Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Hai 2026
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 4
 Lượt truy cập: 28528832

 
Bản sắc Việt 02.02.2026 07:45
Suy Ngẫm Về Bài Học Thống Nhất Ðất Nước và sự ngu xuẩn của đảng CSVN
11.05.2010 03:36

Từ 1802 đến 1975, lịch sử Việt nam chứng kiến hai lần thống nhất sau thời kỳ phân liệt đẫm máu.

Năm 1802, Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn, lên ngôi lấy hiệu là Gia Long và chọn Phú Xuân làm kinh đô. Đến đời Minh Mạng, cố đô Thăng Long được đổi thành Hà Nội.

ss

Vua Gia Long Năm 1802 và Đảng Cộng Sản Việt Nam Năm 1975
Năm 1975, Ðảng Cộng Sản Việt Nam chiếm được Sài Gòn, thống nhất hai miền Nam Bắc sau hơn 20 năm chia cắt và chiến tranh. Sài Gòn đổi tên “Thành Phố Hồ chí Minh.”

Hai lần thống nhất cách nhau gần 200 năm, nhưng quá trình thống nhất và sự chọn lựa con đường phát triển đất nước ở hai thời đại có một số điểm tương đồng. Sự sai lầm của hai quá trình này, cả hai lần, đã đánh mất cơ hội phục hưng tổ quốc, làm tiêu tán nội lực dân tộc, đưa đất nước đến giai đoạn suy vong.

***

I. Bài học từ triều đại Gia Long

Ảnh hưởng từ Tây phương

Khi Nguyễn Ánh phát động chiến tranh chống lại nhà Tây Sơn, ngài đã dựa vào hai thế lực ở nước ngoài. Ðó là lực lượng của người Tây Phương và lực lượng người Trung Hoa.

Đứng đầu lực lượng Tây phương phò Nguyễn Ánh là đức Giám Mục Bá Ða Lộc. Nguyễn Ánh gặp giám mục Bá Ða Lộc khi ngài bôn tẩu ở Vọng Các, kinh đô của Xiêm La, tức Thái Lan hện nay. Từ đó, mối quan hệ của hai nguời trở nên mật thiết. Ðể vận động sự trợ giúp của Pháp quốc, Nguyễn Ánh đã giao hoàng tử Cảnh lúc mới lên bốn cho Giám Mục Bá Ða Lộc. Đồng thời Giám Mục có toàn quyền ký hiệp định với hoàng đế Pháp để giúp cho Nguyễn Ánh đánh nhà Tây Sơn. Sau đó ông trở về Pháp để vận động viện trợ cho Nguyễn Ánh. Ngài đã thay mặt Nguyễn Ánh ký hiệp ước 1787 dùng các đảo Côn Sơn và các đảo ngoài khơi Đà nẳng để đổi lấy viện trợ quân sự. Nhưng việc thi hành hiệp ước 1787 với Pháp thất bại. Sau đó Giám Mục Bá Ða Lộc đã bỏ tiền túi cũng như vận động tài chánh riêng để mua khí giới và đưa sĩ quan Pháp về huấn luyện cho Nguyễn Ánh. Những người Pháp giúp cho Nguyễn Ánh như Sạc Ne (Charner) và Sai Nhô (Chaigneau) đều được tham dự triều chính của vua Gia Long khi ngài lên ngôi.

Trong những người chịu ảnh hưởng Tây phương trong triều đình Gia Long, quan trọng nhất là Hoàng tử Cảnh. Như đã nói trên, Hoàng tử Cảnh được vua cha Gia Long cho theo đức Giám Mục Bá Ða Lộc từ lúc ông mới 4 tuổi. Ở tuổi thơ ấu nầy, Hoàng tử Cảnh rất dễ tiếp thu văn hoá và ngôn ngữ Tây phương. Có lẽ Hoàng tử Cảnh là vị Hoàng tử Á Châu đầu tiên được theo Tây học ở cuối thế kỷ thứ 18. Tuy lịch sử không nói nhiều đến cuộc đời của Hoàng tử Cảnh, ngày nay chúng ta có thể suy luận được rằng Hoàng tử Cảnh là người tiếp cận văn hoá Tây phương rất sớm, thông thạo Pháp ngữ và có quan hệ rất tốt với Tây Phương. Nói thế để xác định rằng sở học tây phương của Hoàng tử Cảnh đi trước cả Nguyễn Trường Tộ mấy chục năm. Và có lẽ cuộc cách mạng kỹ nghệ tại Việt Nam đã có thể được triển khai ngay thời đại hậu Gia Long nếu Hoàng tử Cảnh không bị mất sớm.

Cùng lúc, một số người Minh Hương đã gia nhập lực lượng của Nguyễn Ánh để chống Tây Sơn. Người Minh Hương là những người Trung Hoa phục vụ cho nhà Minh xin tỵ nạn chính trị tại Đại Việt khi nhà Thanh diệt nhà Minh. Sau hơn 100 năm sống ở Đại Việt, những người Hoa kiều nầy trở thành một bộ phận của dân tộc nhưng họ vẫn có những mối quan hệ chặt chẽ với mẫu quốc Trung Hoa. Do đó, những người Minh Hương nầy trở thành lực lượng có xu huớng thân Trung Hoa trong triều đình Gia Long. Ðứng đầu lực lượng nầy là Trịnh Hoài Ðức, Lê Quang Ðịnh, và Ngô Nhân Tịnh. Cả ba ông đều gốc người Minh Hương và là học trò xuất sắc của Võ Trường Toản, một bậc thâm nho cũng gốc người Minh Hương, có nhiều uy tín tại Gia Ðịnh. Cả ba người đều tham gia hoạt động phò Nguyễn Ánh từ năm 1788.

Khi Gia Long lên ngôi, Trịnh Hoài Ðức làm đến chức Thượng Thư Bộ lại kiêm Bộ hình và Phó tổng tài Quốc Sử Quán. Lê Quang Ðịnh được thăng Binh Bộ thượng thư, tương đương với Bộ trưởng Quốc phòng ngày nay. Ngô Nhơn Tịnh sau được thăng Công Bộ thượng thư. Cả ba ông đều đóng những vai trò quan trọng trong mối quan hệ ngoại giao với Trung Hoa.

Nhưng vai trò quan trọng nhất của Trịnh Hoài Ðức là được vua Gia Long ủy thác để dạy dỗ cho hoàng tử Ðảm. Hoàng tử Ðảm sau lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng.

Ảnh hưởng từ Trung Hoa

Hai xu hướng thân Tây và thân Trung hoa trong triều Gia Long xung đột gay gắt về vấn đề kế vị hoàng tử Cảnh sau khi hoàng tử qua đời. Khi Trịnh Hoài Đức thuyết phục được Gia Long phế dòng trưởng lập dòng thứ, vua Gia Long đã chọn Minh Mạng làm người kế vị. Khi Minh Mạng lên ngôi, dưới ảnh hưởng của Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định và Ngô Nhân Tịnh, Việt nam đã nghiêng hẳn theo mô hình Nho giáo của Thanh triều (Thanh Nho) để phát triển đất nước.

Sau khi lên ngôi, để giữ vững ngai vàng, Minh Mạng (1820-1840) triệt hạ dòng dõi của hoàng tử Cảnh bằng cách xử tử vợ và người con trưởng của hoàng tử Cảnh, và giáng người con thứ làm thường dân. Về phương diện ngoại giao, ngài cho giảm dần quan hệ với Tây phương. Những người Pháp làm việc với Gia Long chán nản bỏ về nước.

Với những người Minh Hương thân Trung hoa cầm nắm vận mạng của triều đình, Minh Mạng đã thi hành một loạt các chính sách ngoại giao đi ngược với đường lối của Gia Long. Từ một nền chính trị ngoại giao khai phóng của Gia Long với những quan hệ rộng rãi với các quốc gia trên thế giới, Minh mạng và các vua kế vị (Thiệu Trị (1841-1847), và Tự Đức (1848-1883)) cùng triều đình thân Trung Hoa đã bắt đầu một nền chính trị cục bộ, thiển cận với chính sách bế môn toả cảng, đoạn tuyệt với Tây phương, ban hành lệnh cấm đạo.

Do ảnh hưởng của Thanh Nho, triều đình nhà Nguyễn từ Minh Mạng trở đi chỉ chú trọng đến văn chương thi phú biền ngẫu, đi theo con đường trọng văn và xao lãng vấn đề quân sự và quốc phòng.

Ðây là lý do, sau khi Gia Long băng hà, sức mạnh quân sự của triều Nguyễn suy giảm hẳn. Khi các tướng lãnh thuộc thế hệ Gia Long qua đời, các tướng lãnh thế hệ kế thừa không đủ tài thao lược để thực hiện chính sách quốc phòng hữu hiệu. Lực lượng quân sự của Trương Minh Giảng không đủ khả năng duy trì guồng máy cai trị ở Nam Vang. Và Trương Minh Giảng đã bị người Miên đánh đuổi về nước dưới triều Thiệu Trị.

Đến thời kỳ Tự Đức, xu hướng thân Trung Hoa hoàn toàn nắm trọn quyền trong triều đình. Biểu hiện rõ nhất là việc triều đình bác bỏ Bản điều trần Canh tân đất nước của Nguyễn Trường Tộ. Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) là một nho sĩ theo đạo Thiên Chúa. Ông nổi tiếng thông minh và hay chữ, được người đời gọi là Trạng Tộ. Ông cũng thông thạo nhiều ngôn ngữ Tây phương. Ông làm thông ngôn cho các giáo sĩ Thiên Chúa trong việc truyền đạo tại Việt Nam. Sau một thời gian đi chu du khắp thế giới, đặc biệt là nước Pháp và Ý, ông trở về Việt Nam để mấy năm trời đem tâm huyết của một người yêu nước viết nhiều Bản điều trần để cải cách và canh tân đất nước dâng lên triều đình Tự Đức. Nhưng trìều đình Tự Đức, với đầu óc cổ hủ của Thanh Nho, không đủ tầm nhìn để hiểu được những thế lớn đang bùng ra trong thiên hạ thời bấy giờ. Sau Hoàng tử Cảnh năm mươi năm, Việt Nam đã mất đi cơ hội phát triển một lần nữa khi triều đình nhà Nguyễn quay lưng với những đề xuất canh tân của Nguyễn Trường Tộ.

Điều bất hạnh hơn cho dân tộc là lúc ấy giáo điều Thanh Nho đã bắt đầu rã mục. Triều đình nhà Thanh đang trên đà phá sản. Năm 1839 chiến tranh nha phiến bùng nổ, nhà Thanh phải ký các hiệp ước biên giới nhượng đất cho Anh và Pháp. Với hiệp ước Nam Kinh, Anh chính thức chiếm đóng Hong Kong năm 1842. Và với hiệp ước Hoàng Phố 1844, Pháp chính thức đặt chân lên lãnh địa Trung Hoa. Ở mạn bắc, năm 1850 quân đội của Nga Hoàng tràn xuống Hắc Long Giang chiếm đóng Mãn Châu, quê hương của nhà Thanh. Từ 1854 đến 1860, Hồng Tú Toàn và phong trào Thái Bình Thiên Quốc đã chiếm gần một nửa Trung Hoa. Cuối cùng, cuộc cách mạng Tân Hợi 1911 của phong trào cách mạng Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Tôn Văn đã lật đổ triều đình phong kiến Mãn Thanh để xây dựng chế độ Cộng hòa.

Trong khi đó, triều đình nhà Nguyễn vẫn còn như mơ ngủ. Tiếng súng của hải quân Pháp bắn vào Đà Nẵng năm 1856 vẫn không làm cho triều đình Tự Đức tỉnh giấc mộng Thanh Nho. Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ năm 1860, tức là 20 năm sau khi nhà Thanh bị liệt cường xâu xé và đang giãy chết, triều đình Tự Đức vẫn còn cho người đi sang Trung Hoa cầu viện. Những tiếng nói đòi cải cách của các sĩ phu yêu nước như Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, Nguyễn Lộ Trạch trở thành nỗi trăn trở kéo dài hàng thế kỷ của nhiều thế hệ. Ý hệ Thanh Nho làm triều đình nhà Nguyễn u mê đến nỗi không thấy được một thế giới mới ra đời mà ở đó cuộc cách mạng kỹ nghệ đang đẩy xã hội Tây phương lên đỉnh cao của lịch sử phát triển của xã hội loài người. Và cuộc cách mạng đó làm thay đổi cục diện thế giới nói chung và lịch sử nước Đại Việt nói riêng.

Hậu quả bi thảm của nền chính trị do đầu óc cổ hủ, thiển cận lãnh đạo được thấy rõ khi tàu chiến của Pháp kéo vào hải phận Đại Việt. Khi Pháp tấn công Nam Kỳ thì triều đình hoàn toàn không có đủ năng lực quân sự và chiến lược quốc phòng để đối phó. Những võ tướng uy tín trong triều như Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản (cũng gốc người Minh Hương) dù thừa khí phách của nho gia nhưng không đủ tài thao lược quân sự để lãnh đạo cuộc chiến tranh chống xâm lược. Khi Pháp chiếm Sài Gòn thì súng ống và đạn dược của quan quân Triều đình có rất nhiều nhưng quân đội ô hợp không có khả năng chống trả quân xâm lăng. Hậu quả là đất nước đã mất vào tay thực dân.

Với Hoà Ước Nhâm Tuất 1862 và Hoà ước Patenotre 1884, công cuộc thống nhất đất nước của Gia Long được coi như cáo chung. Việt Nam bước qua trang sử mới, đó là trang sử nô lệ. Sau 1000 năm giành được độc lập từ Trung Hoa thời Ngô Quyền Vương, nước Đại Việt lại một lần nữa mất quyền tự chủ.

Cái nhục mất nước, tụt hậu của dân tộc Đại Việt ở thế kỷ 19 xuất phát từ nhiều yếu tố lịch sử khác nhau. Trong đó, sự chọn lựa mô hình phát triển đất nước, sự ỷ dốc vào Thanh triều Trung Hoa trên mặt trận ngoại giao và văn hoá thời kỳ hậu Gia Long, chính sách bế môn toả cảng và sự tin tưởng mù quáng vào giáo điều Thanh Nho, bất chấp các bản điều trần yêu cầu canh tân của các sĩ phu tiến bộ là những yếu tố quyết định đưa đất nước vào giai đoạn nô lệ.

II. Lặp lại sai lầm lịch sử ở thời cộng sản thống nhất đất nước

Chính sách Mác-Lê

Ðến năm 1975, tức gần 200 năm sau, Cộng sản thống nhất đất nước sau hơn hai thập thiên nội chiến. Cũng như thời nhà Nguyễn, những người lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước những chọn lựa chiến lược để canh tân, để đưa đất nước vào giai đoạn phục hưng sau một thời kỳ nô lệ thực dân và thời kỳ chiến tranh hậu Pháp thuộc.

Tình hình Việt Nam ở thời điểm tháng 4 năm 1975 hết sức thuận lợi cho việc phát triển đất nước.

Xã hội miền Nam sau hơn hai mươi năm xây dựng, mặc dù bị chiến tranh, đã đạt được những thành quả đáng kể. Về phương diện kinh tế, miền Nam đã có những cơ sở kỹ nghệ hạ tầng cao cấp đủ khả năng giúp nền kinh tế hậu chiến cất cánh. Về thương mại, Sài Gòn đã là trung tâm điểm của kinh tế Đông Nam Á. Về phương diện nông nghiệp, sức sản xuất nông nghiệp của miền Nam đủ để nuôi cho cả nước.

Thêm và đó, nền giáo dục miền Nam với những cơ sở giáo dục hiện đại đã đào tạo được nhiều chuyên gia kinh tế, khoa học, kỷ thuật thượng thặng. Khoa học điện toán đã bắt đầu được đưa vào trong công việc quản lý hành chính và giáo dục. Đó là cơ sở khoa học kỹ thuật cho phép đưa đất nước vào cuộc cách mạng điện toán và điện tử của thời kỳ những năm 1980. Đồng thời quan hệ ngoại giao của miền Nam và các nước Tây phương và Hoa Kỳ hết sức tốt đẹp. Đặc biệt, Liên Hiệp Quốc đồng ý để cho hai miền Nam Bắc gia nhập tổ chức quốc tế nầy với tư cách những nước độc lập.

Nói chung ở thời điểm 1975 miền Nam đã ở vị thế ngang ngữa với Nam Triều Tiên, Đài Loan và vượt xa Thái Lan và Malaysia.

Trước viễn cảnh của một đất nước thống nhất và hoà bình, nhiều nhà trí thức yêu nước miền Nam đã bất chấp mối đe dọa chính trị, tiếp tục giấc mơ Nguyễn Trường Tộ. Họ từ chối những lời mời di tản ra nước ngoài của Hoa Kỳ, của thân nhân, để ở lại xây dựng đất nước. Có lẽ nhiều người yêu nước trong hàng ngũ Cộng Sản cũng chia sẻ giấc mơ Nguyễn Trưòng Tộ. Nhiều người đã hy vọng rằng với những bài học thất bại trong việc áp dụng chế độ Cộng Sản ở miền bắc, những người lãnh đạo ở Hà Nội sẽ thức thời để trở thành những “Minh Trị Thiên Hoàng” của Việt Nam giúp phát triển và phục hưng dân tộc.

Điều làm mọi người kinh ngạc và bàng hoàng là sau Hoàng tử Cảnh và Nguyễn Trường Tộ gần 200 năm, lịch sử lại tái diễn.

Từ năm 1976, Đảng Cộng sản Việt Nam bắt đầu áp dụng chính sách cộng sản trên toàn quốc. Đất nước bước vào đoạn bế môn toả cảng, cắt đứt mọi liên hệ với các nước tự do dân chủ. Những quan hệ ngoại giao, nếu có, chỉ có trên hình thức.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã biến đất nước thành một nhà tù vĩ đại. Hơn 300.000 quân cán chính Việt Nam Cộng Hoà đã bị giam giữ vô hạn định. Đây là thảm hoạ lịch sử mà cái tàn ác của vua Gia Long khi ngài trả thù nhà Tây Sơn cũng không thể nào so sánh được. Và suốt lịch sử 5000 năm của dân tộc cũng không có một thời đại nào có cuộc trả thù khủng khiếp như thời kỳ hậu chiến 1975.

Về phương diện kinh tế, một loạt các chính sách kinh tế rùng rợn và ngược đời đã được thực hiện: hợp tác hoá nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp, “đánh tư sản”, đổi tiền, chính sách tem phiếu, hộ khẩu, cưỡng đoạt đoạt tài sản của người có tiền của, và kinh khủng nhất là chính sách xóa bỏ quyền tư hữu. Chỉ trong một thời gian ngắn toàn bộ tài sản của nhân dân thuộc vào tay Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng trong thời gian đó, kinh tế Việt Nam điêu tàn. Trong thời chiến tranh, gạo ở miền Nam dù không dư thừa nhưng đủ nuôi cho cả nước. Nhưng dưới chính sách kinh tế hợp tác xã, gạo do hai miền Nam Bắc sản xuất trong thời bình không đủ cung cấp cho toàn dân. Chỉ sau vài năm “giải phóng”, toàn dân phải ăn khoai sắn và bo bo. Trong khi kinh tế các nước trong vùng đi vào cuộc cách mạng điện toán và cất cánh nhanh chóng thì người dân Việt Nam phải sắp hàng cả ngày để mua gạo, mua thịt, và các loại nhu yếu phẩm. Đất nước ở bến bờ của nạn đói lớn nhất từ năm 1945 với hàng trăm ngàn nông dân bỏ ruộng vườn lên tỉnh kiếm ăn. Nông dân Thái Bình, Xuân Lộc, Tây Nguyên thay nhau nổi dậy.

Những chuyên gia kinh tế, tài chánh, kỹ thuật yêu nước quyết định ở lại hợp tác với chính quyền đều vỡ mộng. Lòng yêu nước chân thành và đầy hy vọng của họ mong được đóng góp phát triển đất nước thời kỳ hậu chiến được trả giá bằng tù đày và khổ sai lao động.

Đến năm 1990, kinh tế xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng 15 năm trên toàn đất nước hoàn toàn phá sản. Và cũng đến thời điểm đó, hàng triệu người đã bỏ nước ra đi.

Văn hoá cũng bị nhà nước triệt để xóa nền văn hóa dân tộc để thay vào đó là “văn hóa Mác-Lê”. Những triết học “mạnh được yếu thua” của Mác Lê đã thay thế truyền thống triết học nhân bản của dân tộc.

Về phương diện tâm linh, Đảng đã cố tâm tiêu diệt tôn giáo. Từ năm 1975 CS đã phát động chiến dịch “chống thằng Trời” để khắc phục thiên tai lũ lụt. Với tâm thức duy vật vô thần, Đảng đã chối bỏ mọi truyền thống văn hóa trong việc trị nước. Đứng về phương diện tâm linh dân tộc, Hồ Chí Minh và những người kế vị của ông là những người người lãnh đạo phủ nhận giá trị cổ truyền. Đền chùa nhà thờ tại những vùng quê đã được trưng dụng để làm đồn công an, kho lương thực, nhà hàng tập thể. Và chế độ cộng sản là chế độ duy nhất trong lịch sử đã không làm lễ ra mắt Trời Đất và tổ tiên khi nắm chính quyền.

Về quân sự, đến năm 1990, sức mạnh quân sự của Việt Nam suy giảm rõ rệt. Đảng Cộng sản không còn đủ khả năng chiếm đóng Campuchia. Như Trương Minh Giảng cách đó hơn 150 năm, lực lượng chiếm đóng Campuchia của Đảng phải rút về nước. Đến năm 1999, Bắc Kinh không một phát súng đã ép nhà nước Việt Nam phải ký Hiệp ước biên giới trên đất liền và Hiệp ước phân định vịnh Bắc Bộ để nhượng lãnh thổ và lãnh hải cho Trung Quốc.

“Đổi Mới”

Cũng như sự phá sản của Thanh Nho cách đây hơn 150 năm, phong trào Cộng sản thế giới đã bắt đầu tan rã từ những năm 1960 khi mâu thuẫn của hai siêu cường Nga-Hoa bùng nổ, trở thành những trận chiến biên giới đẫm máu. Những người cộng sản Việt Nam lúc theo Tàu, lúc ngả theo Nga. Mỗi lần có sự xoay chiều chính trị là xảy ra những đợt thanh trừng rùng rợn trong nội bộ Đảng. Sau năm 1975, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiên hẳn theo Liên Xô và ra mặt chống đối bọn “bành trướng Bắc Kinh”. Sự chọn lựa Liên Xô đã phải trả giá bằng những trận chiến biên giới Việt Trung năm 1979 với hàng trăm ngàn nhân mạng thương vong.

Đến năm 1990, các chế độ cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu đồng loạt sụp đổ. Liên Xô, thành đồng cách mạng vô sản thế giới và tổ quốc thứ hai của những người cộng sản Việt Nam, đã lạnh lùng chia tay với chủ nghĩa Mác Lê không một lời từ giả.

Thay vì noi theo gương Liên Xô tháo gỡ cơ chế cộng sản để xây dựng một đất nước tự do dân chủ, những người cộng sản Việt Nam lại xoay chiều chính trị. Trong giờ phút thập tử nhất sinh, họ đã phải cầu hoà với Trung Quốc. Và để trả giá cho sự “lầm lỡ” theo Liên Xô trước đây, họ đã không ngần ngại ký ngay mật ước nhượng đất và nhượng biển cho Bắc Kinh. Đồng thời Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhanh chóng đổi mới kinh tế theo mô hình Đặng Tiểu Bình. Những tiếng nói muốn thay đổi cơ chế chính trị theo gương Liên Xô như của ủy viên bộ chính trị Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch đã bị thanh trừng không khoan nhượng.

Thế nhưng, điều nghịch lý là thực chất của đổi mới là chấp nhận con đường phát triển của Việt Nam Cộng Hoà trước năm 1975. Đó là con đường kinh tế thị trường với sự mở rộng hợp tác thị trường Tây Phương và Hoa Kỳ. Đó là mô hình kinh tế tư bản- mô hình mà vì bản chất mâu thuẫn với lý thuyết kinh tế Mác Lê, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát động cuộc chiến 20 năm cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Ngày nay, kinh tế Việt Nam đã có những tiến bộ khả quan. Nhưng đó là những tiến bộ tương đối so với với thời kỳ chuyên chính vô sản đói rách và đen tối. Nếu nhìn trên bình diện vĩ mô thì thực chất của “chính sách đổi mới” là quyết định không áp dụng chủ nghĩa Mác Lê vào một phần đời sống kinh tế quốc dân. Sự hồi sinh của “khu vực kinh tế phi Mác Lê” trên sinh hoạt kinh tế quốc gia giúp cho nhân dân được tự do làm ăn. Nhờ vậy, ngày nay kinh tế của Việt nam đã thay đổi. Nhưng khi so sánh với những tiến bộ của Nam Triều Tiên, Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, thì Viêt Nam vẫn là nước chậm tiến nhất trong vùng. Lực phản động của chủ nghĩa Mác Lê hơn 60 năm qua là sức tiêu cực làm cho khu vực kinh tế phi Mác Lê (hay khu vực kinh tế thị trường) không thể phát huy trọn vẹn tiềm năng của nó. Thêm vào đó, nền kinh tế Việt nam được hồi sinh nhờ vào hàng tỷ đô la mỗi năm của người Việt tỵ nạn cộng sản chuyển về cho thân nhân.

Về phương diện văn hóa, tuy nền văn hoá Mác Lê đã phá sản nhưng chính sách văn hoá trong suốt sáu mươi năm qua đã làm cho văn hoá dân tộc bị tật nguyền và suy yếu. Sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác Lê trên thế giới kéo theo sự sụp đổ của nền văn hóa duy vật đã tạo khoảng trống trong sinh hoạt văn hóa. Từ khoảng chân không ấy, những di sản văn hóa trước năm 1975 đã xuất hiện trở lại. Những tác phẩm thơ văn nhạc thời tiền chiến và miền Nam trước 1975 đã trở thành những món ăn tinh thần của người dân Việt Nam. Âm nhạc XHCN, văn chương đấu tranh giai cấp đã phải lùi bước trước sự phục sinh truyền thống sáng tác phong phú, đa dạng và nhân bản để đáp ứng với nhu cầu tinh thần của người dân ngày nay.

Tuy nhiên việc phục hồi di sản văn hoá miền Nam chưa đủ năng lực để phục hưng dân tộc. Giáo điều Mác Lê vẫn còn hằn sâu trong tư duy của người cộng sản, và não trạng nô lệ vào chủ thuyết ngoại bang vẫn đè nặng lên đời sống văn hóa Việt Nam.



Vua Gia Long Năm 1802 và Đảng Cộng Sản Việt Nam Năm 1975 – Kỳ II

Tiếp theo Kỳ I về những bài học từ triều đại thời Vua Gia Long và những sai lầm lập lại ở thời Đảng Cộng sản thống nhất đất nước, chúng ta hãy nhìn lại lịch sử để cùng đánh giá cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” của Đảng Cộng sản và tìm một hướng mới cho Việt Nam.

Đánh giá lại cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu nước” của Đảng Cộng sản

Cuộc chiến vô nghĩa

Sự phá sản của chủ nghĩa Mác Lê trên thế giới, sự quay về với mô hình phát triển của Việt Nam Cộng hoà, sự phục sinh của văn hóa miền Nam trên đất nước hiện nay đòi hỏi chúng ta phải đánh giá lại toàn bộ ý nghĩa cuộc chiến tranh “chống Mỹ cứu cước” của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tại sao dân tộc Việt Nam phải mất đi 3 triệu nhân mạng, với 10 triệu thương vong và phải bỏ ra 20 năm vô cùng quí báu để hai miền Nam-Bắc đánh nhau nhằm giải quyết vấn đề chia cắt đất nước? Liệu có một giải pháp không đổ máu để giải quyết vấn đề trên? Tại sao khi thống nhất đất nước những người cộng sản phải thực hiện nền kinh tế Mác Lê bằng cách xóa đi xã hội miền Nam thịnh vượng, xua đuổi người dân ra biển, chiếm đoạt tài sản nhân dân và làm cho đất nước nghèo đói; để rồi 30 năm sau, họ phải trở lại đi theo mô hình phát triển của xã hội đó?

Bài học phân chia đất nước của Nam-Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Đài Loan, của Đông Đức và Tây Đức, Trung Quốc và Hồng Kông, cho thấy chiến tranh không phải là giải pháp duy nhất để giải quyết vấn để thống nhất.

Ở đây chúng ta không thể không xem lại bài học của Trung Quốc đối với Đài Loan và Hồng Kông. Trong khi Trung Quốc hô hào chiến tranh giải phóng “chống đế quốc Mỹ xâm lược”, tích cực viện trợ bom đạn cho Việt Nam, các nước Nam Mỹ và các nước Phi Châu để các nước này phát động chiến tranh “giải phóng” thì chính họ đã âm thầm chọn lựa con đường chính trị không chiến tranh, không đổ máu để giải quyết vấn đề Đài Loan va Hồng Kông. Họ đã dùng xương máu của dân Việt Nam và các nước nhược tiểu làm con bài để thương lượng với Hoa Kỳ và Tây phương trên mặt trận chính trị. Trong khi đó, những người cộng sản Việt Nam nghe những lời của đàn anh Trung Quốc, mang dân tộc Việt Nam vào biển máu của chiến tranh nồi da xáo thịt, biến dân tộc Việt Nam thành những con thiêu thân cho chủ nghĩa Mác Lê.

Thay vì chọn con đường thẳng tiến đến nền kinh tế thị trường để phát triển như Nam Hàn, Ðài Loan, Hồng Kông, Singapore, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn con đường Mác xít, Leninít, Stalinít và Maoít nghèo đói, đầy máu xương và nước mắt. Con đường Mác Lê này cũng ngoằn nghèo lắm gian truân. Lúc theo Tàu, lúc theo Nga, lúc thì theo Mỹ. Điều này cho thấy ý thức hệ Mác Lê không thể giúp cho những người cộng sản có cái nhìn chính xác về con người, đất nước và thế giới để đưa đất nước lên ngang tầm thời đại.

Hãy nhìn lại những quốc gia Á Châu trước đây như Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, và Nam Triều Tiên. Trong thời gian chiến tranh, các quốc gia này còn nghèo nàn lạc hậu hơn miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Những quốc gia này đã chọn Hoa Kỳ và các nước Tây Phương làm bạn. Malaysia, Nam Triều Tiên, Đài Loan ngày nay trở thành những con rồng kinh tế bay cao với chủ quyền lãnh thổ không sứt mẻ. Ngày nay họ là những ông chủ của những công ty tư bản to lớn đang đầu tư vào Việt Nam để sử dụng lực lượng nhân công nghèo đói và rẻ mạt do chế độ XHCN sản xuất. Hàng năm, hàng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ Việt Nam “được” nhà nước xuất khẩu để làm lao động cho các quốc gia bị người cộng sản gọi là “chó săn của đế quốc Mỹ xâm lược.” Trong khi đó, con rồng Việt Nam vẫn quằn quại không vươn lên nổi vì đầu rồng bị nhồi nhét những tư tưởng Mác Lê quá nặng nề và lạc hậu.

Nỗ lực hiện nay của Nhà nước và Đảng là gia tăng hợp tác kinh tế và quân sự với Hoa Kỳ để tồn tại, cũng như áp dụng chính sách của Việt Nam Cộng hòa vào việc phát triển kinh tế đã chứng minh được rằng “chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược” là công việc không cần thiết và gây quá nhiều thiệt hại cho đất nước.

Không cần thiết vì sự hiện diện của Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Thái Lan, Malaysia, Nam Triều Tiên và sự độc lập lãnh thổ của các nước này hiện nay minh chứng rằng Hoa Kỳ không có nhu cầu xâm lăng Việt Nam hay các nước trên. Hoa Kỳ và Tây Phương cũng như các nước phát triển ở Á Châu không còn là mối đe doạ lãnh thổ cho Việt Nam. Điều dễ hiểu là sau thế chiến thứ hai, sau khi chế độ thực dân cáo chung và sự hình thành của Liên hiệp quốc, ý niệm xâm lược lãnh thổ các nước khác đã lỗi thời đối với các quốc gia văn minh tiến bộ Tây Phương và Hoa Kỳ.

Nếu cuộc chiến tranh (1954-1975) vừa qua không còn mang ý nghĩa của một cuộc chiến chống xâm lăng như quan điểm của Đảng Cộng sản, thì cuộc chiến ấy có giá trị như là cuộc chiến ý thức hệ đã giúp cho việc ngăn chận làn sóng cộng sản tràn xuống Đông Nam Á, Nam Á và tràn lên Bắc Á, theo quan điểm của miền Nam và Tây Phương.

Thực tế về nền kinh tế nghèo đói và chính trị bạo tàn của Bắc Hàn, Liên Xô, Cuba, Trung Quốc, Khmer Đỏ, và các nước Đông Âu cho thấy chế độ cộng sản là hiểm họa lớn nhất của loài người từ trước đến nay. Cuộc chiến Việt Nam đã làm chậm, nếu không nói là ngăn ngừa được, sự phát triển của hiểm hoạ cộng sản vào Thái Lan, Mã Lai, Philippines, Nam Dương và Ấn Độ. Cái bất hạnh của dân tộc Việt Nam là cái may mắn cho các nước khác trong vùng. Khi dân tộc Việt Nam đấu giết lẫn nhau để làm mũi xung kích của khối xã hội chủ nghĩa và tiền đồn chống cộng của thế giới tự do, thì Singapore, Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Nam Triều Tiên, Đài Loan được hòa bình để phát triển kinh tế. Các quốc gia này còn được giàu lên vì chiến tranh Việt Nam! Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đẩy dân tộc vào lò thí nghiệm XHCN để đất nước tan hoang điêu tàn thì các quốc gia trong vùng đã xây dựng được một xã hội dân sự ổn định và văn minh, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển để bắt kịp một thế giới toàn cầu hóa đang ra đời.

Cuộc chiến ý thức hệ đó hoàn toàn không mang lại một lợi lộc gì cho dân tộc Việt Nam. Ngược lại cuộc chiến đã tiêu phí quá nhiều xương máu và tài nguyên quốc gia. Đặc biệt trong giai đoạn thế giới phát triển với vận tốc nhanh chóng, việc đẩy đất nước vào một chiến tranh vô bổ là phí phạm thời giờ của lịch sử.

Ngày nay, mối đe dọa xâm lược không đến từ các nước Hoa Kỳ hay Tây Phương. Chỉ có những quốc gia to lớn nhưng chậm tiến lạc hậu như Trung Hoa Cộng Sản mới còn mang giấc mộng bành trướng lãnh thổ. Nguy cơ mất đất mất biển ngày nay đến từ chính truyền thống xâm lược hàng ngàn năm của dân tộc Hán. Lá thư của thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 gởi cho thủ tướng Chu Ân Lai mau mắn công nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc trong phần biển Việt Nam, cũng như cuộc tấn công xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa của hải quân Trung Quốc năm 1974, chiến tranh biên giới 1979. Gần đây nhất là hiệp ước biên giới trên đất liền năm 1999 và hiệp ước phân định Vịnh Bắc Bộ năm 2000, là bằng chứng hùng hồn về nguy cơ này.

Không chiến đấu bởi dân tộc và vì dân tộc

Trong suốt thời kỳ chiến tranh chống quân Trung Quốc xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa của nhân dân Việt Nam (1974-1975), Đảng Cộng sản đã không đứng về phía dân tộc để bảo vệ tổ quốc một cách chính đáng. Những sự kiện lịch sử này xác định một lần nữa Đảng Cộng sản không chiến đấu bởi dân tộc và vì dân tộc. Họ chiến đấu vì Quốc tế Cộng sản bởi những ý thức hệ ngoại bang. Khi quyền lợi của dân tộc và của Đảng Cộng sản Quốc tế trùng hợp–như thời kỳ đấu tranh chống Pháp– họ giành lấy ngọn cờ dân tộc để tiêu diệt những người yêu nước không đồng chính kiến. Nhưng khi quyền lợi của dân tộc và của Đảng Cộng sản Quốc tế mâu thuẫn–như trong trận chiến Hoàng Sa, trong vấn đề tranh chấp biên giới và vịnh Bắc Bộ gần đây, hay việc áp đặt nền kinh tế Mác Lê lên xã hội Việt Nam– họ nhanh chóng đứng về phía ngoại đảng, bất kể sự khốn cùng và đau khổ của nhân dân. Họ cũng sẳn sàng lấy bạo tàn của chuyên chính vô sản để đàn áp những tiếng nói phản đối trung thực của những người yêu nước.

Ngoài ra trong suốt lịch sử của Đảng, quan điểm đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản làm cho họ hoàn toàn không có khả năng làm hoà với những người yêu nước nhưng khác chính kiến. Dù rằng tất cả đều cùng dòng máu Việt, cùng bọc trăm trứng của cha Rồng mẹ Tiên. Những cuộc đấu tố địa chủ, trí thức, đánh tư sản, ám sát đàn áp phe đối lập một cách tàn nhẫn là những chứng cớ rõ ràng về đặc điểm này. Ngược lại, họ luôn luôn có khả năng làm hòa với quân ngoại thù. Khi cần thiết, họ có thể chia sẻ giang sơn của tổ tiên với ngoại bang để được bảo hộ về quyền lực.

Đối với đất nước Việt Nam, hiện trạng tụt hậu về kinh tế, hà khắc về chính trị, suy sụp về văn hoá cùng với những mật ước nhượng đất nhượng biển cho Trung Quốc đã chứng minh rằng: chủ nghĩa Mác Lê từ ngày thống nhất đến nay, hoàn toàn bất lực giúp Việt Nam xây dựng một thể chế dân chủ để bảo toàn lãnh thổ, phát triển kinh tế và phục hưng văn hoá dân tộc. Chủ nghĩa xa lạ đó không có khả năng giúp Việt Nam thành một quốc gia cường thịnh.

Ngày nay–ở thế kỷ thứ 21, giáo điều Mác Lê lạc hậu tiếp tục bịt tai những người cộng sản trước yêu cầu phục hưng dân tộc của lịch sử. Họ không nghe được những tiếng kêu gọi đòi canh tân của những Nguyễn Trường Tộ thời đại. Đó là những tiếng nói của những người đã đáp lại tiếng kêu gọi của hồn sử, hòa nhịp với những thao thức từ Nguyễn Trường Tộ đến Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái Học, Nguyễn An Ninh, Lý Đông A, Trương Tử Anh, Huỳnh Phú Sổ. Đó là những rung động và lãng mạn lịch sử nhất quán xuyên suốt qua bao thế hệ để gìn giữ chất nguyên trinh và chính thống của hồn Việt. Đó là tiếng nói của những người cộng sản phản tỉnh như Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Hoàng Minh Chính, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Vũ Cao Quận; của những người không cộng sản như Nguyễn Đình Huy, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Đan Quế; hay của thế hệ trẻ như Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Đính, Nguyễn Tiến Trung và của nhân dân Việt Nam trong và ngoài nước.

Giấc mơ phục hưng dân tộc và phát triển kinh tế của Nguyễn Trường Tộ ngày xưa, cũng như giấc mơ của bao thế hệ trí tuệ Việt Nam từ đó đến nay vẫn không bao giờ thay đổi. Nhưng khác với Nguyễn Trường Tộ ngày xưa bị chết trong quên lãng, đau xót nhìn đất nước rơi vào tay của quân xâm lưọc, những Nguyễn Trường Tộ thời đại sẽ không ngồi yên để “người vượn do lao động thành người” tại Việt Nam tiếp tục dẫn đưa đất nước đến chỗ tụt hậu và vong thân.

Chìa khóa cho tương lai: tính chính thống chính trị của nhà cầm quyền

Hiến pháp dân chủ và bầu cử tự do

Ngày nay, chìa khóa để mở ra thời đại phát triển kinh tế, phục hưng văn hoá dân tộc và để bảo toàn lãnh thổ nằm trong tính chính thống chính trị của nhà cầm quyền.

Về phương diện chính trị, ý niệm chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác Lê là một trở ngại cho việc thiết lập một nền dân chủ chính thống. Lấy khả năng “cướp chính quyền” để xác định tính chính thống lãnh đạo đất nước là quan điểm chính trị của phường thảo khấu dưới thời kỳ phong kiến và của băng nhóm-bè phái thời kỳ hiện đại. Quan điểm chính trị này hoàn toàn đối nghịch với ý niệm dân chủ mà nhân loại đang hướng đến. Trong thời đại dân chủ, một chính quyền có năng lực pháp lý phải được xây dựng trên một Hiến pháp hợp pháp1 và dân chủ2. Hiến pháp dân chủ đó phải xác định được tính độc lập của ba ngành hành pháp, lập pháp và toà án. Và Hiến pháp đó phải được toàn dân chấp thuận qua một cuộc trưng cầu dân ý độc lập và vô tư.

Lá phiếu tự do độc lập và trong sáng của người dân xác định tính chất chính thống, hợp pháp của nhà cầm quyền. Đó là biểu tượng quyền làm chủ của nhân dân. Vì vậy, một chính quyền bởi dân, do dân và vì dân không bao giờ phải sợ hãi trước lá phiếu. Ngược lại, một chính quyền luôn luôn nơm nớp lo sợ lá phiếu tự do của nhân dân, không được toàn dân bầu ra trong một cuộc bầu cử tự do đa nguyên, là chính quyền không có năng lực đạo đức chính trị và tính chính thống để lãnh đạo đất nước.

Do đó, tái lập tính chính thống, hợp pháp của nhà cầm quyền là điều kiện tiên quyết và là nhu cầu cấp bách để xây dựng một nền chính trị dân bản bền vững. Và nền chính trị dân bản bền vững là nền tảng để mở ra thời đại phục hưng dân tộc, làm bệ phóng cho giai đoạn cất cánh về kinh tế toàn dân và để bảo đảm sự toàn vẹn lãnh thổ.

‘Giấc mơ Việt Nam’

Nhìn lại giai đoạn lịch sử thống nhất đất nước ở thời kỳ hậu Gia Long để thấy rằng cái vòng oan nghiệt của quyền lực tuyệt đối đi đôi với tầm nhìn thiển cận của những đầu óc ngu muội luôn luôn đưa đất nước vào thời kỳ suy vong. Từ hai trăm năm trước đến nay, cái vòng kim cô nghiệt ngã đó vẫn tròng lên giòng sinh mệnh của dân tộc.

Ngày nay, chủ nghĩa Mác Lê vẫn là trở ngại lớn nhất trong việc phục hưng dân tộc. Để tháo gở những trở ngại to lớn này trên đường sống của dân tộc, thế hệ mới của Việt Nam trong ngoài nước phải vận dụng trí tuệ để có một tầm nhìn rộng lớn, khai phóng, nhân bản và chính xác về con người, dân tộc và nhân loại. Do đó, khởi điểm của của vận động phục hưng dân tộc là thực hiện một cuộc vận động, tập hợp thời đại nhằm xây dựng một xã hội dân bản và nhân bản cho tất cả mọi người. Đó là yêu cầu cấp bách của lịch sử.

Chúng ta cần suy nghĩ về những thất bại lịch sử và để mơ đến “Giấc Mơ Việt Nam”. Để từ những nơi xa xôi trên trái đất đến những trung tâm vận động phục hưng dân tộc ngay tại trong nước, mọi người Việt đều phải cùng nhau chia sẻ một viễn tượng về sinh mệnh dân tộc và hướng đi tới của đất nước. Từ đống tro tàn của lịch sử, những con phượng hoàng sẽ cùng nhau cất cánh. Từ đó, mọi người Việt sẽ cùng nhau tái tạo một nước Đại Việt mới, một tổ quốc Đại Việt của thời đại 2000 với không gian Việt trãi dài khắp nơi trên thế giới, một tổ quốc của mọi người mang dòng máu và văn hoá Việt không phân biệt chính kiến, tôn giáo hay bất cứ một quá khứ chính trị nào.

Luật sư Nguyễn Xuân Phước

Giải thích của biên tập viên:

(1)  Hiến pháp được thông qua theo một chu trình đồng thuận trước đó.

(2)  Hiến pháp được thông qua theo quy tắc dân chủ và để bảo vệ tự do, dân chủ.

Ông Medvedev nói về 'tội ác của Stalin'

Tổng thống Nga trong lễ́ kỷ niệm 65 năm ngày Chiến thắng Phát-xít tại Moscow

Kỷ niệm 65 chiến thắng chống phát xít, Tổng thống Nga nói ‘tội ác của Stalin là không thể biện minh được' và cho rằng thắng lợi là nhờ hy sinh to lớn của nhân dân.

Trong Bấm dịp kỷ niệm lớn tại Moscow với sự tham gia của nhiều quan khách quốc tế từ Tây Âu và có cả Trung Quốc và Việt Nam, phát biểu của Tổng thống Medvedev được cho là một nỗ lực mạnh mẽ nhận diện lại lịch sử thời Liên Xô.

Trong bài trả lời phỏng vấn báo Izvestia hai hôm trước ngày lễ tại Hồng trường 9 tháng 5 vừa qua, ông Dmitry Medvedev nói rằng dù từng cá nhân có quyền đánh giá khác nhau về Stalin, quan điểm của nhà nước Nga nay cho rằng Stalin “là nhà độc tài đã phạm các tội ác chống nhân dân”.

Nhân dân và sự thật

Ông Medvedev cũng nhắc đến tội ác của công an Liên Xô trong vụ thảm sát các tù binh Ba Lan tại rừng Katyn năm 1940, và cho rằng “trang đen tối của lịch sử".

Trong nhiều năm thời Liên Xô, vụ Katyn bị cấm nói đến ở toàn vùng Đông Âu dưới quyền Moscow, và vai trò của Stalin cho đến gần đây vẫn được cho là ‘công nhiều hơn tội”.

Sách giáo khoa Nga xuất bản lại dưới thời Tổng thống Vlamidir Putin có có ý “phục hồi vai trò nhà quản trị tài ba” Stalin trong quá trình tái thiết Liên Xô thời hậu chiến.

Nhưng nay, ông Bấm Medvedev, người có cha chiến đấu trong Hồng quân Liên Xô nói rằng:

“Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại là chiến thắng của nhân dân, và cả Stalin hay các tướng lĩnh cũng không làm những gì quan trọng hơn điều họ đã làm được. Đúng là họ có vai trò rất nghiêm túc nhưng chính nhân dân đã làm nên chiến thắng bằng hy sinh vĩ đại, bằng vô số sinh mạnh.”

Điều quan trọng hơn, ông Medvedev nói về việc không ai muốn phục hồi chủ nghĩa Stalin:

Dù có nhiều người ngưỡng mộ ông ta, không ai nói về việc để chủ nghĩa Stalin phục sinh.

Tổng thống Dmitry Medvedev

“Nếu chúng ta có nói về sự kính trọng dành cho Stalin hoặc một số nhà lãnh đạo khác, thì trong cả 90 năm (Bấm thời cộng sản), dù có nhiều người ngưỡng mộ ông ta, không ai nói về việc để chủ nghĩa Stalin phục sinh.”

Như một biểu hiện của việc dùng hào quanh quá khứ để đoàn kết châu Âu trong một tinh thần hướng bề tương lai, nước Nga đã mời cả các quốc gia cựu Đồng minh chống phát xít như Anh, Mỹ và Ba Lan dự lễ đánh dấu ngày chấm dứt Thế chiến 2.

Báo Anh khen ngợi việc đội Vệ binh xứ Wales được mời diễn hành lần đầu tiên tại Hồng trường hôm Chủ nhật vừa qua.

Tờ Times of London, cũng chú ý đến phần ông Medvedev hứa sẽ mở các hồ sơ quân sự thời Liên Xô để có thêm sự thật về Thế chiến 2.

Trước đó, ông Medvedev đã ra lệnh mở kho hồ sơ liên quan đến vụ giết 22 nghìn sĩ quan Ba Lan tại Katyn và gọi “đây là một trang sử rất đen tối”.

Tổng thống Nga thừa nhận “chúng ta đã để cho lịch sử bị bóp méo” và hứa sẽ để sự thật được “trình bày ra trước nhân dân”.

Người Nga đang có các ý kiến khác nhau về 'công và tội' của Stalin

Góc độ châu Á

Báo chí ở Việt Nam, nước hiện vẫn giữ quan điểm ít thay đổi về Liên Xô, đưa tin về chuyến thăm đến Moscow của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự lễ hôm 9/5.

Trước chuyến đi, ông Triết đã trả lời phỏng vấn của Hãng tin Nga ITAR-TASS, ca ngợi rằng “sự hiện diện của nhiều nhà lãnh đạo nước ngoài tại lễ kỷ niệm ở Moscow cho thấy sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với giá trị chiến thắng của Liên Xô trong Thế chiến 2.”

Ông cũng nói: “Thế giới có rất nhiều thay đổi, nhưng chiến thắng trước chủ nghĩa phát xít và vai trò quyết định của Liên Xô mãi mãi là một sự thật không thể thay đổi, là một trang sáng ngời trong lịch sử nhân loại."

“Chiến thắng vĩ đại của Liên Xô và liên minh chống Hitler đã tạo điều kiện thuận lợi cho các dân tộc bị áp bức, trong đó nhân dân Việt Nam, bắt đầu cuộc đấu tranh cho tự do. “

Các báo Việt Nam như Sài Gòn Giải Phóng, Lao Động v.v. chưa nhắc gì đến phát biểu quan trọng của Tổng thống Medvedev về tội ác của Stalin.

Truyền thông Trung Quốc, như Tân Hoa Xã thì chỉ nhắc đến lời ông Medvedev "phản đối một số chính trị gia tìm cách làm sai lệch lịch sử".

Một số tờ báo chí Việt Nam khi đưa tin về vụ rơi máy bay của Bấm Tổng thống Ba Lan, ông Kaczynski xuống vùng rừng Katyn gần Smolenski thời gian qua có nhắc đến “tội ác của Stalin”.

Tuy nhiên, vai trò của nhà độc tài này, và cơ chế quyền lực tàn bạo thời Liên Xô nói chung vẫn là đề tài không được bàn thảo công khai tại Việt Nam.

Anna Malpas của AFP trong bài về "Bóng đen Stalin phủ dài lên lịch sử Nga", nói dịp kỷ niệm 65 năm Thế chiến 2 là lúc người Nga nhìn lại thời Stalin.

Vẫn theo bài báo này, Stalin đã đưa các lực lượng Xô Viết đến thắng lợi 65 năm về trước nhưng "chế độ độc tài tàn khốc ông ta lãnh đạo đã làm hàng triệu người chết trong các trại cải tạo và trong các đợt tập thể hóa vội vã".

Lần đầu tiên, đội Vệ binh xứ Wales từ Anh được mời dự lễ duyệt binh tại Hồng trường hôm 9/5 (tạp chí Phía Trước)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
💔 Tố Hữu và Mối Tình Đầu Định Mệnh: Lời Tố Cáo Đau Thương trở thành mối thù giai cấp muôn đời! [Đã đọc: 490 lần]
💔 Lời Nguyền Hận Thù: Phế Phẩm Độc Hại Trong Văn Hóa Giao Tiếp Việt thời đại HCM CSVN [Đã đọc: 448 lần]
Mức lương cụ thể và thủ tục nhập cư để các bạn VN được thuê làm chồng [Đã đọc: 389 lần]
CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN ĐỐI PHÓ VỚI BIÊN GIỚI – AN NINH KHU VỰC CAMPUCHIA 2025 [Đã đọc: 373 lần]
Sự im lặng đồng lõa – khi lãnh đạo miền Bắc đứng nhìn Trung Quốc nuốt Hoàng Sa [Đã đọc: 371 lần]
Đạo Đức và Cái Bẫy Tự Tôn của dân tộc VN- Mẹ Thứ Anh Hùng - Bi kịch của Thuyền nhân Việt Nam [Đã đọc: 354 lần]
Giữa Mạc Tư Khoa Nghe Câu Hò Ví Dặm [Đã đọc: 309 lần]
Bẫy thu nhập trung bình của VN [Đã đọc: 285 lần]
Constitution of the Federal Republic of VCL [Đã đọc: 269 lần]
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [Đã đọc: 268 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.