Sau khi gây quan ngại cho nước láng giềng Nhật Bản bằng các cuộc tập trận gần tỉnh đảo Okinawa, mới đây Trung Quốc lại gia tăng tuần tra ở Biển Đông.
< object id=audioplayer1 data="http://www.rfa.org/vietnamese/manuallyupload/audio-player/player.swf" width=240 height=25 type=application/x-shockwave-flash>< /object>
Các hành động của Trung Quốc trong tháng qua cho thấy nước này đã có một kế hoạch rõ ràng đối với vùng biển đang tranh chấp với các nước láng giềng.
Mời quý vị cùng thông tín viên Ngọc Trân tìm hiểu thêm các hành động mới nhất của Trung Quốc ở Biển Đông trong thời gian gần đây.
Chỉ ngư dân Trung Quốc mới được đánh cá?
Từ lâu, Trung Quốc không còn giấu giếm ý định muốn chiếm Biển Đông làm cái ao nhà của họ. Qua các tuyên bố gần đây của Trung Quốc trong việc đòi chủ quyền trên Biển Đông được lặp đi lặp lại cùng với các hành động như: thường xuyên tập trận trong khu vực, đưa các tàu ngư chính xuống tuần tra ở quần đảo Trường Sa, bất chấp sự phản đối của các nước khác, điều đó cho thấy thái độ của Trung Quốc ngày càng trở nên hiếu chiến hơn trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông.
Tàu Trung Quốc bắt tàu đánh cá Việt Nam hồi năm 2009. Photo courtesy of Lyson Forum.
Đầu tháng 4 vừa qua, Trung Quốc đã điều hai tàu Ngư chính 311 và 202 từ vịnh Tam Á, thuộc tỉnh Hải Nam, đến tuần tra trong khu vực Trường Sa. Các giới chức Trung Quốc cho biết, hai tàu này được điều đi với mục đích tuần tra và hộ tống các tàu đánh cá Trung Quốc, trong khoảng thời gian một tháng ở quần đảo Trường Sa, cách đảo Hải Nam của Trung Quốc gần 1,200 km.
Cuối tháng 4 vừa qua, Cục Quản lý Nghề cá Trung Quốc cho biết, hai tàu khác đã được điều đến thay thế hai tàu Ngư chính 311 và 202. Ông Ngô Tráng, Giám đốc Cục Quản lý Nghề cá ở Biển Đông thuộc Bộ Nông nghiệp Trung Quốc, cho biết: "Tàu Ngư chính 301 và 302 của Trung Quốc sẽ thay tàu Ngư chính 311 và 202, đang tuần tra trên vùng biển thuộc quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa) từ ngày 1 tháng 4".
Ông Ngô Tráng cũng nói thêm rằng, các tàu ngư chính này tuần tra với mục đích hộ tống các tàu đánh cá của Trung Quốc ở Biển Đông và củng cố quyền đánh cá của nước này ở quần đảo Trường Sa.
Ông Ngô Tráng cũng nói thêm rằng, các tàu ngư chính này tuần tra với mục đích hộ tống các tàu đánh cá của Trung Quốc ở Biển Đông và củng cố quyền đánh cá của nước này ở quần đảo Trường Sa.
Hành động này cho thấy, Trung Quốc đưa các tàu ngư chính tuần tra không phải để bảo vệ các tàu đánh cá bị sách nhiễu bởi tàu của các nước khác trong khu vực, mà các con tàu này được sử dụng nhằm “củng cố” quyền đánh cá của Trung Quốc ở Biển Đông. Nghĩa là, những con tàu trên được sử dụng với mục đích ngăn chặn quyền đánh bắt cá của những tàu không phải là Trung Quốc.
Malaysia phản đối mạnh mẽ
Malaysia là nước phản đối mạnh mẽ việc Trung Quốc đưa tàu đến tuần tra trong khu vực này. Theo tin từ báo Trung Quốc, các tàu ngư chính của họ đã gặp phải sự đối đầu với tàu chiến và máy bay chiến đấu của Malaysia ở khu vực Trường Sa.
Tàu ngư chính của Trung Quốc đã bị tàu Malaysia bám theo sát trong khoảng thời gian 17 tiếng đồng hồ, từ 10 giờ sáng ngày 29 tháng 4 đến 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4. Báo chí cũng mô tả, có lúc tàu Malaysia đuổi theo, chỉ cách tàu Trung Quốc khoảng 300 mét.
Thời điểm gay cấn nhất phải kể đến là lúc khẩu pháo hạm trên tàu chiến Malaysia, chĩa thẳng vào tàu Ngư chính 311 của Trung Quốc vào lúc 10 giờ sáng ngày 29 tháng 4. Sau đó, phía Malaysia dùng loa phóng thanh hướng vào tàu Trung Quốc, thông báo với họ rằng, đội tàu của họ đã đi vào vùng đặc quyền kinh tế thuộc lãnh hải Malaysia.
Phía Trung Quốc đáp lại rằng tàu của họ đang thi hành nhiệm vụ quản lý định kỳ ở lãnh hải mà Trung Quốc cho rằng đã thuộc về họ. Khoảng nửa tiếng sau, chiếc loa trên tàu Malaysia phát ra bằng tiếng Trung rằng: “Đội tàu Ngư chính Trung Quốc, chúng tôi là quân hạm Malaysia, mong các ông hãy rời khỏi nơi này”.
Thành phố biển Bintulu. Photo courtesy of Wikipedia.
Báo chí Trung Quốc mô tả, nòng pháo của con tàu 3503 Malaysia nặng khoảng 300 tấn, đã chĩa thẳng vào tàu Ngư chính 311, và tàu Malaysia càng ngày càng tiến vào tàu đối phương. Thủy thủ đoàn Trung Quốc còn nhìn thấy tàu Malaysia có trang bị 2 tên lửa đạn đạo, và các binh sĩ trên tàu đầu đội mũ sắt với tư thế sẵn sàng chiến đấu, trong đó có 4 binh sĩ tiến vào các khẩu pháo ở phía sau boong tàu. Phía trái tàu chiến Malaysia cũng có một nòng pháo khác chĩa thẳng vào tàu ngư chính của Trung Quốc, điều này đã làm cho thủy thủ đoàn Trung Quốc vô cùng căng thẳng.
Đến 11 giờ 50 phút cùng ngày, một phi cơ chiến đấu của Malaysia xuất hiện trên bầu trời mà phía bên dưới là tàu Trung Quốc, phi cơ này bay lượn liên tục khoảng 15 phút. Vào buổi chiều cùng ngày, vẫn phi cơ của Malaysia một lần nữa xuất hiện, bay một vòng trên không với mục đích cảnh cáo Trung Quốc xâm phạm vùng lãnh hải của nước họ.
Trên biển, các tàu chiến Malaysia vẫn tiếp tục đuổi theo các tàu Ngư chính 301 và 302 của Trung Quốc. Khoảng 3 giờ chiều ngày 29 tháng 4, một trong các tàu ngư chính của Trung Quốc hướng về bãi ngầm James Shoal (Trung Quốc gọi là bãi ngầm Tằng Mẫu), đây là bãi ngầm nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, cách thành phố biển Bintulu của nước này khoảng 80 km về phía Tây Bắc.
Có thể có nhiều tàu Malaysia đã đuổi theo các tàu Trung Quốc. Theo báo chí Trung Quốc mô tả, những người trên tàu của họ vẫn còn thấy các tàu Malaysia đuổi theo các tàu ngư chính cho tới 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4.
Tôn trọng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc?
Một hành động khác được cho là mới nhất của Trung Quốc ở vùng Biển Đông đó là cuối tháng qua, Trung Quốc đã đặt Biển Đông vào “lợi ích cốt lõi” của họ. Giới chuyên gia cho rằng, đây là cụm từ lần đầu tiên Trung Quốc sử dụng đối với Biển Đông, nâng tầm quan trọng của khu vực này lên ngang hàng với Đài Loan và Tây Tạng. Điều này cho thấy, Trung Quốc đã thể hiện một hành động hung hăng mới đối với khu vực đang tranh chấp.
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama. Ảnh minh họa
Cũng xin nhắc thêm, đầu tháng trước, Trung Quốc đã loan tin rằng họ sẽ điều chỉnh chính sách tiền tệ theo lợi ích của Washington nếu Hoa Kỳ tôn trọng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc đối với vấn đề Đài Loan và Tây Tạng.
Ông Lý Đạo Quỳ, cố vấn cao cấp Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã nói: “Bắc Kinh có thể điều chỉnh tỉ giá đồng Nhân dân tệ. Khi Mỹ tôn trọng ‘lợi ích cốt lõi’ của Trung Quốc thì vấn đề bất đồng về chính sách tiền tệ có thể được giải quyết một cách dễ dàng”.
Theo tin từ Reuters, trong một cuộc điện đàm ngày 2 tháng 4 vừa qua giữa Tổng thống Obama, với ông Hồ Cẩm Đào, rằng hai nước đã đạt một sự đồng thuận rất quan trọng, đó là hai nước đồng ý “tôn trọng lợi ích cốt lõi của nhau”.
Bắc Kinh có thể điều chỉnh tỉ giá đồng Nhân dân tệ. Khi Mỹ tôn trọng ‘lợi ích cốt lõi’ của Trung Quốc thì vấn đề bất đồng về chính sách tiền tệ có thể được giải quyết một cách dễ dàng.
Ông Lý Đạo Quỳ
Báo chí Trung Quốc đưa tin, trong lần gặp gỡ riêng giữa lãnh đạo hai nước Mỹ - Trung tại Hội nghị Thượng đỉnh Hạt nhân ở Washington hồi tháng 4 vừa qua, Tổng thống Obama một lần nữa tái khẳng định: Hoa Kỳ tôn trọng “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, và rằng Washington sẽ thận trọng xử lý một số vấn đề nhạy cảm trong quan hệ song phương.
Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Trung Quốc chưa đặt Biển Đông vào “lợi ích cốt lõi”, mà chỉ có hai vấn đề chính là Đài Loan và Tây Tạng.
Câu hỏi được đặt ra là, không rõ liệu có văn bản thỏa thuận chi tiết nào đó giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, nêu rõ lợi ích cốt lõi của Trung Quốc mà Hoa Kỳ phải tôn trọng là gì, hay là Hoa Kỳ phải tôn trọng bất kỳ lợi ích nào mà Trung Quốc cho là “cốt lõi”?
Giả sử Trung Quốc đặt Biển Đông vào “lợi ích cốt lõi” và buộc Hoa Kỳ phải tôn trọng lợi ích này, liệu phản ứng của Hoa Kỳ sẽ như thế nào?
Hoạt động của hội Save The Children tại Việt Nam
Khoa Diễm, phóng viên RFA
2010-05-08
Hội Save the Children, tạm dịch là Cứu giúp các Trẻ em, của các nước như Anh, Mỹ, Sweden và Nhật đã có mặt tại Việt Nam từ những năm đầu của thập niên 1990.
< object id=audioplayer1 data="http://www.rfa.org/vietnamese/manuallyupload/audio-player/player.swf" width=240 height=25 type=application/x-shockwave-flash>< /object>
Cô mụ Hoang Thi Thuy chích ngừa cho một bà mẹ ở Việt Nam. Photo Credit: Michael Bisceglie/Save the Children.
Vào tháng 7, 2009 cả bốn hội đã nhập lại thành một nhằm nâng cao số trẻ em họ có thể giúp được qua những người nhiều kinh nghiệm, nhiều nguồn trợ giúp và nhiều kỷ thuật hơn. Save the Children hiện tại chú trọng đặc biệt đến Sức khỏe và Dinh dưỡng, HIV/AIDS và Sức khỏe Tuổi trẻ, Bảo vệ Trẻ con, Giáo dục, Tình trạng Khẩn cấp, Quyền Trẻ em và Phương kế Sinh nhai.
Đang công tác tại Washington, Bà Mary Beth Powers, Giám đốc điều hành của hội, từng công tác tại Việt Nam đã dành cho Đài Á Châu Tự Do một buổi phỏng vấn, về những hoạt động của hội trong thời gian qua. Trong buổi phỏng vấn chúng tôi đặc biệt quan tâm đến trẻ em tại Việt Nam. Xin mời quý thính giả theo dõi bài phỏng vấn sau đây với Khoa Diễm. Phần chuyển ngữ do Diễm Thi đọc.
Hệ thống y tế đến vùng sâu, vùng xa
Khoa Diễm: Cám ơn bà đã đến với đài chúng tôi và dành cho chúng tôi buổi nói chuyện hôm nay. Trước hết, xin bà cho biết nhìn chung thì tình hình sức khỏe cho trẻ em tại Việt Nam hiện nay ra sao?
MB Powers: Tại Việt Nam, chúng tôi nhận thấy được rất nhiều sự tiến bộ đáng kể trong việc giảm số cơ nguy dẫn đến tử vong khi mang thai và lúc sanh nở, đó là kết quả của quá trình mở rộng những phục vụ y tế cơ bản và chăm sóc sản khoa khẩn cấp qua các bệnh viện của Bộ Y Tế tại Việt Nam. Tuy nhiên, những người ở vùng sâu hoặc vùng cao vẫn còn đang phải đối diện với rất nhiều khó khăn. Tôi đang thi hành một dự án mà chúng tôi cố gắng thúc đẩy những người ở vùng cao có nguy cơ sanh khó đến bệnh viện sớm hơn để bảo đảm an toàn khi sanh nở.
Khoa Diễm: Vậy thì Bộ Y Tế tại Việt Nam đã hưởng ứng và giúp đỡ hội như thế nào khi bà công tác tại đây? Họ có gây khó khăn gì cho hội hay không?
Bắt đầu từ các làng, xã, từ trong cộng đồng, phải có một hệ thống quan tâm đến sức khỏe tương xứng...Đồng thời, những người dân thiểu số, những người sống bên ngoài vòng đai của hệ thống, những người sống rất xa các bệnh viện tỉnh phải được quan tâm hơn.
Bà Mary Beth Powers
MB Powers: Bộ Y Tế Việt Nam đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều trong việc đặt ra một tiêu chuẩn nhất định cho việc chăm sóc trẻ em khắp các miền tại Việt Nam. Những tiêu chuẩn này sau đó được đưa xuống cho các tỉnh và những hội như Saving the Children để củng cố khả năng của các tỉnh và huyện để họ có thể cung cấp những sự trợ giúp thỏa đáng đến người dân.
Tôi nghĩ rằng cấu trúc làm việc của Việt Nam là chính quyền đưa ra một chính sách và chuyển giao lại cho các tỉnh, từ đó các tỉnh đặt sức khỏe các bà mẹ và trẻ em lên hàng đầu rồi dùng những thiết bị họ có và những gì họ có được từ những hội như chúng tôi, hội Save the Children để chắc chắn rằng mọi việc trong hệ thống làm việc tốt với nhau.
Khoa Diễm: Vậy thì thưa bà, vấn đề nào làm bà quan tâm nhất hiện nay?
MB Powers: Chúng tôi muốn nói đến sự liên tục chăm sóc từ nhà đến bệnh viện. Bắt đầu từ các làng, xã, từ trong cộng đồng, phải có một hệ thống quan tâm đến sức khỏe tương xứng. Nếu có vấn đề gì đó thì người dân phải biết nơi đâu là điểm cần đến tiếp theo để nhận được sự giúp đở.
Đồng thời, những người dân thiểu số, những người sống bên ngoài vòng đai của hệ thống, những người sống rất xa các bệnh viện tỉnh phải được quan tâm hơn. Họ cần những phục vụ sức khỏe đặc biệt đến với họ, với cộng đồng của họ. Đương nhiên những phục vụ này phải phù hợp với từng địa phương để họ sẵn sàng chấp nhận sự giúp đỡ.
Những quan ngại cần được khắc phục
Cô mụ Nguyen Thi Hoa và em bé mới sanh tại một bệnh viện ở tỉnh Quảng Trị, xây bằng tiền tài trợ của hội Save The Children. Photo courtesy of Save The Children.
Khoa Diễm: Thưa bà, những căn bệnh nào là đáng lo ngại nhất tại Việt Nam? MB Powers: Tại Việt Nam, viêm phổi và tiêu chảy là hai bệnh đang quan ngại nhất và là những căn bệnh dẫn đến số lớn các ca tử vong với trẻ em.
Biến chứng khi sinh, biến chứng khi trẻ sinh ra không đủ ký, rất nhiều trẻ em được sinh ra thiếu ký-đó là mối lo rất lớn của chúng tôi vì đây là kết quả của việc những bà mẹ không đủ dinh dưỡng khi mang thai và đôi khi cũng do vấn đề văn hóa theo vùng. Những điều này dẫn đến việc trẻ em chết yểu.
Và một bất ngờ là lý do dẫn đến việc trẻ em chết khi còn nhỏ là do tai nạn, chẳng hạn như chết đuối hoặc tai nạn xe cộ.
Khoa Diễm: Không nói đến tai nạn xe cộ, theo bà làm sao để khắc phục những tai nạn dẫn đến tử vong khi trẻ còn nhỏ?
MB Powers: Điều này rất quan trọng vì khi bạn nghĩ đến Việt Nam, nơi mà rất nhiều cha mẹ làm việc đồng áng và người chăm sóc các bé thường là những anh chị lớn hơn nhưng vẫn còn rất nhỏ tuổi. Chúng ta phải chỉ dẫn, dạy bảo những trẻ này cách nào để chăm sóc em nhỏ, những điều cần làm và những việc nên lưu ý, nếu không thì sẽ có những hậu quả đáng tiếc.
Khoa Diễm: Xin cám ơn bà rất nhiều cho buổi nói chuyện hôm nay. Chúc Hội Save the Children gặt hái được nhiều thành công và giúp thêm được nhiều trẻ em nữa.
LÚ NHƯ TRỌNG
Ngô Nhân Dụng(NV)
Dân Hà Nội có câu tục ngữ nói về 4 nhân vật từng giữ các chức quan trọng nhất thành phố, là các ông Phùng Hữu Phú, chủ tịch; Nguyễn Phú Trọng, bí thư; Hoàng Văn Nghiên, phó chủ tịch và Nguyễn Quốc Triệu, phó bí thư. Câu tục ngữ là: “Giàu như Phú - Lú như Trọng - Lật lọng như Nghiên - Tiêu tiền như Triệu.’’ Lú, hay lú lẫn, tiếng miền Bắc, có nghĩa là không được thông minh lắm.
Ba ông kia không biết đã lên tiếng xác nhận hoặc cải chính lời đồn của người dân hay chưa. Riêng ông Nguyễn Phú Trọng mới đây đã tìm cách chứng tỏ rằng ông không “lú;” qua một bài viết mới xuất hiện vào đầu tháng 5, 2010, nhan đề “Sự phát triển nhận thức của Ðảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay.” Trong bài này ông Nguyễn Phú Trọng muốn chứng tỏ ông rất thông minh, sáng suốt, ít nhất, ông sáng hơn hẳn “Hồ chủ tịch” của đảng ông.
Hiện nay ông Nguyễn Phú Trọng đang làm chủ tịch Quốc Hội, nhưng nhiều người đoán sang năm ông sẽ leo lên làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Muốn chứng tỏ mình xứng đáng được nối nghiệp Nông Ðức Mạnh, ông Trọng viết bài trên để cho thiên hạ thấy ông rất thông thái.
Bài viết của ông Trọng nhắm đề cao bản Cương Lĩnh 1991 của Ðảng đưa ra “quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội.” Mới, tức là không còn là thứ chủ nghĩa xã hội của mấy thế hệ cộng sản cũ nữa. Nếu quý vị độc giả chưa biết chủ nghĩa xã hội là cái gì, thì xin giới thiệu đó là kim chỉ nam của Ðảng Cộng Sản Việt Nam từ gần một thế kỷ nay, qua ba bốn thế hệ rồi. Nhưng muốn đề cao cái cương lĩnh mới năm 1991 thì trước hết ông Nguyễn Phú Trọng phải vạch rõ là trước khi có cương lĩnh này, đảng Cộng Sản Việt Nam đã nhầm lẫn như thế nào.
Ông Trọng bèn kể tội các thế hệ lãnh đạo đảng ông trước năm 1991. Ông bảo trước đấy đảng của ông đã mang “những quan niệm đơn giản, ấu trĩ.” Ít người khấn vái tổ tiên đời trước của mình bằng hai chữ “ấu trĩ,” tức là con nít; hoặc “đầu óc đơn giản” ý nói là ngu ngốc, suy nghĩ nông cạn, hẹp hòi!
Bản kể tội của Nguyễn Phú Trọng rất dài, nhưng ai đã theo dõi lịch sử nước ta đều có thể thấy nhiều chuyện chứng tỏ trước đây Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã suy nghĩ, hành động đơn giản và ấu trĩ thật. Thí dụ, theo ông Nguyễn Phú Trọng kể, trước đây đảng Cộng Sản đã “không phân biệt được mục tiêu sau cùng với nhiệm vụ trước mắt.” Ông không nói gì cụ thể, nhưng mọi người có thể thấy từ 1955, Ðảng Cộng Sản đã tìm cách tiêu diệt “địa chủ,” đánh tư sản, tính xây dựng chủ nghĩa xã hội ngay tại miền Bắc Việt Nam, mà không biết, như ông Nguyễn Phú Trọng bây giờ mới biết, rằng chủ nghĩa xã hội là một mục tiêu xa, rất xa. Trong bài viết kể trên, ông Nguyễn Phú Trọng nói là hiện nay đảng ông chỉ mới tính đi qua “thời kỳ quá độ,” tức là giai đoạn chuyển tiếp trước khi tới chủ nghĩa xã hội thôi. Mà ông lại khẳng định rằng, “Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp!” Bởi vì, ông mô tả: “Lịch sử thế giới đang trải qua nhưng bước quanh co!” Ở nước ta, ông nói thêm, công việc tiến tới chủ nghĩa đó “lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi,” vân vân.
Ông Nguyễn Phú Trọng không chịu tiết lộ cái “thời kỳ quá độ” này nó lâu dài tức là lâu đến bao nhiêu năm, 10 năm, 20 năm hay là phải 100 năm người dân mới thoát cái nợ quá độ? Nhưng đọc bài ông viết thì người đọc cũng thấy ông phê phán các lãnh tụ cộng sản trước năm 1991 là rõ ràng họ không biết gì hết, mà vẫn cứ đòi “xây dựng chủ nghĩa xã hội” ngay từ những năm 1950 cho đến những năm 1980 không chịu cho ai nghỉ mệt!
Những sai lầm ấu trĩ khác mà ông Trọng vạch ra, tóm gọn trong một ý là đảng ông đã không biết kính trọng chủ nghĩa tư bản! Ông viết, Ðảng đã “đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; coi nhẹ những thành tựu, giá trị mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản.” Vì lối nhìn một chiều hẹp hòi “ấu trĩ” đó cho nên, trước Cương Lĩnh 1991 Ðảng Cộng Sản đã “muốn nhanh chóng xóa bỏ sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư bản;” vân vân. Tóm lại ông Nguyễn Phú Trọng vạch rõ, Ðảng Ta đã sai lầm, toàn những sai lầm căn bản, làm cho cả nước chậm tiến lệt bệt đi sau các nước khác hàng nửa thế kỷ. Sai lầm lớn nhất, như ông Trọng nhấn mạnh, là Ðảng Cộng Sản đã “coi nhẹ các thành quả của chủ nghĩa tư bản!” Ðảng không chịu học tư bản, chỉ vì đầu óc “ấu trĩ” coi những định chế trong xã hội tư bản đều là xấu xa cả; thí dụ như “thị trường,” như guồng máy nhà nước tôn trọng luật pháp và “cai trị bằng luật pháp.”
Tại sao lại nhấn mạnh sai lầm cơ bản của đảng là không biết kính trọng “những thành tựu của chủ nghĩa tư bản” như vậy? Vì ông Nguyễn Phú Trọng muốn biện minh cho những “đổi mới” của đảng ông; thí dụ, bây giờ các đảng viên được đi kinh doanh kiếm lời, thuê mướn và sử dụng sức lao động của giai cấp công nhân. Họ làm giống hệt các nhà tư bản mà thế hệ lãnh tụ cộng sản trước đây, từ Hồ Chí Minh, Lê Duẩn tới Ðỗ Mười vẫn tìm cách tiêu diệt!
Ðọc xong bản kể tội của ông Nguyễn Phú Trọng như trên, bất cứ một đảng viên cộng sản nào, bất cứ người Việt Nam nào (nếu không lú), cũng phải đặt câu hỏi: “Ðảng Ta” đã sai lầm như vậy trong bao nhiêu lâu? Ai là cái đám người “lú lẫn” đưa Ðảng đến chỗ phạm những sai lầm như thế? Và, hậu quả của lú lẫn sai lầm như vậy đưa dân tộc tới đâu rồi?
Ông Trọng không nêu ra những câu hỏi trên. Bởi vì khi suy nghĩ về câu trả lời thì cả lịch sử Ðảng sẽ chỉ là một Quả Lừa vĩ đại!
Vì người đầu têu ra tất cả những quan niệm sai lầm, ấu trĩ đó; người hăng hái cổ xúy, biện minh cho những quan niệm ấu trĩ đó chính là ông Hồ Chí Minh! Cứ đọc các bài trong “Hồ Chí Minh Toàn Tập,” các đảng viên cộng sản sẽ thấy đúng như thế! Hồ Chí Minh đã “chửi bới” xã hội các nước tư bản không hết lời; đã hô hào người Việt Nam theo ông xây dựng chủ nghĩa xã hội “tốt đẹp gấp trăm ngàn lần xã hội tư bản” từ trước khi ông Nguyễn Phú Trọng ra đời năm 1944! Những người được ông Hồ chọn đưa lên kế nghiệp như Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Lê Ðức Thọ, vân vân, chỉ răm rắp đi theo những quan niệm “ấu trĩ, sai lầm” đó mà thôi, chứ có ai bày ra cái gì mới đâu!
Cho nên, khi ông Nguyễn Phú Trọng vạch ra những quan niệm đơn giản, ấu trĩ của Ðảng Cộng Sản trước năm 1991, ông đã chứng tỏ rằng Hồ Chí Minh và cả Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã suy nghĩ đơn giản, ấu trĩ, sai lầm nghiêm trọng trong hơn nửa thế kỷ. Ai bảo “Lú như Trọng” là nói oan! Nguyễn Phú Trọng có lú thì cũng không đến nỗi lú như nhiều thằng “ấu trĩ” đời trước! Ðảng viên cộng sản nào vẫn nói với nhau câu “Lú như Trọng” bây giờ nên tỉnh lại.
Nhưng, sau khi nhìn thấy Ðảng Cộng Sản đã phạm các sai lầm tệ hại suốt 70 năm, vẫn không có gì bảo đảm là sau năm 1991 thì Ðảng Cộng Sản bắt đầu đúng! Cứ đọc bài văn của ông Nguyễn Phú Trọng thì rõ khi ông nêu ra và trả lời các câu hỏi “chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào?” Bởi vì câu trả lời của ông chỉ gồm toàn những khẩu hiệu y như cũ: xây dựng dân giàu nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, cuộc sống no ấm, tự do, hạnh phúc, vân vân. Những khẩu hiệu trống rỗng như thế thì đứa bé con đứng ngoài đường cũng hô to lên được! Muốn cho nó giống Mỹ, cương lĩnh mới của đảng còn dùng những chữ của Tổng Thống Lincoln: “nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” nhưng ông Trọng không quên thòng thêm cái đuôi “dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản!”
Tới đây ta lại nhìn thấy một sai lầm cốt lõi của Ðảng Cộng Sản, gây nên bao đau thương cho dân tộc Việt Nam. Ðó là chế độ độc quyền toàn trị mà Hồ Chí Minh đã học của Stalin, Mao Trạch Ðông, đem về áp đặt trên dân tộc ta.
Cứ suy nghĩ về 60 năm lãnh đạo cộng sản sai lầm, người đảng viên nào cũng phải tự hỏi: Tại sao những sai lầm căn bản đó mà suốt bấy nhiêu năm không ai biết và không ai sửa cả? Lý do chính là chế độ độc tài chuyên chế.
Trong một chế độ tự do dân chủ thì nếu một đảng chính trị theo đuổi những tư tưởng chỉ đạo sai lầm, dẫn đất nước vào con đường tai hại, họ cũng chỉ có thể phạm tội trong một, hai nhiệm kỳ, tức là từ 4 đến 8 năm, 10 năm là cùng. Dân sẽ dùng lá phiếu lật đổ một cách hòa bình. Nhưng khi một đảng chiếm độc quyền cai trị hết năm này sang năm khác, suốt thế hệ này sang thế hệ khác, thì họ có thể đưa cả dân tộc xuống vực sâu mà chính họ cũng không ngờ! Vì chế độ chuyên chế không cho phép ai phê phán cả. Ai đã đọc những bài phê bình cuộc cải cách ruộng đất của cố Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường vào thời 1956 đều thấy rằng ông Tường đã nêu ra những hệ quả tai hại khi nhà nước cộng sản coi thường các nguyên tắc cơ bản của pháp luật, những nguyên tắc pháp lý thành hình trong lịch sử nhân loại và đã được áp dụng trong các nước tư bản từ hàng thế kỷ trước. Những Phan Khôi, Nguyễn Hữu Ðang, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Ðức Thảo, vân vân, đã bị chế độ Hồ Chí Minh vùi dập, đầy đọa, chỉ vì không cúi đầu tuân phục các “quan niệm đơn giản, ấu trĩ” của những kẻ cầm quyền thời đó. Ngay cả những đảng viên cộng sản biết suy nghĩ, dám có ý muốn thay đổi như Hoàng Minh Chính, Lê Liêm; hoặc dám có sáng kiến làm khác với chính sách của bọn giáo điều ngu tối, như ủy viên Kim Ngọc, cũng đều bị trù dập hết cả. Cả nước Việt Nam bị Ðảng Cộng Sản đem dùng làm vật thí nghiệm cho những quan niệm sai lầm như thế trong hơn nửa thế kỷ mà cả dân tộc cứ phải cúi đầu chịu đựng. Chỉ vì chế độ độc tài đảng trị!
Nếu còn duy trì chế độ độc tài toàn trị của Ðảng Cộng Sản thì không có gì bảo đảm là những sai lầm của chính quyền bây giờ và mai sau có cơ hội được phơi bày ra và người dân được quyền thay đổi chính quyền bằng lá phiếu tự do!
Trong khi vạch ra các sai lầm của Ðảng Cộng Sản từ những ngày đầu năm 1930 đến năm 1991, ông Nguyễn Phú Trọng đã làm một bảng kết tội Ðảng Cộng Sản rất đáng suy nghĩ. Nhưng ông vẫn còn lú! Ðiều lú lẫn quan trọng nhất của ông là: Muốn duy trì chế độ chuyên chế độc quyền của Ðảng Cộng Sản! Dưới chế độ độc tài như thế, làm sao bảo đảm nhóm người cộng sản cầm quyền bây giờ không phạm những sai lầm nghiêm trọng khác, tiếp tục đưa đất nước vào con đường tối tăm lạc hậu thêm 10 năm, 20, 30 năm nữa?