Trung Quốc tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ với Việt Nam?
08.04.2010 02:34
Ngọc Trân, thông tín viên RFA 2010-04-07
Như chúng ta đã biết, Đảo Bạch Long Vĩ nằm trong Vịnh Bắc Bộ, thuộc thành phố Hải Phòng của Việt Nam. Vị trí đảo Bạch Long Vĩ được cho là rất quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh và quốc phòng ở khu vực Vịnh Bắc Bộ.
RFA Screen capture
Vùng biển quanh đảo Bạch Long Vĩnh
Thế nhưng, tin tức gần đây cho thấy có lẽ Trung Quốc đang tranh chấp với Việt Nam về hòn đảo này. Mời quý thính giả cùng Ngọc Trân tìm hiểu thêm.
Sơ lược về Bạch Long Vĩ
Đảo Bạch Long Vĩ là hòn đảo thuộc huyện Bạch Long Vĩ, trực thuộc thành phố Hải Phòng. Đảo này nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, cách thành phố Hải Phòng khoảng 110 km, có diện tích khoảng 2,5 km² khi nước thủy triều lên cao và khoảng 4 km² khi thủy triều xuống thấp.
Đảo Bạch Long Vĩ là hòn đảo thuộc huyện Bạch Long Vĩ, trực thuộc thành phố Hải Phòng. Đảo này nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, cách thành phố Hải Phòng khoảng 110 km
Theo tin từ trang web của Huyện đảo Bạch Long Vĩ thì hòn đảo này có khoảng 80 hộ dân, với hơn 350 người đang sinh sống. Nhưng số người có mặt trên đảo thường nhiều hơn con số này cả chục lần, gồm các hộ gia đình, các doanh
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ra thăm nói chuyện với Thanh niên xung phong ở đảo Bạch Long Vĩ.Courtesy baotuyenquang online
nghiệp, thanh niên xung phong và cán bộ nhà nước. Khách vãng lai cũng thường có mặt ở đây, đa số đến từ các tầu cá neo đậu xung quanh đảo, nếu tính cả khách vãng lai, dân cư trên đảo khoảng trên dưới 4.000 người. Ngoài ra, các đơn vị hải quân cũng có mặt trên hòn đảo này.
Lịch sử
Về lịch sử của hòn đảo Bạch Long Vĩ, theo hiệp ước ký kết giữa Pháp với nhà Thanh năm 1887, thì hòn đảo này thuộc về Việt Nam, lúc đó do chính phủ Pháp bảo hộ. Trước đây, do không tìm được nguồn nước nên người dân không đến định cư ở đảo. Mãi đến năm 1920, sau khi tìm được nguồn nước ngọt, người dân Việt Nam đã chuyến tới sinh sống trên hòn đảo này bằng các nghề như: chăn nuôi, trồng trọt và khai thác thuỷ sản.
Về lịch sử của hòn đảo Bạch Long Vĩ, theo hiệp ước ký kết giữa Pháp với nhà Thanh năm 1887, thì hòn đảo này thuộc về Việt Nam, lúc đó do chính phủ Pháp bảo hộ.
Đến năm 1937, vua Bảo Đại cho người tới đảo Bạch Long Vĩ lập đồn canh phòng. Sau đó, chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương và quân Nhật đã ra Bạch Long Vĩ tước khí giới của quân lính Bảo Đại đang canh giữ ở đảo. Đến năm 1946, Pháp quay trở lại Đông Dương và tiếp tục khôi phục lại chế độ cai trị trên đảo. Năm 1949, phe Quốc Dân đảng của Tưởng Giới Thạch đã thua trận, chạy ra Đài Loan và đến chiếm đảo Bạch Long Vĩ. Đến tháng 7 năm 1955, quân cộng sản Trung Quốc đổ bộ lên đảo, đánh đuổi quân Quốc Dân đảng ra khỏi đảo này. Tháng 01 năm 1957, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã tiếp nhận đảo và ra Nghị định số 49, quy định đảo Bạch Long Vĩ là xã trực thuộc Ủy ban Thành phố Hải Phòng. Nghị định này nhằm khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hòn đảo, cùng với vùng biển, vùng trời và thềm lục địa xung quanh đảo.
Vị trí của Bạch Long Ví (điểm màu vàng) RFA screen capture
Do chiến tranh nên từ năm 1965, trên đảo chỉ có các lực lượng vũ trang làm nhiệm vụ. Cho đến cuối năm 1992, chính phủ Việt Nam ra Nghị định thành lập huyện đảo Bạch Long Vĩ, thuộc thành phố Hải phòng và kể từ đó, lực lượng thanh niên xung phong cùng một số ngư dân đã được đưa ra sinh sống và làm việc tại hòn đảo này.
Bạch Long Vĩ trong Hiệp ước Vịnh Bắc Bộ
Theo Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đảo Bạch Long Vĩ vẫn thuộc về Việt Nam.
Theo Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ, ký ngày 25 tháng 12 năm 2000 giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đảo Bạch Long Vĩ vẫn thuộc về Việt Nam.
Liên quan tới vấn đề này, trả lời phỏng vấn trên báo Nhân dân trước đây, ông Nguyễn Dy Niên, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có nói: "Phần Vịnh phía Việt Nam có khoảng 2.300 đảo, đá ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130 km". Ông Niên nói tiếp: "Theo Hiệp định, Việt Nam được hưởng 53,23% diện tích Vịnh Bắc Bộ và Trung Quốc được hưởng 46,77% diện tích. Đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý, tức đảo được hưởng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 3 hải lý." Và ông Lê Công Phụng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao cũng đã xác nhận điều này trong bài phỏng vấn đăng trên Tạp chí Cộng Sản hồi tháng 1 năm 2001 như sau: "Phần Vịnh phía ta có khoảng 1.300 hòn đảo ven bờ, đặc biệt có đảo Bạch Long Vĩ nằm cách đất liền nước ta khoảng 110 km, cách đảo Hải Nam, Trung Quốc, khoảng 130 km. Về diện tích tổng thể ta được 53,23% diện tích Vịnh, Trung Quốc được 46,77%, đường phân định cách đảo Bạch Long Vĩ 15 hải lý."
Diễn biến mới nhất
Thế nhưng mới đây, theo tin tức từ các cơ quan truyền thông trong nước và báo chí nước ngoài thì dường như Trung Quốc đang tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ với Việt Nam. Theo tin từ báo Việt Nam Net và báo Tuổi Trẻ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ra thăm đảo Bạch Long Vĩ trong 3 ngày cuối tháng 3 và đầu tháng 4. Tại đó, ông Nguyễn Minh Triết đã khẳng định: "Dù là đảo nhỏ nhưng Bạch Long Vĩ là tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và là hòn đảo tiền tiêu có ý nghĩa quan trọng cả về an ninh quốc phòng lẫn kinh tế - xã hội."
Dù là đảo nhỏ nhưng Bạch Long Vĩ là tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc và là hòn đảo tiền tiêu có ý nghĩa quan trọng cả về an ninh quốc phòng lẫn kinh tế - xã hội.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết
Ông Chủ tịch nhấn mạnh: "Đối với biên giới, lãnh hải, chúng ta luôn muốn hòa bình hữu nghị giữa hai dân tộc, giữa các dân tộc có biên giới với chúng ta, đó là mong muốn của nhân dân. Có hòa bình, hữu nghị thì nhân dân mới có cuộc sống ổn định, đó là thiện chí của cả dân tộc VN suốt hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Làm việc này trên cơ sở thương lượng, trao đổi, vận động, thuyết phục. Không vì vậy mà để cho bất cứ ai xâm lấn bờ cõi của mình, biển đảo của mình. Khẳng định đây là chủ trương đúng đắn, quyết tâm không gì lay chuyển được của Đảng, Nhà nước. Chúng ta không tham của ai, nhưng một tấc đất quê hương chúng ta cũng không nhân nhượng." Riêng báo chí nước ngoài, trong mấy ngày qua cũng có đề cập đến việc tranh chấp đảo Bạch Long Vĩ. Trong một bài báo đăng trên tờ EarthTimes ngày 2 tháng 4 với tựa đề “Lãnh đạo Việt Nam nguyện bảo vệ lãnh thổ trên Biển Đông”, có nhắc tới việc Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết được hai tàu hải quân hộ tống ra thăm đảo Bạch Long Vĩ. Bài viết có đoạn: "Việt Nam đã kiểm soát Bạch Long Vĩ từ năm 1957, nhưng một số viên chức Trung Quốc tranh chấp với Việt Nam về hòn đảo này."
Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đi tới một hòn đảo đang tranh chấp để nói với các sĩ quan hải quân Việt Nam chuẩn bị “chiến đấu cho chủ quyền của tổ quốc trong bất kỳ tình huống nào
South China Morning Post
Sau đó, một bài báo có tựa đề “Hà Nội để mắt tới lá bài Asean trên Biển Đông”, số ra ngày 4 tháng 4, trên tờ South China Morning Post, có 2 đoạn cũng nhắc lại việc tranh chấp hòn đảo Bạch Long Vĩ. Bài báo viết: … "Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đi tới một hòn đảo đang tranh chấp để nói với các sĩ quan hải quân Việt Nam chuẩn bị “chiến đấu cho chủ quyền của tổ quốc trong bất kỳ tình huống nào”. Và một đoạn khác trong bài báo viết rằng: "Hôm thứ sáu, ông Nguyễn Minh Triết đã tổ chức một chuyến viếng thăm hiếm hoi tới một căn cứ hải quân Việt Nam trên hòn đảo đang tranh chấp Bạch Long Vĩ giữa miền Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam." Qua các tin tức trên các phương tiện truyền thông trong nước và nước ngoài trong mấy ngày qua, có những điều bất thường về hòn đảo này. Phải chăng Trung Quốc đã muốn hòn đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam?
Tiếp tục thần phục TC
Trung Ương Ðảng Cộng Sản Việt Nam mới họp xong bữa đầu tháng, vẫn tiếp tục “nhai lại” khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” để chuẩn bị cho Ðại Hội thứ 11 sắp tới. Như đã trình bày trong mục này, khẩu hiệu đó có nghĩa là Ðảng Cộng Sản vẫn tiệp tục bảo vệ kinh tế quốc doanh để giữ quyền lợi của các đảng viên thiếu khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nhưng trên mặt ngoại giao, thì khẩu hiệu này có nghĩa là Cộng Sản Việt Nam phải tiếp tục lệ thuộc vào Cộng Sản Trung Quốc, không thể thoát.
Sau khi “tổ quốc Liên Xô” của ông Lê Duẩn tan rã năm 1989, thì từ thời Nguyễn Văn Linh cho đến thời Lê Khả Phiêu, các tổng bí thư vẫn coi việc quy phục Trung Quốc là cách duy nhất để cứu vãn cơ đồ thống trị của đảng trên nước Việt Nam.
Nhưng lấy lý do nào để biện minh cho việc quay về thần phục Trung Quốc, sau khi đã bị quân đội Trung Cộng tấn công ở biên giới năm 1979 và ở Trường Sa năm 1988? Các ông tổng bí thư này phải nêu lý do cao siêu hơn quyền lợi. Họ giải thích hai nước “đồng chí anh em” là những thành trì cuối cùng bảo vệ thứ gọi là “chủ nghĩa xã hội!”
Từ đó, Việt Cộng bắt đầu theo con đường lệ thuộc Trung Cộng. Cho nên, trong ngôn ngữ ngoại giao của Cộng Sản Việt Nam, khi nào còn đề cao chủ nghĩa xã hội là còn chủ trương mối bang giao với Trung Cộng là trọng tâm chiến lược.
Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh là người có kinh nghiệm cá nhân đau đớn khiến chính bản thân ông coi việc quy phục Trung Cộng là điều không thể tránh được. Tháng 10 năm 1989, Nguyễn Văn Linh tới Berlin dự quốc khánh Ðông Ðức, được chứng kiến cảnh diễu võ dương oai của “Cộng Hòa Dân Chủ Ðức” với các cuộc mít tinh hàng trăm ngàn người hô các khẩu hiệu chủ nghĩa cộng sản muôn năm đầy “hồ hởi phấn khởi.” Trong cuộc tiếp tân, Nguyễn Văn Linh được lãnh tụ cộng sản Ðông Ðức Honecker báo tin là chế độ Cộng Sản Ðức sẽ tồn tại vĩnh viễn mặc dù làn sóng người Ðông Ðức đang chạy ào ào qua Hung, Tiệp rồi qua Tây Ðức. Khi Nguyễn Văn Linh về tới Hà Nội thì bức tường Berlin bị sập, Honecker bị chính các đàn em lật đổ. Theo cuốn hồi ký “Hồi Ức và Suy Nghĩ” của Trần Quang Cơ, viết năm 2001, thì trong cuộc đại lễ ở Berlin, Linh cũng gặp lãnh tụ Rumani là Chủ Tịch Ceaucescu. Lãnh tụ tối cao cha già dân tộc Rumani và “anh Linh xem ra tâm đầu ý hợp trong việc bàn chuyện tâm huyết cứu vãn sự nghiệp xã hội chủ nghĩa thế giới đang lâm nguy.”
Nhưng ngay sau đó, Linh nghe tin cả hai vợ chồng Ceaucescu bị các đàn em đảo chính và đem bắn. Những kinh nghiệm đó khiến Linh phải lo lắng cho số phận của chính mình và các lãnh tụ cộng sản Việt Nam khác. Phải tìm cách tự cứu!
“Trước tình hình ấy,” Trần Quang Cơ viết, trong nội bộ Ðảng Cộng Sản Việt Nam “nổi lên một ý kiến... phải bằng mọi giá bắt tay ngay với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” (trang 22, bản thảo sách trên). Xin nhấn mạnh những chữ “bằng mọi giá” và “ngay” lập tức. Cựu Thứ Trưởng Ngoại Giao Trần Quang Cơ mô tả luận điểm của Nguyễn Văn Linh dùng để thuyết phục Bộ Chính Trị nên chịu thua Trung Cộng là: “Dù bành trướng thế nào, Trung Quốc vẫn là một nước xã hội chủ nghĩa.” (trang 10). Linh đã nhấn mạnh lý luận trên khi Bộ Chính Trị thảo luận về kết quả cuộc gặp gỡ các lãnh tụ Trung Cộng ở Thành Ðô năm 1990, trong đó, Linh đã chấp nhận ngay phương cách giải quyết cuộc chiến ở Căm Pu Chia do Trung Cộng đề nghị, mặc dù Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch đã chống nên không được mời sang Tầu (trang 37).
Trước đó, khi Liên Xô bắt đầu giảm bớt viện trợ kinh tế, mà các chính sách xã hội chủ nghĩa của Cộng Sản Việt Nam đã đưa quốc dân đến kiệt quệ, năm 1988 đảng đã đành nhẫn nhục, tự sửa cả điều lệ đảng lẫn Hiến Pháp, chịu xóa bỏ những câu ngu dốt viết trong thời Lê Duẩn, gọi tên “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất.” Ngày 5 tháng 6 năm 1990, để xin hòa trước khi sang Thành Ðô, Nguyễn Văn Linh đã mời Ðại Sứ Trung Cộng Trương Ðức Duy tới, tự thú nhận là Ðảng Cộng Sản Việt Nam đã sai lầm, đồng thời khoe công nay đã thay đổi: “Trong 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi lời nói đầu Hiến Pháp, có cái sai đang sửa.” Linh ngỏ ý muốn sang Tầu gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội;” vì “đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội.” Lời nói của Nguyễn Văn Linh được Trần Quang Cơ thuật lại nguyên văn như sau, “Chúng tôi muốn cùng những người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc... Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin...” (trang 26). Lúc đó Nguyễn Văn Linh đóng vai người lãnh đạo cao nhất nước mà nhún mình nói, “các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay!” Không có cách nào “khiêm tốn” hơn!
Ba ngày trước khi Linh, Ðỗ Mười, Phạm Văn Ðồng lên đường sang Thành Ðô, Bộ Chính Trị họp ngày 30 tháng 8 năm 1990. Trần Quang Cơ kể, “Anh Linh nêu ý kiến là sẽ bàn hợp tác với Trung Quốc để bảo vệ chủ nghĩa xã hội chống đế quốc...” Linh được Lê Ðức Anh ủng hộ, mặc dầu có những người không tin việc hợp tác với Trung Cộng có thể thực hiện được, như Nguyễn Cơ Thạch, Võ Chí Công. Sau cuộc họp Thành Ðô, khi các lãnh tụ cộng sản Việt Nam bay sang Cam Pu Chia giải thích phương cách giải quyết này với Hunsen, Lê Ðức Anh nói thêm cho rõ, “Mỹ muốn cơ hội này xóa bỏ cộng sản. Nó đang xóa ở Ðông Âu... Ta phải tìm đồng minh. Ðồng minh này là Trung Quốc.” (trang 36).
Qua những lời tường thuật trung thực của Trần Quang Cơ, một người tỏ ra rất trung thành với đảng và kính trọng Nguyễn Văn Linh, chúng ta thấy động cơ khiến Linh và tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã lựa chọn con đường hợp tác với Trung Cộng chỉ vì họ thấy hoàn toàn cô đơn, không còn biết nương tựa vào đâu để “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Trong thực tế là bảo vệ quyền hành của họ. Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ sau này đều bị loại dần dần ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng Cộng Sản vì không “nhất trí!”
Nguyễn Văn Linh đã khởi xướng chủ trương quy phục Trung Cộng, có thể chỉ vì biết mình đã được lọt vào mắt xanh giới lãnh đạo cộng sản bên Tầu. Tháng 10 năm 1989, tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Lào là Kayson Phomvihan đã qua Bắc Kinh, được Ðặng Tiểu Bình tiếp đãi trong 70 phút, trong đó 60 phút là nói chuyện về Việt Nam. Qua Kayson, Ðặng Tiểu Bình đã “bắn tin” cho các lãnh tụ Hà Nội. Trần Quang Cơ viết, “Trong khi không tiếc lời phê phán Lê Duẩn, Ðặng đã hết lời ca ngợi Nguyễn Văn Linh. Ðặng kể lại khi làm tổng bí thư Ðảng Cộng Sản Trung Quốc, năm 1963 (Ðặng) đã tổ chức đưa Nguyễn Văn Linh từ miền Nam (Việt Nam) sang Hồng Kông để đi Bắc Kinh gặp nhau, (Ðặng) khen Anh Linh là 'người tốt, sáng suốt, có tài'; nhờ Kayson chuyển lời thăm anh Linh...” (trang 22).
Không thể nói Nguyễn Văn Linh đã ngả theo Trung Cộng vì bị “ăn bánh phỉnh” của Ðặng Tiểu Bình. Bởi vì chính sách quy phục Trung Cộng không do một cá nhân quyết định là vì đa số các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam thời đó đồng ý. Vì họ không có chỗ tựa nào khác. Muốn dựa vào Trung Cộng, họ phải nêu một lý do cao cả hơn quyền lợi của nhóm thiểu số cầm quyền này, lý do cao cả đó là “bảo vệ chủ nghĩa xã hội.” Mặc dù không ai biết chủ nghĩa nó thực hiện thế nào, ngoài chế độ công an và hệ thống doanh nghiệp nhà nước!
Ðiều tội nghiệp cho Việt Cộng là Trung Cộng hoàn toàn thờ ơ với ý kiến hoàn toàn lý thuyết cao siêu đó. Họ chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ, và sẵn sàng đánh sau lưng Ðảng Cộng Sản Việt Nam. Trung Cộng đã “mở bài” làm “lộ tẩy” những bí mật trong cuộc đàm phán về Cam Pu Chia giữa hai nước. Trần Quang Cơ kể, “Hiểm độc nhất là Trung Quốc đã thông báo khá rộng rãi với các nước những điều Nguyễn Văn Linh và Lê Ðức Anh nói riêng với Trương Ðức Duy.” (đại sứ Trung Cộng ở Hà Nội). “Sáng ngày 26 tháng 6, 1990 đại sứ Cộng Hòa Liên Bang Ðức gặp Bộ Ngoại Giao ta, cho biết là ngày ngày 22 tháng 6 Trung Quốc đã thông báo cho đại sứ các nước Liên Hiệp Âu Châu ở Bắc Kinh nội dung cuộc họp giữa Từ Ðôn Tín và tôi (Trần Quang Cơ) và đưa ra kết luận: 'Việt Nam là những người rất xảo trá, rất xấu xa...’” Một tháng sau cuộc họp ở Thành Ðô, Ngoại Trưởng Mỹ James Baker nói với các nhà báo rằng Trung Quốc tố cáo các lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam nói rồi không giữ lời. Baker được Trung Cộng mớm cho, tuyên bố thẳng, “Không thể tin được ngay cả lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam.” Trần Quang Cơ thuật lại, “Baker còn nói rằng Trung Quốc đã bác bỏ đề nghị... 'Việt Nam và Trung Quốc đoàn kết bảo vệ chủ nghĩa xã hội...'” mà giới lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đưa ra. Bắc Kinh nói một cách công khai, lại khuyến khích ngoại trưởng Mỹ nhắc lại, để làm mất mặt nhóm lãnh tụ ở Hà Nội. Nhưng nhóm lãnh tụ này vẫn cắn răng chịu đựng!
Trước những thủ đoạn xảo trá của Bắc Kinh như vậy, thật không thể hiểu được tại sao các Ðảng Cộng Sản Việt Nam vẫn bám lấy con đường hợp tác với Bắc Kinh để bảo vệ chủ nghĩa xã hội! Ðến thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, ông ta còn đi sang Tầu năn nỉ tái lập một tổ chức quốc tế cộng sản, với Việt Nam, Cuba, Bắc Hàn, mà Trung Cộng đứng lãnh đạo!
Có phải các lãnh tụ cộng sản bây giờ vẫn muốn trung thành với di sản chủ nghĩa xã hội do Hồ Chí Minh để lại, hay không?
Ðiều này khó tin. Vì tất cả các lãnh tụ trung ương đều đang lo vơ vét của cải cho vợ, con, gia đình. Họ chỉ lo bảo vệ những của cải đó chứ không thiết tha đến chủ nghĩa nào cả.
Vậy tai sao cuộc họp Trung Ương Ðảng Cộng Sản vừa qua vẫn nhấn mạnh đến khẩu hiệu “Tiến tới chủ nghĩa xã hội” trên “giai đoạn quá độ” dài dằng dặc không biết bao giờ tới bờ bên kia?
Vì khẩu hiệu đó cũng là một tín hiệu về ngoại giao. Hô khẩu hiệu đó là cho biết đảng vẫn tiếp tục chính sách của Nguyễn Văn Linh, Lê Khả Phiêu: Vẫn tuyệt đối trung thành với các đồng chí Trung Quốc. Kể từ thời Nguyễn Văn Linh, bất cứ ai lên cầm quyền ở Hà Nội, đều phải được Bắc Kinh phê chuẩn. Trung Cộng không cho Nguyễn Cơ Thạch đi trong phái đoàn sang Thành Ðô năm 1990. Thế là sau đó Thạch bị rút ra khỏi Bộ Chính Trị và Trung Ương Ðảng, suốt đời không còn ngóc lên được nữa. Trung Cộng mời Phó Thủ Tướng Vũ Khoan sang Bắc Kinh năm 2005, nhưng Khoan tới nơi bèn bị bỏ rơi giữa chợ, không cho gặp một nhân vật quan trọng nào cả. Thế là mọi người đều hiểu: Vũ Khoan không thể lên chức thủ tướng được, mặc dù đã có công vận động để ký thỏa ước thương mại song phương với Mỹ cho Việt Nam vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới. Vì thế Nguyễn Tấn Dũng, một phó thủ tướng khác, đã lên ngồi ghế thủ tướng cho tới bây giờ.
Chỉ khi nào Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính thức từ bỏ chủ nghĩa Mác Lê, đổi tên đảng, bỏ những chữ “xã hội chủ nghĩa” trong tên nước; khi nào dân Việt Nam được sống làm người Việt bình thường không theo chủ nghĩa nào cả, không bám lấy cường quốc nào để nhận làm anh em cả, thì lúc đó Việt Nam mới thực sự độc lập!
Ngô Nhân Dụng
Hà Nội để mắt tới quân bài Asean trên biển Đông
Ngọc Thu, lược dịch từ báo SCMP
2010-04-05
Lo sợ việc tranh chấp trên Biển Đông, Việt Nam sẽ ra sức đánh đổ một chiến thắng ngoại giao của Trung Quốc về việc Bắc Kinh đưa vấn đề Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự của Asean.
AFP PHOTO
Ảnh chụp trước Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình hôm 05-04-2010, nơi sẽ diễn ra Hội nghị Asean 16 trong vài ngày tới.
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">
Chủ tịch Asean
Là nước đang chủ trì hội nghị tổ chức hai lần hàng năm, tập hợp 10 nhà lãnh đạo Đông Nam Á, Hà Nội đang tiến tới hành động bắt đầu các cuộc đàm phán về sự cần thiết cho một quy tắc ứng xử ràng buộc pháp lý giữa Asean và Trung Quốc trên Biển Đông.
Việc đẩy mạnh này xảy ra sau một tuần ăn miếng trả miếng giữa hai kẻ thù cũ mà kết thúc qua việc Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết đi tới một hòn đảo đang tranh chấp để nói các sĩ quan hải quân Việt Nam chuẩn bị để “chiến đấu cho chủ quyền của tổ quốc trong bất kỳ tình huống nào”. Sẽ là một trận chiến khó khăn cho Việt Nam. Trung Quốc đã rất khôn ngoan, làm cho từng nước Asean suy nghĩ trước về mối quan hệ riêng của mình với Bắc Kinh.
Nhà Ngoại giao Asean
Năm ngoái, Bắc Kinh đã thành công trong việc cản trở các bước đi tương tự, nhấn mạnh cả chung lẫn riêng từng nước rằng, tranh chấp phải được giải quyết song phương giữa Trung Quốc và từng nước đang tranh chấp riêng lẻ hơn là “những cuộc tranh cãi” ở Hiệp hội các nước Đông Nam Á - một hành động mà các nhà phân tích cho rằng để củng cố vị trí của Bắc Kinh một cách có hiệu quả, cho thấy sức mạnh quân sự và kinh tế đang lên.
Tuy nhiên, Hà Nội cho thấy đang ở trong tâm trạng không thể bỏ qua và muốn sử dụng đầy đủ tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm để đưa vấn đề trở lại chương trình nghị sự.
Các nhà lãnh đạo Asean sẽ có mặt tại hội nghị thượng đỉnh đầu tiên trong năm tại Hà Nội bắt đầu từ thứ tư.
Tuần trước, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Quang Vinh, nói rằng “tất cả mọi thứ và bất cứ điều gì liên quan đến an ninh khu vực” sẽ được thảo luận trong hội nghị. Tuy nhiên, ông thừa nhận rằng liệu sự cần thiết về quy tắc ứng xử sẽ đưa ra trong bất kỳ thông cáo chung cuối cùng nào, có tùy thuộc vào “tham vấn và đối thoại” với Trung Quốc hay không.
Các công tác chuẩn bị cho Hội nghị Asean 16 đang hoàn thành, ảnh chụp hôm 05-04-2010. AFP PHOTO.
Năm 2002, ASEAN và Trung Quốc đã ký Tuyên bố về Biển Đông, được xem như một bước đầu quan trọng trong việc giảm căng thẳng và tạo ra một khuôn khổ cho các cuộc đàm phán trong tương lai. Kêu gọi kiềm chế và bảo vệ quyền tự do hàng hải trong các tuyến đường vận chuyển quan trọng, tuyên bố cũng kêu gọi đàm phán để đưa ra một quy tắc ứng xử ràng buộc pháp lý.
Nhiều nhà phân tích xem tuyên bố đó có hiệu lực như một “tờ giấy lộn”, khi căng thẳng ngày càng tệ hơn và sự hiện diện quân sự ngày càng gia tăng của một số nước, trong đó có Trung Quốc, Việt Nam cũng như Hoa Kỳ.
Trận chiến khó khăn
Năm ngoái, Trung Quốc chính thức hóa việc đòi chủ quyền lịch sử của mình trên hầu hết khu vực, nơi có các tuyến đường biển quan trọng nhất và các mỏ khí đốt trong vùng. Trung Quốc cũng đã gây sức ép lên Hoa Kỳ và các công ty dầu khí quốc tế rút khỏi các hợp đồng thăm dò dầu khí với Việt Nam. Trung Quốc và Việt Nam đòi chủ quyền trên hầu hết quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong khi Philippines, Malaysia và Brunei đòi chủ quyền một phần trên quần đảo Trường Sa.
Một nhà ngoại giao kỳ cựu trong khu vực nói: “Sẽ là một trận chiến khó khăn cho Việt Nam. Trung Quốc đã rất khôn ngoan, làm cho từng nước Asean suy nghĩ trước về mối quan hệ riêng của mình với Bắc Kinh”.
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">
Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi.
Ô. Nguyễn Minh Triết
Căng thẳng đã được thấy rõ chỉ vài ngày trước hội nghị thượng đỉnh. Hôm thứ ba Hà Nội thông báo rằng họ đã chính thức phản đối Bắc Kinh về việc hải quân tuần tra Trung Quốc bắt giữ một tàu đánh cá Việt Nam hôm 22 tháng 3 ở gần quần đảo Hoàng Sa.
Nhưng hôm thứ năm, Trung Quốc thông báo đã điều hai tàu thuộc Hội Quản lý Nghề cá để tuần tra quần đảo Trường Sa, Trung Quốc gọi là Nam Sa. Các tàu này là một trong những tàu lớn nhất và nhanh nhất trong hội quản lý tàu đánh cá, có thể tuần tra tới 50 ngày.
Trong khi Trung Quốc chiếm toàn bộ Hoàng Sa, dùng vũ lực đánh lực lượng Việt Nam ra khỏi cách đây 35 năm, quần đảo Trường Sa do Việt Nam kiểm soát, đã xây các căn cứ quân sự trên hơn 20 rạn san hô và các đảo nhỏ.
Hôm thứ sáu, ông Nguyễn Minh Triết đã tổ chức một chuyến viếng thăm hiếm hoi tới một căn cứ hải quân Việt Nam trên hòn đảo đang tranh chấp Bạch Long Vĩ giữa miền Bắc Việt Nam và đảo Hải Nam, theo truyền thông nhà nước Việt Nam. Ông Nguyễn Minh Triết nói: “Chúng tôi sẽ không cho phép bất cứ ai xâm phạm lãnh thổ của chúng tôi, biển và hải đảo của chúng tôi. Chúng tôi sẽ không nhân nhượng, cho dù một tấc đất cho bất cứ ai.”
(Source: Hanoi eyes Asean card on South China Sea/ Greg Torode, South China Morning Post, April 04, 2010)
Vì sao Hoa Kỳ phải trở lại Á Châu?
Ngọc Trân, thông tín viên RFA
2010-04-07
Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong những năm gần đây đã làm cho các nước láng giềng lo ngại, phải chăng chỉ có sự hiện diện của Hoa Kỳ ở khu vực mới có thể làm cho các nước yên tâm.
State Dept Photo
Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton gặp gỡ Tổng thư ký Asean Dr. Surin Pitsuwan hôm 18-02-2009.
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">Chính sách ngoại giao của Trung Quốc ở Đông Nam Á những năm gần đây, nhằm mục đích gây ảnh hưởng trong khu vực đã làm cho các nước lo ngại.
Bên cạnh hình ảnh một Trung Quốc hiếu chiến, để thu phục các nước, Trung Quốc đã tạo ra một hình ảnh khác. Đó là một Trung Quốc ôn hòa, áp dụng các chính sách quốc tế hòa nhã, chủ động cung cấp các nguồn viện trợ không hoàn lại và luôn hỗ trợ các nước trong khu vực.
Quyền lực mềm
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">
Quy mô của Trung Quốc rất khó cho tất cả các nước châu Á, kể cả Nhật Bản và Ấn Độ. Cho nên, chúng tôi cần Mỹ để cân bằng quyền lực.
Ô. Lý Quang Diệu
Không những thế, Trung Quốc không ngừng gia tăng ảnh hưởng lên các nước Đông Nam Á, bằng cách sử dụng “quyền lực mềm” trên các lĩnh vực không có sự can thiệp vũ trang như: văn hóa, ngoại giao, viện trợ nhân đạo, cho vay với lãi suất ưu đãi, hợp tác và đầu tư…
Về lĩnh vực văn hóa, Trung Quốc không ngừng xâm nhập văn hóa bằng cách cho mở nhiều Học Viện Khổng Tử ở châu Á. Các Học Viện Khổng Tử này thực chất là “Trung tâm văn hóa”, cơ quan truyền bá văn hóa của Trung Quốc ở nước ngoài, do chính phủ Trung Quốc tài trợ. Hiện có khoảng 70 Viện Khổng Tử khắp châu Á, chỉ riêng Thái Lan có 12 viện, và năm ngoái Trung Quốc đã cho khánh thành Viện Khổng Tử đầu tiên tại Việt Nam.
Bên cạnh đó, Trung Quốc còn tạo điều kiện thuận lợi cho các sinh viên Đông Nam Á đến học ở nước này, như tài trợ các suất học bổng cho sinh viên ở mọi cấp, từ bậc cử nhân cho tới tiến sĩ. Theo tin từ tờ Asia Times, hiện có khoảng 10.000 sinh viên Thái Lan đang du học ở Trung Quốc, nhiều hơn cả số sinh viên Thái đang theo học ở Mỹ.
Để gia tăng ảnh hưởng trong khu vực, cuối năm 2008, Trung Quốc lập “Đài Phát thanh Hữu nghị Trung Quốc – Campuchia”. Năm ngoái, Trung Quốc cho khánh thành thêm Đài phát thanh có tên “Tiếng nói Vịnh Bắc Bộ” ở tỉnh Quảng Tây, nhắm tới khoảng 100 triệu thính giả ở các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo trong lần gặp gỡ Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh (trái) tại Bắc Kinh vào năm 2008. AFP PHOTO.
Với mục đích kiểm soát các nước, Trung Quốc không ngừng viện trợ và đầu tư vào các nước châu Á. Trong năm qua, Trung Quốc đã cung cấp tổng số tiền viện trợ $25 tỷ đô la cho các nước trong khu vực. Gần đây, Trung Quốc đã bỏ ra $10 tỉ đô la để đầu tư vào cơ sở hạ tầng, cải thiện đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường viễn thông nối kết giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á.
Bên cạnh đó, Trung Quốc còn tài trợ các dự án khai thác tài nguyên ở các nước trong khu vực, hiện đang gây nhiều tranh cãi trong dân chúng rằng, liệu có mang lại lợi ích gì cho các nước được đầu tư, hay với mục đích phát triển kinh tế ở Trung Quốc.
Chẳng hạn như dự án khai thác bauxite ở Việt Nam, nhiều người cho rằng chỉ nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, gây tác hại rất lớn cho môi trường sống ở Việt Nam. Riêng Lào, Trung Quốc gần như nắm trong tay cả nền kinh tế của nước này. Theo tin từ báo Asia Times, Trung Quốc đang kiểm soát hầu hết các thành phần kinh tế ở Lào, từ khai thác mỏ đến thuỷ điện, dịch vụ khách sạn và cả dịch vụ bán lẻ.
Sức mạnh quân sự
Trong khi gia tăng sử dụng “quyền lực mềm” ở đất liền, thì ngoài biển khơi, Trung Quốc không ngừng sử dụng sức mạnh quân sự nhằm khẳng định vị thế siêu cường của mình.
Bất chấp tình trạng các hòn đảo ở Biển Đông Nam Á đang trong vòng tranh chấp với các nước, Trung Quốc luôn xem các đảo tranh chấp kia đã “thuộc về” mình.
Tháng trước, Trung Quốc bị Nhật đòi kiện ra Tòa án Quốc tế vì có ý định khai thác ở khu mỏ khí đốt Chunxiao mà họ đang tranh chấp với Nhật.
Vùng biển Đông, nơi có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Trung Quốc đang tranh chấp với Việt Nam và các nước khác, cũng được xem như là cái “ao nhà” của Trung Quốc.
Quân đội Trung Quốc trong một lần tập trận. AFP Photo.
Bất chấp luật pháp quốc tế và các nguyên tắc ứng xử trên biển mà họ đã ký, Trung Quốc đơn phương áp đặt lệnh cấm bắt đánh bắt cá, gây áp lực với các công ty nước ngoài nhằm ngăn chặn các hoạt động khai thác của các nước khác ở biển Đông. Gần đây, Trung Quốc tăng cường tuần tra trên biển, đơn phương đưa các tầu tuần tra đến quản lý vùng biển thuộc hải phận Việt Nam và các nước trong khu vực.
Có lẽ thái độ hiếu chiến của Trung Quốc đã buộc các nước Asean phải tìm kiếm sự hỗ trợ từ một siêu cường khác, nhằm cân bằng quyền lực trong khu vực. Điều này đã được ông Lý Quang Diệu, Bộ trưởng cố vấn Singapore, nói rõ trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ hồi năm ngoái: “Quy mô của Trung Quốc rất khó cho tất cả các nước châu Á, kể cả Nhật Bản và Ấn Độ, có thể sánh với Trung Quốc trong vòng 20 - 30 năm tới. Cho nên, chúng tôi cần Mỹ để cân bằng quyền lực.”
Hoa Kỳ trở lại?
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">
Hoa Kỳ đang hướng tới việc củng cố liên minh cũ và xây dựng quan hệ đối tác mới với các quốc gia trong khu vực Châu Á.
Tổng thống Obama
Hoa Kỳ rất quan tâm tới việc Trung Quốc đang gây ảnh hưởng trong khu vực bằng “quyền lực mềm”, cũng như việc gia tăng sử dụng sức mạnh vũ lực, gây sức ép lên các nước.
Trong chuyến công du hồi tháng 7 năm ngoái, phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Asean, Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton nói:“Chúng tôi sẽ xây dựng quan hệ đối tác ngày càng sâu rộng và năng động hơn với các nước Asean. Và đó là lý do tại sao tôi có mặt ở đây hôm nay. Hoa Kỳ trở lại Đông Nam Á. Tổng thống Obama và tôi tin rằng khu vực này quan trọng đối với sự phát triển toàn cầu, hòa bình và thịnh vượng. Và chúng tôi hợp tác hoàn toàn với ASEAN trên mọi lĩnh vực, dù phải đối mặt với nhiều thử thách từ an ninh trong khu vực và toàn cầu, cho tới cuộc khủng hoảng kinh tế, quyền con người, và biến đổi khí hậu.”
Cuối năm ngoái, trong chuyến viếng thăm châu Á, tại Nhật Bản, tổng thống Obama một lần nữa đã khẳng định: “Hoa Kỳ đang hướng tới việc củng cố liên minh cũ và xây dựng quan hệ đối tác mới với các quốc gia trong khu vực này. Cam kết của chúng tôi đối với an ninh của Nhật và an ninh ở châu Á không hề thay đổi. Điều này có thể thấy qua việc triển khai lực lượng của chúng tôi trong khu vực, trên tất cả là những thanh niên nam nữ trong các bộ đồng phục mà tôi rất tự hào về họ. Chúng tôi cũng tìm tới các quốc gia yếu hơn để giúp các nước này có vai trò lớn hơn, cả khu vực châu Á – Thái Bình Dương và xa hơn nữa là trên thế giới.”
Tháng trước, trong buổi điều trần về các hoạt động của Trung Quốc ở khu vực Đông Nam Á, ông Dana Rohrabacher, dân biểu Hoa Kỳ, đã thẳng thắn chỉ trích Trung Quốc về việc nước này gia tăng sự ảnh hưởng trong khu vực. Ông Rohrabacher nhắc đến Trung Quốc như là một: quốc gia chuyên chế muốn trở thành một đế chế độc tàivà tìm cách lan rộng ảnh hưởng sự thống trị khắp nơi, nhất là ở khu vực Đông Nam Á.
Phải chăng chỉ có sự hiện diện của Hoa Kỳ mới có thể kềm chế được Trung Quốc, giúp giữ vững an ninh và ổn định trong khu vực?
“Bôi trơn” hải quan cửa khẩu
Ngoài việc nộp các loại phí theo quy định, khi đi làm các thủ tục hải quan, các doanh nghiệp vẫn phải chi một khoản tiền gọi là “bồi dưỡng”.
Tiền “bồi dưỡng” 50.000 đồng kẹp trong hồ sơ làm thủ tục hải quan được nhân viên Nguyễn Thị Ngọc Bình (chi cục hải quan KCN VN - Singapore, Bình Dương) mở ra. Bà Bình rút tiền để dưới bàn phím máy vi tính trước mặt
Doanh nghiệp đưa tiền cho nhân viên hải quan Tạ Xuân Như (chi cục hải quan VSIP) ở khâu làm thủ tục kiểm hóa hàng
Nhân viên hải quan ngồi tại bàn có bảng tên Nguyễn Phương Thắng (chi cục hải quan KCN Mỹ Phước, Bình Dương) rút tờ 100.000 đồng kẹp trong hồ sơ - Ảnh: M.Đ.
Anh D., một nhân viên khai thuế hải quan ở Bình Dương, cho biết hồ sơ sai thì bị trả lại, nhưng hồ sơ đúng cũng phải “chung” và có barem cả. Nếu không “chung” thì cứ ngồi chờ, cán bộ còn bận... tán chuyện, ăn quà, giải quyết cho những người “biết điều”.
Phải “chung” đúng giá
Chi cục hải quan KCN VN - Singapore (VSIP) nằm trên khu đại lộ Hữu Nghị, KCN Sóng Thần (H.Dĩ An, Bình Dương). Tại đây doanh nghiệp đi làm thủ tục hải quan không thể thiếu công đoạn kẹp tờ 50.000 hoặc 100.000 đồng vào bộ hồ sơ của mình.
14g ngày 22-3, một người làm thủ tục xuất khẩu để bộ hồ sơ có kẹp hai tờ 100.000 đồng lên cửa số 1, nhân viên hải quan ngồi tại bàn này có bảng tên Võ Thị Ngọc Hồng.
Bà Hồng ngoắc tay gọi người nộp bộ hồ sơ vào trong hỏi: “Sao có nhiêu đây?”. “Em cũng gắng thuyết phục sếp chi thêm cho công việc trôi chảy, nhưng sếp chỉ chịu vậy thôi”. “Bên em là bên nào, nói sếp tới làm đi”. “Em làm trực tiếp được rồi, chị thông cảm giúp”.
Bà Hồng nói như ra lệnh: “Bỏ thêm vô đây... ra ngoài đi”. Tiếp đó, bà Hồng cầm một tập hồ sơ dày lật qua lật lại, mở một bộ hồ sơ và rút tờ 50.000 đồng bên trong bỏ lên phía trên bàn phím máy tính một cách thản nhiên.
Ngồi gần bàn bà Hồng, một nam nhân viên hải quan cũng liên tục ký, liên tục lật hồ sơ. Mỗi lần ký xong bộ hồ sơ, nhân viên này không rút tiền liền mà cẩn thận kẹp lại trong tập giấy, khi đưa trả cho khách hàng mới khéo léo kéo lại và bỏ vào túi quần rất nhanh.
Sáng 23-3, tại cửa số hai, nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký hàng xuất khẩu, nhân viên hải quan Nguyễn Thị Ngọc Bình luôn miệng với đồng nghiệp, tay giở hồ sơ và rút tiền hết sức chuyên nghiệp.
Gần 11g, lúc này người làm thủ tục hải quan rất đông, bà Bình liên tục làm động tác một tay mở hồ sơ, một tay rút tiền kẹp. Chỉ chưa đầy 3 phút, bà Bình đã “giải quyết” xong bốn bộ hồ sơ với ba lần rút tiền, được bốn tờ 50.000 đồng.
Trước đó, khoảng 15g ngày 19-3, tại quầy kiểm tra chi tiết, giá thuế của công chức Phạm Hoàng Vân. Một bộ hồ sơ được lật qua lật lại nhiều lần, sau đó ông Vân gọi tên công ty có tên trong trong hồ sơ, người làm thủ tục tất tả vào nhận lại bộ hồ sơ.
Ông Vân lấy một tờ giấy nhỏ bọc tiền bên trong của người vừa bị trả lại hồ sơ, mân mê tờ 50.000 đồng rồi trả lại, tay chỉ vào tập giấy nói ngắn gọn: “Thiếu!”. Lật một bộ hồ sơ khác, có tờ 100.000 đồng, ông Vân thản nhiên cầm lên, vuốt tờ tiền, đút vào cạnh bàn phím trước mặt.
Sáng 24-3, tại cửa số 4, nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký tờ khai nhập khẩu, chi cục hải quan KCN Mỹ Phước (KCN Mỹ Phước, H.Bến Cát, Bình Dương), nhân viên hải quan có bảng tên Nguyễn Phương Thắng vừa nói chuyện với đồng nghiệp, vừa giải quyết xong ba bộ hồ sơ trong vòng 5 phút, rút được 200.000 đồng hết sức gọn gàng.
Có tiền là xong
Tại khu kiểm hóa chi cục hải quan VSIP chiều 18-3, lúc hơn 14g, một người đàn ông ôm một chồng hồ sơ vào khu kiểm hóa, bỏ lên bàn của nhân viên hải quan có bảng tên Tạ Xuân Như. Sau một hồi trao đổi, nhân viên ngồi bàn này lật hồ sơ, ký tên đóng dấu liên tục. Trong lúc đó, người làm thủ tục móc túi ra một tập tiền dày, đếm từng tờ 50.000 đồng rồi vo thành một tập dúi vào tay nhân viên hải quan đang đóng dấu.
Cũng tại đây, một bộ hồ sơ khác được kẹp tờ 50.000 đồng để trên bàn có bảng tên Trần Quang Vinh. Lát sau nhân viên này từ bên ngoài vào, mở hồ sơ, cầm tờ tiền đưa cho nhân viên Tạ Xuân Như ngồi bàn bên cạnh nói: “Anh ba, em hai”.
Ông Tạ Xuân Như cầm tiền bỏ vào hộc tủ, lấy ra một tờ 20.000 đồng trả lại và ký tên đóng dấu vào hồ sơ. Trong chưa đầy 5 phút có 4-5 người làm thủ tục kiểm hóa nhưng chỉ có một trường hợp được đưa lên bàn cân, còn lại chỉ qua công đoạn rút tiền là hoàn tất.
Tại chi cục hải quan VSIP có khoảng 40 nhân viên các công ty dịch vụ khai thuê hải quan trực tiếp đến làm thủ tục hải quan. Một nhân viên nhiều năm trong nghề cho biết mỗi ngày chỉ tính riêng lượng hồ sơ xuất - nhập khẩu của những người làm dịch vụ, ít nhất cũng phải đạt trên 500 bộ. Cá nhân anh từng có ngày làm hơn 60 hồ sơ, xuất nhập hơn 100 container hàng.
Theo những người thường đi làm thủ tục hải quan, nếu là hàng hóa bình thường, mỗi công đoạn làm thủ tục từ đăng ký định mức, mở tờ khai xuất nhập khẩu, kiểm tra chi tiết hồ sơ và giá thuế thì mỗi khâu mất 50.000 đồng để “bôi trơn”. Các khâu như thu lệ phí hải quan, bàn giao đơn chuyển cửa khẩu mỗi khâu 10.000-20.000 đồng.
Tính trung bình một bộ hồ sơ mất gần 200.000 đồng. Nếu phải kiểm hóa, tùy từng mặt hàng mà chung chi, không có giá cụ thể. Mức chung còn tùy vào người làm, tùy hồ sơ để có thể xin hạ giá hoặc bị ép chung cao hơn.
Chung tiền nhưng vẫn phải chầu chực
Tại đội thủ tục hải quan khu liên hợp thuộc chi cục hải quan KCN Mỹ Phước (KCN VN - Singapore II, H.Bến Cát) cũng diễn ra các hoạt động chung tiền khi làm thủ tục, nhưng rất nhiều người ở đây than thở về thái độ và tốc độ giải quyết công việc quá chậm.
Chiều 24-3, tại quầy số 4, nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký tờ khai xuất nhập khẩu do nhân viên Dương Văn Tuấn phụ trách có cả chồng hồ sơ chất cao 20cm được đặt trên quầy.
Người làm thủ tục sốt ruột chờ đợi. Ở phía trong, công chức Dương Văn Tuấn hết ra ngoài nói chuyện điện thoại lại nói chuyện với đồng nghiệp. Khi trở lại bàn làm việc, một tay vẫn cầm điện thoại nói chuyện, nhưng tay còn lại rút tiền từ hồ sơ bỏ vào hộc tủ rất thuần thục.
Theo Tuổi Trẻ online
World Bank tố cáo cty Mỹ gian lận ở VN
Ngân hàng Thế giới nói Glocoms đã gian dối để có được hợp đồng tại VN
Ngân hàng Thế giới vừa tuyên bố cấm công ty Glocoms Inc. của Hoa Kỳ tham gia các dự án có vốn tài trợ của ngân hàng trong thời gian trước mắt vì những gian lận của Glocoms tại Việt Nam.
Ngân hàng Thế giới (WB) nói giám đốc điều hành của Glocoms cũng bị cấm nhưng không nêu rõ tên của vị giám đốc này.
Glocoms bị tố cáo gian dối khi tham gia Dự án Hiện đại hóa Ngân hàng và Hệ thống Thanh toán giai đoạn 2 vốn được WB tài trợ hơn 100 triệu đô la Mỹ mặc dù hiện chưa rõ Glocoms cung cấp dịch vụ gì trong dự án.
Thông báo của WB nói:
"Việc tước quyền này được công bố sau khi Phó Chủ tịch Vụ Liêm chính của Ngân hàng Thế giới mở cuộc điều tra việc Glocoms báo cáo sai sự thật về kinh nghiệm và trình độ kỹ thuật của công ty.
"Vụ Liêm chính điều tra thấy rằng Glocoms đã giành được một hợp đồng do dự án tài trợ một phần dựa trên những sự giả mạo đó."
WB cũng nói việc cấm Glocoms tham gia các dự án có vốn của họ "là bằng chứng thể hiện quyết tâm của Ngân hàng Thế giới trong việc xử lý tất cả các hình thức gian lận và tham nhũng liên quan đến những dự án mà Ngân hàng tài trợ."
Quyền Giám đốc của WB ở Việt Nam, Alan Barbu nói ông sẽ trả lời thêm chi tiết với BBC Việt ngữ vào ngày mai 08 tháng Tư.
BBC cũng đã liên hệ với Glocoms qua thư điện tử để có phản hồi từ công ty này.
Theo tin trên trang chủ của Glocoms, công ty có trụ sở ở Chicago, Hoa Kỳ và là nhánh tư vấn quản lý của The Glocoms Group, tập đoàn chuyên về dịch vụ và giải pháp tư vấn quản lý.
Glocoms cũng nói họ cung cấp dịch vụ cho hơn 94 tổ chức quốc gia và quốc tế có tiếng cả trong lĩnh vực công và tư.