Ông Nguyễn Dy Niên, cựu bộ trưởng ngoại giao CSVN:
01.05.2010 14:14
Lần đầu tiên, tôi được nghe một nhà ngoại giao, chính trị gia Việt Nam nói những điều này: “Ngày ấy (năm 1975) chúng ta đã thực hiện những chính sách mà… đáng lẽ nếu tỉnh táo hơn, được một phần của Đổi Mới sau này thôi, thì Việt Nam bây giờ đã mạnh lắm, cường thịnh lắm... Nhưng thay vì khoan dung và khéo léo trong đối nội, chúng ta lại có những chính sách như cải tạo công thương nghiệp. Những chính sách ấy từ khi áp dụng ở miền Bắc đã thấy trục trặc rồi, vậy mà ta lại tiếp tục áp dụng ở miền Nam. Hậu quả là làm nền sản xuất không thể nào đứng vững được, người dân thì hoang mang”.
Người nói câu ấy là ông Nguyễn Dy Niên, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam. -------------------------------- - Phóng viên: Đã công tác suốt hơn 50 năm trong ngành ngoại giao (từ năm 1954 khi mới 19 tuổi), chứng kiến nhiều thăng trầm của đất nước và tham gia nhiều cuộc đàm phán quốc tế, ông đánh giá sao về tình hình Việt Nam và bối cảnh quốc tế sau ngày thống nhất đất nước, 30-4-1975?
- Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên: Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta bước vào một thời kỳ hòa bình và xây dựng. Nhưng phải nói rằng khúc khải hoàn ngắn quá, bởi ngay sau đó, chúng ta lại vướng vào chiến tranh ở biên giới Tây Nam, Pol Pot bắt đầu quấy phá, rồi chiến tranh Campuchia. Đó là thời kỳ cực kỳ khó khăn, miền Bắc kiệt quệ, xơ xác sau những năm tháng dốc toàn lực cho chiến trường, miền Nam đổ vỡ vì chiến tranh, các vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra rất lớn, công việc thì bề bộn. Đất nước hồi đó khó khăn lắm. Tuy nhiên, cũng phải nói rằng, thời gian sau ngày 30-4-1975 là một cơ hội cực kỳ tốt mà chúng ta chậm khai thác. Hầu như tất cả các nước phương Tây khi ấy đều muốn thiết lập quan hệ với Việt Nam. Mỹ cũng muốn bình thường hóa quan hệ với ta. Bởi vì vị thế của Việt Nam lúc đó là vị thế của người chiến thắng, ngời ngời vinh quang, các nước rất nể trọng, quý mến. Nhưng rất tiếc là chúng ta còn dè dặt – cũng một phần do những ràng buộc của lý luận - nên đã bỏ lỡ, không tận dụng được cơ hội ấy. Đến lúc ta vướng vào vấn đề Campuchia thì tất cả những thuận lợi đó đều mất đi: Trước hết là những người ủng hộ ta bắt đầu hoang mang, không hiểu tại sao một dân tộc đã tự giải phóng mình nay lại đưa quân sang nước khác. Rồi tới những người trước đây đã lưỡng lự, chưa hoàn toàn ủng hộ Việt Nam, thì đến lúc này họ quay hẳn sang chống lại chúng ta. Họ đâu biết rằng Việt Nam đang làm một nghĩa vụ quốc tế cực kỳ quan trọng mà không dân tộc nào lúc đó làm được, đâu biết rằng vào Campuchia là Việt Nam phải hy sinh ghê gớm lắm, mất đi sự ủng hộ của thế giới, mất bao xương máu, mất cả nguồn lực kinh tế dồn vào để bảo vệ, giúp đỡ Campuchia. Đến bây giờ, khi đã hiểu ra tình hình rồi, người ta mới cảm ơn Việt Nam. Chúng ta luôn mong muốn hòa bình, nhưng vào giai đoạn ấy, chúng ta bắt buộc phải làm những việc khiến vị thế quốc tế của mình gặp khó khăn. - Như vậy, có phải những khó khăn mà Việt Nam gặp phải vào những năm sau chiến tranh là bất khả kháng? - Không hẳn như thế, còn do phần nguyên nhân chủ quan nữa. Lúc ấy, giá chúng ta khôn khéo hơn trong chính sách đối nội, thì đã trấn an được lòng người. Tôi muốn nói rằng, nếu ngày ấy chúng ta đẩy mạnh hòa hợp dân tộc, chúng ta có cái khoan dung của người chiến thắng, thì sẽ làm yên lòng người dân, nói chính xác là sẽ làm một bộ phận không nhỏ người dân miền Nam yên lòng với chế độ mới. Nhưng thay vì khoan dung và khéo léo trong đối nội, chúng ta lại có những chính sách như cải tạo công thương nghiệp. Những chính sách ấy từ khi áp dụng ở miền Bắc đã thấy trục trặc rồi, vậy mà ta lại tiếp tục áp dụng ở miền Nam. Hậu quả là làm nền sản xuất không thể nào đứng vững được, người dân thì hoang mang. Tôi nhớ năm 2008, tôi sang Ý, gặp một bạn Việt Nam khoảng 40 tuổi, thuộc diện di tản. Cậu ấy kể lại, hồi 1975, nhà cậu ấy chỉ sản xuất bút viết thôi nhưng cũng bị cho là bóc lột (vì có thuê người làm công), thế là bị “đánh”. Đánh lần thứ nhất thì gia đình còn cố gắng chịu được, nhưng đến lần thứ hai, bị tịch thu hết cả phương tiện sản xuất, thì không sống nổi nữa và buộc phải ra đi. Cậu ấy kể lại thảm cảnh của người vượt biên, nghe xót xa lắm. Gia đình dồn hết cả tiền bạc, mang theo đứa em mới có ba tuổi. Ra ngoài khơi thì thuyền thủng đáy, phải chuyển sang thuyền khác, chẳng may trong lúc lúng túng, đứa bé rơi xuống biển. Bà mẹ đã định nhảy theo xuống biển tự tử, may mà người ta giữ lại được. Cậu ấy kể: “Bố mẹ cháu hận lắm, nhưng dần dần thì cũng nguôi đi”. Tôi hỏi: “Thế bây giờ cháu có hận không?”. “Không, cháu không thù hận nữa. Cháu về nước nhiều lần rồi, lấy vợ Việt Nam rồi” – cậu ấy nói thế. Đó, phải nói là ngày ấy mình đã thực hiện những chính sách mà đáng lẽ nếu tỉnh táo hơn, được một phần của Đổi Mới sau này thôi, thì Việt Nam đã mạnh lắm, cường thịnh lắm. Dẫu sao, mọi chuyện đã thành lịch sử. Một con người còn khó mà hoàn hảo, huống gì là cả một cuộc cách mạng. Nhưng điều hay là sau này chúng ta biết sửa sai, đổi mới. Không thể tránh khỏi những sơ sảy và có cái giá phải trả, do những sai lầm chủ quan của mình và cả nguyên nhân khách quan thêm vào. Nhưng điều quan trọng trong bất kỳ thời nào là phải rút ra bài học để không bao giờ lặp lại những sai lầm ấy nữa, để mình đi lên. - Từ năm 1975 đến nay, có những sự kiện nào là mốc nổi bật, có ý nghĩa nhất trong hoạt động ngoại giao của Việt Nam, thưa ông? - Sự kiện chính trị lớn nhất là Đại hội VI của Đảng đề ra Đổi Mới. Không có Đổi Mới thì đúng là không biết Việt Nam sẽ đi về đâu, thậm chí có tồn tại như ngày nay được không. Tôi nghĩ đó là cái mốc lớn nhất, căn bản nhất. Về đối ngoại thì sự kiện quan trọng sau năm 1975 là tìm được giải pháp cho vấn đề Campuchia, rút quân khỏi Campuchia. Tiếp theo là bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Mấy mốc ấy rất quan trọng. Bạn phải biết là con đường đi đến Đổi Mới cũng gặp nhiều cái vướng lắm chứ không phải dễ dàng thênh thang đâu. Cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch là người rất nhạy cảm với cái mới, ông muốn vươn lên, muốn đi rất nhanh, và trong nội bộ ban lãnh đạo cũng có nhiều người ủng hộ ông lắm, ấy vậy mà chưa được, cũng phải đến lúc có sự đồng thuận trong toàn Đảng mà nhất là trong Bộ Chính trị thì mới đổi mới được. Đổi Mới là cái mốc lớn nhất, căn bản nhất, đánh dấu việc chúng ta đã biết rút ra bài học và tìm đường đi. Còn bình thường hóa cũng không hề dễ dàng. Phải đi từng bước thật vững, thật cân bằng, cho phù hợp với tình hình trong nước, tình hình khu vực và thế giới. Những bước đi đó đều là các vấn đề phải tính toán rất kỹ. - Nói riêng về quá trình đàm phán với Mỹ, chúng ta đã trải qua những khó khăn thế nào, thưa ông? - Từ năm 1976 ta bắt đầu đàm phán với Mỹ. Nhưng lúc ấy mình đưa ra, như trong nghề ngoại giao chúng tôi hay nói, đưa ra cả một “cục xương” mà họ không nuốt nổi (cười), đó là bồi thường chiến tranh. Chủ trương của chúng ta ngày ấy là dứt khoát đòi bồi thường. Trưởng đoàn Phan Hiền lên đường đàm phán, lãnh đạo căn dặn đại ý “hai triệu sinh mạng đã mất trong chiến tranh, anh nhớ lấy điều đó”. Với chủ trương ấy, trong tình hình ấy, người đàm phán không thể làm khác được, thế là chúng ta bỏ mất cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ, trong khi vào thời điểm đó, mình là người ra điều kiện để bình thường hóa. Sau này, tới những năm 90 thì Mỹ lại là bên ra điều kiện. Ta bỏ lỡ mất 20 năm. Nhưng nói vậy thôi, cũng phải hiểu rằng lúc đó, chúng ta chưa chuẩn bị được đâu. Miền Nam vừa giải phóng mà lại có một Đại sứ quán Mỹ mới ở TP.HCM… thì cũng khó chứ…
Ông Nguyễn Dy Niên: "30-4, đừng làm người ta đau thêm nữa..." Trong toàn bộ cuộc trò chuyện, khoảnh khắc tôi rất nhớ là khi tôi hỏi về những hoạt động đang được tiến hành để kỷ niệm ngày 30/4, và ông im lặng chừng một giây, rồi trả lời: "30-4, đừng làm người ta đau thêm nữa. Người chiến thắng dẫu sung sướng, nhưng cũng phải nhìn thấy nỗi đau của những bà mẹ mất con". Đó là ông Nguyễn Dy Niên, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam (từ năm 2000 đến năm 2006). ----------------------------------- - Trong lĩnh vực ngoại giao, muốn xây dựng vị thế trên trường quốc tế thì phải làm thế nào, thưa ông?
- Quan trọng nhất là phải xây dựng thực lực kinh tế. Nếu không thì không làm được gì cả. Tôi đã từng tham gia hội nghị đàm phán về việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Phải nói rằng để Mỹ ký hiệp định đình chiến năm 1973 như vậy thì trên chiến trường mình phải mạnh. Chúng tôi nói với nhau là, có thắng ở chiến trường mới thắng ở bàn hội nghị được, chứ trên bàn hội nghị mình không thể đi xa hơn thắng lợi trên chiến trường. Bây giờ cũng vậy thôi. Đến thời kỳ hòa bình thì thực lực kinh tế của mình phải mạnh, vị thế quốc tế của mình mới cao được. Không xây dựng được thực lực thì khó lắm. Hãy nhìn vào Nhật Bản. Khác với chúng ta là nước chiến thắng, Nhật Bản sau Thế chiến II là một quốc gia bại trận. Thế nhưng người Nhật đã cắn răng chịu khổ, thậm chí có thể nói thẳng ra là chịu nhục, để vươn lên, xây dựng đất nước. Chúng ta là kẻ chiến thắng, thuận lợi hơn họ rất nhiều, phải học tinh thần nhẫn nại kiên trì của họ để xây dựng cho nước ta mạnh lên. Có mạnh lên thì mới có vị thế cao ở khu vực và quốc tế được. Bác Hồ đã nói: “Thực lực như cái chuông, ngoại giao như tiếng chuông. Chuông có to, tiếng mới lớn”. - Trong hoạt động ngoại giao của Việt Nam hiện nay, còn những vấn đề gì cần vượt qua và bằng cách nào, thưa ông? - Hoạt động ngoại giao của chúng ta có thể đi xa hơn nữa, nhưng cũng phải thấy ngoại giao chỉ là cánh tay nối dài của đối nội, của tình hình trong nước, chứ không thể nào vượt quá được. Cho nên muốn phát huy ngoại giao thì có những cái vướng phải vượt qua, như vấn đề dân chủ, nhân quyền, là áp lực mà Mỹ và các nước EU vẫn đặt ra cho chúng ta. Tôi vẫn nhớ một lần sang Singapore, ông Lý Quang Diệu bảo: “Singapore là nước một đảng, độc quyền nhiều thứ, nhưng sở dĩ họ không chống đối chúng tôi quyết liệt như với các ông, thì thứ nhất là do khác biệt về ý thức hệ. Nhưng sau khi Liên Xô sụp đổ thì vấn đề ý thức hệ không còn là cái lớn như trước. Cái thứ hai là vấn đề công khai”. Tôi lấy ví dụ, bắt người này, người kia, là việc phải công khai, có sự thuyết phục chứ không chỉ nói một vài câu chung chung. Người ta vi phạm luật pháp thế nào, vi phạm điều luật nào, thì phải làm sáng tỏ ra chứ, phải nói rõ, nói kỹ, và phải làm ngay, đừng để người ta lên tiếng phản ứng mới đáp lại. Tôi nghĩ, quốc gia nào cũng vậy, không ai có thể khẳng định mình là một xã hội đầy đủ, hoàn thiện. Như ở Mỹ, sau vụ khủng bố 11 tháng 9, cảnh sát ra đường có thể bắt và khám xét bất cứ người nào mà họ tình nghi là khủng bố. Đó, đấy là mới bị động đến một tí, chứ như Việt Nam trải qua cả một cuộc chiến tranh, bạo loạn… làm sao mà mình buông lỏng được. Cho nên phải dân chủ hơn nữa. Vì không có dân chủ thì không thể có trí tuệ. Phải cho người ta nói, nói hết, nhất là tầng lớp trí thức. Để cho trí thức có thể phản biện. Lắng nghe họ, và sau đó có sự điều chỉnh, chứ cứ ào ào nghe xong rồi lại thống nhất như nghị quyết thì thôi, đưa ra làm gì. Người ta cần có niềm tin và cảm thấy rằng họ có quyền đóng góp, dự phần vào các quyết định quan trọng của đất nước. Mình thực hiện tốt vấn đề dân chủ, nhân quyền thì hình ảnh Việt Nam sẽ khác nhiều lắm, và các nước sẽ nể vì, tôn trọng mình. Cái thứ hai là phải xây dựng thực lực kinh tế, chống tham nhũng. Tham nhũng ở Việt Nam là cái nhũng nhiễu, tham nhũng vặt, gây khó chịu. Nhưng nó chứng tỏ một thực tế là đồng lương của chúng ta không đủ sống. Người ta có mức lương hơn 10 triệu thì họ đã không làm chuyện vặt, họ có lòng tự trọng chứ. Mới đây, tôi xem bộ phim “Những thiên thần áo trắng”. Phim kể chuyện, thầy giáo dạy thêm, trò nào học thêm thì thầy cho điểm cao, làm cả lớp chống đối. Nhưng đến khi các em đến nhà thầy mới biết thầy phải đi tráng bánh cùng vợ để kiếm sống, thầy cơ cực quá, khổ quá. Thế là sự chống đối dịu đi, học sinh thương thầy, ôm thầy khóc. Cho nên tôi nghĩ tham nhũng sẽ giảm nếu ta nhìn vào gốc rễ vấn đề là mức lương không đủ sống… Nhưng cái này nói thì dễ, làm thì khó (cười). Quản lý xã hội là bài toán rất khó. Cái thứ ba tôi nghĩ là hòa hợp dân tộc. Người Việt chúng ta có mặt ở khắp năm châu. Hòa hợp, đoàn kết sẽ mang lại sức mạnh vô cùng lớn. Bác Hồ đã dạy: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Phải nói đó là câu nói bất hủ, tuyệt vời. 30-4 là một khúc khải hoàn vĩ đại của dân tộc, nhưng 35 năm đã trôi qua rồi. Tôi nghĩ giờ đây chúng ta cần một khúc khải hoàn mà mọi người dân Việt Nam, dù ở bất kỳ nơi đâu, cũng đều có thể hát được. Đó chính là hòa bình, độc lập và hòa hợp dân tộc để cùng xây dựng đất nước. Sau 35 năm, tình hình đã khác rồi. Nếu chúng ta làm được điều này thì vị thế của Việt Nam, những con mắt nhìn vào Việt Nam, sẽ thay đổi. Những dịp 30-4 như thế này là dịp để làm gia tăng tinh thần đại đoàn kết. Phải làm sao để huy động tất cả các lực lượng, cho dù còn ý nọ ý kia. 30-4, đừng làm người ta đau thêm nữa. Người chiến thắng dẫu sung sướng, nhưng cũng phải nhìn thấy nỗi đau của những bà mẹ mất con. Cho nên, mình phải thấy phía bên kia nhiều đau đớn lắm. Phải làm sao để thế hệ trẻ bên kia hướng về đất nước mà bảo rằng đây là Tổ quốc CHUNG của những người Việt Nam, bất luận ở đâu (ông Nguyễn Dy Niên nhấn mạnh). Tổ quốc không của riêng ai. Lúc này là lúc phải đoàn kết lại tất cả để cùng nhau hát lên lời ca Vua Hùng dựng nước, chúng ta cùng xây dựng để đất nước phát triển. Không mộng tưởng trở thành cường quốc gì cả, nhưng chúng ta phải thể hiện ý chí của một dân tộc: vươn lên. Tôi nghĩ lúc này là lúc phải làm, đừng nói một chiều nữa. Tất nhiên phải trân trọng những người đã hy sinh, đã đổ xương máu, nhưng 35 năm qua rồi, phải nghĩ xa hơn, nghĩ tới tương lai. Hòa hợp là lúc này đây, bây giờ là lúc cần hòa hợp. Mình phải nghĩ tới tương lai dân tộc. Đừng để chia rẽ nữa, chia rẽ đã gây bao đau thương cho dân tộc rồi. Người chiến thắng phải bao dung, độ lượng, kéo tất cả mọi người lại. - Trong đường lối ngoại giao của Nhà nước ta bây giờ, có điều gì cần phải lưu ý, thưa ông? - Cái lưu ý lớn nhất là độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, mà chúng ta phải luôn luôn bảo vệ cho được. Thứ hai là luôn phải nghĩ đến lợi ích của dân tộc mình. Phải nghĩ đến dân tộc mình trước tiên, dù là lợi ích kinh tế, văn hóa, hay bất kỳ lĩnh vực nào. Thứ ba là phải luôn duy trì bản sắc của mình, tuy nhiên về điểm này, theo tôi, xã hội có phát triển đến thế nào, thì bản sắc dân tộc cũng không thể mất được. Người già thì hay lo tụi trẻ lớn lên lại đánh mất hết, nhưng tôi nghĩ không đến nỗi thế. Hồi xưa đánh Pháp, các cụ già cũng hay bảo thế hệ tôi là “chúng mày rồi cũng lai căng hết thôi”, nhưng đâu có thế đâu (cười). Người Việt Nam mình tinh thần dân tộc cao lắm.
Tuyên bố của nhà báo Bùi Tín nhân ngày 30-4-2010Gần đây Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân ở Hà Nội đã mở hội nghị để viết lại tài liệu lịch sử về ngày 30-4-1975, với ý định được tuyên bố là «thuật lại thật chính xác những gì đã xảy ra trong ngày hôm ấy tại Dinh Độc lập giữa Sài Gòn»’. Thật đáng tiếc là tài liệu được tạo nên có một số điều sai sự thật. Là một người chứng kiến tại chỗ, tôi buộc lòng phải lên tiếng, không hề vì động cơ cá nhân. Tôi giữ thái độ trung thực, tôn trọng sự thật đúng như nó có, không tô vẽ gì thêm - không tự vẽ thêm râu ria - cũng không để ai khác nhận vơ những điều chính tôi đã phát biểu. Trong tài liệu nói trên của Bộ Tổng tham mưu, không hề nói gì đến chuyện tôi, Bùi Tín, lúc ấy là Thượng tá QĐND, cũng là cán bộ cao cấp duy nhất chứng kiến sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh vào buổi trưa và xế chiều ngày 30-4-1975 tại «Dinh Độc Lập». Tôi không hề mảy may có ý tranh dành tiếng tăm hay vinh dự gì trong thời điểm lịch sử này. Biết bao liệt sỹ của 2 bên đã nằm xuống, trong đó có nhiều bạn thân, đồng đội, anh em, con cháu trong dòng họ của tôi. Việc tranh dành công trạng là điều tôi coi là xấu xa đáng sỉ nhục. Nhưng lịch sử là lịch sử. Sự thật lịch sử cần tôn trọng tuyệt đối. Nói sai lịch sử về một số chi tiết có thể gây nghi ngờ về nhiều điều lớn hơn. Do có những nhận định mang tính chất bôi xấu, vu cáo là tôi đã tự nhận là người nhận đầu hàng của tướng Dương Văn Minh, thậm chí cho là tôi không hề có mặt ngày 30-4 ở Dinh Độc Lập, nên tôi thấy cần nói rõ sự thật chân thực là như sau: -Tôi đến Dinh Độc lập cùng Trung tá Nguyễn Trần Thiết - phóng viên ban biên tập quân sự của báo QĐND - lúc 12 giờ rưỡi trưa ngày 30-4-1975, sau khi đoàn cơ giới của Lữ đoàn xe tăng 202 của Quân đoàn 2 đột nhập vào trong sân; -Tôi và Trung tá Thiết ra ngoài cổng Dinh hỏi chuyện vài thanh niên cưỡi xe gắn máy đang tò mò xúm quanh mấy xe tăng, rồi vội vào cùng đi khắp các tầng, các phòng của dinh Độc Lập. Xong chúng tôi tìm ngay chỗ ngồi viết bài tường thuật để gửi gấp về Hà Nội, vì biết rằng ngoài tòa soạn đang mong chờ cho số báo in ngay tối nay. -Tôi đang viết bài thì Trung tá Bùi Văn Tùng, chính ủy Lữ đoàn 202 và Trung tá Nguyễn Văn Hân, trưởng Ban Bảo vệ của Quân đoàn 2, cùng đến yêu cầu tôi vào gặp nội các Dương Văn Minh. Tôi từ chối việc này, vì tôi không được giao trách nhiệm, lại đang chăm chú lo viết bài báo. Tôi trả lời 2 trung tá: «Các anh nên đưa 1, 2 người ra đài phát thanh để công bố tin toàn thắng đi, nên làm gấp để cả nước và thế giới biết». Sau này gặp lại anh Tùng, tôi mới biết 2 anh trung tá ấy cùng nghĩ rằng cấp trung tá chỉ là cán bộ trung cấp, nên việc làm không đủ giá trị theo quân phong quân kỷ. Họ cần ý kiến một cán bộ cao cấp, mà lúc ấy không có một ai khác là tôi, họ biết tôi là cấp thượng tá, là phó tổng biên tập báo QĐND. [Cần nói rõ thêm để các bạn ở ngoài quân đội biết là giữa Trung tá và Thượng tá là khác không chỉ một cấp, mà khác hẳn một bậc. Cán bộ sơ cấp từ Thiếu uý lên Đại úy là bậc Sơ cấp, từ Thiếu tá và Trung tá là bậc Trung cấp, từ Thượng tá lên cấp Tướng là bậc Cao cấp. Phân biệt 3 cấp ấy rất rõ, khác hẳn nhau, từ bếp ăn, phòng ngủ, nhà ở, quân phục, tiền lương, sổ mua hàng, lớp học, trường học, hội nghị, tài liệu đều phân biệt rõ.] Ngay sau đó, Trung tá Bùi Văn Tùng đưa ông Minh ra Đài phát thanh Sài Gòn để loan tin đầu hàng trong vòng nửa tiếng rồi cùng trở về dinh Độc Lập, chờ cấp trên vào; họ chờ nhất là Thiếu tướng Nguyễn Hữu An, Tư lệnh Quân đoàn II. Tôi cũng đã viết gần xong bài báo. Tôi còn nhớ Trung tá Thiết mở hộc bàn giấy của tổng thống lấy ra tờ giấy cứng in Thực đơn của Tổng thống trưa 30-4-1975, trên đó có 2 món chính là: «gân bò hầm sâm» và «cá thu kho mía», đưa cho tôi xem để ghi thêm trong bài báo cho sinh động. Hai Trung tá Tùng và Hân lại khẩn khoản nói với tôi: họ đang ngồi chờ trong kia, chừng 30 người, các ông tướng chưa ai vô, anh vào gặp họ đi, để họ chờ lâu không tiện. Anh Thiết bàn với tôi: «Anh vào gặp họ đi, ta cùng vào rồi sẽ viết thêm vài chi tiết, sau ta sẽ vào trại Davis – Tân Sơn Nhất, nhờ tổ thông tin đánh bài báo ra Tổng cục chính trị». Trung tá Hân dẫn 2 chúng tôi vào phòng họp lớn. Anh Hân, trên cương vị trưởng ban bảo vệ Quân đoàn hiện là người sắp xếp trật tự của dinh Độc Lập. Anh vào trước, báo tin: «Tất cả đứng dậy! Sắp có một cán bộ cao cấp QĐND vào gặp các ông!» Tôi và anh Thiết bước vào. Phòng khách rộng lớn, ghế ngồi lót dạ đỏ, trên bàn có những cốc nước và mấy hộp hạt đào lộn hột. Anh Thiết ghi tên suốt lượt cả 28 người có mặt, từ các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền đến các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Bùi Tường Chiểu, Nguyễn Hữu Hạnh, Bùi Hòe Thực, ông Diệp, ông Trường v...v... Vừa lúc ấy, Trung tá Hân đón tổ quay phim Quân giải phóng (có 2 người) vào. Ông Minh bước tới trước, nói chậm rải:-«Thưa quý ông! Chúng tôi chờ quý ông từ buổi sáng đặng chuyển giao chính quyền». Tôi đáp ngay: «Các ông còn có gì mà bàn giao; không thể bàn giao khi trong tay không còn có gì!» Tôi không nói gì đến chuyện đầu hàng vì 2 Trung tá Tùng và Hân đã cho tôi biết ông Minh vừa tuyên bố đầu hàng ở đài phát thanh. Ý tôi muốn nói là không thể có chuyện bàn giao chính quyền, vì tình hình đã ngả ngũ xong xuôi. Tôi thấy các ông Minh, Mẫu, Huyền, Hảo, Có …đều buồn. Ông Minh cúi hẳn đầu, tôi thấy cằm ông lún phún râu, đường gân 2 bên má co giật nhẹ. Tôi liền an ủi: «Hôm nay là ngày vui. Hòa bình đã đến. Cuộc chiến tranh đã kết thúc. Chỉ có người Mỹ là thua. Tất cả người Việt nam ta là người chiến thắng». Tôi thấy một số vị gật gật đầu, ông Mẫu nở nụ cười vui vẻ, tán đồng. Tôi liền thêm: «Bất cứ ai có tinh thần dân tộc đều có thể coi ngày hôm nay là ngày vui lớn của mình». Sau đó tôi mời mọi người ngồi, uống nước, trò chuyện thân mật. Tôi hỏi chuyện ông Minh, sức khỏe ra sao, ngày ông chơi mấy «sét» tennis ? Collection phong lan của ông có bao nhiêu giò rồi? có những loại hiếm quý nào? Ông trả lời hết, vui vẻ, tự nhiên … Tôi quay sang ông Mẫu hỏi ông từ giã miền Bắc từ hồi nào? Ông còn nhớ gì về vùng quê Chèm Vẽ…nay Cầu lớn Thăng Long qua gần đấy; tôi hỏi về trường Luật ông đang dạy, tôi cũng hỏi ông: Sao tóc ông đẹp, dài vậy, tôi nghe có hồi ông cắt tó phản đối chính quyền ? ông cười, đó là chuyện 2 năm trước, ông luôn mê say với sinh viên trẻ ngành Luật… Một lát sau, ông Nguyễn Văn Hảo yêu cầu gặp riêng tôi. Tôi cùng ông ngồi cạnh chiếc bàn con bên cửa sổ lớn nhìn xuống sân trước, ông nói: «Tôi là Nguyễn Văn Hảo, giáo sư, phó thủ tướng đặc trách kinh tế, xin báo với riêng ông một tin quan trọng: bọn này đã giữ lại trong kho Ngân khố quốc gia hơn 16 tấn vàng, không cho họ mang ra khỏi nước, mong quý ông báo ra Hà Nội cho người vô nhận…» Tôi hỏi kỹ lại và tối đó tôi điện ngay cho Thiếu tướng Lê Quang Đạo phó Chủ nhiệm Tổng cục chính trị. Ngày 2-5 Hà Nội cho chuyên cơ IL 18 vào Sàigòn nhận đủ hơn 16 tấn vàng ấy. Đêm ấy, tôi gửi bài báo «Sài Gòn 30-4: Trong ánh chớp của lịch sử» in trên số báo QĐND ra sáng 1-5-1975, do tổ thông tin của Đoàn đại biểu Mặt trận Giải phóng trong Ban Liên hợp 2 bên trong trại Davis – Tân Sơn Nhất chuyển bằng tín hiệu morse. Đây là bài báo duy nhất gửi được từ Sài Gòn, vì bưu điện bị đóng cửa liền 2 ngày. Fax, điện thoại viễn liên, điện báo đều tắc. Do chuyển bằng morse, tên 2 món trong thực đơn của tổng thống bị sai, «cá thu kho mía» thành «cá thu kho giá» và «gân bò hầm sâm» thành «gan bò hầm sâm»! Sáng 1-5 tôi gặp các phóng viên Boris Galash (Tây Đức) và Tiziano Terzani (Ý) và nhận chuyển giúp 2 bài báo ngày 30-4 của họ qua con đường Thông tấn xã Viêt Nam ở Hà Nội. Họ mừng rỡ vô cùng vì đó là điều họ lo, sốt ruột nhất. Bài báo đến được Berlin, Bonn và Roma. Những sự việc trên đây tôi ghi lại thật đúng với thực tế lịch sử. Trong tài liệu chính thức của bộ Tổng tham mưu, các câu nói của tôi trên đây được đặt trong miệngTrung tá Bùi Văn Tùng (!). Tôi khá thân với anh Tùng, từng ghé thăm 2 vợ chồng anh. Tôi tin là anh Tùng sẽ có thể đến lúc không ngại gì nói rõ sự thật đầy đủ. Có những nhân chứng còn sống, về những lời nói của tôi trưa hôm ấy, như các ông Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Hữu Hạnh, các ông Diệp, Trường (tôi không nhớ họ)… cũng như tổ phim Giải phóng hay nhà báo Nguyễn Trần Thiết rất ngay thật thẳng tính. Sự thật là hoàn cảnh ngẫu nhiên đưa đẩy để tôi là cán bộ cấp cao duy nhất của QĐND có mặt tại dinh Độc Lập trong khoảng thời gian từ 12 giờ đến 16 giờ chiều 30-4-1975 để chứng kiến và chút ít tham gia sự kiện lịch sử này. Vị tướng đầu tiên tôi gặp lúc đã xế chiều ở Dinh Độc lập là Thiếu tướng Nam Long, phái viên của bộ Tổng tham mưu, tôi cùng tướng Nam Long chụp chung ảnh kỷ niệm. Tối mịt Thiếu tướng Nguyễn Hữu An mới đến, khi quanh sân anh em nổi lửa nấu cơm, mỳ ăn liền. Sở dĩ một số báo nước ngoài cứ nói phóng lên là tôi là người nhận đầu hàng của tướng Minh là vì tướng Trần Văn Trà chủ tịch ủy ban Quân quản Sài Gòn hồi tháng 9-1975 có lần giới thiệu tôi với các nhà báo Nhật, Pháp, Thái lan, Hoa Kỳ … rằng : đây là nhà báo, sỹ quan cao cấp nhất chứng kiến sự đầu hàng của chính quyền Sài Gòn. Rõ ràng «chứng kiến » và «nhận» là 2 điều khác nhau. Hồi 1989, khi tôi đưa nhà báo Mỹ Stanley Karnow đến gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà khách chính phủ (đường Ngô Quyền), ông Giáp giới thiệu với S. Karnow: Đại tá Bùi Tín là sỹ quan cao cấp nhất có mặt ở Dinh Độc Lập khi chính quyền của tướng Minh đầu hàng. Từ đó, có thể có người hiểu sai, hiểu lầm cho rằng tôi là người nhận đầu hàng. Cũng có thể có người hiểu sai, cho rằng khi tôi nói «không còn gì để bàn giao» thì cũng có nghĩa là tôi đòi họ phải đầu hàng tôi! Đã có bài báo tiếng Việt ở Pháp bịa ra rằng: Bùi Tín rút súng chĩa vào nội các Dương Văn Minh, hét mọi người phải giơ tay đầu hàng, rồi bắn loạn xạ lên trời để thị uy, làm phách…! Tôi không bao giờ nhận một điều gì không phải của mình, không do mình làm. Hơn nữa, sự có mặt của tôi ngày 30-4 -1975 ở Sài Gòn với hy vọng hòa giải và hòa hợp dân tộc trọn vẹn đã sớm tan thành mây khỏi, với chính sách thực tế của lãnh đạo CS là chiếm đóng, trả thù, đày đọa các viên chức, binh sỹ, đồng bào ruột thịt ở miền Nam, tịch thu quyền sống tự do, có nhân phẩm, nhân quyền của nhân dân cả nước suốt 35 năm nay. Gần 20 năm nay họ để cho bọn bành trướng uy hiếp, mua chuộc, để chúng lấn đất, lấn biển, lấn đảo, giết hại ngư dân ta… Do tình hình đất nước nguy kịch như thế, đã 20 năm nay, tôi chỉ một điều tâm niệm là góp hết sức thực hiện đoàn kết thống nhất dân tộc, cùng toàn dân đấu tranh dành lại các quyền tự do dân chủ bị một chế độ độc đảng toàn trị tước đoạt hơn nửa thế kỷ nay
Ba mươi lăm năm sau cuộc chiến, câu chuyện của Việt Nam là sự phản bộiDiên Vỹ, X-Cafe chuyển ngữ 28.04.2010 Một tiêu đề của tờ báo địa phương dường như nói lên tất cả: "Phương pháp chủ yếu là dùng Tình." Câu chuyện: hoạt động buôn bán Phụ nữ và Trẻ em dọc biên giới Việt - Trung. Một trong những "phương pháp tình yêu" được sử dụng như thế này: Một người đàn ông từ thành phố dụ dỗ một thiếu nữ thôn quê, rồi đem cô ta qua biên giới Trung Quốc sau khi làm đám cưới với cô. Khi đến nơi, cuộc trăng mật biến thành một trao đổi nô lệ: chú rể bán cô dâu ngây thơ của mình vào một nhà chứa, rồi biến mất dạng. Hoặc nói có thể là "phương pháp tình cảm gia đình": một goá phụ tuyệt vọng vì người chồng nông dân của mình chết trong một tai nạn, đã quyết định bán con gái của bà. Đứa con gái ngỡ đây là một chuyến mua hàng bên kia biên giới Trung Quốc nhưng lại hoá ra là một cơn ác mộng. Người con gái trẻ bị bán vào một nhà chứa và lại bị bán cho một ông già để làm. Trong cả hai trường hợp, các nạn nhân đều bị bỏ rơi bởi tình yêu và lòng trung thành. Đối với họ điểm mấu chốt ảnh hưởng đến cuộc đời cả hai rốt cuộc là sự phản bội. Nhưng phản bội không đơn giản là câu chuyện của những phụ nữ và trẻ em bị buôn bán, một hiện tượng đang vượt tới tầm mức đại dịch. Trong một ý nghĩa khác, nó đã trở thành câu chuyện của chính Việt Nam. Các triều đại hưng thịnh rồi lụi tàn, những kẻ thực dân đến rồi đi, những cuộc nội chiến xảy ra, mạng sống và đất đai bị tàn phá, nhưng điểm mấu chốt của việc bị lừa dối, bị phản bội vẫn tiếp tục tạo dựng nên lịch sử của đất nước này. Đương nhiên có nhiều dạng phản bội. Ba mươi lăm năm trước, Quân đội Nam Việt Nam bị Hoa Kỳ bỏ rơi và nguồn cung cấp vũ khí vào cuối cuộc chiến bị giảm xuống còn vài viên đạn cho mỗi người lính khi những chiếc xe tăng của Cộng sản phía bắc đang tiến về phía nam. Nhưng bị phản bội không chỉ thuộc về những người thua trận. Nó cũng cũng đùa giỡn một cách mỉa mai hơn nữa đối với những người được cho là thắng trận. Những người Việt Cộng - du kích quân của Mặt trận Dân tộc Giải Phóng Miền nam Việt Nam - nhanh chóng nhận ra rằng họ đã không thực sự "thắng" khi Sài Gòn sụp đổ. Chỉ trong vài tháng, các đơn vị của họ bị giải thể hoặc bị hợp nhất dưới sự chỉ huy của Hà Nội, giới lãnh đạo miền nam bị buộc phải về hưu. Mặc dù so với những thành phần khác, họ là những người chịu đựng mất mát nhiều nhất, những người Việt Cộng nhận ra mình bị mất quyền tự quản và rốt cuộc biến thành thuộc cấp của giới lãnh đạo phía bắc. Nhưng chính bản thân các quan chức cộng sản miền bắc cũng không thoát khỏi việc bị phản bội. Trong số khoảng chục người bất đồng chính kiến lưu vong là Đại tá Bùi Tín, viên sĩ quan cao cấp nhất của Hà Nội tiến vào Sài Gòn khi cuộc chiến kết thúc để tiếp nhận sự đầu hàng chính thức của Nam Việt Nam. Ông Tín lại bỏ Việt Nam đến Pháp khoảng một thập niên sau. Nguyên nhân: ông bức xúc trước giai đoạn hoà bình của cộng sản khi những trại cải tạo và những vùng kinh tế mới được dựng lên để trừng phạt miền nam, trong khi vô số thuyền nhân bỏ mạng trên biển. Đấy không phải những gì ông trông đợi khi miền Bắc đang tìm cách "giải phóng" miền Nam khỏi tay người Mỹ trong chiến tranh. Những cuốn sách của ông: "Đi theo con đường của Hồ Chí Minh: Hồi ký của một người miền bắc," và "Từ thù đến bạn: Qua cái nhìn của một người miền bắc về cuộc chiến" đã trở thành những bằng chứng hùng hồn của sự kiêu ngạo và thoái hoá ở Việt Nam, cộng thêm lời kêu gọi dân chủ thống thiết. Và ngay cả Hồ Chí Minh, người cha của Chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam, hoá ra cũng không thoát khỏi sự phản bội. Theo một số ít người Việt hiểu biết nội tình của đảng, Bác Hồ đã trải qua những năm cuối của đời mình trong cảnh bị quản thúc tại gia, người yêu của ông bị giết chết và con cái bị lấy đi. Đấy là những gì tiểu thuyết gia Dương Thu Hương, hiện sống lưu vong đã viết trong cuốn sách mới nhất của bà là "Đỉnh cao chói lọi", một tiểu thuyết dựa trên lịch sử không chính thức về những năm cuối đời của Hồ Chí Minh. Bản thân bà Hương nếm mùi bị phản bội một cách sâu đậm. Từng là đoàn viên thanh niên trong phong trào Cộng sản, về sau bà bị quản thúc tại gia vì những cuốn sách phê phán Cộng sản, đặc biệt là cuốn "Những thiên đường mù." Các quan chức chính quyền gọi bà là "con mẹ phản quốc." Việt Nam trong thì hiện tại là một Việt Nam ở phía cuối của xã hội không tưởng của Orwell, như được miêu tả một cách châm biếm trong Trại Súc Vật, nơi mà "mọi súc vật đều bình đẳng nhưng một số súc vật thì bình đẳng hơn những con khác." Tham nhũng tràn lan, và theo tờ báo Asia Times online, "Việc sang nhượng đất đai trở thành những vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam. Một số nhà quan sát tiên đoán rằng, giống như Trung Quốc, việc thu hồi đất đai nhà nước đầy nghi vấn có thể dẫn đến sự tràn lan về bất ổn xã hội và ngăn cản quá trình phát triển xã hội kinh tế của Việt Nam." Trong khi học thuyết Marxist Leninist vẫn được giảng dạy tại các trường phổ thông và đại học, những nông dân nghèo khổ thường bị bứng khỏi đất đai với số tiền bồi thường nhỏ nhoi để những kẻ giàu có và quyền lực sử dụng làm sân gôn. Trong khi những phụ nữ và trẻ em nghèo khó ở vùng quê hiện đang trở thành những món hàng bị bán qua biên giới, thường là với sự đồng loã của những quan chức địa phương, thì thành phố lại sáng ngời với sự giàu sang mới, và những ngôi nhà cao tầng tiếp tục mọc lên như nấm. Ta không phải tìm xa hơn Sài Gòn. Biển quảng cáo nước hoa Chanel và túi Versace giờ đây che phủ những khẩu hiệu Cộng sản tuyên dương giới công nhân, nông dân và thiên đường xã hội chủ nghĩa. Những tiệm massage nằm trong tầm nhìn của bức tượng Hồ Chí Minh đang tươi cười ở trung tâm Sài Gòn, một thành phố được đổi tên một cách không đúng đắn lắm cho một con người từng cổ vũ cho tính giản dị. Trong một buổi tối gần đây ở khu vực mới của Sài Gòn là Quận 7, tại một nhà hàng 3 tầng thời thượng có tên là Cham Charm - được xây nhái theo đền Angkor Wat với đá hoa đen và dòng nước chảy theo hai bên tam cấp bóng lộn - có những chiếc Mercedes, Lexus và cả một vài chiếc Ferrari lẫn Rolls Royce dừng bánh với giới paparazzi đang chụp ảnh tại lối vào. Hôm ấy là sinh nhật của ca sĩ nổi tiếng Hồng Nhung và những người bạn giàu sang - đa số có quan hệ với chính quyền hiện tại - đang tổ chức một buổi tiệc riêng dành cho cô. Champagne tuôn trào, rượu vang được rót, và một dãy dài đầy ắp những món hào biển, sushi và tôm hùm dùng để phục vụ 350 khách VIP. Một lúc sau, Nhung gọi những "đồng chí" của mình lên trên sân khấu, nhiều người trong họ là những triệu phú hoặc vợ chồng của triệu phú. Họ cùng nhau hát một bài ca tuyên truyền của Cộng sản - lên đường đáp lại tiếng gọi của tổ quốc. Trong khi những người phục vụ đeo nơ trắng rót rượu Champagne, chiếc máy chiếu phát ra những hình ảnh ngày xưa của Nhung: Một thiếu nữ mặc đồng phục Cộng sản đang ca hát. Đương nhiên, chẳng ai hát bài ca về sự phản bội tại một buổi dạ tiệc vàng, nhưng người ta cũng thấy được một sự mỉa mai quá hiển nhiên. Cách buổi dạ tiệc không xa mấy, một nhạc sĩ già trong căn hộ tồi tàn của mình nói rằng ông cực kỳ cay đắng: "Xã Hội Chủ Nghĩa đã trở thành Cơ Hội Chủ Nghĩa." Ông từng quen biết và tận tâm phục vụ Bác Hồ nhưng giờ đây, tuổi già sức yếu, ông trở thành một người lớn tiếng chỉ trích chính quyền Hà Nội. Ông vô cùng đau đớn khi ba năm trước Việt Nam đã nhượng bộ những mảnh đất dọc theo biên giới cho Trung Quốc và còn ký kết một hợp đồng trị giá hàng tỉ Mỹ kim để biến những đồi núi nguyên thuỷ của tỉnh Lâm Đồng thành nơi khai thác bauxite, một quá trình phá huỷ hệ thống sinh thái. Điều đáng lo hơn là việc tranh chấp quần đảo Trường Sa cũng đã rơi vào tay Trung Quốc, làm vùng biển Việt Nam trở nên yếu thế trước sự bành trướng của Trung Quốc. Có những cuộc biểu tình phản đối hiếm hoi nhưng chẳng ai lắng nghe. "Các quan chức chính quyền đã thái hoá cùng cực," người nhạc sĩ già nhận định. "Họ chỉ biết cúi đầu trước đồng tiền. Tôi đã mặc quân phục và đi biểu tình. Tôi thấy buồn khi chứng kiến chính quyền lừa dối nhân dân năm này qua năm khác. Nếu ta nhường đất cho Trung Quốc, thì khác nào bán máu của dân." Điều này có thể giải thích rằng tại sao, trong một thế giới với phương châm "làm giàu là vinh quang," và kim chỉ nam đạo đức đã bị hỏng, thì mẹ có thể bán con, chồng bán vợ, chính quyền bán đi đất đai từng phải đổ những giọt máu quí giá để có được. Hệ quả là những ai sống trong thế giới này mà vẫn giữ những đức tính xưa sẽ là người đau khổ nhất. Nguồn tin nói rằng cô gái bị mẹ mình bán đi, sau này được giải cứu đã nói rằng cô không oán trách mẹ mình. Cô nói với các nhân viên xã hội rằng cô sẵn sàng chịu đựng để cứu gia đình. Và người nhạc sĩ già yêu nước, từng là một con người lý tưởng, giờ đang khóc trong giấc ngủ của mình. Và người chống đối lưu vong đang tuyệt vọng nhìn Việt Nam bị chủ nghĩa vật chất nuốt chửng. Những người khác thì vẫn đang tiến tới với tốc độ chóng mặt. Vì để tồn tại ở Việt Nam, cũng như định luật mới của xứ sở này, điều tiên quyết nhất là người ta phải học cách phản bội quá khứ.
Chấp nhận cái khác biệt để hòa hợp, hòa giải( 11:35 AM | 01/05/2010 ) Nếu như rất nhiều người chiến bại vẫn mơ về một thể chế như chế độ cũ, thì trong số những người chiến thắng, cũng có người không đặt lợi ích dân tộc lên trên, do đó chuyện hòa giải, hòa hợp vẫn chưa đi vào thực chất. Những ngày tháng Tư, dù ít dù nhiều, trong tâm trí của mỗi người Việt Nam, đặc biệt là những người từng sống trong thời khắc lịch sử 30-4-1975, đều nhớ về giai đoạn khó quên ấy. Những người Việt chung dòng máu đỏ da vàng, sống trong cùng một đất nước giờ đây phải đối mặt với những xung đột, mâu thuẫn, xuất phát từ sự khác biệt về ý thức hệ và tâm lý cũng như hệ quả của việc “thắng – thua”, không dễ gì hòa hợp. Với những người lòng nặng trĩu hận thù rời khỏi đất nước trong giai đoạn này để định cư tại nhiều nước trên thế giới, chủ yếu là Hoa Kỳ, hình thành nên một bộ phận người Việt hải ngoại, thì làm thế nào để hòa giải sự cách biệt, thù hận lại càng không đơn giản…  Tranh: Hoàng Tường
| |
’Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần’ đã tổ chức một cuộc tọa đàm tại Press Café vào một chiều tháng Tư, với sự tham dự của bảy khách mời từng là chứng nhân lịch sử của giai đoạn 30-4-1975 trong những cương vị khác nhau. Đó là kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn, người cao tuổi nhất, anh lính Điện Biên năm xưa, năm 1975 vào Nam với mục đích tiếp quản. Là ông Lê Hiếu Đằng, năm 1975 là Phó Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam. Bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm những năm trước 1975 là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn Ba người – luật sư Nguyễn Ngọc Bích, chuyên viên kinh tế Huỳnh Bửu Sơn và giảng viên Chương trình Fulbright Phan Chánh Dưỡng trước năm 1975 là những công viên chức, giáo viên của Việt Nam Cộng Hòa. Sau 1975, luật sư Bích đi học tập cải tạo trong 12 năm, còn ông Sơn và ông Dưỡng đã sớm ra làm việc. Họ gặp nhau khi cùng sinh hoạt chung trong nhóm nghiên cứu kinh tế Thứ Sáu. Người cuối cùng, trẻ nhất, là ông Trần Sĩ Chương, sang Mỹ du học từ năm 1973, chứng kiến sự kiện 30-4-1975 từ nước Mỹ. Ông Chương là một chuyên gia kinh tế sống và làm việc nhiều năm ở xứ người. Từ đầu những năm 1990 đến nay, ông rất tích cực trong việc giúp đất nước hội nhập kinh tế với bên ngoài, làm cầu nối giao thương cho các doanh nhân Mỹ – Việt. Vì sao phải hòa hợp, hòa giải? Đi vào vấn đề, ông Bích cho rằng có một thực tế là có những người Việt ra đi năm 1975 vẫn mơ về một nước Việt Nam giống như trước, nên chỉ trích nhà nước hiện nay dựa trên điều họ mơ ước đó. Với những người này, rất khó có một sự hòa giải. Về mặt vật chất họ thật đầy đủ nhưng chính vì thế mà sự đau khổ về mặt tinh thần của họ chẳng hề nguôi. Và bao lâu cái sau còn thì nguyên nhân gây ra nó sẽ không bao giờ mất. Với họ, mọi sự hòa hợp, hòa giải đều vô ý nghĩa. Nhưng lớp người này sẽ ngày càng ít đi. Một lớp người khác, theo ông Bích, chỉ mong một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh khiến họ có thể hãnh diện. Chúng ta có cơ hội để hòa giải với họ. Rồi có những người còn tích cực hơn, luôn tìm cơ hội để góp sức mình cho đất nước. Riêng với thế hệ sinh ra và lớn lên sau 1975, thì tuyệt đại đa số không quan tâm đến chính trị, nên không cần đặt nặng chuyện hòa giải. Về sự hòa hợp giữa những người trong nước, ông Bích nói: - Tôi cho rằng cách xử sự với người bại trận là thiếu độ lượng. Mãi tới sau Đổi mới, tình trạng này mới giảm dần. Theo tôi, hòa hợp dân tộc phải do người chiến thắng chủ động tiến hành, trước hết là hòa hợp với người đã khuất. Thế nhưng chúng ta làm việc này chậm quá. Mãi gần đây chúng ta mới dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa, nơi chôn cất tử sĩ Việt Nam cộng hòa. Ông Lê Hiếu Đằng lắng nghe rất chăm chú, rồi tiếp lời: “Như anh Bích nói, nếu như rất nhiều người chiến bại vẫn mơ về một thể chế như chế độ cũ, thì trong số những người chiến thắng, cũng có người không đặt lợi ích dân tộc lên trên, do đó chuyện hòa giải, hòa hợp vẫn chưa đi vào thực chất. Hàng chục năm sau ngày đất nước thống nhất rồi mà đó đây vẫn còn tình trạng kỳ thị, dò xét đối với những người từng làm việc cho chế độ cũ”. Lặng đi một chút, ông nói: - Tôi cho rằng câu nói của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã phản ánh một thực tế rất nhân văn, rằng “ngày 30-4 đến, có một triệu người vui, nhưng cũng có một triệu người buồn”. Có người không hài lòng với câu nói này, nhưng phải thừa nhận rằng chính vì có thực tại khách quan đó mới có chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc chứ? Trong thời chiến tranh, biết bao gia đình có anh em, cha con ở hai chiến tuyến khác nhau? Phải đặt lợi ích đất nước lên trên, xem hòa giải, hòa hợp dân tộc là động lực để đoàn kết mọi người… Nếu như cách đặt vấn đề của luật sư Nguyễn Ngọc Bích có chút trách móc của “người bên kia”, thì kiến trúc sư Nguyễn Trọng Huấn cũng sâu sắc không kém, khi bắt đầu phản biện: "…Kêu gọi sự độ lượng khi ấy có nghĩa là chỉ nhìn cuộc đấu tranh dưới góc độ ’hai phe, hai miền’, mà không thấy rằng đó chỉ là một phần của cuộc đấu tranh giai cấp." Ông Đằng nhấn mạnh: - Chúng ta phải đặt quyền lợi đất nước lên trên, thực hiện quyết liệt nhiều chính sách, đặc biệt là đãi ngộ trí thức, trọng dụng trí thức ngoài đảng. Nếu không, khó mà huy động được đội ngũ trí thức, chuyên gia có tấm lòng với đất nước, trong cũng như ngoài nước. Ông Huỳnh Tấn Mẫm từ đầu buổi đến giờ có vẻ suy tư và khi được mọi người hỏi, ông cười, tự nhận mình là người có nhiều trăn trở và trắc trở. Thời trai trẻ, ông một lòng đấu tranh cho lý tưởng, nhưng không ít điều diễn ra sau đó đã nằm ngoài sự hình dung của ông. Sau khi chia sẻ sự đồng tình với ông Đằng, ông bổ sung: “Tôi thấy cơ chế chung của mình còn khắc nghiệt quá, lại tạo điều kiện cho thành phần cơ hội lập phe phái phát triển. Ở nhiều nơi, phải là con anh Ba, chú Sáu, gốc Củ Chi, Bến Tre… mới được tin tưởng đưa vào tổ chức tiến cử lên nhanh; phải là lãnh đạo đoàn mới lên lãnh đạo đảng, chính quyền… Từ những sự tiến thân kiểu như vậy, mới có những kẻ cơ hội gia nhập đội ngũ của đảng, khiến thành phần không cơ hội trong đảng phải lùi ra, chán nản, hoặc bỏ đi làm công việc khác. Nếu cơ chế này không thay đổi, rất khó có được sự hòa hợp hòa giải rộng rãi, bền vững”. Ông Mẫm cho rằng đừng tưởng những việc nhỏ không thể có tác động lớn. Ngay trong một phường, nhiều đảng viên ngồi họp cho có lệ, rất nhiều điều họ biết – cán bộ nào tham nhũng, hống hách, quyền hành… nhưng họ không dám đấu tranh. Ông Mẫm nói tiếp: - Cái im lặng này thật đáng sợ! Họ sợ bị trù dập, quy chụp, đấu tranh không được bảo vệ còn bị ảnh hưởng đến lý lịch của mình và con cháu,… Ngay trong phường của tôi, có người được bầu vào hội đồng nhân dân mà không biết về pháp lý, hành chính, bởi không hề được học có hệ thống về hành chánh pháp lý, nhưng vẫn được đưa vào làm công việc đó. Chính cơ chế siết chặt ấy khiến những trí thức bên ngoài không thể tham gia vào việc điều hành đất nước. Với những việc lớn như nhân sự lãnh đạo như vậy thì ông Trần Sĩ Chương chỉ là người ngoại đạo. Bởi vậy, khi tham gia vấn đề, ông bắt đầu bằng việc cho rằng nhu cầu và bản chất của hòa hợp, hòa giải sẽ biến đổi theo thời gian và không gian. Cho nên lý do của vấn đề hòa hợp, hòa giải như vào năm 1975 là không còn nặng nề như trước nữa. Ông nói: “Hòa giải là một nhu cầu tất yếu, để các thành phần xã hội có thể xóa đi khoảng cách, để đến được với nhau, để cùng hợp tác vì lợi ích chung. Nhưng tôi nhìn nhận vấn đề hòa giải ở một khía cạnh khác. Như các anh đã nói, chúng ta chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh, và biến cố 1975 là quá lớn với bất cứ đất nước nào, đặc biệt lại được làm đậm thêm bởi việc có những người phải vượt biển ra đi. Nhưng đã ba mươi lăm năm rồi, chuyện xưa ngày càng lu mờ. Tôi nghĩ việc hòa hợp, hòa giải bây giờ không phải là vấn đề ý thức hệ nữa, mà phải có thiện tâm và thành ý. Vậy mà khi Nhà nước thể hiện được sự thiện tâm thì có lúc lại thiếu đi thành ý hay được hiểu là không có thành ý, vì lời nói và hành động không đi đôi với nhau. Đấy chính là vấn đề của chúng ta ngày nay, giữa người Việt với nhau. Thiếu sự thiện tâm thì khó thể nghĩ tốt về nhau, cùng nhau hướng về một mục tiêu chung. Không có thành ý sẽ không tạo được lòng tin; không có lòng tin sẽ tạo ra khoảng cách. Tôi nghĩ vấn đề hòa hợp, hòa giải là một vấn đề chung của xã hội hiện nay, chứ không hẳn chỉ với những người đã bỏ xứ ra đi”. Để dẫn chứng, ông Chương đưa ra vài ví dụ về những gì chúng ta chưa làm tốt trong công tác Việt kiều. Khi Chủ tịch nước qua Mỹ nói chuyện với kiều bào, điều đọng lại trong họ là “Việt kiều có quyền mua nhà”. Thế nhưng, thực tế không dễ như vậy, khi đến nay cả nước mới chỉ có hơn 100 Việt kiều mua được nhà. Rồi khi đặt vấn đề miễn visa cho Việt kiều, thì thực ra lại làm cho việc đó trở nên khó khăn hơn. Ông Chương kết luận: - Tôi lần đầu tiên vào một văn phòng Ủy ban người Việt ở nước ngoài, thấy băng-rôn “Người Việt ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc”, thì thấy rằng chủ trương này quá hay, nhưng làm sao để lời nói và hành động khớp với nhau thì chưa có! Nhưng nếu nhìn lại thì vấn đề này đối với Việt kiều cũng không phải là một hoàn cảnh cá biệt. Biết bao chủ trương tốt, hoàn toàn đúng đắn – từ bảo vệ môi trường, đến giáo dục, y tế… ngay trong nước – nhưng kết quả lại chưa được tốt vì gặp nhiều vấn đề trong việc triển khai. Chủ trương, lời hứa, cam kết nếu được triển khai đúng đắn, với thành ý, thì sẽ là một tiền đề quan trọng cho sự hòa hợp, hòa giải, chứ không phải vấn đề ngày 30/4 nữa. |