“Đàn Ông Con Trai Việt Nam Bây Giờ Họ Đi Đâu Cả Hay Bị Mất Nam Tính Vì Trúng Độc TQ??”
07.05.2010 23:55
Mấy năm nay, mỗi khi giở tờ báo giấy hay lang thang qua các tờ báo “mạng”, người đọc dễ dàng bắt gặp những bản tin hay những bài phóng sự viết về chuyện con gái Việt Nam trong nước bây giờ đổ xô đi lấy chồng Tàu (Đài Loan, Hồng kông, hay ngay cả Tàu lục địa).
Gần đây nữa là phong trào gái Việt đua nhau đi lấy chồng Đại Hàn. Những tầng lớp các cô ở thành phố, có nhan sắc và học vấn thì mơ được một chàng Việt kiều kỹ sư, bác sĩ hay chuyên viên, hào hoa, phong nhã, túi rủng rỉnh đô-la về rước sang Mỹ, Canada, Úc nâng khăn sửa bóp. Các cô ít “tiềm năng” hơn: không đẹp lắm, nhà nghèo, chữ nghĩa hơi ít thì mong được một anh Việt kiều vừa bỏ vợ (hay bị vợ bỏ) về Việt Nam “dối già” rước sang làm vợ nhí.
Một thành phần khác có chút tài năng đặc biệt như diễn viên, người mẫu thời trang hay các cô có học, có bằng cấp đi làm cho các công ty Âu Mỹ thì lại thích lấy Tây. Tây đây không cứ là Pháp, mà có thể là Mỹ, Đức, Úc, Canada. Tây có thể là Tây có địa vị, làm trong các công ty nước ngoài, sếp của các cô. Nhưng cũng có thể là Tây ba lô, nghèo kiết xác. Hoặc những anh Tây con còn trẻ, đầy máu phiêu lưu giang hồ trong huyết quản, sang Việt Nam tìm “cơ hội”. Trong khi chờ cơ hội đến, những ông Tây này cũng sống lăn lộn vất vả như ai. Nhưng họ vẫn được các cô (nhiều cô có học hoặc xinh đẹp) ưa thích chọn lựa làm chồng.
Đọc xong những mẫu tin như vậy, nhiều người sẽ thắc mắc tự hỏi: “Đàn ông con trai Việt Nam bây giờ họ đi đâu cả?” Từ câu hỏi đầu tiên này, sẽ dẫn đến một câu hỏi khác: “Chẳng lẽ ở Việt Nam sau gần hai mươi năm không còn chiến tranh. Thanh niên không còn ra mặt trận, một đi không hẹn ngày về, mà tình trạng trai thiếu gái thừa vẫn còn?” Nếu căn cứ vào lớp tuổi các cô “đổ xô đi tìm chồng” (husband rush) ở vào khoảng trên dưới hai mươi, hăm lăm, thì các cậu thanh niên Việt xứng đôi vừa lứa để làm chồng các cô họ ở vào khoảng ba mươi tuổi trở lại, cái tuổi xuân sắc, vững chãi. Họ ra đời vào đầu thập niên 70 của thế kỷ trước. Khi lớp tuổi này bắt đầu lớn lên thì cũng không còn chiến tranh. Vậy giờ đây họ đi đâu cả? Để đến nỗi các cô phải bôn ba, bươn chải ra đi tìm đường cứu đói cho gia đình, cho bản thân?
Một sự thật liên quan đến tỷ lệ trai/gái ở Việt Nam hiện nay càng khiến người ta ngạc nhiên tự hỏi. Một công trình điều tra mới đây trong nước cho biết, trong lớp tuổi trẻ em Việt đến các trường tiểu học cứ 100 em gái thì có 110 em trai. Theo thống kê mới nhất năm 2007; tại Việt Nam hiện nay, cứ 100 trẻ sơ sinh gái thì có đến 120 trẻ trai. (Việt Báo Chủ nhật 10/28/07 dựa trên nguồn tin của báo Strait Times).
Nguyên do thì ai cũng hiểu. Do quan niệm “trọng nam kinh nữ” thời xưa còn rơi rớt lại. Khởi đi từ tình trạng lạc hậu của xã hội nông nghiệp lấy con trâu và cái cày làm gốc, sức vóc người đàn ông trong gia đình là chính, nên “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (Có một thằng cu cũng là có, có đến chục cái hĩm cũng bằng không). Thêm vào đó là cái ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa Tàu đè lên xã hội Việt Nam hàng ngàn năm nay. Hễ cái gì Tàu làm là ta lập tức đi theo. Cái gì Tàu nghĩ là ta nghĩ theo. Khi các ông Tàu cộng ban bố chính sách “Mỗi gia đình chỉ một con” thì bên Việt Nam người ta cử ngay một ông đại tướng đứng ra chịu trách nhiệm cấm không cho đàn bà con gái đẻ đái lung tung nữa (Ngày xưa đại tướng cầm quân. Ngày nay đại tướng cầm quần chị em) thì một thảm kịch khác bắt đầu.
Được sự hỗ trợ của kỹ thuật siêu âm, xác định giới tính của thai nhi, người dân thẳng tay đàn áp các bé gái từ trong bụng mẹ. Nếu là thằng cu thì người ta để yên. Nếu là cái hĩm thì cho đi chỗ khác chơi. Nếu trong gia đình chưa có một thằng cu làm vốn thì tất cả những cái hĩm đừng có hòng ngo ngoe ra trước.
Em chờ đợi ai?
Cũng theo thống kê, ngay từ năm đầu tiên nhân loại bước chân vào thế kỷ 21, nước Tàu đã có đến hơn 30 triệu đàn ông dư ra (do chính sách một con). Những anh đàn ông dư này không kiếm được vợ. Theo luật cạnh tranh tự nhiên, những anh chàng không lấy nổi vợ thường là những anh hoặc xí trai, hoặc tàn tật, hay ngay cả không xí trai, nhưng nghèo cũng không hy vọng gì tậu được một cô vợ về nâng khăn sửa túi.
Ở Đài Loan hay Nam Hàn người ta không biết các ông chính phủ các nước này có áp dụng chính sách một con hay không, nhưng những thành phần đàn ông hoặc nghèo, hoặc xí trai cũng rơi vào tình trạng ế vợ.
Vẫn theo các cuộc điều tra, xã hội Tàu Đài Loan, ngoài chuyện vẫn còn chịu ảnh hưởng Nho giáo và phong kiến, trọng nam khinh nữ, còn thêm một lý do khác nữa là phụ nữ nước này càng ngày càng được giải phóng, họ lăn ra xã hội, học hành, làm việc hăng hái không thua nam giới. Một khi đã có tài, có tiền, có địa vị, họ không dễ dàng chịu chấp nhận thua kém quyền lợi với đàn ông. Trong xã hội công nghiệp hóa mạnh như Đài Loan, Nam Hàn, người phụ nữ càng ngày càng ý thức được tư thế của mình. Rất nhiều người chọn lối sống tự do, độc lập; họ không còn cam chịu làm cái máy rửa chén, giặt đồ và đẻ con cho gia đình chồng nữa. Có tiền, có điều kiện họ dễ dàng tham gia các hoạt động giải trí ngoài đời. Ngay cả cái món đàn ông, khi cần, bắt một anh bồ, khi không cần nữa cho de, khỏi bận lòng, vướng vít lôi thôi. Nếu muốn có một đứa con để thủ thỉ cũng không khó, những phụ nữ có tài năng bằng cấp, tiền bạc khi muốn lập gia đình, họ trở nên rất kén chọn. Nếu không lấy được một người chồng biết cách chiều chuộng, thì họ thà ở vậy.
Trước tình hình như vậy, đàn ông Tàu, Nam Hàn kém thế không còn con đường nào khác là sang các nước nghèo, kém mở mang để “mua vợ”. Từ ngữ đúng để chỉ các cuộc hôn nhân dị chủng diễn ra giữa những ông Tàu Đài loan hay những ông Nam Hàn với các cô gái Việt là "mua vợ". Bởi trước đó không có sự giao tiếp giữa trai gái. Các công ty môi giới hôn nhân thực chất là những công ty xuất/nhập cảng hay quảng cáo. Món hàng rao bán là các cô. Vì là món hàng, nên khách mua có quyền đòi hỏi được xem xét kỹ lưỡng, nhận định giá trị: mẫu mã, "phẩm chất", độ bền, triển vọng sản xuất…
Như đã nói, những anh đàn ông Tàu, Nam Hàn không kiếm nổi vợ trong nước, phải ra nước ngoài mua vợ thường cũng chẳng ngon lành gì: nếu không là nông dân, cũng già nua, xấu xí. Nhưng nhờ sống trong một nước có nền kinh tế khá nên có cuộc sống dẫu nghèo ở nước họ, nhưng so với một nước như Việt nam cũng còn hơn nhiều. Chưa kể tình trạng tham nhũng bóc lột của giới chủ ở Việt Nam tàn bạo càng khiến cho những người nghèo Việt Nam càng trở nên nghèo khủng khiếp. Chuyện các cô gái Việt lấy phải chồng già, chồng nghèo, tội phạm và vũ phu đánh đập vợ không phải không ai biết. Nhưng so với những trường hợp các cô lấy chồng ngoại quốc ùn ùn gửi tiền về cho ông bà già xây nhà, sắm xe. Cho đám em có tiền mua sắm áo quần xe cộ, khiến cho những tin tức về các thảm nạn bị chìm lấp. Ngoài ra, nội tình xã hội Việt Nam không phải không tác động đến nhận thức của các cô gái, nhất là gái quê và gia đình họ.
Ở những thôn quê
Khu vực có nhiều cô gái tham gia thị trường buôn bán vợ là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tập trung vào một số tỉnh miền Tây. Tại sao vậy? Ở đây người ta thấy có sự can dự của yếu tố kinh tế cũng như truyền thống. Đồng bằng Nam bộ so với toàn thể đất nước, vốn là vùng đất mới được khai thác từ khoảng hơn một trăm năm nay. Vùng này trước đây vốn là một vựa lúa, vựa tôm cá (Trên cơm dưới cá). Đất đai màu mỡ do sông Cửu Long đem phù sa về bồi đắp hàng năm, nên làm nông nghiệp có nơi người ta không cần dùng phân bón, hay dùng rất ít. Có những loại lúa còn không cần chăm sóc. Tôm cá thì đầy sông rạch. Muốn ăn chỉ việc đem rổ ra đìa xúc một xúc là đủ cho một ngày. Dân ở đây “làm chơi ăn thiệt”. Người viết nghe một ông cụ thuộc thế hệ cha chú kể rằng vào đầu thập niên 50 của thế kỷ trước cụ chạy xe đò ở miền Tây. Có những lần két nước xe bị khô nước, cụ xuống đìa ven đường múc nước đổ vào bình xe. Đôi khi quơ chiếc sô thiếc múc nước lên thấy có một hai con cá nhỏ lọt vào trong sô, phải vớt cá ném xuống đìa trước khi đổ nước vào bình xe. Gạo thóc ăn không hết, người ta đem nấu rượu uống chơi. Người dân không phải lo miếng ăn hàng ngày nên tánh tình cũng trở nên lè phè vô lo và rộng rãi hào phóng. Thời gian trước khi người ta lật đổ Tổng Thống Diệm, người viết có một anh bạn thân làm thày giáo ở miền Tây, anh ta kể dạy học thì chẳng có gì vất vả, nhưng chiều nào dạy học xong cũng bị/được phụ huynh học sinh mời tới nhà ăn nhậu rất mệt; từ chối không được, người ta sẽ nói mình không bình dân, không hòa đồng với dân, có khi họ giận, không thèm cho con đi học nữa. Lâu dần anh mắc chứng nghiện rượu. Sau đổi về Sài Gòn mắc luôn, không bỏ được nữa.
Bây giờ sau bao biến thiên dâu biển của thời cuộc. Đất không còn chiều đãi người. Tôm cá cạn kiệt. Người sinh sôi nảy nở mỗi ngày một đông. Cuộc sống không còn dễ dàng như trước, nhưng hoàn cảnh cũng chưa đủ bức thiết để thay đổi cái “gien” (cái giống) trong con người sinh sống tại vùng đất cũ. Đàn ông con trai vẫn ưa thích ăn nhậu, mặc dù cái tánh rộng rãi hào phóng của cha ông ngày trước có thể đã suy giảm. Đất đai một phần bị thu hẹp, phần bị ô nhiễm. Công việc đồng áng phần nào được cơ giới hóa, thanh niên lớn lên không có việc làm, rồi bị ảnh hưởng của lối sống thị thành, phố xá tỉnh lẻ chạy theo cái hào nhoáng xe cộ áo quần, họ bỏ lên thành phố. Vì không có nghề chuyên môn, nên đa số phải tấp vào các khu vực sản xuất đơn giản hay lăn vào môi trường mánh mung chụp giựt. Thanh niên bỏ đi để lại một lỗ hổng phía nam giới, làm lệch cán cân Nam/Nữ ở thôn quê.
Số còn lại không đi thì sống trong một tình cảnh bế tắc về công ăn việc làm. Do chính sách giá cả chênh lệch, giá trị hạt gạo làm ra không còn bao nhiêu lại bị cơ cấu điều hành của chính quyền bóp nghẹt, phân bón mua vô thì đắt, hạt gạo bán ra thì rẻ, nên làm nông có nghĩa là tự rước cái nghèo vào mình. Những cô gái quê lớn lên nhìn quanh không tìm thấy được bao nhiêu đàn ông. Họ chỉ thấy những người đã trót dại lấy chồng giờ đây phải sống một cuộc sống thiếu thốn cực khổ, con cái nheo nhóc, trong khi ông chồng thì vật vờ, sáng say chiều xỉn. Người phụ nữ nông thôn giờ đây đa số phải làm quần quật để nuôi thân, nuôi con, nuôi ông chồng vô tích sự. Chưa kể, cuộc sống thay đổi, nhưng nếp nghĩ của những người chồng nông dân không thay đổi; vẫn tỏ quyền uy, gia trưởng, vũ phu, đánh đập vợ con.
Con gái lớn lên nhìn thấy lớp đàn chị như thế bảo sao họ không ngán ngẩm? Cộng thêm vào đó thế hệ những bà mẹ trẻ cùng tâm trạng, là động lực đẩy những cô gái ra ngoài làm vợ mua. Người ta thấy không ít gia đình khuyến khích hay cha mẹ bắt buộc con gái phải tham gia các cuộc môi giới lấy chồng nước ngoài. Ra nước ngoài làm vợ người sướng khổ vinh nhục thế nào không ai biết. Nhưng các cô gái hiếu thảo vẫn đều đều gửi tiền về cho cha mẹ. Cuộc sống của gia đình họ quả thực đã có những thay đổi nhìn thấy được. Trước tiên là sửa lại căn nhà ọp ẹp cho cha mẹ. Khá hơn thì phá cái nhà tranh vách đất đi, cất lên ngôi nhà ngói. Có những làng gần hết làng con gái đi lấy Đài loan hay Nam Hàn. Những cô gái “bán mình chuộc cả gia đình” chứ không chỉ “chuộc cha” như cô Kiều của cụ Nguyễn Du, trở thành niềm phấn khích cho lớp đàn em mới lớn. Thỉnh thoảng có những gia đình may mắn có con gái khôn ngoan, gặp chàng rể tốt, đã hoàn toàn đổi đời. Cha mẹ bớt hom hem, nhà cửa khang trang, áo quần xe máy cho các em. Tựu trung dù nhiều dù ít những cô gái chịu hy sinh thân mình ra nước người làm "vợ mua" cũng giải quyết được phần nào tình cảnh bế tắc của gia đình họ. Cho nên nếu có những thảm cảnh của một số những người kém may mắn, bị chồng hành hạ, bị bán cho các ổ mãi dâm, hay phải làm ăn cực khổ nuôi chồng chứ không được chồng nuôi nấng cưng chiều như họ mơ ước, nhưng cũng không đủ cảnh giác những cô gái mới lớn còn ngây thơ, nhìn cuộc đời chỉ thấy màu hồng.
Còn ở thành phố thì sao?
Từ những thành phố tỉnh lỵ của các tỉnh đến Sài Gòn, người ta cũng thấy những tình cảnh tương tợ. Hãy thử lấy Sài Gòn làm thí dụ. Nhiều Việt kiều về Việt Nam đã ghi nhận một thực trạng khá lạ lùng. Có rất nhiều cô gái con nhà đàng hoàng tuổi từ 18 cho đến 35 không kiếm được chồng. Mà không phải là những cô xấu xí hay thất học mới không kiếm được chồng. Hỏi ra, người ta thấy những thành phần chịu ế ẩm nhiều nhất là các cô có nhan sắc trung bình, không xấu nhưng cũng không đẹp lắm. Một số tốt nghiệp đại học hay cao đẳng, có công ăn việc làm đàng hoàng; nhưng vẫn ở vậy. Những cô gái kém nhan sắc và hoàn toàn thất học có khi lại có gia đình. Nhưng nhìn gần lại mới thấy cái gia đình của những người này cũng không phải là những gì đáng mơ ước. Không phải là cứ có chồng là họ đã có được một cuộc sống yên ấm bình thường.
Rất nhiều người “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa”. Thoát ra khỏi vòng tay cha mẹ, nếp sống cô đơn khô khan, họ dấn thân vào một gia đình khác, với cuộc sống bươn chải đầu tắt mặt tối, dưới nách một lũ con và một ông chồng vô tích sự, lè phè, bê tha, thỉnh thoảng không vừa ý lại giở thói vũ phu đánh đập vợ con. Những người đàn ông hoàn toàn không ý thức được mình là cái gì. Họ có một chút giá trị gì không, hay ngoại trừ cái vưu vật xác định giới tính đàn ông ra, họ chẳng có gì hết, dù vật chất hay tinh thần. Họ vừa là nạn nhân vừa là tác nhân tạo nên tình trạng ế ẩm nghèo đói khiến cho con gái, nhất là gái quê phải lăn thân đi lấy chồng ngoại hay sa vào các cạm bẫy buôn người. Đàn ông con trai Việt Nam bây giờ có khi nào tự hỏi vì sao họ không giữ được những người phụ nữ của mình. Vì sao trong cuộc đấu giành hạnh phúc họ đang thua ngay cả những người đàn ông già nua, xấu xí, tàn tật của nước ngoài? Và thua ngay trên sân nhà?
Người ta thấy cuộc sống của rất đông thanh niên Việt Nam trong nước hiện nay là một cuộc sống nghèo nàn về tinh thần. Trừ một số ít ưu tư về tiền đồ dân tộc, tương lai đất nước, có lý tưởng dân chủ, tự do, còn đa số sống ù lì, không lý tưởng. Hay nói đúng ra họ chỉ có một thứ lý tưởng là tiền. Tiền thì ở đâu cũng là mối đam mê của con người, nhưng chỉ ở Việt Nam từ sau năm 1975 nó mới trở nên một sức mạnh ghê gớm. “Tiền là tiên là Phật, là sức bật của tuổi trẻ …” Tiền là vua, như được mô tả trong tác phẩm của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Xã hội tôn thờ tiền, nhưng người ta lại biết rất ít phương cách để làm ra tiền, nhất là những cách làm ra tiền lương thiện. Xã hội chỉ cho thấy có vài ba cách để kiếm ra tiền dễ dàng nhất:
- Một là dùng quyền thế để cướp đoạt của kẻ khác mà người ta gọi chung vào một danh từ tham nhũng.
- Cách thứ hai, làm ăn gian dối lường gạt. Sản xuất hàng gian hàng giả.
- Cách thứ ba là nếu có vốn và khả năng làm ăn thì mở ra một công ty sản xuất một cái gì đó, thành đại gia, mướn người làm công, bóc lột họ để tước đoạt tối đa cái mà các ông tổ Cộng Sản gọi là “thặng dư giá trị.”
Hiện tình ở các công ty do người trong nước làm chủ hay các công ty nước ngoài làm chủ, người công nhân bị bóc lột sức lao động một cách thậm tệ. Họ phải làm việc từ mười cho đến 14, 15 tiếng đồng hồ một ngày với số lương vừa đủ sống một cách đạm bạc sau khi gửi về giúp gia đình chút ít. Trước tình cảnh như vậy, đàn ông con trai không thể mơ tưởng đến chuyện lấy vợ đẻ con. Nếu dồn ép về sinh lý họ tìm đến với gái mãi dâm để giải tỏa áp lực. Còn các công nhân nữ thì dễ dàng rơi vào tay những kẻ có tiền; đó là giới chủ nhân các cơ sở làm ăn, con cái đám viên chức chính quyền, con cái đám đại gia. Trong khi những thanh niên làm ăn chơn chất không dám cưới vợ, thì đám con ông cháu cha, tiền rừng bạc biển do tham ô nhũng lạm, sẵn sàng vung tiền ra ăn chơi, bao gái tơ. Đám cán bộ chức lớn già nua nghĩ ra đủ các chiêu thức ăn chơi “dối già”. Họ vung tiền ra bao các cô sinh viên đại học thơm tho sạch sẽ dưới “vỏ bọc” nuôi con nuôi. Và dĩ nhiên, họ nuôi con gì họ “làm thịt” con nấy. Đám có chức có quyền thay “con nuôi” như thay áo. Những cô gái khác, không có cái may mắn học hành thì gia nhập hàng ngũ tiếp viên ở các nhà hàng, khách sạn, vũ trường để đám con cái cán bộ, đại gia thao túng, làm vợ thuê, vợ bao, vợ hờ. Khi hết thời xuân sắc họ bị ruồng rẫy thải ra các động bán dâm để thỏa mãn những người đàn ông nghèo khó không kiếm được vợ. Đó là nguyên do tạo ra tình trạng gái bán dâm hoạt động khắp nơi. Các loại hình bán dâm phát triển không ngừng.
Câu nói “Sài Gòn là một ổ điếm” mà trong chiến tranh người cộng sản và đám phóng viên nước ngoài gán cho Sài Gòn nhằm bôi nhọ xã hội miền Nam, cho đến bây giờ mới thực sự đúng sau khi cái thành phố này đã đổi tên.
Thành phần những cô gái trung bình về nhan sắc, có chút học vấn, còn chút liêm sỉ đành sống cuộc đời vọng phu, chờ một dịp may kiếm được một ông Tây, hay một “tay” Việt kiều. Hãy ra các quán cà phê ở hải ngoại mà nghe các “tay” nổ chuyện về Việt Nam kiếm bồ nhí, vợ nhí.
Thanh niên Việt trong nước bây giờ rất ít đọc sách. Với dân số hơn 80 triệu nhưng một cuốn sách in ra một lần 500 hay 1000 cuốn thường bán mấy năm mới hết. Thú giải trí của họ bây giờ trước hết là ăn nhậu.
Thú giải trí thứ nhất là ăn nhậu
Cứ chiều chiều là tất cả các quán nhậu đều đông nghẹt thực khách. Nhậu trong quán, nhậu ngoài đường, nhậu ngoài bờ kênh rạch, nhậu nơi các vườn cây, nhậu dọc theo xa lộ. Khắp nơi, từ thành đến tỉnh, tôm cá rời các mâm cơm gia đình tràn ra ngập các quán nhậu. Nông thôn vét hết tôm cá cho thành thị ăn nhậu, cho đến khi các ao đìa sạch bách không còn một con cá, con lươn, con ếnh nào. Rừng núi săn bắt cạn kiệt tất cả các loại thú rừng to nhỏ. Rắn rết, côn trùng cũng không thoát.
Thú giải trí thứ hai là phim bộ
Phim Tàu, phim Hàn. Ngoài những bộ phim kiếm hiệp dài lê thê là những bộ phim truyện mô tả lối sống trưởng giả, nhà cửa tiện nghi hào nháng, áo quần, xe cộ xênh sang cùng những mối tình ướt nhẹp của các diễn viên xinh đẹp. Sau cùng là phim sex.
Các loại phim về các thiên anh hùng ca đi vỡ đất hoang, chống ngoại thuộc từ hàng ngàn năm nay, những hy sinh của cha ông bây giờ hoàn toàn vắng bóng. Thanh niên đắm đuối vào những lối sống hào nhoáng và mơ tưởng. Họ chỉ mơ tưởng nhưng không biết làm sao để đạt đến một lối sống như vậy, trừ giới có tiền, những kẻ đang bóc lột, áp bức họ. Nguyện vọng của thanh niên Việt ngày nay là làm sao lọt vào giai cấp thống trị, trở thành cán bộ, công an. Còn không là những kẻ mánh mung dựa vào những viên chức chính quyền hay giới chủ công ty để kiếm ăn.
Qua một bài viết của một nhà báo trong nước về những cô người mẫu lấy Tây. Theo những tiết lộ của các cô này, đàn ông con trai Việt ngày nay dưới mắt các cô có những đặc tính như sau: Thiếu tự tin.
Đặc tính thứ nhất là thiếu tự tin. Họ không dám khởi động một cuộc làm quen. Đa số tỏ ra thụ động chờ đối tượng khai mào. Kém tự tin, họ không dám tán tỉnh. Không có khả năng chinh phục. Ngày trước thế hệ cha ông họ, người ta đi dê gái, đi tán gái, đi cua theo gái. Theo cách nói ví von của người bình dân thì “Trâu đi tìm cọc”. Bây giờ những con trâu chờ cái cọc tìm đến nó. “Mạnh vì gạo, bạo vì tiền”. Không có tiền họ trở nên nhút nhát, không dám mở lời vì sợ bị từ chối. Có cô bộc bạch “Nhiều đối tượng em rất thích, nhưng chờ mãi không thấy mấy ảnh mở lời. Cho đến khi đi lấy chồng nước ngoài rồi, nghe người khác nói lại mới biết.”
Đặc tính thứ hai là thanh niên Việt bây giờ đa số không lãng mạn. Quan niệm sống tôn thờ tiền bạc vật chất, nếp sống xô bồ thành thị dần dần làm thui chột, chai đá các cảm xúc của họ. Sự sùng bái vật chất; cái xe máy, bộ cánh ngoại và chiếc điện thoại di động là tiêu chuẩn đánh giá một người và là nguồn cảm hứng khiến người ta tìm đến nhau. Nó không còn là mái tóc, ánh mắt, nụ cười hay tà áo dài nữa. Không thời nào câu “Người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân” đúng như thời nay. Con gái không biết ăn mặc áo quần "mô đen" hở hang khiêu khích sẽ bị coi là không hấp dẫn. Áo mặc phải hở ngực, hở lưng, cạp quần phải trễ xuống ngang mông để khi ngồi xổm ăn quà, người nhìn từ trên xuống có thể thấy được cả cái khe sâu hoắm dẫn đến hang hùm. Thành ra con gái càng đàng hoàng nết na, càng khó có chồng. Các cô gái lấy Tây cho biết đa số họ lấy tây không phải vì tiền, mà vì chồng ngoại quốc lãng mạn hơn. Chồng ngoại quốc biết tán tỉnh, biết nịnh đầm, không thô bạo, vũ phu. Trái hẳn với những ông chồng trong nước, đã thiếu bản lãnh, thiếu tự tin, lại nặng đầu óc gia trưởng, trịch thượng, đối xử với vợ con thô bạo, bần tiện, vũ phu.
Cho nên trong xã hội Việt Nam ngày nay, nếu tình trạng trai thiếu gái thừa vẫn còn thì cũng chỉ thừa những người ở lớp tuổi năm mươi trở lên. Lớp phụ nữ đã bị chiến tranh cướp mất người yêu, người chồng. Có nhiều bài phóng sự mô tả những “Mảnh Đất Chuồi”, những cái “Bến Không Chồng” trong đó có khi cả xóm không có được người đàn bà có chồng. Những bà già ở vậy, nhìn tuổi già ập đến trong nghèo khó vất vả, se sắt lạnh trong lòng mỗi khi mùa Đông đến. Họ là những người trước đây mấy thập niên đã hy sinh tuổi thanh xuân lao vào cuộc cách mạng hay làm nữ hộ lý. Bây giờ sau chiến tranh họ bị bỏ rơi, chẳng ai đoái hoài đến họ. Những “chiến sĩ gái” với cả xấp bằng khen và danh hiệu anh hùng được trả lại xóm làng trong hình hài những bà già với hai bàn tay trắng và một nỗi ước mơ một mái nhà êm ấm không bao giờ thành sự thật.
Má ơi đừng gả con xa. Chim kêu vượn hú...
Còn đối với những cô gái đang lứa tuổi thanh xuân hiện nay, gái đâu có thừa, trai đâu có thiếu. Chưa kể, theo những thống kê gần đây cứ 100 bé gái ra đời thì có đến 120 bé trai. Cứ cái đà này, vài chục năm nữa, những đứa trẻ trai này lớn lên chúng tìm đâu ra vợ? Lúc đó người ta sẽ giải quyết tệ nạn này ra sao? Gây ra một cuộc chiến tranh để tiêu bớt số thanh niên thừa? Còn không, những thanh niên lớn lên hừng hực lửa tình sẽ trở thành mối nguy cho xã hội. Những tệ nạn hãm hiếp, cướp bóc, mãi dâm. Nếu Việt Nam vẫn là một nước nghèo nhất trong khu vực thì họ sẽ đi đâu mua vợ, như những người đàn ông Đài Loan, hay Nam Hàn hiện nay? Sang Campuchia hay Lào chăng? Đã chắc gì những quốc gia này vẫn còn nghèo đói hơn Việt Nam? Vậy họ sẽ đi đâu? Ai mà biết được.
Một khi mà câu hỏi hiện nay “Trai Việt Nam đi đâu cả?” chưa có lời giải đáp.
Thành Văn
Chú rể ngoại bị lừa lấy người Việt đã có chồng Một người đàn ông Malaysia choáng váng sau khi biết cô vợ Việt xinh đẹp mà anh vừa kết hôn đã có chồng ở quê nhà. Tan (trái) giơ ảnh cưới của anh với Ah Hoong và tấm ảnh cưới của cô cùng người chồng cũ. Ảnh: Malaysia Star.
Tan Ching Seng, chủ một cửa hàng ở Kuala Lumpur, cho biết anh phải lòng cô Nguyễn Thị Vinh ngay từ cái nhìn đầu tiên. "Tôi sung sướng chờ mong một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Tôi nghĩ Chúa lòng lành đã mang đến cho tôi người phụ nữ hấp dẫn này", Tan nói về cô vợ mà anh và gia đình gọi là Ah Hoong.
Thế nhưng, giấc mơ của anh sụp đổ khi nghe tin dữ từ Ah Hoong. "Tôi chẳng biết làm sao khi cô ấy nói đã có chồng từ năm 2006", tờ Malaysia Star dẫn lời Tan hôm qua cho biết.
Tan, 30 tuổi, phải trả 5.200 USD cho người môi giới để cưới Ah Hoong, 25 tuổi. Anh cho biết Ah Hoong về Việt Nam từ ngày 3-3 khi bà của cô qua đời và đáng lẽ sẽ phải trở lại vào ngày 10-3. "Mãi một tháng sau tôi mới liên lạc được với cô ấy và rồi được nghe tin động trời. Ah Hoong bảo cô ấy bị lừa. Cô ấy cứ tưởng sẽ đi làm ở đây chứ không phải lấy chồng", Tan kể.
Ah Hoong cũng gửi cho Tan bản sao giấy kết hôn của cô và một bức ảnh cưới chụp ở Việt Nam. "Sứ quán Việt Nam khẳng định giấy tờ là thật", anh nói.
Tan đăng ký kết hôn với Ah Hoong vào tháng 12 năm ngoái. Gia đình anh chuẩn bị làm lễ cưới cho họ năm nay. Anh nói tha thứ cho Ah Hoong vì cô cũng chỉ là nạn nhân song muốn đòi tiền từ người môi giới. Anh đã phải vay của họ hàng để có được số tiền đó. "Đây là lần đầu và cũng là lần cuối tôi nhờ người môi giới", Tan nói.
Tờ Malaysia Star cho hay những người môi giới này - một cặp vợ chồng người Việt - không làm ăn hợp pháp. Khi Tan nói chuyện với họ vài ngày trước, bà vợ khẳng định không biết Ah Hoong đã có chồng dù họ là hàng xóm. Bà này cho rằng Ah Hoong đã làm giả giấy tờ kết hôn và ảnh để lừa Tan là có chồng rồi.
Giới chức Malaysia hứa sẽ giúp Tan tìm lại công lý nếu những người môi giới không giải quyết mọi chuyện ổn thỏa.
Chú rể ngoại bị lừa lấy người Việt đã có chồng Một người đàn ông Malaysia choáng váng sau khi biết cô vợ Việt xinh đẹp mà anh vừa kết hôn đã có chồng ở quê nhà, nạp đơn kiện chính phủ CSVN vì nghi có sự đồng lõa lừa bịp.  Tan (trái) giơ ảnh cưới của anh với Ah Hoong và tấm ảnh cưới của cô cùng người chồng cũ. Ảnh: Malaysia Star.
Tan Ching Seng, chủ một cửa hàng ở Kuala Lumpur, cho biết anh phải lòng cô Nguyễn Thị Vinh ngay từ cái nhìn đầu tiên. "Tôi sung sướng chờ mong một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Tôi nghĩ Chúa lòng lành đã mang đến cho tôi người phụ nữ hấp dẫn này", Tan nói về cô vợ mà anh và gia đình gọi là Ah Hoong.
Thế nhưng, giấc mơ của anh sụp đổ khi nghe tin dữ từ Ah Hoong. "Tôi chẳng biết làm sao khi cô ấy nói đã có chồng từ năm 2006", tờ Malaysia Star dẫn lời Tan hôm qua cho biết.
Tan, 30 tuổi, phải trả 5.200 USD cho người môi giới để cưới Ah Hoong, 25 tuổi. Anh cho biết Ah Hoong về Việt Nam từ ngày 3-3 khi bà của cô qua đời và đáng lẽ sẽ phải trở lại vào ngày 10-3. "Mãi một tháng sau tôi mới liên lạc được với cô ấy và rồi được nghe tin động trời. Ah Hoong bảo cô ấy bị lừa. Cô ấy cứ tưởng sẽ đi làm ở đây chứ không phải lấy chồng", Tan kể.
Ah Hoong cũng gửi cho Tan bản sao giấy kết hôn của cô và một bức ảnh cưới chụp ở Việt Nam. "Sứ quán Việt Nam khẳng định giấy tờ là thật", anh nói.
Tan đăng ký kết hôn với Ah Hoong vào tháng 12 năm ngoái. Gia đình anh chuẩn bị làm lễ cưới cho họ năm nay. Anh nói tha thứ cho Ah Hoong vì cô cũng chỉ là nạn nhân song muốn đòi tiền từ người môi giới. Anh đã phải vay của họ hàng để có được số tiền đó. "Đây là lần đầu và cũng là lần cuối tôi nhờ người môi giới", Tan nói.
Tờ Malaysia Star cho hay những người môi giới này - một cặp vợ chồng người Việt - không làm ăn hợp pháp. Khi Tan nói chuyện với họ vài ngày trước, bà vợ khẳng định không biết Ah Hoong đã có chồng dù họ là hàng xóm. Bà này cho rằng Ah Hoong đã làm giả giấy tờ kết hôn và ảnh để lừa Tan là có chồng rồi.
Giới chức Malaysia hứa sẽ giúp Tan tìm lại công lý nếu những người môi giới không giải quyết mọi chuyện ổn thỏa.
|
|