Nick Ut kẻ góp phần không nhỏ đâm sau lưng chiến sĩ VNCH
 Bức hình bé Kim Phúc chạy bom Na Pal Mỹ bị VC lợ dụng tối đa lên án VNCH và Mỹ trong chiến tranh VN
 Kim Phúc đang tị nạn và trờ thành công dân quốc tịch Ca Na Da sau khi có dịp qua Cu Ba tuyên truyền cho VC, khi bay quá cảnh Canada trên đường hưởng tuần trăng mật ở Xô Viết về Cuba Kim Phúc xin tị nạn CS tại phi trường quốc tế St-John thuộc tỉnh bang New Foundland.
Chương trình VHNT tuần này Mặc Lâm(đài RFA) hân hạnh giới thiệu đến với quý thính giả buổi nói chuyện với một nhiếp ảnh gia rất nổi tiếng của Việt Nam không những trong suốt cuộc chiến Việt Nam mà tên tuổi của ông còn được biết tại những studio nổi tiếng của Hollywood.
Người nhiếp ảnh gia tài hoa này có tên là Nick Út hiện đang có mặt tại thành phố Little Saigon miền Nam California. Phóng viên ảnh của AP

Phóng viên nhiếp ảnh Nick Út. Hình do tác giả cung cấp. Nick Út tên thật là Huỳnh Công Út, sinh năm 1951 tại Long An. Ông làm việc cho hãng tin AP từ khi 16 tuổi, giữ vị trí phóng viên ảnh trong thời gian chiến tranh Việt Nam. Nick Út nổi tiếng thế giới qua bức ảnh chụp một bé gái trần truồng chạy trên đường la khóc vì bom napalm tại thị trấn Trảng Bàng. Bé gái ấy là Phan Thị Kim Phúc hiện sống tại Canada và đang là chủ tịch hội KIM, một tổ chức thiện nguyện chuyên cứu giúp những trẻ em nạn nhân chiến tranh. Bức ảnh này đã gây chấn động thế giới và đã mang về giải thưởng Pulitzer cho Nick Út. Đây là giải thưởng cao quý nhất của báo chí Hoa Kỳ mà một người Việt Nam có được. Sau khi định cư tại Mỹ ông vẫn tiếp tục làm việc cho AP và bức ảnh thứ hai tại Los Angeles khiến Hollywood chú ý đến ông nhiều hơn đó là tấm ảnh chụp ngôi sao Paris Hilton ngồi khóc trong xe cảnh sát khi cô bị dẫn độ ra tòa. Bức ảnh này chụp được đúng chính xác 35 năm ngày ông chụp bức ảnh của Kim Phúc. Chúng tôi may mắn được trực tiếp nói chuyện và được ông cho biết đôi điều về sự nghiệp nhiếp ảnh của mình. Câu hỏi đầu tiên có liên quan đến cái tên của ông như sau. Mặc Lâm: Thưa ông, xin được hỏi nguyên nhân nào ông chọn một bút danh rất giống với người Mỹ, có phải vì làm việc trong môi trường báo chí của AP buộc phải vậy hay còn lý do nào khác thưa ông? Lúc làm AP thì tôi tên là Huỳnh Công Út. Tôi có người bạn làm chung trong AP thấy tên này khó kêu nên anh ấy đặt cho tôi là Nick Út. Nhiếp ảnh gia Nick Út Nick Út: Lúc làm AP thì tôi tên là Huỳnh Công Út. Tôi có người bạn làm chung trong AP thấy tên này khó kêu nên anh ấy đặt cho tôi là Nick Út. Sau đó năm 1970 anh này theo cuộc hành quân tiến qua Lào thì tụi này đi chung công tác ngày đầu tiên qua biên giới. Sau đó anh bay vào Sài Gòn bằng C130 và không may máy bay này bị bắn rơi trong đó có 5 nhà nhiếp ảnh. Anh là một người bạn rất thân, ngày anh ấy chết đã để lại cho tôi cái tên kỷ niệm này. Nick là nickname thôi. Từ xưa tới nay những người xem hình của mình đều không biết mình là người Việt vì cái tên rất Mỹ này. Bức ảnh nổi tiếng “Kim Phúc”
Mặc Lâm: Ông nổi tiếng với bức ảnh của Kim Phúc từ thời kỳ chiến tranh Việt Nam, xin ông cho biết hoàn cảnh lúc đó như thế nào? Nick Út: Trận đánh tại Trảng Bàng năm 1972. Lúc đó quốc lộ đã bị cô lập trong ba ngày liền. Ngày đầu tiên đánh rất dữ dội. Ngày kế đó tôi mới lái xe xuống Trảng Bàng vào lúc 7 giờ sáng. Khi vừa tới thì tôi thấy cả ngàn đồng bào chạy ra khỏi vùng lửa đạn của thị trấn Trảng Bàng. Tôi chụp rất nhiều hình cảnh đồng bào chạy giặc, những cuộc oanh tạc đánh nhau rất dữ dội. Trong lúc sắp sửa đi về thì nghe tiếng máy bay sắp bay tới. Tôi thấy trong chùa Cao Đài đã có trái khói chỉ điểm để bỏ bom do sư đoàn 25 của bộ binh Việt Nam Cộng Hòa làm. Tôi nói với người bạn để chụp thêm tấm hình này nữa rồi về. Lúc ấy một chiếc phản lực cơ A 37 nhào xuống thả 4 trái bom đầu tiên. Khi bom nổ mình nghĩ không còn đồng bào trong đó. Chiếc thứ hai là chiếc khu trục Sky one Skyrader của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã nhào xuống thả 4 trái bom napalm. Tôi đứng cách đó chừng trăm thước, người rất là nóng. Khi bom nổ tôi nghĩ không thể còn người nào sống trong đó nổi. Sau khi bom nổ, tôi thấy một bà ẳm đứa nhỏ khoảng 1 tuổi vừa chạy vừa la hét cứu cháu tôi cứu cháu tôi…tôi chụp rất nhiều hình của thằng bé ngáp trước khi chết trên tay của người đàn bà kia.
Bức ảnh "Kim Phúc" nổi tiếng của nhiếp ảnh gia Nick Út. Hình chụp từ youtube.
Lúc đó thì trong đám khói đen có mấy đứa trẻ nữa chạy ra trên quốc lộ…cũng khi đó tôi thấy một em chạy ra trong tình trạng trần truồng, tức là cô Kim Phúc. Tôi nhào tới chụp rất nhiều hình. Tôi cũng chợt nghĩ nếu mình chụp nữa thì cô bé này sẽ chết. Tôi lấy nước mang theo của tôi tưới lên mình cổ…cổ la lên rằng nếu tưới nước thì cổ sẽ chết. Lúc đó tôi mượn cái áo mưa của quân đội để che lại cho cổ không bị trần truồng. Ông bác của Kim Phúc hỏi tôi có thể chở cháu ông ấy tới bệnh viện được không. Lúc ấy xe của tôi đậu chỉ cách thị trấn Trảng Bàng khoảng 200 thước. Tôi mới chở mấy đứa nhỏ lên xe tôi hết và tôi ẳm Kim Phúc theo luôn. Lúc đó cô Kim Phúc la hét dữ lắm nên tôi nghĩ là cổ sẽ chết. Lúc đó thì trong đám khói đen có mấy đứa trẻ nữa chạy ra trên quốc lộ…cũng khi đó tôi thấy một em chạy ra trong tình trạng trần truồng, tức là cô Kim Phúc. Tôi nhào tới chụp rất nhiều hình. Nhiếp ảnh gia Nick Út Tôi chở về bệnh viện Củ Chi trong tình trạng chiến tranh, anh cũng biết rồi xe kẹt rất nhiều nên tôi càng lo sợ cho tính mạng của cổ. Cũng may khi về tới bệnh viện lúc ấy trong thời chiến tranh dân thường chết rất nhiều mà quân đội không thể lo hết được. Cũng nhờ tôi có thẻ báo chí nên ưu tiên vào bệnh viện và y tá cũng như mọi người đều lo cho cô bé này. Tôi thấy bổn phận của mình đã xong nên cũng bớt lo và chạy về hãng AP tại Sài Gòn để rửa hình. Tôi rất lo không biết như thế nào thì trong vòng chỉ 5 phút hình rửa ra rồi. Điều trước tiên người editor giật mình là thấy cô bé ở truồng, tôi mới giải thích bom nổ trẻ em chết…họ không muốn gửi tấm hình này mà phải chờ người editor khác vì tấm hình này trần truồng quá không gửi đi Mỹ được. Tụi này chờ ông giám đốc hãng AP lúc ấy đang ăn trưa về. Ông ấy nhìn tấm hình và hỏi sao tấm hình còn nằm đây? Sau khi biết chuyện ông ấy ra lệnh gửi ngay về New York. Trong vòng 1 tiếng đồng hồ sau tấm hình này xuất hiện ngay trên mặt báo của hầu hết các tờ báo lớn. Mặc Lâm: Sau trận bom ấy ông có theo dõi tình hình của cô bé Kim Phúc hay không? Nick Út: Trận bom napalm sáng sớm ngày 6 tây tháng 9 tôi trở lại thành phố Trảng Bàng rất là sớm, tôi gặp ông tướng Tư là tư lệnh sư đoàn 25. Sau đó tôi được biết cô Kim Phúc đã được chuyển về bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn. Sau khi tấm hình này được đăng cô Kim Phúc rất là may mắn được bác sĩ lo lắng cho cô rất tốt vì tấm hình đó có tinh thần chống chiến tranh. Ông ấy nhìn tấm hình và hỏi sao tấm hình còn nằm đây? Sau khi biết chuyện ông ấy ra lệnh gửi ngay về New York. Trong vòng 1 tiếng đồng hồ sau tấm hình này xuất hiện ngay trên mặt báo của hầu hết các tờ báo lớn. Nhiếp ảnh gia Nick Út Mặc Lâm: Tấm hình này được miền Bắc Việt Nam lúc đó sử dụng như một vũ khí tuyên truyền cho cái mà họ gọi là đế quốc Mỹ xâm lược. Ông có gặp khó khăn gì với đồng hương khi sinh sống trong khu vực Los Angeles nơi rất gần với Little Saigon hay không? Nick Út: Tôi không gặp khó khăn anh, theo tôi biết thì năm 75 VNCH cũng tuyên truyền như miền Bắc và nói rằng tấm hình này do B40 bắn…đối với tôi là báo chí thì chỉ nói thật mà thôi. Mặc Lâm: Khi biết Kim Phúc ra nước ngoài thì ông có dịp nào gặp gỡ cô ấy hay không?
Cô Phan Thị Kim Phúc. Photo courtesy of unesco.org Nick Út: Sau 75 trước khi rời Việt Nam thì tôi có tới từ giã Kim Phúc. Mười mấy năm sau đó tôi gặp Kim Phúc ở Cuba. Trước đó thì tôi cũng biết cô ấy đi rồi. Năm 84 cô Kim Phúc được đi Germany để chữa cái lưng bị cháy của cổ, sau đó thì cổ được đi du học Cuba. Hiện giờ thì cô ấy sống tại Montreal Canada. Mặc Lâm: Được biết hồi gần đây ông có trở về Việt Nam để làm việc cho AP, ông có theo dõi những mảng đời người dân ngày nay sau chiến tranh họ có khác gì với trước đó hay không? Nick Út: Sau chiến tranh tôi muốn focus về hòa bình, về cuộc sống kinh tế của người dân. Mặc Lâm: Và ông có gặp những trẻ em bất hạnh ngoài đường phố chứ? Nick Út: Có nhiều lắm và cũng rất nhiều mảnh đời đau khổ…
Báo CSVN vinh danh Nick Út Nick Út: Sự chân thực, độc đáo tạo nên giá trị ảnh báo chí Nick Út - phóng viên ảnh của Hãng Thông tấn AP (Mỹ), và Đoàn Công Tính - nguyên phóng viên chiến trường Báo Quân đội Nhân dân đã đến giao lưu và thuyết trình tại buổi sinh hoạt nghiệp vụ chuyên đề “Kinh nghiệm tác nghiệp ảnh báo chí” tại tòa soạn Báo Người Lao Động sáng 24-5. Thay mặt CBCNV – PV Báo người Lao Động, ông Trần Thanh Hải, Tổng Biên tập, cảm ơn sự hiện diện của hai ông Nick Út và Đoàn Công Tính, bày tỏ hy vọng buổi trao đổi là dịp quý báu để các đồng nghiệp báo chí cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm nghề nghiệp, nhất là về hình ảnh - một thể loại quan trọng bậc nhất đối với các báo thời sự. Nick Út, tên thật là Huỳnh Công Út, quê Long An, làm việc cho AP từ năm 1967, được cả thế giới biết đến qua bức ảnh Cô bé Napalm (Napalm Girl) đặc tả cảnh bé Phan Thị Kim Phúc, 9 tuổi, bị bỏng bom napalm vừa chạy vừa khóc trên đường lộ ở Trảng Bàng (Tây Ninh) vào tháng 8-1972. Bức ảnh này về sau đoạt Giải thưởng Ảnh Báo chí Thế giới Pulitzer, ghi dấu tên tuổi của Nick Út; đồng thời là bệ phóng cho sự nghiệp cầm máy của phóng viên ảnh người Việt này từ đó cho đến hôm nay. Đoàn Công Tính là một trong những cựu phóng viên chiến trường hàng đầu VN trong kháng chiến chống Mỹ. Ông được biết đến nhiều qua bức ảnh Nụ cười dưới chân Thành cổ (Quảng Trị - 1972) cùng nhiều bức ảnh đoạt giải nhiếp ảnh giá trị khác, như: Đánh chiếm căn cứ Đầu Mầu, Trên đường hành quân, Trên đồi không tên… Và, điều thú vị, bất ngờ nhất trong sáng 24-5 tại Báo Người Lao Động là cuộc hội ngộ của hai phóng viên ảnh Đoàn Công Tính – Nick Út, hai người từng ở hai chiến tuyến khác nhau tại chiến địa Thành cổ cách đây 35 năm. Lúc đó, ông Tính tác nghiệp bên trong Thành cổ; còn Nick Út với danh nghĩa là phóng viên của AP, theo đoàn báo chí quốc tế tác nghiệp tại Quảng Trị, bên ngoài Thành cổ, cùng đưa tin - ảnh về trận đánh “Mùa hè đỏ lửa”. Hai phóng viên chiến trường năm xưa, sau 35 năm nay mới gặp nhau trong một buổi trò chuyện về nghề nghiệp, cảm xúc trào dâng! Ông Đoàn Công Tính nói: “Tôi biết Nick Út đã hàng chục năm nay, nhưng mới gặp nhau… hôm qua (23-5) tại TPHCM, nhờ anh Quang Liêm (phóng viên Báo Người Lao Động) giới thiệu”. Tại buổi sinh hoạt, qua màn hình lớn, Nick Út đã giới thiệu bộ ảnh của ông chụp trong thời kỳ VN kháng chiến chống Mỹ. Nhiều bức ảnh rất xúc động, đặc tả nỗi đau khôn cùng, cuộc sống lầm than của người dân các vùng, miền VN trong chiến tranh; qua đó tố cáo tội ác của Mỹ - Ngụy. Rất nhiều trong số những bức ảnh này đã được Hãng AP chọn phát, được nhiều báo quốc tế đăng lại. Đặc biệt, tại đây, Nick Út cũng giới thiệu bộ ảnh Chuyện đời Kim Phúc (nhân vật trong bức ảnh Cô bé Napalm). Bộ ảnh này là cuộc đời của Kim Phúc qua các thời kỳ, từ chiến tranh loạn lạc cho đến những ngày êm ấm hôm nay tại Canada. Bộ ảnh không chỉ nói lên sức sống mãnh liệt của con người VN, của người phụ nữ VN mà còn là thông điệp phản đối chiến tranh, kêu gọi hòa bình. “Với Cô bé Napalm chụp tháng 8-1972, tên tuổi Nick Út đã bay xa khắp thế giới. Vậy tại sao ông phải mãi dõi theo Kim Phúc, để tiếp tục làm phóng sự ảnh về đời cô ấy?” – một phóng viên Báo NLĐ đặt câu hỏi. Nick Út nói: “Một người làm báo phải luôn có lòng say nghề. Thêm nữa, phải biết xúc cảm trước sự kiện và có lương tâm với nhân vật trong sự kiện, nhất là những sự kiện chiến tranh. Tôi có mối ràng buộc với Kim Phúc, không phải vì cùng là người VN, mà ngay sau khoảnh khắc chụp bức Cô bé Napalm, tôi đã nghĩ tới chuyện cuộc đời của Phúc về sau này sẽ ra sao. Khi bức ảnh đoạt giải Pulitzer, dư luận thế giới và người dân VN biết đến Kim Phúc nhiều hơn và sẽ tiếp tục quan tâm đến cô ấy. Đó chính là đề tài để người phóng viên ảnh tư duy và quyết định dấn thân”. Một câu hỏi khác dành cho Nick Út: “Để có những bức ảnh chiến sự “nóng” như vậy, ngoài yếu tố may mắn là chộp được kịp thời sự kiện, phóng viên cần có tố chất gì?”. Nick Út cho biết ông đã từng vác máy ảnh đi nhiều chiến địa ở VN, Campuchia… và không ít lần bị thương. Có khi đang giương máy, hỏa tiễn bay vèo trên đầu, tóc cháy sém. Thế nên sự gan dạ, bình tĩnh là yếu tố cần thiết. Ngoài ra cần phải thông minh, chọn góc máy phù hợp để tác nghiệp nhanh, vì trong cảnh bom rơi đạn nổ, nếu chậm chân, sơ ý, mọi bất trắc đều có thể xảy đến với mình. Cựu phóng viên chiến trường VN Đoàn Công Tính kể lại chuyện tác nghiệp của ông tại chiến trường Thành cổ Quảng Trị trong “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972. Trong những ngày tháng ác liệt đó, ông phải giành giật với từng khoảnh khắc bình yên của chiến cuộc để tác nghiệp. Về bức ảnh nổi tiếng Nụ cười dưới chân Thành cổ, ông Tính kể thật: “Nhiều người bảo rằng trong lúc chiến sự ác liệt như thế, chụp được một bức ảnh “đầy” nụ cười như vậy là vô lý. Tôi nói thật, tấm ảnh ấy tôi dàn dựng. Phải canh me lúc máy bay ngớt quần thảo, tôi gọi anh em ra ngoài, ngồi vào, hô “chụp” và bấm máy. Lúc đó, thấy máy bay địch chưa quay trở lại, tôi ngồi vào, nhờ người khác bấm cho một tấm nữa, bố cục giống như vậy”. Theo ông Tính, dù đó là bức ảnh dàn dựng, nhưng vẫn được đánh giá cao, bởi lẽ trong bối cảnh ấy, không gian ấy, bức ảnh bật lên chủ đề rất rõ ràng: Sự lạc quan làm nên chiến thắng. Về kỹ thuật, trên đống đổ nát của “hiện trường”, đằng sau các chiến sĩ giải phóng quân là những bức tường gạch dày bị nghiêng ngả, đổ vụn. Dù thế, những chiến sĩ giải phóng quân vẫn ngời lên nụ cười tươi rói. “Sự tương phản đã làm nên giá trị cho bức ảnh. Trong tác phẩm ảnh đơn hoặc trong loạt phóng sự ảnh, sự tương phản nội hàm về nội dung, màu sắc, ánh sáng… là rất quan trọng. Sử dụng ảnh báo chí cần chú ý điều đó” – ông Tính chia sẻ. Không chỉ vậy, giá trị nhân văn của bức ảnh cũng là yếu tố quan trọng làm nên sức sống của tác phẩm, tên tuổi của tác giả. Nhân vật chính trong bức Nụ cười dưới chân Thành cổ là chiến sĩ Lê Xuân Chinh, sau chiến tranh về quê Điện Biên như một bộ đội phục viên bình thường; rồi đồng đội, xã hội bặt tin ông. Hành trình tìm lại nhân vật “nụ cười chiến thắng” của Đoàn Công Tính cách đây không lâu là một câu chuyện ly kỳ, kết thúc có hậu. Được sự giúp đỡ của ông Đoàn Công Tính và nhiều đồng đội, ông Lê Xuân Chinh sau đó được “tìm lại”, được hưởng chính sách vì những năm tháng cống hiến cho cách mạng. “Kể dài dòng như vậy, để thấy rằng mỗi bức ảnh không chỉ là lát cắt tức thời của sự kiện, mà nó sẽ đi theo nhân vật suốt đời, theo thời cuộc mãi mãi, nếu như người chụp ảnh có cái Tâm” – nghệ sĩ nhiếp ảnh Đoàn Công Tính đúc kết. Một câu hỏi khác đặt ra: Họp báo thường là sự kiện khó chụp ảnh, ảnh chụp ít khi được sử dụng vì tĩnh, cứng nhắc. Làm thế nào để khắc phục? Nick Út trả lời bằng bức ảnh của một phóng viên AP chụp cảnh họp báo đăng trên tờ Los Angeles Times ngày 27-3-2007. Trong đó, cận cảnh là hai cánh tay của một người (có lẽ của một phóng viên) đang giương máy ảnh để ghi hình. Lồng trong cánh tay đó là gương mặt của nhân vật “đinh” – ông ngoại trưởng Palestine – đang nhăn nhó, căng thẳng. Xung quanh ông còn có nhiều quan chức của các bên cùng ngồi đàm phán. Nội dung cuộc đàm phán, theo tờ Los Angeles Times nói trên, là tháo ngòi quan hệ Israel – Palestine đang căng thằng… Theo Nick Út, mọi hãng thông tấn, tờ báo Âu – Mỹ đều có thể chọn dùng tấm ảnh trên, vì rất đạt, hội tụ được các yếu tố: lạ, có “vấn đề”, nhân vật trong ảnh có hồn thông qua “ngôn ngữ nét mặt” (facial language). Quan trọng nữa là nó sát với nội dung bài tường thuật họp báo. Người chụp ảnh phải chú ý đến các yếu tố này và chủ động “canh” trước, tránh đưa vào ống kính cảnh những quan chức ngồi “trơ” mặt, nghiêm nghị… Cũng theo Nick Út, với các cảnh họp báo, tiếp khách, không chỉ AP mà nhiều hãng thông tấn khác đều rất “kỵ” dùng ảnh bắt tay, vì ảnh không “động”, mang tính dàn dựng. Những tấm ảnh hội tụ tính chân thực, thời sự, độc đáo, rung động… luôn luôn “ăn khách” và để có được nó, trước hết người chụp phải tự tìm tòi. Trong đó, tính chân thực của nội dung ảnh là rất quan trọng mà người phóng viên ảnh báo chí luôn hết sức đề cao. Ông đã kể ra hàng loạt vụ xì-căng-đan ảnh báo chí thế giới, như vụ ghép ảnh người đàn ông bế con băng qua làn đạn trong cuộc chiến Iraq, vụ dùng photoshop “đạo” cả series ảnh của một phóng viên tự do (free-lance) trong chiến tranh Israel - Lebanon…; thậm chí bê bối đã xảy ra đối với vài bức đoạt giải Pulitzer. Khi bị độc giả phát hiện, không chỉ người cung cấp ảnh bị thôi việc mà hãng thông tấn, tờ báo sử dụng ảnh đó cũng bị mất uy tín. Nghiêm trọng hơn là niềm tin của công luận vào sự thật trên báo chí bị xói mòn. Đó cũng chính là bài học nghề nghiệp mà cả hai phóng viên ảnh kỳ cựu Nick Út và Đoàn Công Tính nhắc nhở các đồng nghiệp tại Báo Người Lao Động cũng như nhiều báo khác. Lời tường thuật của cựu chiến binh Mỷ  Xin mời quí vị đọc một bài viết của một cựu Sĩ Quan Hoa Kỳ đã tửng chiến đấu trên chiến trường Việt Nam, cựu Bộ Trưởng Hải Quân Hoa Kỳ và hiện là Thượng Nghị Sĩ Liên Bang của Hoa Kỳ. Quan điểm về cuộc chiến Việt Nam . Thú thật, cho đến bây giờ mới thấy một người Mỹ trí thức có đầy đủ hiểu biết về cuộc chiến Việt Nam đã viết một bài chân thật, rất đáng kính trọng và rất đáng đưa vào lịch sử của Hoa Kỳ để cho con cháu Hoa Kỳ được hiểu rõ hơn cuộc chiến Việt Nam mà trước đây những kẻ viết lịch sử Hoa Kỳ đã thiếu dữ kiện sống để viết.
Sleeping With the Enemy By James Webb Biết giải thích như thế nào với những đứa con của tôi rằng khi tôi mười mấy, đôi mươi, những tiếng nói ồn ào nhất của những người cùng tuổi, cùng thời với tôi lại nhắm mục đích phá nát những nền tảng của xã hội Hoa Kỳ, để xây dựng lại một xã hội dựa theo quan điểm đầy tự mãn của họ. Giờ đây nhìn lại, ngay cả chúng ta, những người đã trải qua giai đoạn này, cũng không hiểu được tại sao lại có những kẻ với trình độ học vấn cao, đa số sinh ra từ gia đình thượng lưu, lại có thể gieo rắc những tư tưởng phá hoại làm nhiễm độc bầu không khí của thập niên 1960 và những năm đầu của thập niên 1970. Ngay cả Quốc Hội cũng bị nhiễm những con vi khuẩn nầy. Sau khi Tổng Thống Nixon từ chức vào tháng Tám 1974, cuộc bầu cử mùa Thu năm ấy mang lại 76 tân Dân Biểu thuộc đảng Dân Chủ và 8 Thượng Nghị Sĩ. Đại đa số những dân cử chân ướt, chân ráo này đã tranh cử dựa trên cương lãnh của Mc Govern. Nhiều người trong số họ được xem như những ứng viên yếu kém trước khi Nixon từ chức, vài người không xứng đáng thấy rõ, chẳng hạn như Tom Downey, 26 tuổi, thuộc New York, người chưa từng có một nghề ngỗng gì và vẫn còn ở nhà với mẹ.
Cái gọi là Quốc Hội hậu Watergate này diễu hành vào thành phố với một sứ mệnh vô cùng quan trọng mà sau này trở thành điểm tập hợp cho cánh Tả của Hoa Kỳ: Chấm dứt sự giúp đỡ của nước Mỹ dưới bất kỳ hình thức nào cho chính quyền đang bị vây khốn Nam Việt Nam. Không nên lầm lẫn ở chỗ này – đây không phải là sự kêu gào thanh niên Mỹ đừng đi vào cõi chết của những năm trước đây. Những người lính Mỹ cuối cùng đã rời khỏi Việt Nam hai năm trước rồi, và đã tròn bốn năm không có một người Mỹ nào bị tử trận.
Bởi những lý do mà không một viện dẫn lịch sử nào có thể bào chữa được, ngay cả sau khi quân đội Mỹ triệt thoái, cánh Tả vẫn tiếp tục những cố gắng để đánh gục nền Dân Chủ còn phôi thai của Nam Việt Nam. Phụ tá sau này của Nhà Trắng Harold Ickes và nhiều người khác trong “Chiến Dịch Kiểm Soát Tài Chánh” – có một lúc được giúp đỡ bởi một người tuổi trẻ nhiều tham vọng: Bill Clinton – làm việc để cắt toàn bộ những khoản tài trợ của Quốc Hội nhằm giúp miền Nam Việt Nam tự bảo vệ. Liên Hiệp Hoà Bình Đông Dương, điều hành bởi David Dellinger và được quảng bá bởi Jane Fonda và Tom Hayden, phối hợp chặt chẽ với Hà Nội suốt năm 1973 và 1974, đi khắp các khuôn viên đại học Mỹ, tập hợp sinh viên để chống lại điều được cho là những con ác quỷ trong chánh quyền Nam Việt Nam. Những đồng minh của họ trong Quốc Hội liên tục thêm vào những tu chính án để chấm dứt sự viện trợ của Hoa Kỳ cho những người Việt Nam chống Cộng Sản, ngăn cấm cả đến việc sử dụng không lực để giúp những chiến binh Nam Việt Nam đang bị tấn công bởi các đơn vị bộ đội chánh quy Bắc Việt được khối Sô Viết và Trung Cộng yểm trợ.
Rồi đến đầu năm 1975 Quốc Hội Watergate giáng một đơn chí tử xuống các nước Đông Dương không Cộng Sản. Tân Quốc Hội lạnh như băng từ chối lời yêu cầu gia tăng quân viện cho miền Nam Việt Nam và Cam Bốt của Tổng Thống Gerald Ford. Ngân khoản dành riêng này sẽ cung cấp cho quân đội Cam Bốt và Nam Việt Nam đạn dược, phụ tùng thay thế, và vũ khí chiến thuật cần thiết để tiếp tục cuộc chiến tự vệ. Bất chấp sự kiện là Hiệp Định Paris 1973 đặc biệt đòi hỏi phải cung cấp “viện trợ để thay thế trang thiết bị quân sự vô giới hạn” cho Nam Việt Nam, đến tháng Ba phe Dân Chủ trong Quốc Hội biểu quyết với tỷ số áp đảo, 189-49, chống lại bất kỳ viện trợ quân sự bổ sung cho Nam Việt Nam và Cam Bốt.
Trong các cuộc tranh luận, luận điệu của phe Tả phản chiến gồm toàn những lời lên án các đồng minh đang bị chiến tranh tàn phá của Hoa Kỳ. Và đầy những hứa hẹn về một tương lai tốt đẹp cho các quốc gia này dưới sự cai trị của chế độ Cộng Sản. Rồi dân biểu Christopher Dodd, tiêu biểu cho sự ngây thơ hết thuốc chữa của các đồng viện, lên giọng đầy điệu bộ “gọi chế độ Lon Nol là đồng minh là làm nhục chữ nghĩa… Tặng vật lớn nhất mà đất nước chúng ta có thể trao cho nhân dân Cam Bốt là hòa bình, không phải súng. Và cách tốt nhất để đạt được mục đích này là chấm dứt viện trợ quân sự ngay lập tức.” Sau khi trở thành chuyên gia đối ngoại trong vòng chỉ có hai tháng kể từ lúc thôi bú mẹ, Tom Downey chế diễu những cảnh cáo về tội ác diệt chủng sắp sửa xảy ra ở Cam Bốt, cái tội ác đã giết hơn một phần ba dân số của quốc gia này, như sau: “Chính phủ cảnh cáo rằng nếu chúng ta rời bỏ các quốc gia ấy thì sẽ có tắm máu. Nhưng những cảnh cáo cho việc tắm máu trong tương lai không thể biện minh cho việc kéo dài việc tắm máu hiện nay.” Trên chiến trường Việt Nam việc chấm dứt viện trợ quân trang, quân cụ là một tin làm kinh ngạc và bất ngờ. Các cấp chỉ huy quân đội của miền Nam Việt Nam đã được đảm bảo về việc viện trợ trang thiết bị khi người Mỹ rút quân – tương tự như những viện trợ Hoa Kỳ vẫn dành cho Nam Hàn và Tây Đức – và đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tái oanh tạc Bắc Việt, nếu Bắc Việt tấn công miền Nam, vi phạm hiệp định Paris 1973. Bây giờ thì họ đang mở mắt trừng trừng nhìn vào một tương lai bất định khủng khiếp, trong lúc khối Sô Viết và Trung Cộng vẫn tiếp tục yểm trợ cho Cộng Sản Bắc Việt.
Trong lúc quân đội Nam Việt Nam, vừa choáng váng vừa mất tinh thần, tìm cách điều chỉnh lại lực lượng để đối phó với những sự thiếu thốn trang thiết bị cần thiết, quân đội chính quy miền Bắc được tái trang bị đầy đủ lập tức phát động cuộc tổng tấn công. Bắt giữ được nhiều đơn vị bị cô lập, quân Bắc Việt tràn xuống vùng đồng bằng trong vòng có 55 ngày. Những năm về sau, tôi đã phỏng vấn những người lính miền Nam Việt Nam còn sống sót trong những cuộc giao tranh, nhiều người đã bị trải qua hơn chục năm trong các trại tù tập trung của Cộng Sản sau khi cuộc chiến chấm dứt. Những điệp khúc này không bao giờ chấm dứt: - “Tôi không còn đạn dược.” - “Tôi chỉ còn 3 quả đạn pháo cho mỗi khẩu một ngày.” - “Tôi không còn gì để phát cho binh sĩ của tôi.” - “Tôi phải tắt máy truyền tin, bởi vì tôi không thể nào chịu đựng được nữa khi phải nghe những lời kêu gọi xin tiếp viện.”
Phản ứng của Hoa Kỳ trước sự xụp đổ này cho thấy có hai nhóm khác nhau, và điều này vẫn còn tiếp tục được thấy rõ trong nhiều vấn để mà chúng ta đang phải đương đầu ngày nay. Đối với những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam, và đối với gia đình, bạn bè, và những người cùng quan điểm chánh trị với họ, đây là là một tháng đen tối và tuyệt vọng. Những khuôn mặt mà chúng ta thấy đang chạy trốn sự tấn công của Bắc Việt là những khuôn mặt rất thật và quen thuộc, không phải đơn thuần là những hình ảnh truyền hình. Những thân người xoay trong không gian như những bông tuyết, rơi xuống chết thảm khốc sau khi họ đeo và bám vào thân trực thăng hay phi cơ một cách tuyệt vọng, có thể là những người chúng ta quen biết hoặc đã từng giúp đỡ. Ngay cả đối với những kẻ không còn niềm tin vào khả năng đánh bại Cộng Sản, đây không phải là cách để chấm dứt cuộc chiến. Đối với những kẻ từng trốn tránh cuộc chiến và lớn lên tin rằng đất nước chúng ta là quỷ dữ, và ngay cả khi họ thơ mộng hoá những ý định của người Cộng Sản, những tuần lễ sau cùng này đã chối bỏ trách nhiệm của mình trong sự xụp đổ này bằng những phê phán quân đội Nam Việt Nam đầy tính sa lông, hay là công khai reo mừng. Ở trung tâm Luật Khoa của đại học Georgetown nơi tôi đang theo học, việc Bắc Việt trắng trợn ném bỏ các điều cam kết về hòa bình và bầu cử trong hiệp định Paris 1973, và tiếng xe tăng của Bắc Việt trên đường phố Sài Gòn được xem như là một cái cớ để thực sự ăn mừng.
Sự chối bỏ trách nhiệm vẫn còn tràn lan trong năm 1997. Thực ra cái kết cuộc này chính là mục tiêu của phong trào phản chiến đã cố gắng không ngừng nghỉ trong những năm theo sau sự rút quân của Mỹ. George McGovern, thẳng thắn hơn nhiều người, công khai tuyên bố với người viết trong lúc nghỉ khi thâu hình cho chương trình “Crossfire” của CNN vào năm 1995. Sau khi tôi đã lý luận rằng cuộc chiến rõ ràng là có thể thắng được ngay cả vào giai đoạn cuối nếu chúng ta thay đổi chiến lược của mình, ứng cử viên Tổng Thống năm 1972, người tình nguyện đi Hà Nội bằng đầu gối, đã bình luận rằng: “Anh không hiểu là tôi KHÔNG MUỐN chúng ta chiến thắng cuộc chiến đó sao?” Ông McGovern không chỉ có một mình. Ông ta là phần tử của một nhóm nhỏ, nhưng vô cùng có ảnh hưởng lớn trong chính trường. Sau cùng họ đã đạt được điều họ muốn. Có lẽ không còn minh chứng nào lớn hơn cho không khí hân hoan chung quanh chiến thắng của Cộng Sản là giải thưởng điện ảnh năm 1975, được tổ chức vào ngày 8 tháng 4, ba tuần trước khi miền Nam xụp đổ. Giải phim tài liệu hay nhất được trao cho phim Hearts and Minds, một phim tuyên truyền độc ác tấn công những giá trị văn hóa Hoa Kỳ cũng như những cố gắng của chúng ta để hỗ trợ cho sự chiến đấu cho nền Dân Chủ của miền Nam Việt Nam. Các nhà sản xuất Peter Davis và Bert Schneider (người thủ diễn một vai trong câu chuyện của David Horowitz) cùng nhau nhận giải Oscar. Schneider thẳng thừng trong việc công nhận sự ủng hộ những người Cộng Sản của mình. Đứng trước máy vi âm ông ta nói: - “Thật là ngược đời khi chúng ta đang ở đây, vào thời điểm mà Việt Nam sắp được giải phóng.” Rồi giây phút đáng kinh ngạc nhất của Hollywood xảy ra – dù giờ đây đã được họ cố tình quên đi. Trong lúc quốc gia Việt Nam, mà nhiều người Mỹ đã đổ máu và nước mắt để bảo vệ, đang tan biến dưới bánh xích của xe tăng, Schneider lôi ra một điện tín được gởi từ kẻ thù của chúng ta, đoàn đại biểu Cộng Sản Việt Nam ở Paris, và đọc to lên lời chúc mừng cho phim của mình. Không một phút giây do dự, những kẻ nhiều quyền lực nhất của Hollywood đứng dậy hoan nghênh việc Schneider đọc bức điện tín này.
Chúng ta, những người đã từng chiến đấu ở Việt Nam hoặc là những người ủng hộ những cố gắng ở đó, nhìn lại cái khoảnh khắc này của năm 1975 với sự sửng sốt không nguôi và không bao giờ quên được. Họ là ai mà cuồng nhiệt đến thế để đầu độc cái nhìn của thế giới về chúng ta? Sao họ lại có thể chống lại chính những người đồng hương của mình một cách dữ tợn đến thế? Sao họ có thể đứng dậy để hoan nghênh chiến thắng của kẻ thù Cộng Sản, kẻ đã làm thiệt mạng 58,000 người Mỹ và đè bẹp một đồng minh chủ trương ủng hộ Dân Chủ? Làm sao có thể nói rằng chúng ta và họ đang sống trong cùng một đất nước?
Từ lúc ấy đến nay, không một lời nào của Hollywood nói về số phận của những con người biến mất sau bức màn tre của Việt Nam . Không ai đề cập đến những trại tù tập trung cải tạo mà hàng triệu chiến binh miền Nam Việt Nam đã bị giam giữ, 56,000 người đã thiệt mạng, 250,000 bị giam hơn 6 năm, nhiều người bị giam đến 18 năm. Không người nào chỉ trích việc cưỡng bách di dân, tham nhũng, đàn áp những người bất đồng chính kiến, cướp đất, cướp nhà của dân hay là chế độ Công An trị mà hiện vẫn còn đang tiếp diễn. Thêm vào đó, ngoại trừ phim Hamburger Hill có ý tốt nhưng kém về nghệ thuật, người ta chỉ hoài công nếu muốn tìm một phim thuộc loại có tầm vóc diễn tả các chiến binh Hoa Kỳ ở Việt Nam với đầy đủ danh dự và trong những khung cảnh có thật.
Tại sao? Bởi vì cộng đồng làm phim, cũng như những kẻ thuộc loại đỉnh cao trí tuệ trong xã hội, chưa bao giờ yêu thương, kính phục, hay ngay cả thông cảm với những con người đã nghe theo tiếng gọi của đất nước, lên đường phục vụ. Và vào lúc mà một cuộc chiến âm thầm nhưng không ngừng nghỉ đang diễn ra về việc lịch sử sẽ ghi nhớ đất nước chúng ta tham dự ở Việt Nam như thế nào? Những kẻ chế diễu chính sách của chính quyền, trốn lính, và tích cực ủng hộ kẻ thù, cái kẻ thù mà sau cùng trở nên tàn độc và thối nát, không muốn được nhớ đến như là những kẻ quá đỗi ngây thơ và lầm lẫn.
Giữa những người dân Mỹ bình thường, thái độ của họ trong khoảng thời gian rối ren này lành mạnh hơn nhiều. Đằng sau những tin tức bị thanh lọc và những bóp méo về Việt Nam, thực tế là những công dân của chúng ta đồng ý với chúng ta, những người đang chiến đấu, hơn là với những kẻ làm suy yếu cuộc chiến đấu này. Khá thú vị là điều nầy đặc biệt đúng với tuổi trẻ Mỹ, mà giờ đây vẫn còn được mô tả như là thành phần nổi loạn chống chiến tranh.
Như được tường trình lại trong bài: “Ý Kiến Quần Chúng”, những kết quả thăm dò của Gallup từ năm 1966 cho đến khi Hoa Kỳ chấm dứt sự tham dự chiến tranh ỏ Việt Nam cho thấy tuổi trẻ Mỹ thực ra ủng hộ cuộc chiến Việt Nam lâu bền hơn bất cứ lứa tuổi khác. Ngay cả cho đến tháng 1 năm 1973, khi 68 phần trăm dân Mỹ trên 50 tuổi tin rằng chuyện gởi quân sang Việt Nam là một sai lầm, chỉ có 49 phần trăm những người tuổi từ 25 đến 29 đồng ý. Những phát hiện này cho thấy giới trẻ nói chung rõ ràng là không cực đoan, điều này đã được củng cố thêm bằng kết quả bầu cử năm 1972 – trong đó lứa tuổi từ 18 đến 29 ưa thích Richard Nixon hơn là George McGovern bằng tỷ lệ 52% so với 46 phần trăm.
Tương tự như vậy, mặc dù trong quá khứ những người chống đối này, mà ngày nay đang thống lãnh giới báo chí và giới khoa bảng, đã khăng khăng nói ngược với thực tế, sự xâm nhập vào Cam Bốt năm 1970 đã được ủng hộ quần chúng mạnh mẽ. Sự xâm nhập này đã gây ra sự phản đối rộng khắp ở các sân trường đại học, kể cả một vụ xung đột làm cho bốn người chết ở Kent State University . Theo những kết quả thăm dò dư luận của Harris gần 6 phần 10 dân Mỹ tin rằng sự xâm nhập vào Cam Bốt là đúng đắn. Đa số được hỏi ý kiến, trong cùng bản thăm dò này vào tháng 5 năm 1970, ủng hộ tái oanh tạc Bắc Việt, một thái độ cho thấy sự bác bỏ hoàn toàn phong trào phản chiến.
Các cựu chiến binh Việt Nam, dù bị bôi bẩn thường xuyên trên phim ảnh, trong các bản tin, và trong các lớp học, như là những chiến binh miễn cưỡng và thất bại, vẫn được những người dân Mỹ bình thường tôn trọng. Trong một nghiên cứu toàn diện nhất từ trước đến giờ về những cựu chiến binh Việt Nam (Harris Survey, 1980, ủy quyền bởi Veterans Administration) , 73 phần trăm công chúng và 89 phần trăm cựu chiến binh Việt Nam đồng ý với câu phát biểu: “Vấn đề rắc rối ở Việt Nam là QUÂN ĐỘI CHÚNG TA ĐƯỢC YÊU CẦU CHIẾN ĐẤU TRONG MỘT CUỘC CHIẾN MÀ CÁC LÃNH TỤ CHÍNH TRỊ Ở WASHINGTON KHÔNG CHO HỌ ĐƯỢC PHÉP CHIẾN THẮNG”, 70 phần trăm những người từng chiến đấu ở Việt Nam không đồng ý với câu phát biểu: “Những gì chúng ta gây ra cho nhân dân Việt Nam thật đáng xấu hổ.” Trọn 91 phần trăm những người đã từng phục vụ chiến đấu ở Việt Nam nói rằng họ hãnh diện đã phục vụ đất nước, và 74 phần trăm nói rằng họ thấy thoải mái với thời gian ở trong quân đội. Hơn nữa, 71 phần trăm những người phát biểu ý kiến cho thấy họ sẵn sàng chiến đấu ở Việt Nam một lần nữa, ngay cả nếu biết rằng cái kết quả chung cuộc vẫn như thế và sự giễu cợt sẽ đổ lên đầu họ khi họ trở về.
Bản thăm dò này còn có cái gọi là “nhiệt kế đo cảm giác,” để đo lường thái độ của công chúng đối với những nhóm người khác nhau, với thang điếm từ 1 đến 10. Cựu chiến binh từng phục vụ ở Việt Nam được chấm điểm 9.8 trên thang điểm này. Bác sĩ được 7.9, phóng viên truyền hình 6.1, chánh trị gia 5.2, những người biểu tình chống chiến tranh 5.0, kẻ trốn quân dịch và chạy sang Canada được cho 3.3.
Trái ngược với những câu chuyện huyền thoại được dai dẳng phổ biến, hai phần ba những người phục vụ ở Việt Nam là quân tình nguyện chứ không phải bị động viên, và 77 phần trăm những người tử trận là quân tình nguyện. Trong số những người tử trận: 86 phần trăm là da trắng, 12.5 phần trăm người Mỹ gốc Phi Châu và 1.2 phần trăm thuộc các chủng tộc khác. Những cáo buộc rất phổ biến như là chỉ có dân thuộc các nhóm thiểu số và người nghèo được giao cho những công tác khó khăn trong quân đội khi ở Việt Nam là điều sai lạc. Sự bất quân bình trong cuộc chiến, thực ra chỉ đơn giản là do những thành phần đặc quyền đặc lợi trốn tránh trách nhiệm của mình, và chính những người này kể từ thời gian ấy đã kiên trì bôi bẩn những kinh nghiệm về cuộc chiến để nhằm tự bào chữa cho chính mình, phòng khi sau này sẽ bị lịch sử phán xét.
Thế còn những kẻ không những đã hiểu sai ý nghĩa một cuộc chiến, mà còn không hiểu nổi dân tộc của mình, những kẻ thuộc thành phần tinh hoa của xã hội đó bây giờ ra sao? Bây giờ họ đang ở đâu nếu không phải ở trong tòa Bạch Ốc? Trên vấn đề lịch sử quan yếu này, cái vấn đề đã xác định thế hệ của chúng ta, họ dấu mình thật kín. Họ nên dấu mình như thế.
Đối với những kẻ đã đem cuộc hành trình tuổi trẻ đánh bạc trên cái ý tưởng rằng tổ quốc mình là một lực lượng ác quỷ, sau khi nhận ra sự ngây thơ của mình trong những năm sau năm 1975, chắc họ phải có một cảm giác rất kinh khủng. Thật là sáng mắt, sáng lòng cho những kẻ đã tỉnh thức, đã tự vượt qua được phản ứng chối tội, để chứng kiến cảnh tượng hàng trăm ngàn người dân miền Nam Việt Nam chạy trốn “ngọn lửa tinh nguyên của cách mạng” trên những con tàu ọp ẹp, sự chạy trốn mà chắc chắn 50 phần trăm đã vùi thây dưới đáy biển, hoặc là nhìn thấy những hình ảnh truyền hình của hàng ngàn chiếc sọ người Cam Bốt nằm lăn lóc trên những cánh đồng hoang, một phần nhỏ của hàng triệu người bị giết bởi những người Cộng Sản “giải phóng quân.”
Thực vậy, chúng ta hãy thẳng thắn nhìn nhận. Thật đáng tủi nhục biết bao khi nhìn vào khuôn mặt của một thương binh, hay là nghe diễn từ tốt nghiệp của một học sinh thủ khoa người Mỹ gốc Việt Nam, mà người cha quá cố của em đã chiến đấu bên cạnh những người Mỹ, cho một lý tưởng mà bọn họ công khai mỉa mai, chế diễu, và xem thường. Và thật là một điều đáng xấu hổ khi chúng ta có một hệ thống chính quyền đã để cho em học sinh đó thành công nhanh chóng ở đây, mà lại không thực hiện được một hệ thống như vậy ở quê hương của em.
THG chuyển ngữ |