Bỗng dưng vào dịp kỷ niệm ngày 30-4 năm nay, sau 35 năm miền Bắc xé bỏ “Hiệp Định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ký ngày 27/01/1973 tại Ba Lê để đánh chiếm miền Nam bằng võ lực rồi đặt cả nước dưới quyền cai trị độc tài của đảng Cộng sản Việt Nam thì nhiều người trong và ngòai chính quyền ở Việt Nam lại lên tiếng than như thở hắt ra rằng : tại sao cho đến bây giờ mà hai bên, kẻ thắng và người bại, vẫn chưa hòa hợp và đòan kết được với nhau?
Nhưng trước khi trả lời cho câu hỏi “tại sao chúng ta đã có thể gác lại qúa khứ với kẻ thù mà chưa hòa hợp và đòan kết được với người cùng con một Mẹ” thì người Cộng sản hãy sờ lên gáy mà tự hỏi : “Vì đâu mà người ta chưa tin tôi và tôi có tội tình gì với dân tộc không, tôi có kỳ thị, có nói mà không làm, hay có đúng tôi chỉ muốn bắt tay với những người sẽ tùng phục và làm theo lệnh của tôi nên chưa ai muốn ngồi chung bàn với tôi?”
Bà Nguyễn Thị Bình
Trước khi bàn thêm nữa, hãy đọc ít lời của Bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Bộ trường Ngọai giao của cái gọi là Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (có tên gọi quen thuộc là Việt Cộng) và nguyên Phó Chủ tịch Nước.
Bà Bình nói với báo Tuần Việt Nam ngày 28-4 (2010) : “Về vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc: thực tế là từ đầu, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam đã giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc nhằm tập hợp mọi người Việt Nam không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, cùng nhau chống xâm lược, bảo vệ độc lập và thực hiện thống nhất nước nhà.
Cuộc chiến đấu càng thắng lợi, kẻ thù càng suy yếu, cô lập là cơ hội cho nhiều lực lượng chính trị ở Miền Nam chống Mỹ, không tán thành chính quyền Thiệu… được hình thành. Có thể xem đây là quá trình phân hóa, hòa giải….
Và năm 1972, sau 4 năm đàm phán tại hội nghị Paris, các bên đã đi đến thỏa thuận: Mỹ sẽ rút quân hoàn toàn ra khỏi Miền Nam; còn vấn đề chính trị Miền Nam sẽ do các bên Việt Nam giải quyết. Để thực hiện điều nầy, một Hội đồng hòa giải, hòa hợp dân tộc sẽ được thành lập để chuẩn bị cuộc Tổng tuyển cử ở Miền Nam. Hội đồng hòa giải, hòa hợp dân tộc gồm 3 thành phần: chính quyền Sàigòn, chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam và các lực lượng chính trị khác.
Chúng ta giành thắng lợi hoàn toàn ngày 30/4 với kết quả một thành phố Sài Gòn nguyên vẹn và sau giải phóng Miền Nam, không hề có “tắm máu” chính là nhờ chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Hòa giải, hòa hợp dân tộc xuất phát từ truyền thống khoan dung, nghĩa nghĩa tình của dân tộc ta từ xưa.”
AI ĐẺ RA MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG ?
Bà Bình nói như nước chảy mà không biết mình đã bóp méo lịch sử rất vụng về.
Thứ nhất, tổ chức được gọi là Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) ra đời ngày 20 tháng 12 năm 1960, chẳng qua cũng chỉ là tổ chức ngọai vi của đảng Cộng sản Việt Nam. Việc thành lập tổ chức này đã được thảo luận trong Đại hội toàn quốc lần thứ 3 của Đảng Lao động Việt Nam (5-10/09/1960), đổi tên thành đảng Cộng sản sau này.
Theo tài liệu phổ biến chưa hề bị phủ nhận thì : “Tại đại hội, Tôn Đức Thắng (Chủ tịch Nước) đã nói rằng Mặt trận sẽ được dựa trên các khái niệm của Lenin về liên minh 4 giai cấp, nhưng để phù hợp với sự phức tạp của xã hội miền Nam, Mặt trận cần bao gồm cả các nhóm tôn giáo và dân tộc khác nhau; mục tiêu đấu tranh của Mặt trận phải rộng để kêu gọi được đông đảo quần chúng; Mặt trận cần nhấn mạnh các chủ trương dân tộc và cải cách, đặt ra mục tiêu cuối cùng là sự xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, dân chủ và phồn vinh. Cũng như tiền thân Việt Minh của nó, Mặt trận mới này sẽ cần được tổ chức thành nhiều cấp, từ ủy ban trung ương đến các tổ chức ở cấp làng; chủ nghĩa cộng sản sẽ không được nói đến. Mặt trận đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam và Trung ương cục Miền Nam. Những người cộng sản miền nam hoạt động dưới danh nghĩa Đảng Nhân dân cách mạng Việt Nam, hoạt động công khai và là thành viên tham gia Mặt trận.”
Trong khi đó, Báo cáo Chính trị của Lê Duẩn, Tổng Bí thư đảng lúc đó viết : “Hiện nay, Đảng ta đang đứng trước những nhiệm vụ lớn lao: đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, củng cố miền Bắc thành cơ sở ngày càng vững chắc cho cuộc đấu tranh giành thống nhất Tổ quốc; ra sức hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị tàn bạo của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai; thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt-nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.”
Ai đẻ ra Mặt trận Giải phóng Miền Nam? Sau cùng là Nghị quyết của Đại hội III đã xác nhận chủ trương xâm lăng miền Nam của Hồ Chí Minh nhằm 2 mục tiêu : “Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.” (Nghị quyết ngày 10-9-1960)
Như vậy rõ ràng MTGPMN chỉ “có tiếng mà không có miếng”. Vì vậy khi chính phủ miền Bắc quyết định đem quân xâm lăng miền Nam thì Quân đội Nhân dân đã biến thành Quân đội Giải phóng để che mắt thế giới. Vì vậy, không ai thấy lá cờ đỏ sao vàng của miền Bắc trưng lên ở trong Nam trong suốt 20 năm chiến tranh.
Mãi cho đến sau khi có cuộc tổng tuyển cử trong cả nước được thực hiện ngày 25 tháng 4 năm 1976 đưa đến việc thành lập nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do đảng CSVN độc tôn, độc quyến lãnh đạo thì lá cờ này mới trưng ra ở trong Nam.
Lá cờ hai màu xanh, đỏ với ngôi sao vàng ở giữa của MTGPMN và Chính phủ Việt Cộng của Bà Bình đã bị ném vào sọt rác không chút tiếc thương cho những con người Việt Nam đã khuất vì sự lừa dối của lá cờ này.
Cái “Chính phủ” Việt cộng của Bà cũng tan hàng rã đám không kèn không trống từ đây. Sau đó, đến phiên tổ chức có vỏ mà không có ruột MTGPMN đã phải âm thầm ngậm miệng cay đắng được cho phép chui vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho an phận kể từ ngày 31 tháng 1 năm 1977.
Cũng rất mỉa mai là hành động “biến anh bộ đội thành anh lính giải phóng” dối trá này đã không che được mắt nhân dân Việt Nam ở cả hai miền đất nước. Vì vậy khi người ta thấy anh lính “bộ đội giải phóng giả” ngồi trên chiếc xe tăng phất cờ của Chính phủ giả mạo “Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” tiến vào sân Dinh Độc Lập ở Sài Gòn ngày 30-4-1975 thì hình ảnh “chiến thắng” ấy đã trở thành trơ trẽn, kệch cỡm và bẽ bàng nhất trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến.
Lính “bộ đội giải phóng gỉa” ngồi trên chiếc xe tăng phất cờ của
chính phủ giả mạo “Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” Cần nhắc lại là tháng 6/1969 đảng CSVN đã đẻ ra cái Chính phủ ma “Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, sau cuộc tấn công thất bại nhưng đẫm máu giết hại dân lành vô tội hơn lính Việt Nam Cộng hòa nhưng lại được người Cộng sản hô hóan lên là “cuộc tiến công nổi dậy” của đồng bào miền Nam vào dịp Tết Nguyên đán Mậu Thân năm 1968.
Chính phủ “du mục” này được thành lập do kết hợp giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam do Trịnh Đình Thảo làm chủ tịch.
Sự nhục nhã bị hòa vào với miền Bắc để nhận sự kìm kẹp và kiểm soát không nương tay của đảng CSVN đã khiến cho những người kháng chiến cũ trong Nam tiêu biểu như hai ông Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn bất bình.
Thứ nhì, khi Bà Bình tự tuyên dương cho chủ trương hòa giải, hòa hợp dân tộc của MTGPMN và nói rằng “Cuộc chiến đấu càng thắng lợi, kẻ thù càng suy yếu, cô lập là cơ hội cho nhiều lực lượng chính trị ở Miền Nam chống Mỹ, không tán thành chính quyền Thiệu… được hình thành” là Bà đã tự biên, tự diễn.
Lực lượng Công sản chỉ có cơ hội tiến quân chiếm Sài Gòn, sau ngày các bên ký Bản Hiệp định Paris 1973, khi người Hoa Kỳ, đồng minh chính yếu của VNCH quyết định bỏ cuộc và giảm viện trợ cho miền Nam từ trên 1 tỷ dollars xuống còn lối 700 triệu. Trong khi quân Cộng sản tiếp tục được khối Liên Xô và Trung Hoa viện trợ súng đạn và lương thực cho quân tiến đánh miền Nam, khi chữ ký của Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Ngoại giao của miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) chưa ráo mực tại bàn hội nghị ngày 27-01-1973.
Do đó, khi Bà Bình nói rằng : “Cuộc chiến đấu càng thắng lợi, kẻ thù càng suy yếu, cô lập là cơ hội cho nhiều lực lượng chính trị ở Miền Nam chống Mỹ, không tán thành chính quyền Thiệu…” là Bà không nói thật. Bởi vì ở trong Nam trong thời kỳ chiến tranh, ngoài các nhóm quần chúng và tôn giáo bị cán bộ Cộng sản nằm vùng xâm nhập, gây rối lẻ tẻ, không có “lực lượng chính trị nào” có khả năng lấn át chính quyền VNCH, nói chi đến thành phần không hề có quần chúng ủng hộ là “Lực lượng thứ Ba” của nhóm Tổng thống hàng giặc, Dương Văn Minh.
Thứ ba, khi Bà Bình khoe rằng Sài Gòn, sau ngày 30-4-1975 “không hề có “tắm máu” chính là nhờ chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta” thì Bà cũng cố tình không nói đến những hình thức “tằm máu” khác. Đó là chính sách đánh lừa hàng trăm ngàn quân-cán-chính của VNCH đem đi tập trung cải tạo-lao động làm cho không biết bao nhiêu người miền Nam phải bỏ thây nơi rừng thiêng, nước độc, gia đình tan nát.
Tập trung cải tạo
Ðuổi dân đi kinh tế mới Rồi Bà cũng không nhớ gì đến hàng ngàn gia đình của những người bị đi tù “cải tạo” đã bị đấy đọa đói khổ ở các khu đất “người không qua, ma không tới” có tên mỹ miều là “vùng kinh tế mới”?
Bà cũng cố tình nhắm mắt trước nạn hải tặc tấn công và sóng dữ làm chết cà trăm ngàn thuyền nhân, trong số có cả ngàn đàn bà, trẻ em vô tội vượt biển tìm tự do sau 30-4-1975.
Còn tội ác 10 năm kinh tế kiệt quệ, phá sản của người Cộng sản đã bắt dân phải hứng chịu từ 1975 đến 1986 thì Bà Bình đổ cho ai?
Hơn nữa, Bà cũng cần phải tự hỏi mình câu này : Nếu miền Bắc không xua quân xâm lăng miền Nam thì làm gì có chuyện Quân đội Mỹ và quân đội ngoại quốc khác phải nhẩy vào cuộc chiến giúp nhân dân VNCH bảo vệ miền Nam ?
LỰC LƯỢNG THỨ BA
Khi được hỏi về thành phần lực lượng thứ ba trong cuộc chiến và lý do tại sao chưa thấy ai viết gì về “công lao” của những người này, Bà Bình ngụy biện : “Nhiều người ngại nói đến lực lượng ba… Theo tôi lực lượng này đã có sự đóng góp nhất định vào thắng lợi của nhân dân ta. Đó là một thực tế.
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, do Luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Chủ tịch, là tổ chức rộng lớn được thành lập theo chủ trương của Đảng. Năm 1969, có Liên minh các lượng dân tộc, dân chủ, hòa bình của Luật sư Trịnh Đình Thảo ra đời.
Đến năm 1972, nhiều cá nhân và nhóm chính trị rất đa dạng được hình thành: Có ngưới và nhóm do Mặt trận vận động tổ chức, có cá nhân, nhóm không có liên hệ với Mặt trận, nhưng hoạt động hướng theo mục tiêu đấu tranh của Mặt trận… Đó là lực lượng ba. Bà Ngô Bá Thành, Luật sư Trần Ngọc Liểng… là một trong những lực lượng đó. Trong nhóm ông Dương Văn Minh cũng có người của lực lượng ba ..v.v..
Từ Pháp, một số số Việt kiều do chúng ta vận động cũng đã về miền Nam, như bà Tôn Nữ Thị Ninh, anh Trần Hà Anh, chị Thái Thị Ngọc Dư…”
Tất cả những thành phần theo đóm ăn tàn này đều vô danh tiểu tốt không đại diện cho ai. Họ không có quần chúng và chỉ biết dựa hơi vào một số Tu sĩ tôn giáo biết lợi dụng chiến áo vỏ tu để hoạt động chính trị như một số tu sỹ Chùa Ấn Quang và Thượng tọa Thích Trí Quang, Nư sư Hùynh Liên hay phía Công giáo của nhóm Linh mục Phan Khắc Từ.
Phóng viên của Tuần Việt Nam hỏi tiếp : “Thưa bà, vì sao dần dần lực lượng thứ ba ít được nhắc tới?”.
Bà Bình vá víu : “Khi chiến tranh chấm dứt, hòa bình được lập lại, giang sơn thu về một mối, Mặt trận xem nhiệm vụ lịch sử của mình đã hoàn thành, cùng với Mặt trận Tổ quốc ở miền Bắc, thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Nước CHXHCN Việt Nam cũng từ đó ra đời. Tình hình của Liên minh và các tổ chức khác cũng như vậy.”
Ngoài ra còn có một nguyên do khác là không phải ai cũng hiểu về đấu tranh bí mật. Vì không nắm được thông tin nên có những người ngại nói về nó.”
Đúng ra là “lực lượng thứ ba” chỉ có cái tên được dựng lên bởi các phần phần tử cơ hội chính trị muốn được nổi tiếng hay chia phần khi chiến tranh kết thúc. Do đó, họ bị nhân dân khinh thường và bị thời gian và lịch sử đào thải là chuyện không đáng ngạc nhiên.
TẠI SAO CHƯA AI MUỐN VỀ GIÚP VN?
Báo Tuần Việt Nam hỏi : “Khi nói về mục tiêu hòa hợp dân tộc, có thể thấy đó là nỗi khắc khoải của số đông người dân Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài. Có người gợi ý, nên chăng những người chiến thắng – những người trong nước, nên chìa tay ra trước?”
Bà Bình che dấu sự thiếu thành thật của đảng CSVN : “Nhiều người từng ra đi, đã trở về. Dĩ nhiên cũng còn nhiều người vẫn chưa hiểu rõ chính sách của Nhà nước, hoặc còn mặc cảm… hoặc có một số, tôi tin không nhiều, vẫn giữ một thái độ thù địch đối với chế độ, đối với đất nước.
Nếu nghĩ rằng những người “chiến thắng” phải chủ động ra tay trước, thì thực tế Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã chìa tay ra, tạo điều kiện để người Việt Nam khắp nơi có thể trở về, xây dựng quê hương.
Với Mỹ, chúng ta sẵn sàng “gác” qua khứ, để hợp tác, nhìn về tương lai, thì không lý do gì, với người cùng một dân tộc, cùng một tổ quốc, mà không thể hòa hợp, đoàn kết với nhau để xây dựng tương lai cho đất nước mình.”
Nói như Bà Bình thì chính sách được gọi là “hòa hợp” hay “đòan kết dân tộc” của đảng CSVN có gì bí hiểm đâu mà “chưa hiểu rõ” ?
Người Việt lưu vong không muốn trở về giúp nước vì đảng đã chứng minh thiếu thành thật qua Nghị quyết 36-NQ/TW: “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”, ban hành ngày 26 tháng 3 năm 2004.
Điểm then chốt là đảng CSVN chỉ muốn “hòa hợp” vào với đảng mà chưa muốn “hòa giải” thật lòng với mọi người, kể cả những người bất đồng ý kiến trong nước và đang sống trong lòng chế độ.
Các vụ đán áp những người đấu tranh bất bạo động yêu cầu nhà nước thực thi các quyền hiến định như dân chủ, tự do và tự do tôn giáo đã chứng minh nhà nước không coi Hiến pháp và các luật lệ ra gì.
Khi nhà nước nói tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do được thông tin của người dân thì lại không cho ra báo tư nhân. Khi đảng nói nhà nước ta là nhà nước pháp quyền thì lại chà đạp lên pháp luật mà đi. Và khi nhà nước khoe có dân chủ và tự do thì tại sao lại sợ phải tranh cử với một đảng thứ hai ?
Ngoài ra khi Bà Bình khoe đảng đã “chìa tay ra” để đón “Việt kiếu” về thăm quê hương nhưng có bao nhiêu người đã quay về giúp nước ?
Con số trên 300 ngàn Trí thức Việt Nam có khả năng đa dạng ở nước ngòai là nguồn tài sản cả đời đảng cũng chưa đào tạo được. Nhưng nhà nước đã có chính sách và lòng thành thật “chiêu hiền đãi sĩ” chưa hay chỉ muồn lợi dụng, vắt chanh bỏ vỏ và ganh tị như là một thói quen xấu ra trong tư duy chưa gột sạch được ?
Vì vậy, khi nói đến “hòa hợp” thì phải biết hòa hợp với ai, hay “hòa giải” cái gì chứ không thể nói suông hay nói cho sướng miệng mà trong lòng anh lại giấu sẵn cả trăm ngàn con dao lưỡi bén để chờ cơ hội ăn tươi nuốt sống người ta. -/-
Phạm Trần
(Trao đổi cùng bà Đỗ Ngọc Bích)
Thưa bà Đỗ Ngọc Bích!
Tôi đã đọc các bài phản hồi của độc giả, bài viết và bài trả lời độc giả của bà và thấy rằng : Cả hai bài viết của bà đều hội đủ ba đặc điểm dốt nát, láo xược, gây nguy hại cho chủ quyền đất nước. Vì lẽ đó nên bài của bà thu hút được nhiều lời “chửi rủa” tới mức kỷ lục. Người không muốn tranh luận với kẻ dốt nát thì thấy láo xược nên phải nói. Người không chấp sự láo xược nhưng thấy nó nguy hại cho chủ quyền đất nước nên cũng phải nói. Đây là điểm mà bà đã hơn hẳn nhân vật Chí Phèo ở làng Vũ Đại trong truyện “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao. Nội dung bài viết của bà đề cập đến nhiều vấn đề khiến độc giả tức giận. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này tôi chỉ muốn trao đổi với bà một nội dung đó là ta cùng trả lời câu hỏi: Trung Quốc với tư cách là một nước láng giềng, quan hệ nhiều với Việt nam liệu có ân huệ với Việt Nam tới mức “khá nhiều”(như lời của bà) để những người Việt Nam phản đối bài xích Trung Quốc trong đó có tôi phải chịu tiếng là vô ơn hay không? Nếu câu trả lời là có thì bà được minh oan một phần trong bài viết. Còn ngược lại những lời “chửi rủa” dành cho bà là hoàn toàn xứng đáng. Trước khi trả lời câu hỏi bằng cách điểm lại những gì Trung Quốc đã làm cho Việt Nam rồi xem nó có phải là là ân huệ ta hãy thống nhất thêm một số điểm sau:
1)Việc kể sót ân huệ người khác ban cho cũng là vô ơn nên dù bà chỉ nói đến những ân huệ của Trung Quốc dành cho Việt Nam từ 1950 đến 1975 nhưng tôi thấy cần thiết phải bổ sung thêm cả các thời gian trước và sau nữa mới đầy đủ.
2) Chắc bà biết quan hệ giữa hai nhà nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc hiện nay là “hữu nghị, 4 tốt, 16 chữ vàng” do vậy những trích dẫn để nói về “ân huệ của Trung Quốc với Việt Nam” trong các tài liệu của đảng cộng sản Việt Nam sẽ mang tính khách quan và thuyết phục hơn các trích dẫn từ các tài liệu khác.
Trong đêm dài nghìn năm Bắc thuộc, sử Việt Nam đã ghi rõ những tội ác của các triều đình phong kiến Trung Quốc. Đó là bắt dân phải lên rừng thiêng nước độc lấy ngà voi, hoặc ra biển mò ngọc trai về cống nạp. Sự tàn bạo, độc ác đã được mô tả trong “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ dưới hầm tai vạ
… Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội
Dơ bẩn thay nước Đông Hải không rửa sạch mùi”. Hậu quả của sự bóc lột hà khắc đó là những cuộc khởi nghĩa của dân tộc Việt liên tiếp nổ ra bất chấp sự đàn áp khốc liệt của các triều đại phong kiến xâm lược Trung Quốc.
Sau khi giành được độc lâp, dân tộc Việt lại phải liên tiếp đương đầu với các cuộc xâm lược bành trướng của phong kiến Trung Quốc. Và lịch sử, cạnh những trang ca ngợi chiến công chống các đội quân xâm lược Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh thì cũng có những trang kể tội bè lũ xâm lược phương Bắc. Không ít lần những đạo quân thất trận được đối xử tử tế, được người chiến thắng cấp cho cả thuyền bè, lương thực để trở về.
Đó là ân huệ của ai ban cho ai? Xin bà hãy tự trả lời.
Một điểm nữa mà có lẽ bà nghiên cứu sinh có thể còn băn khoăn là việc truyền bá chữ nho, đạo nho vào Việt Nam phải chăng là công cuộc khai hóa văn minh cho Việt Nam phải chăng là một ân huệ?
Hiện nay đã có những bằng chứng để từ chỗ nghi ngờ tiến tới khẳng định: chữ Hán của Trung Quốc có nguồn gốc từ chữ nôm của Việt Nam. Hơn nữa việc truyền bá chữ nho, đạo nho của phong kiến Trung Quốc còn có mục đích là đồng hóa dân tộc ta. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra : Chính nho giáo cùng chế độ phong kiến đã là rào cản công cuộc canh tân của Việt Nam và Trung Quốc khiến cho cả hai nước đều bị lạc hậu. Trong nghìn năm Bắc thuộc ý chí quật cường đã giúp dân tộc Việt tồn tại, giữ gìn được bản sắc, không bị đồng hóa, đánh đuổi quân xâm lược giành độc lập.
Do vậy nếu có bắt buộc phải nói ân huệ của Trung Quốc trong thời gian này thì chỉ có thể nói đó là ân huệ về việc các nhà nước phong kiến đã rèn cho dân tộc ta chí khí quật cường chống ngoại xâm mà thôi.
Năm 1949 đảng cộng sản Trung Quốc giành được chính quyền, nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập. Từ năm 1950 theo yêu cầu của đảng cộng sản Việt Nam Trung Quốc đã không ngừng viện trợ vũ khí và cả người(dưới hình thức cố vấn) cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Cuốn sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam Trung Quốc 30 năm qua” do đảng cộng sản Việt Nam xuất bản đã chỉ rõ “Trung Quốc là nước cung cấp nhiều vũ khí nhất cho Việt Nam vào cuối cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp. Những người lãnh đạo Trung Quốc đã lợi dụng tình hình đó để đứng ra làm người thương lượng chủ yếu đối với đế quốc Pháp, câu kết với chúng và cùng nhau thoả hiệp về một giải pháp có lợi cho Trung Quốc và Pháp, không có lợi cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia. Họ đã hy sinh lợi ích của nhân dân ba nước ở Đông Dương để bảo đảm an ninh cho Trung Quốc ở phía nam, để thực hiện mưu đồ nắm Việt Nam và Đông Dương, đồng thời để có vai trò là một nước lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, trước hết là ở châu Á. Trong Hội nghị Giơnevơ năm 1954 mà phần đầu dành cho vấn đề Triều Tiên, nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa lần đầu tiên xuất hiện ngang hàng với bốn cường quốc uỷ viên thường trực của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc. Đó là một cơ hội tốt cho những người lãnh đạo Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực châu Á và châu Phi. Đồng thời, họ tìm cách bắt tay với đế quốc Mỹ qua các cuộc thương lượng trực tiếp bắt đầu Giơnevơ, về sau chuyển sang Vacsava”.
Sau kháng chiến chống Pháp một loạt các chủ trương chính sách sai lầm của nhà nước cộng sản Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng. Những chủ trương chính sách này đều là những chủ trương chính sách hoặc bị áp đặt, hoặc bắt chước dập khuôn theo của Trung Quốc. Đó là cuộc cải cách ruộng đất giết oan hàng vạn người. Là việc bắt bớ, đày ải các văn nghệ sĩ chân chính qua vụ án nhân văn giai phẩm làm thui chột nền văn nghệ nước nhà. Là phong trào hợp tác hoá làm cho nông thôn Việt Nam tiêu điều, xơ xác,…
Liệu có thể gọi đó là những ân huệ gián tiếp mà Trung Quốc đã ban cho Việt Nam được không thưa bà?
Trong cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc, cạnh việc viện trợ vũ khí, lương thực và các vật dụng chiến tranh cho Việt Nam, Trung Quốc luôn coi Việt Nam là con bài để mặc cả với Mỹ nhằm có lợi cho mình. Vẫn theo cuốn sách trên“Lợi dụng sự suy yếu của đế quốc Mỹ và chiều hướng chính sách của chính quyền Nichxơn, những người lãnh đạo Trung Quốc tăng cường chống Liên Xô và thoả hiệp với Mỹ, giúp Mỹ giải quyết vấn đề Việt Nam để cố tạo nên thế ba nước lớn trên thế giới theo công thức của Kitxinhgơ về “thế giới nhiều cực”, trong đó một trong ba cực lớn là Trung Quốc, xoá bỏ “thế hai cực” Mỹ và Liên Xô đã hình thành sau chiến tranh thế giới thứ hai, đồng thời dùng vấn đề Việt Nam để đổi lấy việc Mỹ rút khỏi Đài Loan. Do đó, họ lật ngược chính sách liên minh, bắt đầu từ việc coi Liên Xô là kẻ thù chủ yếu, gây ra xung đột biên giới với Liên Xô tháng 3 năm 1969, đến việc phản bội Việt Nam lần thứ hai, buôn bán với Mỹ để ngăn cản thắng lợi hoàn toàn của nhân dân Việt Nam”..
Sau năm 1975 đất nước thống nhất, Trung Quốc đã dung túng, giúp đỡ, bảo kê cho chế độ diệt chủng của Khơ me đỏ không những gây ra nạn diệt chủng giết hại 3 triệu người Căm Phu Chia mà còn quấy nhiễu, tàn sát gây nhiều tội ác với đồng bào ta ở biên giới Tây Nam. Tháng 2/1979 với lý do “dạy cho Việt Nam một bài học” nhà nước cộng sản Trung Quốc đã phát động cuộc chiến tranh biên giới gây ra những tội ác tày trời với đồng bào các tỉnh biên giới.
Nếu bà tiến sĩ tương lai chưa rõ có thể tìm các tài liệu viết về cuộc chiến tranh biên giới để tìm thêm những “ân huệ” của Trung Quốc mà bà không biết.
Tổng kết cái thời gian mà bà tiến sĩ tương lai nói là có “khá nhiều ân huệ của Trung Quốc dành cho Việt Nam” có thể tóm tắt “Trong 30 năm qua, những người lãnh đạo Trung Quốc coi Việt Nam là một trong những nhân tố quan trọng hàng đầu đối với chiến lược của họ, luôn luôn tìm cách nắm Việt Nam. Muốn như vậy, nước Việt Nam phải là một nước không mạnh, bị chia cắt, không độc lập và lệ thuộc Trung Quốc. Trái lại, một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và giàu mạnh, có đường lối độc lập tự chủ và đường lối quốc tế đúng đắn là một cản trở lớn cho chiến lược toàn cầu của những người lãnh đạo Trung Quốc, trước hết là cho chính sách bành trướng của họ ở Đông Nam châu Á. Đó là nguyên nhân vì sao trước đây họ vừa giúp, vừa kiềm chế cách mạng Việt Nam, mỗi khi Việt Nam đánh thắng đế quốc thì họ lại buôn bán, thoả hiệp với đế quốc trên lưng nhân dân Việt Nam; vì sao từ chỗ giấu mặt chống Việt Nam họ đã chuyển sang công khai thù địch với Việt Nam và đi tới trắng trợn tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam” (“Sự thật về quan hệ Việt Nam Trung Quốc 30 năm qua” tài liệu của đảng cộng sản Việt Nam)
Từ những năm 90 của thế kỷ trước trở lại đây, khi Liên Xô và các nước công sản Đông Âu sụp đổ hai nhà nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ ngày càng “thắm thiết” bằng “khẩu hiệu 16 chữ vàng”. Các “ân huệ” của Trung Quốc dành cho nhân dân Việt Nam càng ngày, càng nhiều. Đất liền, hải đảo cứ mất dần về tay Trung Quốc. Đường biên giới “lưỡi bò” trên biển của Trung Quốc “liếm” sát bờ biển của Việt Nam. Ngư dân Việt Nam bị giết hại, bị bắt bớ, bị đòi tiền chuộc ngay trên vùng biển của mình. Hàng hóa độc hại, kém chất lượng tràn ngập thị trường bóp chết nền sản xuất trong nước của Việt Nam….
Những “ân huệ” này chắc là bà Đỗ Ngọc Bích biết rõ vì đều có ở trên các báo.
Thưa bà Đỗ Ngọc Bích!
Dừng lai ở đây cũng là quá đủ để “minh” cho việc “không bị oan” của bà nhưng tôi biết chắc rằng có rất nhiều đối tượng sẽ không chịu và đòi phải nói tiếp về những “ân huệ” của Trung Quốc đối với Việt Nam.
Đó là những chiến sĩ đã hy sinh, những người dân đã bị Trung Quốc tàn sát trong chiến tranh biên giới Việt Trung 2/1979.
Đó là 74 chiến sĩ hải quân của VNCH đã hy sinh khi bảo vệ quần đảo Hoàng Sa chống Trung Quốc xâm lăng năm 1974.
Đó là 64 chiến sĩ hải quân VN đã hy sinh khi bảo vệ quần đảo Trường Sa năm 1988.
Là những ngư dân đã bị Trung Quốc sát hại khi đánh cá trên vùng biển của mình.
Là những ngư dân đã bị Trung Quốc đâm chìm tàu, bắt bớ, đánh đập, đòi tiền chuộc ngay tại vùng biển của mình.
Là tất cả người dân Việt Nam trong đó có tôi.
Những đối tượng trên lại cho chúng ta thấy Việt Nam đã nhận thêm được rất nhiều “ân huệ” của Trung Quốc trong thời gian gần đây. Dĩ nhiên những “ân huệ” này không thể bổ sung vào cái “khá nhiều” để minh oan cho bà được.
Thưa bà Đỗ Ngọc Bích!
Phần cuối bài viết tôi muốn bàn thêm với bà một chút về từ “vô ơn”. Ngay cả khi câu “Việt Nam đã nhận được khá nhiều ân huệ từ Trung Quốc” của bà có đúng chăng nữa. Bà cũng không thể gọi việc phản đối các hành động của Trung Quốc gần đây của người Việt Nam là vô ơn. Việc phản đối, thái độ bức xúc của người Việt Nam, với người lắm chữ như bà thì nói là ảnh hưởng của “chủ nghĩa này”, “chủ nghĩa nọ” còn tôi thì cứ nói đơn giản là họ phản đối, bức xúc trước những hành động của bọn kẻ cướp. Mà phản đối bọn kẻ cướp thì không thể nói là vô ơn được.
Cuối cùng có một lời khuyên chân thành gửi tới bà : hãy xin lỗi độc giả bằng một bài viết chân thành. Tôi tin rằng bà làm được nếu bà có tâm.
4/2010 TRẦN HOÀNG LAN