Quốc tham gia cuộc thao diễn hải quân quốc tế ngày 24/04/2009 ngoài khơi Thanh Đảo, nhân kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Hải quân Trung Quốc. REUTERS/Guang Niu Quyết định của Bắc Kinh đặt Biển Đông vào diện "quyền lợi quốc gia thiết yếu" thể hiện một tham vọng độc chiếm khu vực được mệnh danh là « Vịnh Ba Tư của Châu Á ». Hành động này trực tiếp xâm phạm lợi ích quốc gia của nhiều nước Đông Nam Á, và thách thức Hoa Kỳ nhưng Trung Quốc vẫn tiến hành vì Biển Đông đã trở thành cần thiết và Bắc Kinh tự cho rằng đã đủ khả năng khống chế. Trong bài phân tich ngày 13/07/2010 mang tựa đề ‘’Full steam ahead for China’s territorial ambitions’’, Peter Hartcher, biên tập viên quốc tế của nhật báo Úc Sydney Morning Herald phân tích các yếu tố thúc đẩy tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc. Quyết định về Biển Đông là yếu tố mới nhất trong một loạt những hành động gần đây nhằm thực hiện chủ thuyết mới về Hải quân của Bắc Kinh. Điều được tác giả nêu bật là thái độ của Trung Quốc coi thường phản ứng quá yếu ớt của các nước Đông Nam Á, và trong tình hình quyền lợi của Mỹ cũng bị đụng chạm, Hoa Kỳ sẽ phải gánh vác trách nhiệm tìm ra giải pháp. RFI xin hân hạnh được chuyển dịch bài viết này để quý vị độc giả tham khảo. Trong một câu châm ngôn nổi tiếng, cố lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình kêu gọi đồng hương của mình "che giấu vẻ hào nhoáng để chờ thời". Đó là cách đây hơn 20 năm. Giờ đây, dường như giới lãnh đạo Trung Quốc đã hoàn tất việc chờ thời. Với chủ trương định nghĩa lại một cách quyết đoán vị trí của mình trên thế giới, Trung Quốc đã đặt biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) vào diện "quyền lợi quốc gia thiết yếu", tức là nơi mà không ai khác có thể đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ - tương tự như Đài Loan và Tây Tạng. Trung Quốc đã vạch một đường màu đỏ trên bản đồ châu Á và thách thức bất cứ ai vượt qua. Điều này đã đẩy Trung Quốc vào thế xung đột trực tiếp với các đòi hỏi của năm nước láng giềng, và thách thức vai trò thống trị của Hải quân Mỹ trên vùng biển. Một phần ba của tất cả hàng hóa chuyển vận bằng đường thủy đều đi qua vùng biển mà giờ đây Trung Quốc tuyên bố độc quyền, giáp Đài Loan ở phía bắc, Việt Nam ở phía tây, Philippines ở phía đông, Malaysia và Brunei ở phía nam. Vùng này chứa các mỏ dầu khí; một số nhà phân tích Trung Quốc đã gọi nơi này là "vịnh Ba Tư ở châu Á" do tiềm năng dầu hỏa dồi dào và trải rộng của khu vực. Chủ trương của Trung Quốc đặc biệt khiêu khích, vì như vậy họ đã bác bỏ thỏa thuận không ràng buộc năm 2002 với các nước láng giềng Đông Nam Á để giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua thương lượng hòa bình. Đây là một cuộc khủng hoảng, nhưng là một cuộc khủng hoảng thầm lặng. Lý do chủ yếu là vì các nước bị đụng chạm đang phản ứng một cách dè dặt đầy lo âu trước người láng giềng đang vươn lên của họ. Việt Nam đã minh thị yêu cầu Trung Quốc thực hiện thỏa thuận, nhưng những nước khác đã gần như im hơi lặng tiếng. Còn Hoa Kỳ thì sao ? Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương, Kurt Campbell, đã nói với nhật báo Úc Herald: "Tôi nghĩ rằng Mỹ và Trung Quốc có một cuộc đối thoại phong phú ở cấp nhà nước trên một loạt vấn đề. Trong bối cảnh bao quát đó, luôn luôn có các vấn đề mà Mỹ và Trung Quốc bất đồng với nhau, và chúng tôi hiểu rằng những khác biệt đó liên quan không chỉ đến vấn đề quyền của Đài Loan hoặc các vấn đề như Tây Tạng, nhưng cũng liên quan đến các vấn đề như biển Nam Trung Hoa (Biển Đông). "Chúng tôi đã tìm cách hợp tác chặt chẽ để thiết lập một cuộc đối thoại, không chỉ với Trung Quốc mà với cả những bạn bè của chúng tôi ở Đông Nam Á, sao cho chúng tôi có thể hoàn toàn hỗ trợ tiến trình năm 2002 giữa Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á nhằm giải quyết mọi vấn đề nổi cộm thông qua ngoại giao.'' Nói cách khác, Mỹ cũng muốn Trung Quốc trở lại nguyên trạng trước đây, đàm phán thay vì đơn phương đòi hỏi. Như thường lệ, Hiệp hội các nước Đông Nam Á lại vô dụng khi phải đối mặt với rắc rối. Vai trò tìm kiếm một giải pháp một lần nữa lại phải do Mỹ gánh vác. Diễn đàn an ninh khu vực ASEAN (ARF), có thêm Trung Quốc, Mỹ, Úc và một loạt các nước khác, họp lại tại Hà Nội ngày 23 tháng bảy. Biển Đông là một chủ đề nóng. Tại sao Trung Quốc nhòm ngó Biển Đông ? Bởi vì đó là điều cần phải làm, theo như lời một quan chức hàng đầu của hải quân Trung Quốc. Chuẩn Đô đốc Trương Hoa Trần, Phó Tư lệnh Đông Hải Hạm đội, đã nói với nhật báo Singapore The Straits Times: "Với việc mở rộng quyền lợi kinh tế của Trung Quốc, lực lượng hải quân muốn bảo vệ tốt hơn các tuyến giao thông vận tải, và đảm bảo an toàn cho các tuyến hàng hải chủ chốt của mình." Walter Russell Mead, chuyên gia thuộc Hội đồng Đối ngoại (Council on Foreign Relations) không tán đồng : "Giải thích này rất nghèo nàn nếu xét đến những tham vọng thương mại của Trung Quốc; họ bảo vệ loại thương mại nào? Trung Quốc đang cần đến nguồn năng lượng và nguyên liệu từ khắp nơi trên thế giới." Trung Quốc đẩy mạnh tham vọng ở Biển Đông vì đã có khả năng làm việc này, theo Tô Quang Vũ, một viên tướng Trung Quốc đã về hưu. Ông nói với nhật báo Hồng Kông South China Morning Post: "Sự vắng mặt lâu dài của Trung Quốc tại vùng biển đặc quyền kinh tế trong các thập kỷ qua là một điều bất thường trong lịch sử, và bây giờ mới bắt đầu trở lại hoạt động bình thường. Sở dĩ chúng tôi lặng yên trong việc tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng trong quá khứ , đó là vì hải quân của chúng tôi chưa đủ sức bảo vệ các khu kinh tế của mình, nhưng bây giờ thì hải quân đã có khả năng thực hiện nhiệm vụ." Vào lúc này, Trung Quốc nghĩ rằng họ có thể điềm nhiên thúc đẩy tham vọng lãnh thổ mà vẫn vô sự. Theo Vương Hàn Linh, một chuyên gia về các vấn đề hàng hải tại Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc : "Trên thực tế, tranh chấp đã nẩy sinh từ khi dầu mỏ và các nguồn tài nguyên đại dương khác được phát hiện dưới quần đảo Điếu Ngư [mà Nhật Bản tuyên bố chủ quyền dưới tên gọi Senkaku] ở vùng biển Hoa Đông , và quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở khu vực biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) trong thập niên 1970.'' Vào thời đó, đã từng có suy nghĩ là các quốc gia Đông Nam Á có thể hình thành một mặt trận chung chống lại Trung Quốc, một khả năng “từng làm Bắc Kinh lo ngại", theo lời ông Vương, nhưng mối quan ngại này ngày nay đã tan biến sau ba thập kỷ bất động từ phía các nước Đông Nam Á. "Chúng tôi thấy rằng bản thân các nước láng giềng còn tranh chấp lãnh thổ với nhau, và có lợi ích quốc gia để bảo vệ, cho nên khó mà xây dựng một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc. Ngay cả khi họ thành công trong việc liên kết với nhau, thì họ vẫn không đủ mạnh để đánh bại Trung Quốc ". Xác định Biển Đông là vùng quyền lợi quốc gia thiết thân là một trong nhiều động thái Bắc Kinh tiến hành trong năm nay để mở rộng phạm vi thống trị của Hải quân Trung Quốc. Đầu tiên hết, họ đã loan báo một chủ thuyết hải quân mới mang tính bành trướng. Cho đến nay, khu vực hoạt động của Hải quân Trung Quốc được giới hạn ở cái gọi là Chuỗi đảo thứ nhất, trải dài từ Nhật Bản đến Philippines. Nhưng bây giờ Bắc Kinh tuyên bố chính sách “phòng ngự viễn dương”, vươn tới Chuỗi đảo thứ hai, một khu vực trải dài và vươn ra mọi hưóng xuống đến tận đảo Guam, Indonesia và Úc. Kế đến, Trung Quốc đã tung ra những chiến dịch tuần tra hung hãn hơn và những cuộc tập trận hải quân để bổ sung hiệu năng tác chiến cho học thuyết mới. Trong tháng tư 2010 chằng hạn, một hạm đội gồm 10 chiếc tàu đã vượt qua Chuỗi đảo thứ nhất, một cuộc diễn tập có quy mô chưa từng thấy đối với Trung Quốc. Động thái thứ ba là Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh việc tăng cường năng lực cho hải quân, trong đó việc xây dựng một căn cứ tàu ngầm dưới mặt đất trên đảo Hải Nam, và một hàng không mẫu hạm chiến đấu, dự trù triển khai trong vài năm tới. Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc Robert Willard, cho biết trong tháng tư : "Đặc biệt đáng quan ngại là các yếu tố hiện đại hóa quân sự đó của Trung Quốc lại có dấu hiệu là nhằm thách thức quyền tự do hành động của chúng ta trong khu vực." Với nền kinh tế thịnh vượng và năng lực ngày càng gia tăng, Bắc Kinh không còn chờ thời nữa mà đang hành động để khẳng định bản thân.
ASEAN thất vọng vì Mỹ vắng mặt tại hội nghị thương mại khu vực Thứ Năm, 26 tháng 8 2010  Trả lời VOA Việt Ngữ, ông Ernest Bower cho rằng sự vắng mặt của Washington tại cuộc họp của AEM 42 là ‘đáng chú ý’. Ông nói: ‘Hiện giờ, Hoa Kỳ hiện diện tại mọi cuộc họp về ngoại giao và an ninh của ASEAN. Nhưng một trong những lĩnh vực quan trọng nhất mà Hoa Kỳ có nhiều quyền lợi là thương mại và hợp tác kinh tế thì Washington lại không cử bộ trưởng hay đại diện nào tới dự. Tôi cho rằng đây là một vấn đề quan trọng phải chỉ ra.’ Cố vấn cao cấp này nhận định rằng không giống với các giới chức cấp cao Bộ Ngoại giao và Quốc phòng, đại diện thương mại cấp cao Hoa Kỳ ‘không được chấp thuận’ tới tham dự các hội nghị bàn về kinh tế của ASEAN. Trong khi đó, giới chức Việt Nam được báo chí trong nước trích lời nói rằng các cuộc họp ở Đà Nẵng tập trung thảo luận đẩy mạnh các hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN với các nước đối tác. Lần đầu tiên, Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á và Nga tiến hành thảo luận các hợp tác kinh tế ở cấp bộ trưởng nhằm thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại giữa ASEAN và Moscow. Cố vấn cấp cao Bower cho rằng ‘sự tin tưởng vào nước Mỹ cùng khả năng lãnh đạo và thực thi cam kết dựa trên thể trạng của nền kinh tế nước này, nhưng vị thế của Hoa Kỳ đang bị bạn hữu cùng các đối thủ ở châu Á đặt dấu hỏi’. Thế nên, theo ông, ‘một quyết tâm chính trị về vấn đề thương mại là một điều cần thiết ở Hoa Kỳ lúc này’. Ông cho biết: ‘Tôi cho rằng hiện Hoa Kỳ cho thấy đang theo đuổi các mục tiêu tốt ở khu vực Đông Nam Á, nhưng chưa hình thành một chiến lược rõ ràng. Washington đang định hình các bước đi liên quan tới cấu trúc an ninh ở khu vực này, nhưng chưa có một chiến lược cụ thể. ASEAN là một thị trường xuất khẩu lớn thứ tư. Hoa Kỳ đầu tư vào ASEAN nhiều gấp ba lần so với Trung Quốc, và gấp 10 lần so với Ấn Độ. Thế nên, nếu có chiến lược cụ thể, Washington không thể cho phép mình bỏ lỡ cơ hội có mặt tại hội nghị bộ trưởng kinh tế các nước ASEAN, đặc biệt khi các đối tác đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu thương mại của khu vực đều tham gia.’ Phát biểu khai mạc AEM 42, Tổng thư ký ASEAN nói rằng các nền kinh tế ở Đông Nam Á sẽ tiếp tục phát triển cùng với Trung Quốc bất chấp việc một số quốc gia gặp khó khăn trong việc thích ứng với một thỏa thuận thương mại tự do mới với đất nước đông dân nhất thế giới, trong đó có việc bãi bỏ thuế bảo hộ. Thỏa thuận Khu vực Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc có hiệu lực đầu năm 2010, và là thị trường lớn nhất thế giới tính theo đầu người với khoảng 1,7 tỷ dân. Ông Bower cho rằng ‘lỗ hổng về chiến lược tăng cường đối thoại và hợp tác ở Đông Nam Á của Hoa Kỳ rõ ràng là thương mại’ mà đây lại là ‘điều sống còn đối với việc duy trì sự hồi phục kinh tế của Hoa Kỳ’. Ông nói thêm: ‘Thương mại là một thành tố quan trọng đối với Hoa Kỳ vì nó đóng vai trò thúc đẩy nền kinh tế đất nước. Chính vì lẽ đó, Washington cần phải có chính sách thương mại thúc đẩy các sản phẩm và dịch vụ của Hoa Kỳ ở nước ngoài, cũng như mở cửa cho những sản phẩm ở nước ngoài vào Mỹ, giúp nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn. Sự hậu thuẫn về mặt chính trị đối với vấn đề đó phải xuất phát từ Tòa Bạch Ốc, nhưng hiện bản thân họ cũng e ngại tranh cãi điều đó vì cuộc bầu cử giữa kỳ sắp tới. Chính quyền của Đảng Dân chủ không muốn mất đi sự ủng hộ của các đơn vị cử tri quan trọng, nhất là phong trào lao động trong nước.’ Liên quan tới các mối quan hệ hợp tác kinh tế trên bình diện song phương, ông Bower nhận định với VOA Việt Ngữ rằng ‘Hoa Kỳ đã thực hiện tốt các bước hợp tác tốt đẹp với các đối tác trọng yếu ở châu Á, trong đó có Việt Nam cùng các nước khác’. Ông nói: ‘Điều đó hỗ trợ tiến trình trở lại châu Á của Hoa Kỳ cũng như giúp củng cố chiến lược an ninh quốc gia cũng như tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ. Nhưng một vấn đề là, cấp độ hợp tác khu vực cần phải tương xứng với các mối quan hệ song phương tốt đẹp như vậy. Chỉ có như vậy, mối bang giao Việt Nam – Hoa Kỳ mới có thể tiến lên tầm cao mới, nếu không Hà Nội sẽ hợp tác với các nước láng giềng và ASEAN. Hiện Việt Nam đã đạt các thỏa thuận về thương mại tự do với Ấn Độ, Trung Quốc, Australia hay New Zealand, Nam Triều Tiên, Nhật Bản, trong khi đó Hoa Kỳ không nằm trong các thỏa thuận này.’ Năm 2009, Hoa Kỳ đã trở thành nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam, hiện là chủ tịch luân phiên của ASEAN, với số vốn đăng ký gần 10 tỷ đôla, tức chiếm hơn 45% tổng vốn đầu tư tại đây. Mới đây, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã tham dự Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) ở Hà Nội, nơi bà tuyên bố ‘quyền lợi quốc gia’ của Hoa Kỳ trong việc giải quyết vấn đề biển Đông, khiến Trung Quốc ‘giận dữ’ lên tiếng phản đối. Trong khi đó, tin cho hay, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates dự kiến sẽ tới Việt Nam vào tháng 10 tới đây để tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN cộng 8 (ADMM+8) gồm Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, Nga và Mỹ. Việc Hoa Kỳ không tham dự hội nghị thường niên bộ trưởng kinh tế các nước Đông Nam Á và những đối tác thương mại chính yếu đang gây nhiều chú ý. 10 quốc gia thành viên ASEAN họp tại thành phố Đà Nẵng, Việt Nam với các “đối tác đối thoại” gồm Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nam Triều Tiên, New Zealand, Nga và Liên Hiệp châu Âu. Tổng Thư Ký ASEAN Surim Pitsuwan nói với các phóng viên hôm thứ Năm ông thất vọng vì sự vắng mặt của Hoa Kỳ. Các nước tham dự hội nghị tuần này đang làm việc để phát triển ASEAN thành một thị trường duy nhất theo kiểu EU vào năm 2015. Ông Surin ghi nhận là Washington vẫn có giao tiếp với vùng này theo những đường lối khác. Trong khi bỏ qua không tham dự diễn đàn này nhưng Hoa Kỳ đã đóng một vai trò quan trọng trong những cuộc thảo luận về an ninh có liên hệ đến hầu hết những quốc gia cũng từng tham dự diễn đàn được tổ chức tại Việt Nam trong tháng qua. Nhiều nhà phân tích cho rằng chính quyền Obama chần chừ không muốn làm áp lực để thúc đẩy những vấn đề kinh tế trước cuộc bầu cử Quốc hội quan trọng vào tháng 11 tại Mỹ. Tuy nhiên ông P.J. Crowley, một Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ, tuyên bố tại Washington hôm thứ Năm là Hoa Kỳ cam kết tăng cường giao tiếp với khối ASEAN. Bộ trưởng Kinh tế của 10 nước Đông Nam Á đang dự hội nghị tại Việt Nam, thảo luận việc thành lập một cộng đồng kinh tế khu vực theo kiểu Liên hiệp châu Âu. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam phát biểu trong diễn văn khai mạc hội nghị hôm nay rằng khu vực này đang tiến gần hơn đến mục tiêu thành lập một thị trường chung vào khoảng năm 2015. Thủ tướng Việt Nam kêu gọi tăng cường hợp tác giữa các thành viên Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á, tức ASEAN, và với các đối tác thương mại để vượt qua những thách thức lớn, như tình hình kinh tế bất ổn, các thiên tai, và tình trạng biến đổi khí hậu. Tổng thư ký ASEAN, ông Surin Pitsuwan, lưu ý rằng khu vực này đang hồi phục sau cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, và một số nước đã thu hút được thêm đầu tư. Tuy nhiên ông cũng cảnh báo rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới sẽ tùy thuộc vào tình trạng hồi phục kinh tế toàn cầu. Việt Nam chủ trì Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN thường niên năm nay tại thành phố cảng Đà Nẵng. Hà Đình Sơn Vnexpress ngày 26/8/2010: 
| Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt (phải) tiếp Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh. (Ảnh: THX/TTXVN) |
“Phát biểu trước báo giới trong chuyến thăm Trung Quốc, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định chính sách "ba không" của Việt Nam, và nhấn mạnh rằng mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước láng giềng là "tốt đẹp". Chính sách "ba không" mà Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh nhắc đến, bao gồm: không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.” Nếu tuyên bố của ông Vịnh là ý chí của ban lãnh đạo nhà nước Việt Nam, thì quá nhu nhược, không dám bảo vệ chủ quyền quốc gia. Tuyên bố đó, có thể hiểu là trong bất cứ tình huống nào Việt Nam cũng không chống lại Trung Quốc, dù chủ quyền quốc gia của Việt Nam có bị Trung Quốc ngang nhiên xâm phạm. Hoặc Trung Quốc có xâm phạm, chiếm đoạt lãnh thổ Việt Nam, thì chính sách quốc phòng của chúng tôi là thà chịu chết chứ không chống lại. Đây đúng là một thông điệp bật đèn xanh, tiếp tay cho hành vi ăn cướp của Trung Quốc đối với lãnh thổ Việt Nam và lãnh thổ các nước trong vùng Đông Nam Á. Đây là một thông điệp tai hại liên quan đến vận mệnh của tổ quốc Việt Nam, gửi tới quốc tế rằng Việt Nam từ chối liên minh quân sự với bất cứ nước nào khác để chống Trung Quốc trong mọi trường hợp. Một hành vi tự ‘khóa cửa’ nhà mình, nếu có gặp hỏa hoạn cũng không nhờ ai đến cứu. Nếu chính sách quốc phòng của Việt Nam vì mục đích bảo vệ tổ quốc thì ông Vịnh phải tuyên bố với Trung Quốc rằng: Chính sách quốc phòng của Việt Nam là không đe dọa, xâm phạm chủ quyền của bất cứ nước nào; không liên minh và không cho bất cứ nước nào sử dụng lãnh thổ Việt Nam để đe doạ, chống lại nước thứ ba; nhưng Việt Nam sẽ làm tất cả để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, bảo vệ lợi ích quốc gia nếu bị đe dọa, xâm lược bởi bất cứ nước nào. Tấm hình tướng Vịnh khum tay trước bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt thật ăn khớp với tuyên bố của ông. Nếu chính sách ‘ba không’ này của quốc phòng Việt Nam được thực thi, thì đó chính là nguyên nhân làm cho Việt Nam bị mất chủ quyền biển, đảo trong quá khứ và tương lai vào tay Trung Quốc; nguyên nhân dẫn đến những cái chết của ngư dân Việt Nam ở Biển Đông.
Đầu tháng 3 vừa qua, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam đã thăm viếng Bắc Kinh và có cuộc tiếp xúc đặc biệt với Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc. Đây là chuyến đi thăm Trung Quốc đầu tiên của Nguyễn Chí Vịnh kể từ sau khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng quốc phòng vào tháng 2 năm 2009. Tuy nhiên, chuyến đi Trung Quốc của Nguyễn Chí Vịnh đã không được báo chí tại Việt Nam đề cập nhiều, thậm chí không nói rõ mục tiêu và thời gian thăm viếng của Nguyễn Chí Vịnh tại Bắc Kinh.  Nị coi chừng ngộ bóp mũi nị có ngày!
Trong khi đó, báo chí Trung Quốc lại thổi lớn việc Nguyễn Chí Vịnh dẫn một phái đoàn quân sự thăm viếng Trung Quốc với mục tiêu thắt chặt tình hữu nghị giữa hai nước nhân dịp đánh dấu 60 năm quan hệ Trung Việt. Báo chí Trung Quốc còn cho biết là trong buổi tiếp xúc, Trung tướng Lương Quang Liệt, Bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc, đã hết lòng khen ngợi Nguyễn Chí Vịnh và mong mỏi Nguyễn Chí Vịnh góp phần tích cực trong việc đẩy mạnh quan hệ trao đổi song phương và hợp tác để hiểu biết sâu sắc hơn, đồng thời gia tăng mối quan hệ chiến lược giữa hai nước. Từ đầu năm 2010 đến nay, có lẽ Nguyễn Chí Vịnh là nhân vật cao cấp nhất của Hà Nội viếng thăm Trung Quốc. Việc Bắc Kinh mời Nguyễn Chí Vịnh thăm viếng đúng vào lúc cả hai chế độ cộng sản anh em này đang tổ chức các buổi lễ kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao cho thấy là Bắc Kinh đang chuẩn bị tư thế chính trị cho Nguyễn Chí Vịnh. Tại sao? Nguyễn Chí Vịnh và Tô Huy Rứa được coi là hai nhân vật “thân tín” nhất của Trung Quốc trong hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay. Tô Huy Rứa đang được Bắc Kinh hỗ trợ để trở thành một lý thuyết gia “Mác-xít” cuối mùa tại Việt Nam; giống như Liên Xô đã từng uốn nắn Đào Duy Tùng trở thành lý thuyết gia “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” vào những năm cuối thập niên 80. Tô Huy Rứa hiện nay là Ủy viên bộ chính trị, Trưởng ban tuyên giáo, nắm trong tay toàn bộ công cụ báo chí tuyền thông và các cơ sở giáo dục. Tô Huy Rứa còn là Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, một cơ quan trá hình để tổ chức những buổi học tập bồi dưỡng chính trị và tư tưởng cho các cán bộ cao cấp của đảng Cộng sản Việt Nam qua sự giảng dạy của cán bộ chính trị từ Trung Quốc. Nguyễn Chí Vịnh đang được Bắc Kinh chuẩn bị nắm vị trí số một trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam trong thời gian tới. Nguyễn Chí Vịnh sinh năm 1957, con trai của tướng Nguyễn Chí Thanh. Sau khi Nguyễn Chí Thanh chết ở trong Nam thì Nguyễn Chí Vịnh được gia đình Lê Đức Thọ nuôi nấng. Năm 1977, Nguyễn Chí Vịnh nhập ngũ và tốt nghiệp sĩ quan thông tin. Năm 1979, Nguyễn Chí Vịnh vào làm việc cho cục Nghiên cứu Bộ quốc phòng. Tháng 2 năm 1995, Nguyễn Chí Vịnh giữ nhiệm vụ chỉ huy Cục 12, Tổng cục 2. Năm 1997, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Phó tổng cục 2. Đây là thời kỳ Nguyễn Chí Vinh đã cấu kết với phe nhóm Lê Đức Anh ngụy tạo một số bản tin tình báo mật của cơ quan CIA Hoa Kỳ, cáo buộc là CIA đã móc nối một số nhân vật cao cấp của Cộng sản Việt Nam, trong đó có các ông Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt và cả Võ Nguyên Giáp, với âm mưu làm loạn để lật đổ chính quyền cộng sản. Ông Võ Nguyên Giáp đã viết thư tố cáo những ngụy tạo này và yêu cầu điều tra Nguyễn Chí Vịnh nhưng Lê Đức Anh đã gạt ra. Nhờ những việc làm nói trên, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Thiếu tướng vào tháng 7 năm 1999 và 3 năm sau được bổ nhiệm làm Tổng cục trưởng Tổng cục 2 vào tháng 8 năm 2002, thay thế Trung tướng Đặng Vũ Chính là bố vợ của Vịnh về hưu. Kể từ khi nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh đã trở nên thân thiết với Bắc Kinh nhiều hơn và hai phía đã có những hợp tác trao đổi về các tin tức tình báo. Nguyễn Chí Vịnh đã cung cấp cho phía Trung Quốc danh sách cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam có cảm tình hoặc không có cảm tình đối với Bắc Kinh. Dựa trên danh sách này, Trung Quốc đã tìm cách mua chuộc và gây ảnh hưởng lên hàng ngũ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Trong mối quan hệ này, Nguyễn Chí Vịnh được coi là “con thoi” giữa Nông Đức Mạnh với lãnh đạo Bắc Kinh. Đặc biệt, Nguyễn Chí Vịnh được Nông Đức Mạnh giao cho nhiệm vụ liên lạc về vấn đề khai thác Bauxite tại Tây Nguyên. Tháng 12 năm 2004, Nguyễn Chí Vịnh được thăng Trung Tướng. Vào năm 2006, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đều muốn đưa Nguyễn Chí Vịnh vào Trung ương Đảng nhân đại hội đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 10 vào tháng 4 năm 2006. Nhưng Nguyễn Chí Vịnh đã bị tấn công dữ dội về vụ Tổng Cục 2 làm tay sai cho Trung Quốc. Đồng thời uy tín của Nông Đức Mạnh bị suy giảm một cách thê thảm sau khi phe Nguyễn Tấn Dũng khui ổ tham nhũng PMU 18 thuộc Bộ giao thông từ cuối năm 2005, vì thế mà tên của Nguyễn Chí Vịnh đã không được để vào danh sách ứng viên Trung ương đảng để cho các đại biểu chọn lựa trong đại hội X vào tháng 4 năm 2006. Nguyễn Chí Vịnh không được vào Trung ương đảng nhiệm kỳ X là một thất bại lớn của Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh, vì Vịnh bị chống đối quá mạnh trong nội bộ. Rút kinh nghiệm đau thương này, cả Nông Đức Mạnh lẫn Bắc Kinh đã giúp cho Nguyễn Chí Vịnh cách chuẩn bị khác. Tháng 2 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh được bổ nhiệm làm Thứ trưởng bộ quốc phòng và đến tháng 8 năm 2009, Nguyễn Chí Vịnh thôi kiêm nhiệm Tổng cục trưởng Tổng cục 2; người thay thế là Trung tướng Lưu Đức Huy, đàn em của Vịnh. Sau khi không còn nắm Tổng cục 2, Nguyễn Chí Vịnh được sửa soạn xuất hiện ra bên ngoài với một tư thế mới như: Chủ tọa buổi lễ công bố sách trắng Bộ Quốc Phòng vào tháng 12 năm 2009; Chủ tọa buổi gặp gỡ các tân đại sứ, trình bày về đường lối an ninh quốc phòng của Cộng sản Việt Nam trước khi lên đường nhận nhiệm sở vào tháng 1 năm 2010; gặp gỡ và trả lời câu hỏi của báo chí quốc tế về tình hình an ninh vào tháng 2 năm 2010; dẫn một phái đoàn quân sự cao cấp viếng thăm Bắc Kinh vào cuối tháng 2 năm 2010. Những diễn tiến “thăng quan tiến chức” của Nguyễn Chí Vịnh nói trên, cho thấy là Vịnh đã được chuẩn bị khá kỹ. Với đà này, vài năm nữa, Nguyễn Chí Vịnh sẽ leo vào Bộ chính trị và lên nắm chức Bộ trưởng quốc phòng thay thế Phùng Quang Thanh, thân Phương Tây. Hiện nay trong Bộ quốc phòng Cộng sản Việt Nam có 5 Thứ truởng, chỉ có một mình Nguyễn Chí Vịnh là chưa vào được Trung ương đảng; do đó, nhiều phần phe Nông Đức Mạnh và Bắc Kinh sẽ phải chạy nhiều cửa để vận động cho Vịnh được đề bạt vào Trung ương đảng trong đại hội đảng lần thứ XI vào tháng 1 năm 2010. Nguyễn Chí Vịnh năm nay mới 53 tuổi. Vịnh còn đến hơn 10 năm nữa để “phấn đấu” leo lên làm thành viên Bộ chính trị và làm Bộ trưởng quốc phòng nếu đảng Cộng sản Việt Nam còn sống lâu đến đó. Đương nhiên, Bắc Kinh sẽ giúp tiền cho Vịnh để chạy đúng cửa như đã từng giúp cho nhiều cán bộ lãnh đạo Cộng sản Việt Nam hiện nay vào Trung ương đảng và Bộ chính trị. Sau khi vào rồi họ phải làm tay sai cho quan thầy. Nguyễn Chí Vịnh không thể đi ra ngoài quỹ đạo của Bắc Kinh. Trung Điền
TQ lủng đoạn kinh tế VN với hơn một tỉ đồng tiền giả đã bị tung ra thị trường Ngày 24/8, Cơ quan An ninh điều tra tỉnh Đồng Nai đã chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, đề nghị truy tố 13 đối tượng về tội “Lưu hành tiền giả” trong đường dây mua bán tiền giả từ các tỉnh phía Bắc vào Nam. Theo điều tra, các đối tượng “cộm cán” trong đường dây sản xuất, tiêu thụ tiền giả gồm: Nguyễn Hoàng Nam (49 tuổi, ngụ tại quận 1, TP), Vũ Thị Hoa (32 tuổi, ngụ tại tỉnh Thái Bình), Đồng Thị Nuôi (48 tuổi, ngụ tại TP Hải Phòng), Trần Văn Tuyến (35 tuổi, tạm trú tại Q. Thủ Đức, TP) . Bắt đầu từ tháng 10/2009, nhóm này liên kết với Triệu Thế Toàn, ngụ tại tỉnh Bình Dương, in tiền giả các loại mệnh giá rồi đem bán cho các “đại lý” tại các tỉnh với giá 6 triệu đồng tiền thật lấy 10 triệu đồng tiền giả. Cho đến khi bị bắt, các đối tượng này đã bán trót lọt gần 1 tỉ đồng tiền giả ra thị trường, đồng thời phi tang hàng trăm triệu đồng tiền giả khác.
|
|
Những nội dung khác:
|
|