Vì sao tôi bỏ Quân Đoàn I
25.10.2009 13:00
Ngày 13 tháng 3 năm 1975, được lệnh vào Sài Gòn họp, tôi vào tới Sài Gòn nhưng với sự ngạc nhiên là chỉ có mình tôi vào gặp Tổng thống và Thủ tướng (Trần Thiện Khiêm) mà thôi. Ngoài tôi ra không có ai khác. Thường lệ khi được lệnh về Sài Gòn họp thì đều có đầy đủ mặt các vị Tư lệnh Quân đoàn và Tư lệnh các quân binh chủng khác. Lần nầy thì chỉ có một mình tôi. Tôi thắc mắc lo lắng.
Nhưng khi Tổng thống Thiệu cho biết ý định của ông ta là phải rút bỏ Quân đoàn I ngay hôm nay thì tôi mới vỡ lẽ, cay đắng, và uất ức vì lệnh ra quá đột ngột ngoài sức tưởng tượng và ngoài ước muốn của tôi. Thật ra, lúc đó tình hình tại Huế, Quảng Ngãi và Ðà Nẵng tuy có hơi nặng nề vì địch tấn công liên tiếp, tuy nhiên tôi đủ sức chống giữ và sẽ tăng cường Sư đoàn Dù cùng với Thuỷ Quân Lục Chiến ra những vùng đó để lấy lại ưu thế. Tôi trình bày cặn kẽ những ý kiến của tôi lên Tổng thống và Thủ tướng nhưng không được chấp thuận.
Lệnh bất dịch di là: Phải rút khỏi Quân đoàn I càng sớm càng hay. Trở ra Quân đoàn I, tôi cho triệu tập tất cả các Tư Lệnh Sư đoàn để họp. Thái độ khác thường của tôi làm các Sĩ quan trong buổi họp hôm đó có vẻ nghi ngờ, thắc mắc. Nhưng rốt cuộc tôi chỉ hỏi sơ qua tình hình và nói vu vơ quanh quẩn. Chứ làm sao tôi ra lịnh thẳng khi chỉ với một mình tôi là Tư lệnh Quân đoàn mà thôi. Vì vậy, cuộc họp hôm đó chẳng mang lại một kết quả nào mà tôi mong muốn. Lệnh của Tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân đoàn I vào ngày 13 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên. lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới Việt Nam thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên. Cái lẩm cẩm của trung ương là không cho các thuộc cấp biết ý định của mình. Nghĩa là các Tư lệnh các quân binh chủng, Tổng Bộ trưởng, Tư lệnh Sư đoàn, v.v… đã không biết gì về lệnh rút quân của Quân đoàn I và II cả. Lệnh nầy chỉ có Tổng thống và Thủ tướng, Ðại tướng Cao Văn Viên, tôi (Tư lệnh Quân đoàn I) và Tư lệnh Quân đoàn II (Tướng Phạm Văn Phú) biết mà thôi. Do đó thiếu sự phối họp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, không có kế hoạch rút quân đàng hoàng, lệnh đột ngột không có đủ thì giờ để xếp đặt kế hoạch, gây hoang mang cho binh sĩ, nhất là khi gia đình họ cũng không được bảo vệ đúng mức thì làm sao tránh khỏi hoang mang? Ai cũng lắng nghe tin tức thân nhân ở bên ngoài doanh trại. Thêm vào đó, tin tức Ban Mê Thuột, Pleiku, Kontum bị chiếm, Huế bỏ ngỏ, dân chúng Huế chạy vào Ðà Nẵng ngày một đông gây cảnh xáo trộn kinh hoàng cho dân Ðà Nẵng. Rồi sau đó là Chu Lai bị áp lực nặng. Tôi ra lệnh cho Tướng Trần Văn Nhựt rút Sư đoàn 2 từ Chu Lai ra trấn tại Lý Sơn (Cù Lao Ré) để kiểm soát đường bể,sợ địch ra chiếm đóng đường biển thì sẽ khó khăn. Trong khi đó, cảnh hỗn loạn đã xảy ra phần lớn do dân chúng hốt hoảng từ chỗ nầy sang chỗ khác làm cho binh sĩ nao núng và chạy cùng theo thân nhân. Mở miệng ra lệnh cho họ rút quân, trong khi mới hôm qua với lòng sắt đá và giọng nói cứng rắn hằng ngày buộc anh em phải giữ không để mất một cục sỏi ở Vùng I. Sau đó tôi suy nghĩ kỹ hơn. Tôi quyết định gọi Ðai tướng Cao Văn Viên nhờ xin Tổng thống cho tôi được dùng mọi cách để giữ Huế và Vùng I. Làm sao tôi bỏ Huế và Vùng I được? Làm sao tôi bỏ được vùng đất sỏi đá nầy mà bao nhiêu chiến hữu của tôi đã đổ máu để gìn giữ? Nhất là trong vụ Mậu Thân.
Tổng thống Thiệu rung động, chấp thuận cho tôi giữ Huế. Sáng 18 tháng 3 năm 1975, tôi ra Huế gặp Tướng Lâm Quang Thi (Tư lệnh phó Quân đoàn) chỉ huy tại Huế. Tôi ra lệnh: Giữ Huế cho thật vững. Chiều hôm đó về đến Ðà Nẵng, tôi nhận được một lệnh do Ðại tướng Cao Văn Viên, thừa lệnh Tổng thống yêu cầu tôi “bỏ Huế”. Thật làm tôi chết lặng người. Vì mới buổi sáng nay ở Huế tôi ra lệnh cho Tướng Thi giữ Huế. Bây giờ đột nhiên được lệnh bỏ thì tôi biết nói làm sao với Tướng Thi và anh em binh sĩ.
Nhưng vẫn phải đành thi hành theo lệnh trên. Tôi gọi điện thoại thông báo lệnh bỏ Huế cho tướng Thi. Tướng Thi trả lời ngay: “Ở Huế bây giờ xã ấp phường khóm tốt quá, đâu đâu tình hình cũng tốt cả mà tại sao anh bảo tôi bỏ là bỏ làm sao?" Tôi buồn bã trả lời: “Tôi biết rồi, nhưng xin anh bỏ Huế giùm tôi. Ðó là lệnh trên, không bỏ là không được”. Kết quả là Tướng Thi thi hành lệnh, bỏ Huế, và dồn quân đến cửa Thuận An để được tàu Hải quân rút về Ðà Nẵng.
Từ trái sang phải: Tr/T Hoàng Xuân Lẵm, Đai Tướng Cao Văn Viên, Tr/T Richard G. Stilwell, Th/T Ngô Quang Trưởng, (nguồn: US Army)
Trong khoảng thời gian từ 13 đến 18 tháng 3, hàng đêm tôi gọi điện thoại cho Thủ tướng Khiêm và báo cáo mọi biến chuyển từ công việc hành chánh đến quân sự. Tình hình khó khăn, địch tấn công, mà lại thêm cái lệnh phải rút càng sớm càng tốt, lan truyền rỉ rả cho nên binh sĩ và công chức hết sức xôn xao. Tôi báo cáo mọi việc và xin Thủ tướng ra quan sát tình hình. Sáng 19 tháng 3, 1975, Thủ tướng Khiêm đến, tôi cho họp tất cả vị Tư lệnh Sư đoàn, Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Bộ tham mưu, và các Trưởng phòng sở của hành chánh để Thủ tướng nói chuyện.
Trước khi Thủ tướng đến, tôi đã nói chuyện với anh em có mặt tại hôm đó rằng tình hình khẩn trương, anh em phải nói lên sự thật đang xảy ra trong thực tế tại nơi nầy để Thủ tướng biết rõ tình hình và giải quyết cấp thời, chứ đừng có giữ thái độ “trình thưa dạ bẩm” trong lúc nầy nữa. Phải thẳng thắn mà nói lên sự thật. Nhưng sau khi Thủ tướng nói chuyện xong, đến phần thắc mắc thì cũng chẳng có ai nói gì cả. Tôi rất buồn vì anh em không chịu nghe lời tôi để nói cho Thủ tướng biết những sự thật về tình hình hiện nay. Duy chỉ có một mình Ðại tá Kỳ, tỉnh trưởng tỉnh Quảng Trị, có hỏi một câu: “Thưa Thủ tướng, trong mấy ngày vừa qua, có một số công chức đã tự ý rời bỏ nhiệm sở không đến làm việc, thưa Thủ tướng, phải dùng biện pháp gì để trừng phạt những người đó?" Câu hỏi thật hay, nhưng Thủ tướng không trả lời và lảng sang chuyện khác. Vì Thủ tướng làm sao nói được khi lệnh trên đã muốn giải tán Quân đoàn I và Quân khu I càng sớm càng tốt.
Ðúng ngày 22 tháng 3 năm 1975, tôi được lệnh rút Sư đoàn Dù và Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến về giữ Nha Trang. Ngày 29 tháng 3, cộng quân tràn vào Ðà Nẵng với những trận giao tranh nhỏ. Tôi được chiến hạm HQ404 đưa về Sài Gòn. Trên tàu cũng có một Lữ đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến. Khi tàu chạy ngoài khơi, Tổng thống Thiệu liên lạc yêu cầu tôi ra tái chiếm lại Ðà Nẵng. Tôi trả lời ngay là bây giờ tôi lấy ai để theo chân tôi tái chiếm Ðà Nẵng? Lính tráng đã phân tán mỗi người một nơi. Cấp chỉ huy thì mạnh ai nấy thoát. Làm sao tôi có thể làm chuyện đó (tái chiếm Ðà Nẵng) được? Sau đó tôi được lệnh cho Hạm trưởng ghé tàu vào Cam Ranh, bỏ hết Thuỷ Quân Lục Chiến xuống, rồi chỉ chở một mình tôi về Sài Gòn. Tôi không chịu mặc dù lúc đó tàu đã cập bến Cam Ranh rồi. Tôi nhờ Hạm trưởng gọi về Bộ Tổng Tham Mưu xin cho anh em Thuỷ Quân Lục Chiến được về Sài Gòn tĩnh dưỡng nghỉ ngơi cùng tôi. Còn nếu không thì tôi sẽ ở lại Cam Ranh và đi theo anh em Thuỷ Quân Lục Chiến và cùng nhau chiến đấu. Sau đó, Sài Gòn bằng lòng cho tàu chở tất cả về Sài Gòn.
Về đến Sài Gòn tôi được bổ nhiệm vào Bộ Tư lệnh Hành quân lưu động ở Bộ Tổng tham mưu. Khi vào đây, tôi gặp Phó Ðề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải) và Chuẩn tướng Nguyễn Văn Khánh (Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân) đang ngồi viết bản tự khai, và Trung tướng Thi thì bị phạt quản thúc về tội bỏ Huế. Tôi không hiểu vì sao lại có chuyện kỳ lạ như vậy. Họ đâu có tội gì. Họ chỉ thi hành theo đúng lệnh mà lại bị phạt thì quả thật bất công.
Tướng Thi thực sự là người chống lại việc bỏ Huế. Lúc trước, khi nghe tôi cho biết là Tổng thống đã ra lệnh bỏ Huế thì Tướng Thi đã trả lời thẳng với tôi rằng: “Xã ấp tốt quá mà bỏ làm sao?” Vậy mà bây giờ ông lại bị phạt giam quản thúc. Những vị tướng nầy bị phạt quá oan uổng vì họ xứng đáng gấp mấy trăm lần những ông Tướng phè phỡn tại Sài Gòn.
Hôm sau, trong buổi họp tại Bộ Tổng tham mưu, tôi có nói rằng: “Việc phạt Tướng Thi và hai Tướng Thoại và Khánh là không đúng. Họ chỉ là thuộc cấp của tôi. Họ chỉ làm theo chỉ thị của tôi mà thôi. Họ không có tội gì cả. Nếu có phạt thì xin hãy phạt tôi đây này.” Phòng họp lặng ngắt. Ðại tướng Viên nhìn qua Trung tướng Trần Văn Ðôn. Tướng Ðôn mới đi Pháp về, mới đảm nhận chức Tổng trưởng Quốc phòng. Có thể vì vậy mà Tướng Ðôn mới không biết là Tổng thống Thiệu đã trực tiếp ra lệnh cho tôi bỏ Huế, nên Tướng Ðôn làm đề nghị phạt Tướng Thi vì đã bỏ Huế mà rút lui. Mà Tổng thống Thiệu lại không dám nói sự thật với Tướng Ðôn, và chỉ ký lệnh phạt. Sau đó, Tướng Lê Nguyên Khang, với giọng giận giữ đã buột miệng nói: “Anh em chúng tôi không có tội tình mẹ gì cả!”.
Tiện đây, tôi cũng xin nói về trường hợp ra đi của Tướng Thoại và Tướng Khánh. Là vị Tư lệnh trong tay có đến hàng ngàn lính, hàng trăm chiến hạm lớn nhỏ, nhưng tội nghiệp thay, sau khi hỗn loạn, Tướng Thoại đã bị bỏ quên không ai chở đi khỏi Bộ Tư lệnh ở Tiên Sa, và ông đã phải đi bộ qua dãy núi phía sau bờ biển. May nhờ có một chiếc tàu nhỏ của hải quân mà anh em trên tàu lúc đó cũng còn giữ kỹ luật, thấy Ðề đốc Thoại ở đó, họ ghé vào chở Tướng Thoại đi chứ nếu không lại cũng chẳng biết sau này sẽ ra sao. Còn Tướng Khánh, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân đã không đủ nhiên liệu để bay xa mà phải đáp trực thăng tại một bãi cát ở Sơn Trà rồi lội ra tàu. Cũng may lúc đó gặp tàu HQ404 và đã cùng tôi về Sài Gòn.
Ngô Quang Trưởng
Kẻ phản bội Lữ Giang Chúng ta có thể quên đi hay bỏ qua quá khứ để xây dựng một cuộc sống mới tốt đẹp hơn, nhưng sự thật lịch sử không thể thay đổi được. Thế nhưng, trong những năm gần đây, có một số người đang cố gắng sửa lại lịch sử VNCH! Hôm 5.10.2009, lễ chào quốc kỳ hàng tháng tại Tượng Ðài Chiến Sĩ ở Westminster, California, đã được tổ chức với khoảng 200 người tới dự. Sau đó, lễ này được biến thành lễ tưởng niệm cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu! Ðại Tá Phạm Văn Thuần, trưởng ban tổ chức, đã đứng lên phát biểu: "Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng là vị Tổng Tư Lệnh của Quân Lực VNCH. Ông đã là một chiến sĩ quốc gia cả đời phục vụ cho đất nước và dân tộc. Nay tưởng niệm đến người chiến sĩ kiên cường chống Cộng Sản này, chúng ta cùng cầu mong cho cố tổng thống được an nghỉ đời đời trên cõi vĩnh hằng." Nhiều quan khách tham dự đã lên bầy tỏ lòng ngưỡng mộ tinh thần "kiên quyết chống Cộng" của ông Thiệu. Ðại Tá Thuần cho biết sang năm sẽ phối hợp cùng nhiều đoàn thể để tổ chức lễ tưởng niệm rộng lớn và trang trọng hơn. Tiếp theo, một lễ tưởng niệm thứ hai đã diễn ra tại nhà hàng Regent West ở Santa Anna, cũng tại California, với sự tham dự của bà Nguyễn Thị Mai Anh, 80 tuổi, phu nhân của cựu Tổng Thống Thiệu, đến từ Boston, Massachusetts. Ông Nguyễn Thanh Liêm, Trưởng Ban Tổ Chức, đã đưa bà Thiệu duyệt qua 2 hàng nữ quân quân danh dự dàn chào. Dân biểu tiểu bang California Trần Thái Văn đã trao cho bà Thiệu "Bằng Tưởng Niệm"! Ông Hoàng Ðức Nhã, người thân cận của ông Thiệu, cũng từ Massachusetts đến, ca ngợi cố Tổng Thống "đã đương đầu với Kissinger và các chính khách Hoa Kỳ cấu kết với cộng sản Tàu, CSBV bắt buộc VNCH phải ký vào Hiệp Ðịnh Ba Lê ngày 27.3. 1973". Năm 2008, lễ tưởng niệm này đã được tổ chức tại Best Western Falls Church Inc., Virginia. SUY TÔN "BỌN ÁC ÔN CÔN ÐỒ"? Với những sự kiện trên, rõ ràng là có một nhóm đang âm mưu "phục hồi" địa vị của ông Thiệu, muốn ông đứng ngang hàng với vị thế của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, mặc dầu các tài lịch sử được tiết lộ trong thời gian gần đây cho thấy ông Thiệu là một tay sai chính của CIA trong kế hoạch làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Diệm, sau đó được CIA đưa lên lãnh đạo miền Nam để giúp nhóm tư bản quốc phòng Mỹ đưa quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam và thực hiện mục tiêu của họ. Thực hiện xong, họ bỏ miền Nam lại cho ông Thiệu quay cuồng với những hành động điên rồ khiến miền Nam bị mất một cách nhanh chóng, khoảng 94.000 chiến sĩ VNCH phải chịu cảnh lao tù cay nghiệt của Cộng Sản, gần 3 triệu người phải bỏ nước ra đi, và toàn dân miền Nam phải sống trong cảnh điêu linh. Nhóm tay sai của CIA Mỹ làm đảo chánh và giết ông Diệm, trong đó Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu đóng vai trò chủ chốt, đã bị Tổng Thống Johnson gọi là "một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" (a goddam bunch of thug). Nay một số người lại mưu toan tôn một tên "ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa" đã làm sụp đổ của miền Nam Việt Nam lên làm anh hùng! Ðó là một sự nhục nhã đối với VNCH. Chúng tôi biết có rất nhiều người lúc còn VNCH đã mang ơn ông Thiệu, nên họ nghĩ rằng phải làm "một cái gì đó" cho ông ta. Nhưng họ không thể làm sỉ nhục VNCH được. Ðại văn hào Voltaire đã từng nói: "Ta cần sự lễ kính đối với người sống; đối với người chết, chỉ cần sự thật." Chúng tôi đã viết khá nhiều bài nói về sự phản bội của ông Thiệu và trách nhiệm nặng nề của ông trong việc làm mất miền Nam Việt Nam. Với nhiều sự kiện mới, trong bài này, chúng tôi sẽ chứng minh rõ hơn ông Thiệu là một kẻ phản bội Tổng Thống Diệm và tổ quốc, làm tay sai cho CIA lật đổ ông Diệm và đưa miền Nam vào những ngày đen tối. Trong bài sau, chúng tôi sẽ chứng minh sự yếu kém cả về chính trị lẫn quân sự và sự độc đoán ngu xuẩn của ông Thiệu đã làm mất miền Nam Việt Nam một cách nhanh chóng. KHI CIA VÀO ÐẢNG CẦN LAO Ðại khái, ông Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5.4.1923 tại Ninh Thuận. Từ 1948 - 1949, ông theo học khóa sĩ quan trung đội trưởng tại Trường Sĩ Quan Ðập Ðá ở Huế cùng với Nguyễn Hữu Có, Hoàng Xuân Lãm, Ðặng Văn Quang..., và đã tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy. Năm 1951, qua sự mai mối của thân phụ của Chuẩn Tướng Lê Văn Tư, ông Nguyễn Văn Thiệu theo đạo Công Giáo để lấy cô Nguyễn Thị Mai Anh ở Mỹ Tho, con một gia đình công giáo danh giá. Khi theo đạo, Nguyễn Văn Thiệu lấy tên thành là Martino. Cô Mai Anh sinh năm 1930, học trường bà phước ở Mỹ Tho. Lễ kết hôn được tổ chức vào ngày 18.7.1951. Hai ông bà có 4 người con. Sau khi ông Diệm về chấp chánh, Trung Tá Tá Thiệu rất được ông Nhu tín nhiệm. Ông đã được cho đi học Khóa Chỉ Huy và Tham Mưu tại Command and General Staff College ở Fort Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ, khóa 1957 - 1958 với Trần Thiện Khiêm. Năm 1959 Trung Tá Thiệu lại được đi tu nghiệp tại Okinawa, Nhật Bản, và năm 1960 trở lại Hoa Kỳ học về võ khí mới ở Fort Bliss. Cuối năm 1960, ông Thiệu trở về Việt Nam và được thăng lên Ðại Tá rồi được giao giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Tướng Dương Văn Minh với nhiệm vụ theo dõi Tướng Minh vì Tướng này mới bị khám phá đang có liên lạc với Việt Cộng. Năm 1962, có lẽ do sự sắp xếp của CIA, Ðại Tá Thiệu đã xin gia nhập Ðảng Cần Lao để được ông Nhu tin tưởng hơn. Ðại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt và là Quân Ủy Trưởng của Ðảng Cần Lao, nhưng lại thiếu sự bén nhạy về an ninh và tình báo, đã đón nhận Ðại Tá Thiệu "một cách hoan hỷ"! Trong kế hoạch xây dựng Ấp Chiến Lược, Ðại Tá Thiệu đã có đóng góp nhiều ý kiến rất xuất sắc nên được ông Nhu khen ngợi. Sau đó, Ðại Tá Thiệu được cử đi làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh ở Huế. Ðầu năm 1963, khi thấy tình hình ở Sài Gòn lộn xộn, theo đề nghị của ông Nhu, Tổng Thống Diệm đã đưa Ðại Tá Thiệu từ Huế về làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 và Vùng 32 Chiến Thuật đóng ở Biên Hòa, thay thế Ðại Tá Nguyễn Ðức Thắng. Ðây là lý do đã khiến Ðại Tá Thắng bất mản. Vì thế, khi được phe đảo chánh móc nối, Ðại Tá Thắng nhận lời ngay. Ðại Tá Thiệu được ông Nhu trao nhiệm vụ giải cứu thủ đô khi có đảo chánh. Ông Nhu không hề biết Ðại Tá Thiệu là người của CIA. LỰC LƯỢNG DÙNG ÐẢO CHÁNH Sở dĩ các viên chức Hoa Kỳ phụ trách công tác vận động và tổ chức đảo chánh đã chú ý đến Tương Khiêm, Tướng Khánh và Ðại Tá Thiệu vì đây là ba nhân vật đang được ông Diệm và ông Nhu tin cậy. Cả Tướng Khánh lẫn Tướng Khiêm đã giải cứu ông Diệm trong cuộc đảo chánh ngày 11.11.1960, còn Ðại Tá Thiệu là "con cưng" của ông Nhu. Tướng Khánh lúc đó đang làm Tư Lệnh Quân Ðoàn II ở Pleiku, không thể chỉ huy cuộc đảo chánh được, nhưng ông có uy tín, có thể móc nối với các tướng khác. Ngày 6.12.1962, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã ký Sắc Lệnh thăng Ðại Tá Khiêm lên Thiếu Tướng và giao cho giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân thay thế Tướng Nguyễn Khánh vừa được cử đi làm Tư Lệnh Quân Ðoàn II. Ông Diệm có vẻ tin Tướng Khiêm hơn Tướng Khánh. Trong tài liệu "Contacts with Vietnamese Generals" (Tiếp xúc với các tướng Việt Nam) do CIA công bố sau này nói rất rõ Tướng Khánh và Tướng Khiêm là "agents" của CIA. CIA thấy rằng không lực lượng nào đang đóng tại Sài Gòn đủ khả năng chống lại Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống và Lực Lượng Ðặc Biệt của ông Diệm. Vì thế, CIA đã quyết định dùng Sư Ðoàn 5 của Ðại Tá Thiệu làm lực lương chính. Ông Nhu không thể ngờ Ðại Tá Thiệu có thể phản bội mình. Trong công điện ngày 22.10.1963 gởi cho Phụ Tá Trưởng Phòng Tình Báo thuộc Bộ Quốc Phòng, ông Jones, Tùy Viên Quân Sự tại Việt Nam, đã báo cáo rằng có ít nhất 4 tướng lãnh và 6 đại tá tham gia đảo chánh, trong đó có Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5. (FRUSS, 1961 - 1863, Volume IV, tr. 419 - 420. Document 206). Lúc 9 giờ 21 phút tối 29.10.1963 Trung Ương CIA ở Washington đã gởi cho Trạm CIA tại Sài Gòn một công điện nói về tương quan lực chung quanh Sài Gòn đã nói rõ Sư Ðoàn 5 ở Biên Hòa, về phía bắc, có 9.200 quân, do Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu chỉ huy, được tướng Ðôn xác nhận toàn bộ sư đoàn này theo phe đảo chánh (Don's claim of whole divison). Báo cáo do Hilsman soạn thảo ngày 29.10.1963 cũng đã xác định về sự tham gia đảo chánh của toàn bộ Sư Ðoàn 5 ở Biên Hòa, cách Sài Gòn khoảng 20 dặm như sau: "Tất cả theo đảo chánh." (All with coup). KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN Theo kế hoạch đảo chánh được tiết lộ về sau, ngoài Sư Ðoàn 5 của Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu, nhóm đảo chánh đã quyết định dùng hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến do Thiếu Tá Nguyễn Bá Liên (cháu Ðỗ Mậu), Tham Mưu Trưởng Lữ Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến chỉ huy làm lực lượng xung kích, Trung Ðoàn 1 Thiết Giáp ở Gò Vấp bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu và yểm trợ Thủy Quân Lục Chiến chiếm Dinh Gia Long, và khoảng 16.000 tân binh quân dịch ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung do Tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy chiếm một số cơ sở phụ trong đô thành Sài Gòn Theo sự sắp xếp của CIA, Trung Tướng Tướng Dương Văn Minh sẽ đứng ra thành lập và làm Chủ Tịch Hội Ðồng Quân Nhân cách Mạng (với sứ mạng giết ông Diệm và ông Nhu), Tướng Trần Văn Ðôn là Phó Chủ Tịch; Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm thành lập kế hoạch hành quân và chỉ huy cuộc hành quân; Tướng Lê Văn Kim phụ trách soạn thảo các văn kiện sẽ được công bố, v.v. Trước ngày đảo chánh, hai tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến do Thiếu Tá Nguyễn Bá Liên chỉ huy gồm có Tiểu Ðoàn 1 của Ðại Úy Trần Văn Nhựt và Tiểu Ðoàn 4 của Ðại Úy Lê Minh Hằng, được lệnh mở cuộc hành quân giả đánh vào núi Thị Vãi ở Ba Rịa, rồi bất thần quay về chiếm Tổng Nha Công An Cảnh Sát, đài Phát Thanh Sài Gòn và tấn công vào Dinh Gia Long. Trung Ðoàn 1 Thiết Giáp ở Gò Vấp do Ðại Úy Dương Hiếu Nghĩa chỉ huy, được phân công như sau: Chi Ðoàn 1/1 Chiến Xa M24 do Ðại Úy Bùi Văn Ngãi chỉ huy, yểm trợ chiếm Thành Cộng Hòa và Dinh Gia Long. Hai Chi Ðoàn Thiết Vận Xa M113 là 4/1 do Ðại Úy Trần Văn Thoàn chỉ huy và 5/1 do Trung Úy Nguyễn Văn Tỷ (thay Ðại Úy Hà Mai Việt) chỉ huy, sẽ phối hợp với hai Chi Ðoàn Thám Thính M114 là 2/1 và 3/1 bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu. Lực lượng của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung chiếm phi trường Tân Sơn Nhứt, Bộ Tổng Tham Mưu và Ðài Phát Thanh Quân Ðội ở Quang Trung. Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu đưa Sư Ðoàn 5 bao vây Sài Gòn và sẽ tiến vào thủ đô khi các lực lượng ở bên trong bắt đầu khai chiến. ÐÁNH LỪA ÔNG DIỆM Vấn đề quan trọng là làm sao đưa Lực Lược Ðặc Biệt ra khỏi Thủ Ðô và chuyển Sư Ðoàn 5 vào mà không bị nghi ngờ gì cả. Do đó, một tuần trước ngày đảo chánh, Tướng Trần Văn Ðôn đã vào trình Tổng Thống Diệm rằng các tin tình báo cho biết một số đơn vị Việt Cộng đã xâm nhập vào vùng ven đô. Ðặc biệt tại khu Hố Bò ở Củ Chi, Gia Ðịnh, phía Tây và Tây Bắc Sài Gòn. Tại đây, Việt Cộng đã thiết lập một vùng Tam Giác Sắt với hệ thống mật khu vòng đai như Hố Bò, Bời Lời và Long Nguyên. Việt Cộng đã xử dụng Hố Bò làm địa bàn liên lạc. Tướng Ðôn xin Tổng Thống cho xử dụng Lực Lượng Ðặc Việt và Sư Ðoàn 5 để mở cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng. Tổng Thống đồng ý. Ðược sự chấp thuận của Tổng Thống Diệm, Tướng Ðôn đã ra lệnh cho Ðại Tá Lê Quang Tung cho lập kế hoạch hành quân đưa Lực Lượng đi tảo thanh vùng Hố Bò, còn Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu lập kế hoạch hành quân vùng ven đô. Ðược lệnh, Ðại Tá Thiệu đã ra lệnh cho Thiếu Tá Lộ Công Danh, Trưởng Phòng 3 Sư Ðoàn 5, lập kế hoạch hành quân. Kế hoạch này được đặt tên là "Kế Hoạch Hành Quân Rừng Sát". Theo kế hoạch, Trung Ðoàn 7 sẽ về đóng tại Hàng Xanh, Trung Ðoàn 8 đóng tại cầu Bình Lợi và Trung Ðoàn 9 đóng ở cầu Bến Lức. Ðây là lực lượng chính của quân đảo chánh. Ngày 31.10.1963, Tổng Thống Diệm đã ký Sự Vụ Lệnh cho phép mở cuộc hành quân tảo thanh Việt Cộng ở khu Hố Bò. Ông Diệm đã trúng kế CIA! Có Sự Vụ Lệnh này, Tướng Ðính đã ra lệnh cho Ðại Tá Lê Quang Tung xử dụng Lực Lượng Ðặc Biệt mở cuộc hành quân giải tỏa khu Hồ Bò, đưa Lực Lượng này ra khỏi Thủ Ðô. Mật lệnh giữa Quân Ðoàn III và Lực Lượng Ðặc Biệt là Bravo I. Trong khi đó Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu được lệnh đưa Sư Ðoàn 5 về Sài Gòn để mở "cuộc hành quân ven đô". Nhưng Ðại Tá Thiệu chỉ được đem quân vào Thủ Ðô để tấn công Dinh Gia Long khi có mật lệnh Bravo II. (Tôn Thất Ðính, 20 năm binh nghiệp, tuần báo Chánh Ðạo, San Jose, 1998, tr. 437) Nhiều người không hiểu mật lệnh Bravo I và Bravo II là gì, đã cho rằng Bravo I là cuộc đảo chánh giả do ông Nhu dự tính thực hiện, sau đó làm Bravo II để bắt các thành phần định đảo chánh. Sự thật không phải như vậy, Tướng Ðính đã xác nhận Bravo I và Bravo II là kế hoạch hành quân đánh lừa ông Diệm như đã nói trên. PHÁ THẾ GỌNG KỀM CỦA ÔNG NHU Ðể bảo vệ Thủ Ðô, ông Nhu giao cho Quân Ðoàn III chỉ huy luôn Sư Ðoàn 7 ở Ðịnh Tường và cử Ðại Tá Lâm Văn Phát làm tư lệnh sư đoàn này thay Ðại Tá Bùi Ðình Ðạm. Ông Nhu nghĩ rằng Sư Ðoàn 5 giữ phía Bắc và Sư Ðoàn 7 giữ phía Nam sẽ tạo thành một "thế gọng kềm Nam - Bắc" bảo vệ Thủ Ðô khi có nguy biến. Ðại Tá Phát được lệnh phải đến trình diện Quân Ðoàn III vào ngày 30 hay 31.10.1963 và đến nhận chức ở Mỹ Tho vào ngày 1.11.1963. Nhưng khi đến trình diện ở Quân Ðoàn III, Ðại Tá Phát đã bị nhóm thuộc đơn vị tham mưu do Ðại Tá Nguyễn Hữu Có chỉ huy, bí mật giữ lại tại Quân Ðoàn III trước khi Trung Tá Nguyễn Khắc Bình tố cáo với ông Nhu rằng Ðại Tá Có rủ rê ông tham gia đảo chánh. Tướng Trần Văn Ðôn cho biết thêm: Tối ngày 31 tháng 10, sau khi dùng cơm ở nhà hàng Trung Hoa với Tướng Weede, Tham Mưu Trưởng của Tướng Hatkins, ông có ghé thăm Tướng Ðính tại Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III vào lúc 11 giờ 30 và nói quyết định của ông đưa Ðại Tá Nguyễn Hữu Có xuống làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 7 kể từ ngày 1.11.1963. Trưa 1.11.1963, Tướng Ðính gọi điện yêu cầu Tướng Trần Văn Ðôn ra lệnh cho Ðại Tá Ðạm bàn giao Sư Ðoàn 7 cho Ðại Tá Có. Tướng Ðôn đã ra lệnh ngay. Như vậy, cái "thế gọng kìm Nam - Bắc" mà ông Nhu quyết định thành lập để bảo vệ Thủ Ðô đã bị biến thành cái gọng kìm đánh sập chế độ. Ông Nhu không hề hay biết gì về chuyện này. CẦM CHÂN ÔNG DIỆM VÀ ÔNG NHU Ðại Sứ Lodge tuy tuyên số sẽ về Washington ngày 31.10.1963 để báo cáo tình hình, nhưng ông không về vì giờ đảo chánh đã đến, ông không muốn giao quyền chỉ đạo cuộc đảo chánh cho Tướng Harkins như Washington đã khuyến cáo, vì Tướng Harkins không muốn có cuộc đảo chánh. Ðô Ðốc Harry D. Felt, Tư Lệnh Thái Bình Dương, đột nhiên đã đến thăm Sài Gòn vào chiều 31.10.1963, được đưa vào Dinh Gia Long gặp ông Diệm lúc 10 giờ sáng ngày 11.1.1963 để cầm chân ông Diệm cho các tướng lãnh hành động. Trong khi đó, Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5, sẽ đến Dinh Gia Long vào cùng lúc đó, giả vờ báo cáo về tình hình với ông Nhu để cầm chân ông Nhu. 1.- Ông Lodge và Ðô Ðốc Felt đến cầm chân ông Diệm Mặc dầu hôm 1.11.1963 là ngày Lễ Chư Thánh, một ngày nghĩ, Ðại Sứ Lodge đã dẫn Ðô Ðốc Felt vào Dinh Gia Long gặp Tổng Thống Diệm. Theo ông Lodge, ông Diệm vẫn độc thoại về những gì đã nói với Bộ Trưởng McNamara, Tướng Taylor, Tướng Harkins và ông hôm 29.9.1963. Sau đó, ông Diệm nói thêm những điều sau đây với sự thẳng thắn không bình thường: (a) CIA đã đầu độc bầu không khí bằng cách đưa ra tin đồn về những cuộc đảo chánh chống lại ông ta. (b) Kế hoạch rút lui viện trợ của Chính Phủ Hoa Kỳ phương hại đến nỗ lực chiến tranh. (c) Chính Phủ Hoa Kỳ đã hoàn toàn sai lầm khi rút trợ cấp cho Lực Lượng Ðậc Biệt. Cuộc tranh luận kéo dài từ 10 giờ đến 11 giờ 15 sáng. 2.- Ðại Tá Thiệu đến cầm chân ông Nhu. Ông Cao Xuân Vỹ cho biết, khoảng 10 giờ sáng ngày 1.1.1963, trong khi Ðại Sứ Lodge dẫn Ðô Ðốc Felt vào thăm ông Diệm, Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Sư Ðoàn 5, đến gặp ông Nhu. Cuộc nói chuyện kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ông có hỏi ông Nhu có chuyện gì không. Ông Nhu trả lời rằng tình hình đều yên ổn. Ðại Tá Thiệu cho biết Sư Ðoàn 5 đang mở cuộc hành quân ven đô để tảo thanh Việt Cộng. Ông Nhu tỏ ra yên tâm khi để cho Lực Lượng Ðặc Biệt rời khỏi Sài Gòn, vì đã có Sư Ðoàn 5 của Ðại Tá Thiệu "bảo vệ" Thủ Ðô! Trong khi đó, tối hôm 31.10.1963, Ðại Tá Thiệu đã cho Trung Ðoàn 7 do Thiếu Tá Vũ Ngọc Tuấn làm Trung Ðoàn Trưởng, từ Ngã Ba Tam Hiệp, Biên Hòa, tiến theo xa lộ Biên Hòa đến đóng ở ngả ba đi Vũng Tàu. Trung Ðoàn 8 do Thiếu Tá Nguyễn Văn Tư làm Trung Ðoàn Trưởng, từ Bến Cát, Bình Dương, về đóng ở Lái Thiêu. Riêng Trung Ðoàn 9 do Thiếu Tá Vòng Ðồng Phóng làm Trung Ðoàn Trưởng, gặp khó khăn hơn vì phải đợi một tiểu đoàn giao khu Hố Bò lại cho Lực Lượng Ðặc Biệt đến thay thế mới rút ra quốc lộ 22 (Tây Ninh - Sài Gòn), kết hợp với một tiểu đoàn khác từ Tây Ninh đến đóng ở vùng Gò Dầu. Tất cả chuẩn bị tiến về Sài Gòn. Hai cuộc gặp gỡ "cầm chân" nói trên đã khiến các cấp chỉ huy có nhiệm vụ bảo vệ Sài Gòn không thể báo tin cho ông Diệm biết họ được mời đến họp tại Bộ Tổng Tham Mưu. Ðúng 1 giờ trưa, Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cho một số đơn vị của cả ba trung đoàn thuộc Sư Ðoàn 5 di chuyển về Saigon, một phần đóng ở ngả tư Hàng Xanh, một phần đóng ở cầu Bình Lợi và một phần đóng ở Phú Lâm để ngăn chận quân cứu viện từ ngoài tiến về giải cứu Sài Gòn. VAI TRÒ CỦA SƯ ÐOÀN 5 Ông Cao Xuân Vỹ, Tổng Giám Ðốc Thanh Niên, cho biết lúc 1 giờ 30, khi nghe tiếng súng bắt đầu nổ ran tại một vài nơi ở Sài Gòn, ông đã gọi cho ông Ngô Ðình Nhu tại Dinh Gia Long để hỏi thăm tin tức. Ông Nhu bảo ông Vỹ đi quanh một vòng xem tình hình như thế nào. Ông Vỹ lái xe đi một vòng rồi vào báo tin cho ông Nhu biết tình hình vẫn yên tỉnh. Ông Nhu hỏi: "Chúng nó lấy lực lượng đâu để đảo chánh?" Ông Nhu nhắc lại sáng nay Ðại Tá Thiệu mới đến đây nói chuyện và báo cáo tình hình vẫn yên tĩnh! Vì thành Cộng Hòa được phòng thủ khá kiên cố nên Tiều đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến và Thiết Giáp không thể chọc thủng được. Tướng Trần Văn Ðôn ra lệnh cho Ðại Tá Thiệu đưa Sư Ðoàn 5 tấn công vào Thành Cộng Hòa, nhưng Ðại Tá Thiệu trả lời chưa chuyển quân tới Sài Gòn được, mặc dầu lúc đó Trung Ðoàn 7 đang có mặt trên xa lộ Biên Hòa. Ðại Tá Thiệu muốn xem tình hình như thế nào rồi mới quyết định hành động. Buổi chiều, bản doanh của Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Ðoàn 5 và một bộ phận chỉ huy của Trung Ðoàn 7 đã được đưa vào đặt tại Trường Ðại Học Sư Phạm ở đường Cộng Hòa. Một phần của lực lượng Trung Ðoàn 7 đã tiến vào chiếm giữ một số vị trí đã định ở thủ đô. Cho đến giữa đêm mồng 1 rạng ngày 2.11.1963, Tiểu Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến của Ðại Úy Trần Văn Nhựt và Tiểu Ðoàn 6 Nhảy Dù từ Trung Tâm Vạn Kiếp đến, vẫn không phá vỡ được Thành Cộng Hòa. Ðại Úy Bùi Ngươn Ngãi chỉ huy Chi đoàn 1/1 Chiến Xa M24 tiến lên khai chiến với Liên Binh Phòng Vệ ở Thành Cộng Hoà thì bị bắn tử thương ngay trong chiến xa. Cái chết của Ðại Úy Ngãi ngay trong chiến xa đã khiến các chi đoàn chiến xa tham gia đảo chánh phải chùng lại. Sau cái chết của Ðại Úy Ngãi, Tướng Ðôn lại ra lệnh cho Ðại Tá Thiệu phải cho Sư Ðoàn 5 tấn công ngay. Không thể trì hoản được nữa, Ðại Tá Thiệu đã ra lệnh cho Trung Ðoàn 7 do Thiếu Tá Vũ Ngọc Tuấn chỉ huy, Ðại Ðội 5 Thám Báo và một pháo đội hổn hợp mở cuộc tấn công yểm trợ. Với sự yểm trợ của Sư Ðoàn 5, lực lượng đảo chánh vẫn không chiếm được Thành Cộng Hòa. Tướng Tôn Thất Ðính cho Tướng Ðôn biết Ðại Tá Lâm Văn Phát tình nguyện chỉ huy cuộc tấn công vào Thành Cộng Hoà. Tướng Ðôn hứa sẽ thăng Ðại Tá Lâm Văn Phát lên Thiếu Tướng nếu Ðại Tá Phát thanh toán xong Thành Cộng Hoà. Nhưng sau đó không nghe tin gì về việc Ðại Tá Phát tấn công vào Thành Cộng Hoà. Có lẽ Ðại Tá Thiệu không chịu trao quân. Tướng Ðôn ra lệnh Tiều Ðoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến của Ðại Úy Lê Hằng Minh bao vây Dinh Gia Long, và hứa sẽ cho lực lượng của Sư Ðoàn 5 và chiến xa đến yểm trợ sau khi chiếm xong Thành Cộng Hoà. Lúc 3 giờ sáng ngày 2.11.1963, sau khi vừa chiếm xong Thành Cộng Hoà, Tướng Ðôn ra lệnh cho Ðại Tá Thiệu tấn công vào Dinh Gia Long. Mặc dầu trong Dinh Gia Long chỉ có một Ðại Ðội Cận Vệ do Thiếu Tá Huỳnh Văn Lạc chỉ huy, nhưng việc tấn công Dinh Gia Long không dễ dàng vì tại đây có những công sự chiến đấu rất vũng chắc. Vã lại, còn nhiều đại đội bộ binh và chi đội thiết giáp của Liên Binh Phòng Vệ đang đóng tại Dinh Ðộc Lập, Vườn Tao Ðàn và Sở Thú. Họ chưa có hành động nào vì phải chờ lệnh của Tổng Thống Diệm. Tướng Ðôn ra lệnh cho Tướng Ðính phải thanh toán Dinh Gia Long trước khi hừng sáng, nhưng đến 4 giờ 30 sáng 2.11.1963, Tướng Ðính cho biết Thiết Giáp của quân đảo chánh ở ngoài và Thiết Giáp bảo vệ Dinh Gia Long không muốn đánh nhau. Tướng Ðính ra lệnh cho Ðại Tá Thiệu phải chiếm được Dinh Gia Long trước 6 giờ sáng. Bổng nhiên, lúc 5 giờ 15 sáng 2.11.1963, Tổng Thống Diệm đã ra lệnh cho Liên Binh Phòng Vệ buông súng, sau đó ông và ông Nhu rời khỏi nhà Mã Tuyên để đi vào nhà thờ Cha Tam. Chiều 3.2.1963, chính Tướng Trần Thiện Khiêm đã đích thân đến Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 ở Biên Hoà gắn lon Thiếu Tướng cho Ðại Tá Nguyễn Văn Thiệu. Trong một cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johnson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, Tổng Thống Johnson có kể lại với Thượng Nghị Sĩ Eugene McCarthy: "Ngài nhớ, lúc đầu họ nói với tôi về Diệm. Ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. Vì thế, chúng ta đã giết ông ta. Tất cả chúng ta đã họp lại với nhau và xử dụng một bọn ác ôn côn đồ đáng nguyền rủa (a goddam bunch of thug) để hạ sát ông ta. Bây giờ chúng ta không có sự ổn định chính trị [ở Miền Nam Việt Nam] từ lúc đó."
(Dân trí) - Huế là nơi tôi để lại thời sinh viên với bao kỷ niệm đẹp. Nhiều năm rồi nhưng mỗi khi nghe đài báo phát những bản tin về nước lũ dâng cao, mưa ngập thành phố, tôi lại nhớ đến những ngày trốn lụt cùng các bạn… Quê tôi ở miền núi nên lụt lội là hiện tượng hiếm thấy, có chăng chỉ là những trận lũ quét và sạt lở đất. Ngày tôi ba lô con cóc vào Huế mài kinh nấu sử để thi Đại học, mẹ bỏ cho tôi 20 cân gạo và một ít muối mè, muối đậu. Ở quê tôi hầu hết học sinh thi đậu năm đầu rất hiếm, ai cũng phải qua thêm một năm ôn luyện ở các trung tâm trước khi thi, tôi cũng nằm trong số đó. Chiếc xe đò lăn bánh để lại phía sau bụi và đôi mắt dõi theo của người mẹ già. Tôi ngoái lại mà lòng nặng trĩu, tự nhiên sống mũi cay cay, tự nhủ “mẹ là quê hương của con, vĩnh viễn như thế…”. Và đây là lần đầu tiên tôi xa quê hương - xa mẹ, nên thấy mình đơn độc. Liệu có tự lập ở giữa cái thành phố nửa êm đềm nửa xô bồ như Huế không? Rồi những ngày đầu của cuộc sống xa nhà cũng qua đi. Đó là sự vật lộn nặng nề đối với một con chim non vừa xa tổ. Những ngày ở phòng trọ nóng như đổ lửa, tôi thèm được trở về quê nhà, đắm mình trên dòng sông Sêpôn. Ở đó có những người bạn Lào chiều chiều cùng tắm. Về để được đi dưới tán lá vườn cây um tùm của ba và sà vào lòng mẹ. Tôi đi học, thầy dạy những điều mới mẻ, không có trong bài giảng của các thầy ở một trường miền núi như tôi học. Bạn bè tôi hỏi “mày ở đâu?”, tôi chỉ lên rạng núi xa xanh, nơi có những chòm mây bạc trắng: “Trên kia, nơi đó người ta ăn bốc bằng tay”, ý tôi chỉ muốn nói mình ở trên rừng, vùng biên giới của Lào, nhưng muốn phóng đại cái lạc hậu ở quê nhà. Sau một thời gian, tôi quen nhiều bạn, có đứa ở vùng chiêm trũng Hải Lăng, Quảng Trị, đứa ở tận miền Nam. Chúng tôi ở chung một phòng, góp gạo nấu cơm chung và đi lại bằng chiếc xe đạp cà tàng từ cái thời học lớp 10 ở quê đưa vào. Rau muống là món ăn thường thấy trong mỗi bữa cơm, vì rau muống ở Huế rẻ, khi rảnh có thể đi hái dọc sông hoặc hồ. Mùa mưa, nước ở sông dâng cao, những con đường chìm trong nước, có nơi phải chèo đò. Tôi và mấy đứa bạn thích thú đi lội nước, cả thành phố chìm trong mưa, những chiếc xe chết máy dắt bộ, người ta hồ hởi, nhốn nháo chuyển những vật dụng trong nhà lên cao. Giờ nghĩ lại thấy mình thật ngây thơ, người ta làm không hết việc để chống chọi với lũ lụt, mình thì đi lội nước! Chúng tôi trở về phòng - căn gác hai của một ngôi nhà, xây theo kiểu khu tập thể. Chủ nhà ở xa, chúng tôi tự quản. Cơm tối xong, nghe ngoài trời mưa xối xả theo từng cơn gió thổi mạnh trên mái nhà, chúng tôi yên tâm vì nước sẽ không thể ngập tới. Thằng bạn buồn rầu nhớ nhà và lo lắng. Giờ này vùng trũng Hải Lăng cũng đang ngập nước, sợ lúa vừa cắt ít hôm không kịp phơi sẽ bị ướt, nảy mầm, rồi nhà sẽ đói, quê sẽ đói… Tôi lo lắng vì chiều nay không điện về nhà, sợ mẹ lo sẽ không ngủ được! Quahướng cửa sổ, chúng tôi nhìn thành phố chìm trong bóng đêm, xa xa có những ngọn đèn yếu ớt, tiếng hò hét, tiếng gọi nhau… Chúng tôi chìm dần vào giấc ngủ, thấy mình về với quê nhà. Mẹ sẽ nấu cho những món ngon để bồi dưỡng. Tôi khoe với em út, bạn bè về xứ Huế mộng mơ, về những điều đã học được từ thành phố, kể cho các bạn cùng lứa không có điều kiện đi ôn thi những kiến thức vừa học. Rồi bới gạo, muối mè của mẹ vào thành phố, chiếc xe đò lại ra đi, để lại con đường bụi đỏ, mắt mẹ rươm rướm, mắt mình cay cay… Sáng hôm sau chúng tôi thức dậy và ngạc nhiên vì nước đã ngập chân cầu thang, còn chưa đầy mét nữa là đến phòng. Ban đầu rất hớn hở, chen nhau xem, sau đó cả bọn nhìn nhau và chợt nhận ra một điều gì sợ hãi… Ba đứa ba tô mì tôm. Mì tôm luôn gắn với đời ở trọ của mỗi chúng tôi. Những ngày nắng, gạo hết, ăn mì tôm đến nỗi mồ hôi chảy ra cũng có mùi mì tôm! Trưa chúng tôi ăn cơm, mì tôm làm canh và nước mắm. Trong mắt đã ánh lên một nét sợ hãi vì mì tôm sắp hết, nước lên cao chúng tôi sẽ bị cô lập! Đến ngày hôm sau, mì tôm hết, chúng tôi ăn cơm và nước mắm. Ai đã từng ăn cơm với nước mắm 2 ngày sẽ biết nỗi khổ cực, rứa mà chúng tôi vẫn vui vẻ vì tin là nước sẽ rút sớm. Đứa bạn miền Nam ôm cây guitar nghêu ngao “miền Tây nước lớn, đứng ngồi không yên, miền Trung lũ lụt suốt đêm không ngủ…”. Ngày thứ ba nước vẫn chưa rút mà còn cuồn cuộn cuốn theo những cây lục bình, cỏ rác từ phía thượng nguồn về. Cơm nấu lên, nước mắm vẫn còn nhưng chả đứa nào muốn ăn. Tôi chợt lục tìm trong chiếc ba lô, tìm thấy một bao muối mè ngày nào của mẹ. Muối mè ngày nắng ăn nhiều sẽ chán. Do mẹ hay rang muối mè nhét vào ba lô phòng khi thiếu thức ăn, nên có khi đưa ra ăn hết, có khi chán quá không đưa ra ăn, để quên có lúc vài tháng. Cơm xới lên, mùi thơm bốc lên, ăn với muối mè gặp trong lúc đói là rất tuyệt. Sau gần hai ngày ăn nước mắm, muối mè như một đặc sản. Thằng bạn người Hải Lăng nói “Sau này nếu thi đậu đại học và làm ông này bà nọ, thứ tao nhớ nhất luôn là mì tôm, sau đó rau muống xứ Huế và muối mè”. Và một đùm muối mè của mẹ đã giúp chúng tôi qua thêm 2 ngày nước lụt… Chúng tôi cả 3 thằng đều vào Đại học, tuy nhiên mỗi đứa một nơi. Tôi học ở Huế, trường nằm bên dòng sông Ngự Hà thơ mộng và nhiều năm sau đi làm, trong rất nhiều kỷ niệm của những ngày ở trọ ôn thi và học đại học, mùa lụt ăn muối mè của mẹ vẫn khiến tôi không thể nào quên. Giờ đây mỗi đứa một phương, mỗi khi nghe đài phát bản tin thời tiết về bão lụt ở xứ Huế, chúng tôi lại điện cho nhau và nhắc lại thời khắc đấy. Với tôi, muối mè của mẹ là hương vị quê hương, là tình yêucủa mẹ. Yên Mã Sơn Đi xem chàng hề bẩm sinh
Chuyện "Chủ tịt" nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đi Cu Ba. Trước khi lên diễn đàn để ngâm nga trấn giữ hòa bình. Người ta thấy "chủ tịt" thủ trong túi bộ bài ba lá Ba Đình.Tay trái cầm cây cuốc vườn chôm chôm Bình Dương. Tay phải cầm cái bao bột mì nhản hiệu hai tay bắt nhau, lốm đốm năm mươi cái sao. Phía trên có chữ “cứu đảng Bảo lut”. Lưng mang bị gạo trắng do các bà mẹ nuôi chiến sĩ khiếu kiện nhà đất lâu ngày nằm đường ngũ bụi để dành. Đứng trước máy vi âm "chủ tịt" Triết dõng dạc nói: Thưa các đồng chí đỏ. Thuở trời đất gặp cơn gíó bụi. Người dân Havana phải đóng bè ra khơi đi tìm diệt đế quốc tận mãi Miami. Tới đó nằm vùng thẳng cẳng không ai cựa quậy quay về cố hương. Nhờ như vậy trời sinh ra để giữ hòa bình. Phía trước khán đài, người ta thi nhau bịt mũi cười vãi cả ra quần. "Chủ tịt" khoan khoái há mồm tu tu bất tận: Thưa các đồng chí đỏ. Bên phía Đông, nhà nước tôi áp dụng chính sách “đỉnh cao trí tuệ” tuyệt vời. Từ giai cấp vô sản đói nhăn răng như chuột, đảng chúng tôi nhảy vọt lên chức tư bản đỏ. Chúng tôi không có ngồi hút xì gà ăn mía trừ cơm. Con cháu của cán bộ trong đảng chúng tôi không có ai đi du học Cu Ba, Bắc Hàn. Chúng tôi phải gửi đi Mỹ để canh giữ hòa bình thế giới. Cu Ba ngủ gác cu thì chúng tôi thức cầm … Sau đây là bài thơ hò khoan thành tích vươn ra biển lớn của "chủ tịt". Đi xem chàng hề bẩm sinh Nhìn xem Triết đọc diễn văn “Cu ba” ngỏng dậy đòi ăn thịt bà Bà rằng có một lá đa Thức khuya canh gác thằng cha hoà bình Gạo từ da thịt điêu linh Tặng ba ngàn tấn triều đình Phi Đeo “Ví von” nghĩa vụ chó mèo Bờ “Đông” khỉ “gác” Hán leo ngập đường Phía “Tây” “ngủ” bụi mía rừng Hoà bình thế giới “canh chừng” là đây Ăn cướp bốc nịnh ăn mày Đêm khuya chăn gối ban ngày hiếp dâm “Điều 4” cọng Việt đã làm “Bỏ là tự sát” quai hàm mất nhai “Nước tôi” có một không hai “Nhiều gái đẹp lắm” xin mời vào chơi Tối đêm lửa tắt giữa trời Cu Ba cu Vẹm mừng lời chúc nhau Chúc “sống chung” tới bạc đầu “Xã Hội Chủ Nghĩa” một cầu “phân” chung. Lê Hải Lăng Những tên Hề thời đại !
Ngày 24-10-2009, giờ 16:46 NM Triết là Hề ? vì một lãnh đạo "sáng suốt" ( đảng nắm đầu nhân dân ) có thể là Hề không ? Nhưng qua những câu nói đó : " Cu ba thức thì VN ngủ ..." mọi người vổ tay hoan hô thì quả thật NM Triết là ông Hề thứ gạo cội ! Thí dụ như Louis de Funes, ông mua vui cho thiên hạ, ai cũng hâm mộ ông, nhưng bảo đảm là ông không có tham vọng làm Tổng Thống Pháp, hay vua Hề Charlot cũng không có bao giờ có tham vọng tham gia chánh trị . Nhưng Việt nam thì không, các vua Hề được múa may quay cuồng trong chính trường,mà các vua Hề này không mang lại niềm vui cho mọi người mà các vua Hề này lại gieo lầm than cho dân tộc, đất nước thêm điêu linh ! Bắt đầu là vua Hề HC Minh, vua Hề HC Minh nói : " Trăng Trung quốc tròn hơn Trăng nước Mỹ " , nói về địa lý thì NM Triết còn khá hơn già Hồ, Triết còn biết là khi VN ngủ thì Cuba thức, chứ còn già Hồ thì mù tịt về địa lý, già cứ tưởng nước Mỹ nằm ở hành tinh khác không bằng, những tên dốt như thế lãnh đạo đất nước thì không làm lạ gì đất nước đang đi xuống hố , đất nước VN ta sắp bị xóa sổ trên bản đồ thế giới ! Thế vậy mà có lắm kẻ hoan hô, những kẻ hoan hô đó cũng chẳng khác nào là những tên hề không hơn không kém, nghe nói là sắp có ĐẠI HỘI VIỆT KIỀU tại Hà Nội sắp tới, kỳ đại hội này chắc là vui lắm, là một ĐẠI HỘI CỦA NHỮNG VUA HỀ khắp Năm Châu bốn bể, mà NM Triết sẽ độc diển kể cho những vua Hề con nghe như chuyện ở Cuba , thí dụ như : - Các đồng chí Việt Kiều (ĐCVK) ruột gan phèo phổi ngàn dậm, Tôi nhân danh Chủ tịch nước xin cám ơn các ĐCVK ngày 30.04 năm 1975 đã thoát chết vì sợ chúng tôi mà chạy đi, bán sống bán chết, nay đã may mắn toàn thân về đây với quần áo chỉnh tề , giày bóng loáng, áo không nếp nhăn , dầu thơm , mặt để râu như tài tử Hồng Kông, còn các bà đẹp đẻ vô chừng, mỗi bà như một Hoa Hậu thế giới, thướt tha vô ngần, và cũng may mắn là Bác Hồ đã viên tịch từ lâu, còn nếu không thì các Bà sẽ được lời khen của Bác ....các đồng chí Hải Ngoại hãy cùng với chúng tôi trong nước thay nhau canh chừng Hòa Bình thế giới : Hễ chúng tôi thức thì các đồng chí ngủ , mà các đồng chí thức thì chúng tôi ngủ, các đồng chí cứ đêm đến thì cứ ngũ đừng thức khuya rất có hại sức khõe, vì bên này đã có chúng tôi ..... ĐÓ LÀ LỜI ĐỀ NGHỊ THÔI, chứ chúng ta thừa biết rằng, Chủ Tịch nước là nhà thông thái, rất có nhiều ý kiến hay mua vui cho mọi người . Ý của NM Triết là muốn nhấn mạnh đến cái ngủ, đảng bây giờ no rồi, hãy thi nhau ngủ, mặc kệ cho thế gian, đất nước ra sao thì ra, cùng nhau ngủ để tạo hòa bình cho thế giới ! QUẢNG NGÃI - Tình trạng các quan chức địa phương ăn bớt hoặc cắt xén vật phẩm cứu trợ các nạn nhân bị thiên tai đã trở thành phổ biến tại Việt Nam mà ở tỉnh Quảng Ngãi là một ví dụ điển hình. Báo Vietnamnet cho hay, sau cơn bão Số 9 các nạn nhân ở thôn 4, xã Ðức Tân, huyện Mộ Ðức, tỉnh Quảng Ngãi, “không ít người có tên, có chữ ký nhận gạo hỗ trợ của chính phủ, nhưng thực tế họ không nhận được kg gạo nào hoặc nhận không đủ số gạo như đã ghi. Chưa hết, trong danh sách phân phát gạo còn có dấu hiệu kê khống tên, giả chữ ký của người dân.” Báo này, trong cơn bão Số 9 vừa qua, tỉnh Quảng Ngãi được chính phủ Việt Nam hỗ trợ 2,500 tấn gạo để cứu đói cho những gia đình bị thiệt hại. Trong đó, thôn 4, xã Ðức Tân, huyện Mộ Ðức được chia 2.84 tấn gạo để hỗ trợ cho dân. Dựa trên danh sách mà thôn gửi lên, trung bình mỗi nhân khẩu nhận 15kg gạo. Theo danh sách, toàn thôn 4 có trên 300 hộ được nhận gạo cứu trợ nhưng trên thực tế, nhiều hộ dân không nhận đủ số gạo theo quy định như trong danh sách thống kê. Thậm chí nhiều người có tên trong danh sách được nhận hỗ trợ nhưng lại không có gì. Nhiều người dân ở thôn 4 xã Ðức Tân nói với VietNamNet rằng họ rất bực tức vì cho rằng gạo hỗ trợ bị cắt xén. Gia đình bà Trần Thị Sáu (59 tuổi) thuộc diện nghèo, lại bị thiệt hại nặng trong cơn bão Số 9 vừa qua. Theo danh sách nhận gạo cứu trợ thì bà Sáu có 2 khẩu, số gạo được nhận là 30kg. Thế nhưng bà Sáu cho biết, bà chỉ được ông Châu Thanh Hưng, phó thôn 4 gọi đến nhận 15kg gạo mà thôi. Còn chữ ký nhận đủ 30kg như trong danh sách, bà Sáu khẳng định không hề ký. Ngoài trường hợp bà Sáu, còn có trường hợp người dân có tên có chữ ký trong danh sách nhưng không được nhận gạo. Ðiển hình, ông Nguyễn Liền (đối tượng già, neo đơn) có tên trong danh sách nhận gạo cứu trợ (15kg) và có cả chữ ký nhưng ông cũng cho biết không hề nhận được ký gạo nào. Theo Vietnamnet thì, “trong khi những người có tên nhưng không có gạo, thì trong danh sách nhận đủ 30kg gạo lại xuất hiện những cái tên rất ‘lạ’. Chẳng hạn, ông Lê Hồng Việt, có tên trong danh sách nhận gạo nhưng chúng tôi đi hỏi khắp thôn thì người dân ở đây lại không biết nhà ông Việt đâu. Một số người già nhớ mang máng rằng, trước đây ở thôn có Lê Hồng Việt, nhưng đã bán nhà đi cách đây mười mấy năm rồi (!?).” Khi được phóng viên Vietnamnet hỏi về những trường hợp người dân không nhận đủ số gạo như đã kê khai trong danh sách, ông Lê Na, trưởng thôn 4, xã Ðức Tân thì ông tỏ ra khá bất ngờ. Ông Na cho biết mặc dù ông là trưởng thôn 4, nhưng mọi việc cấp phát gạo hỗ trợ đều giao cho phó thôn là Châu Thanh Hưng thực hiện. Trước mặt phóng viên VietNamNet, ông Na tỏ ra không đồng ý việc làm trên và gọi điện ngay cho ông Châu Thanh Hưng hỏi vì sao một số người có tên, có chữ ký trong danh sách nhưng không nhận được gạo cứu trợ thì ông Hưng bảo “gạo còn để ở nhà chưa phát.” Vẫn theo Vietnamnet, ngoài tình trạng cắt xén bớt gạo hỗ trợ của những gia đình bị thiệt hại do bão Số 9; kê khống tên thì việc phân bổ gạo cứu trợ tại thôn 4 cũng có dấu hiệu bất thường, không ít gia đình khá giả vẫn có tên trong danh sách nhận gạo. CCB Nguyễn Thơ Sinh Đi Bộ Xuyên Mỹ Đã Đặt Chân Đến San Diego
 Tối nay Thứ Năm 22/10/2009 lúc 08:00PM, Cựu chiến binh Nguyễn Thơ Sinh đã đến San Diego với người bạn đồng hành là anh Davis. Anh Lực và chị Kim Trang, đại diện cộng đồng, Thiếu Tá Chris Phan, các cựu chiến binh Mỹ Charter VFA 1392 tại Ocean Beach, cùng môt số thân hữu đã đến bắt tay chào mừng anh khi anh vừa đặt chân đến San Diego. Anh Sinh và Davis đã được tiếp tế bánh mì thịt, nước uống, keo... Điều cảm động nhất là anh đã nhận được những cái bắt tay và lời thăm hỏi nồng ấm của đồng hương tại San Diego. Cộng Đồng VN San Diego chào mừng Nguyễn Thơ Sinh đặt chân đến San Diego Chụp hình lưu niệm Cựu chiến binh Mỹ chào đón anh Nguyễn Thơ Sinh Cựu chiến binh Ocean Beach phân công tác tổ chức chào đón anh SinhThiếu Tá Chris đã mời hai người bạn đồng hành về hotel nghỉ ngơi, nhưng anh Sinh từ chối và muốn ngủ trên xe với bạn, nhưng mọi người nói anh cần phải tịnh dưỡng để có sức khởi hành sáng mai đi San Francisco, anh Sinh mới siêu lòng Sinh năm nay 40 tuổi, có bằng Master về Quản Trị Kinh Doanh, đã viết nhiều tiểu thuyết được độc giả trong nước ưa chuộng, anh dự định viết một cuốn tiểu thuyết để tặng riêng cho mẹ anh nặng phần về thi ca cổ điển. Được hỏi trên đường đi anh có cảm tưởng cô đơn không?, Sinh trả lời là có, trước khi đi anh có gửi press release cho nhiều báo Việt Ngữ nổi tiếng, nhưng không nhận được sự tha thiết tối thiểu, tuy nhiên anh đã quyết tâm dấn thân lên đường; thêm vào đó sự chịu đựng cô đơn, gian khổ của người lính, nhất là tấm lòng tha thiết với những đồng đội đã hy sinh và đang chiến đấu, cùng bày tỏ lòng biết ơn nước Mỹ đã cưu mang, đùm bọc. Trên đường đi anh chiêm nghiệm câu châm ngôn: Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông", nên anh đã không bỏ cuộc và cố gắng làm chuyện đánh động "ông xanh". Sinh đã tự cạo đầu và râu ria bớt lởm chởm, mặt rám nắng với chiếc áo T-shirt xám có hàng chữ Army lấm bụi đường. Ngày mai, sau khi đưa Davis ra phi trường trở về Dallas thăm con gái , Sinh sẽ lái xe lên San Francisco, Sacramento, Los Angeles, mỗi nơi Sinh sẽ đi bộ từ 10-20 miles. Sau khi nhận sự tiếp đón của thành phố San Diegio dành cho anh và làm thủ tục nhúng chân xuống nước biển Thái Bình Dương, anh sẽ lên Orange County để đi bộ 10 miles cuối cùng của chặng đường dài lê thê xuyên Bắc Mỹ . Trong bản tường trình mới đây, ông Phan Hồng Quang, cán bộ VKSND tỉnh Cà Mau, đã thừa nhận hành vi nhận và đưa tiền giúp người khác chạy án. Theo đó, đầu năm 2008, dược sĩ Đặng Hữu Đức ở Khoa Dược Bệnh viện Đa khoa khu vực Cái Nước - Cà Mau bị khởi tố do lừa đảo chiếm đoạt tài sản vì dính vào đường dây lừa đảo kinh doanh tiền qua mạng Colony Invest. Trong giai đoạn tố tụng vụ án, vợ của Đức đã đưa cho ông Quang (nguyên cán bộ Phòng 1A VKSND tỉnh Cà Mau) 17 triệu đồng để nhờ chạy cho chồng được tại ngoại. Nhận tiền xong, ông Quang không thực hiện được lời hứa nên đã bị vợ ông Đức đòi lại tiền và quay lại tố cáo. Hiện ông Quang vẫn đang công tác tại Phòng Kiểm sát thi hành án VKSND tỉnh Cà Mau. |
|