Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Hai 2026
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 9
 Lượt truy cập: 28526093

 
Bản sắc Việt 01.02.2026 22:38
Đảng CS VN tiếp tay dâng biển cho TQ như thế nào?
23.09.2009 16:35

Lập trường hai mặt của Trung Quốc về Luật biển quốc tế
21/09/2009 08:52 (GMT + 7)
(TuanVietNam) - Trung Quốc đã gửi công văn phản đối cả hai bản đăng ký thềm lục địa mà Việt Nam và Nhật Bản đệ trình lên Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc (CLCS). Hai công hàm phản đối này thể hiện lập trường hai mặt của Trung Quốc với việc áp dụng Công ước Luật biển quốc tế của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS).

Lập luận của Trung Quốc với Nhật Bản về bãi đá Okinotori

Mời đọc thêm:
Biển Đông, sự quan tâm của Mỹ và lựa chọn của VN
Cuộc tranh biện về Biển Đông
Dấu hiệu hy vọng của Biển Đông yên bình?
Biển Đông trên bàn nghị sự
"Không thể bành trướng 80% diện tích Biển Đông"
Biển Đông và vấn đề chủ quyền lãnh thổ đất nước
Lãnh hải VN, luật biển và Biển Đông - những điều cần biết (kỳ 4)
Tranh chấp Biển Đông và vai trò của Liên hiệp quốc
Việt Nam trước chủ trương của Trung Quốc đối với Biển Đông
Tranh chấp Biển Đông: Cần hợp tác và đúng luật quốc tế

Okinotori (tên viết bằng chữ Kanji: 沖ノ鳥島. Âm Hán Việt: Xung Điểu đảo) là một bãi đá san hô nổi của Nhật Bản, nằm ở vị trí 20,25 độ vĩ bắc, 136, 05 độ độ kinh đông, cách Tokyo 1740 km về phía đông nam. Nhật Bản đã đệ trình bản đăng ký thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) cho Okinotori vào ngày 12/11/2008. [1] Trung Quốc đã gửi công hàm phản đối vào ngày 6/2/2009. [2].

Và mới đây, ngày 25/8/2009, sau khi Nhật Bản báo cáo về thềm lục địa tại CLCS, Trung Quốc phản đối một lần nữa [3]. Trung Quốc lập luận rằng Okinotori chỉ là một bãi đá, tự nó không thể duy trì sự cư trú của con người và không có đời sống kinh tế riêng nên chiếu theo điều 123(3) của UNCLOS, bãi đá này không được hưởng EEZ và thềm lục địa.

Trong công hàm nói trên, Trung Quốc đã căn cứ vào các điều khoản của UNCLOS để phản đối yêu sách của Nhật Bản. Họ sử dụng các khái niệm của UNCLOS như “vùng đặc quyền kinh tế”, “thềm lục địa”…, phân biệt rõ hai khái niệm “đảo” và “đá”, hơn nữa còn lưu ý CLCS rằng, Okinotori chỉ là “đá”, và Ủy Ban chỉ có quyền hạn và trách nhiệm xem xét về “đảo” nên Okinotori nằm ngoài quyền hạn của Ủy ban.

Thế nhưng, đúng 3 tháng sau, ngày 7/5/2009, khi Việt Nam đệ trình bản đăng ký (chung với Malaysia) lên Ủy ban, Trung Quốc lại phản đối bản đăng ký đó bằng một quan điểm vi phạm nghiêm trọng UNCLOS.

Lập luận của Trung Quốc đối với Việt Nam và Malaysia về biển Đông

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 1: Vùng màu hồng giữa bản đồ là vùng
báo cáo Nam mà Việt Nam và Malaysia báo cáo chung.

Trong bản đăng ký chung với Malaysia nộp ngày 7/5/2009, “Việt Nam cho rằng mình được quyền thiết lập một thềm lục địa mở rộng quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở”, theo đúng qui định của UNCLOS [4].

Trung Quốc gửi công hàm lên CLCS phản đối đăng ký của Việt Nam ngay trong ngày. [5] Trong công hàm ấy, lần đầu tiên Trung Quốc công bố tại Liên Hiệp Quốc tấm bản đồ vẽ đường “lưỡi bò” liếm gần 80% biển Đông.

UNCLOS quy định rằng mỗi quốc gia giáp biển đều có lãnh hải 12 hải lý, có EEZ rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở, và nếu thềm lục địa của nước ven biển có thể kéo dài quá 200 hải lý thì nước ấy có thể có “thềm lục địa mở rộng”. Nếu như những vùng trên của các nước chồng lấn với nhau thì sẽ được phân chia theo nguyên tắc công bằng. Vậy, chiếu theo UNCLOS, Việt Nam, Malaysia, Bruney, Philippines và Trung Quốc đều là những quốc gia tiếp giáp biển Đông nên mỗi nước đều có phần của mình trên vùng biển này.

Thế nhưng, Trung Quốc đòi hỏi khoảng 80% biển Đông, để lại các nước còn lại bao quanh biển Đông là Việt Nam, Malaysia, Bruney, Philippines một phần rất ít ven bờ biển. [6]

Rõ ràng, khi nêu quan điểm về EEZ và thềm lục địa của Nhật Bản, Trung Quốc căn cứ vào UNCLOS một cách nghiêm ngặt, nhưng khi đưa ra quan điểm về chủ quyền của các nước tiếp giáp Biển Đông, Trung Quốc lại vi phạm nghiêm trọng Công ước này.

Mặt khác, trong công hàm phản đối Nhật Bản, Trung Quốc cho rằng Okinotori không có đời sống kinh tế độc lập nên không thể có EEZ và thềm lục địa. Nhưng trong công hàm phản đối Việt Nam, họ lập luận: “Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi đối với những đảo trên Biển Đông và những vùng nước xung quanh, và được hưởng những quyền chủ quyền và tài phán bao trùm lên những vùng nước cũng như tầng đất và đáy biển có liên quan của chúng (hãy xem bản đồ đính kèm)”. [7]

Như vậy, họ đã gần như trực tiếp cho rằng các “đảo” trên Biển Đông có những “những vùng nước”, “tầng đất” và “đáy biển” (tức thềm lục địa) của riêng chúng. Và về quy mô thì tất cả những thứ này hợp lại thành đường lưỡi bò mà họ yêu cầu hãy xem trong bản đồ đính kèm.

Nhưng, tất cả các “đảo” trên Biển Đông đều tương tự Okinotori: không nơi nào có đời sống kinh tế riêng, do đó, không thể có EEZ và thềm lục địa 200 hải lý, lại càng không thể mở rộng đến 80% Biển Đông. Bất kể các đảo trên Biển Đông thuộc chủ quyền nước nào, nước ấy cũng không được căn cứ vào đó để yêu sách đến 80% Biển Đông.

Tóm lại, cùng là những thực thể địa lý không có đời sống kinh tế độc lập, nhưng ở công hàm phản đối Nhật thì họ cho là không thể có EEZ và thềm lục địa 200 hải lý, nhưng ở công hàm phản đối Việt Nam thì lại cho là có, thậm chí là có với một quy mô chưa từng thấy trong lịch sử. [8]

Phản ứng của Việt Nam và Nhật Bản

Ngày 8/5/2009, Việt Nam đã gửi công hàm tới CLCS, một mặt khẳng định chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa, một mặt căn cứ vào UNCLOS để bác bỏ phản đối của Trung Quốc. Trong phiên họp chính thức của CLCS ngày 27-28/8/2009 mới đây, Việt Nam đã tái khẳng định lập trường của mình. Lập trường của Việt Nam là đúng, bởi lẽ cả Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của UNCLOS, và do vậy cả hai nước đều phải tuân thủ Công ước này. [9]

Bản đồ SEQ Bản_đồ \* ARABIC 2: Hình tam giác bên trong đường đỏ,
đường cam và đường chấm là vùng báo cáo Bắc của Việt Nam.

Tuy nhiên, có lẽ Việt Nam nên lưu ý đến lập luận mà Trung Quốc dùng để phản đối Nhật Bản, đối chiếu lập luận đó với lập luận mà họ đã dùng với Việt Nam, để cho thế giới thấy rõ sự mâu thuẫn trong lập trường của họ. Ngay tại Liên Hợp quốc, họ đòi hỏi phải áp dụng UNCLOS ở chỗ này, nhưng vứt bỏ UNCLOS ở chỗ khác.

Về phía Nhật Bản, chưa có thông tin chính thức họ trả lời phản đối của Trung Quốc như thế nào. Nhân đây, những hành động của họ đối với Okinotori có thể gợi ý cho Việt Nam những bài học tốt. Người dân Nhật gần như không quan tâm gì đến Okinotori cho đến năm 2004, khi tàu Trung Quốc tăng cường xuất hiện ở đây, và họ bất ngờ tuyên bố với Nhật rằng Okinotori không đủ điều kiện để yêu sách thềm lục địa hay vùng đặc quyền kinh tế. [10] Đá Okinotori nằm bên sườn phía đông Nhật Bản, án ngữ đường biển nối liền căn cứ hải quân Guam của Hoa Kỳ và Đài Loan.

Nếu khống chế được điểm yết hầu này, Trung Quốc có thể cắt đứt mối liên hệ trên biển giữa Guam và Đài Loan. Ngay khi cảm nhận được mối nguy, cả chính phủ lẫn người dân Nhật đều hành động một cách quyết liệt và đồng thuận. Về phía nhân dân, hoạt động của các tổ chức dân sự là hết sức ấn tượng, đặc biệt có thể kể đến tổ chức Nippon Zaidan. [11] Được tài trợ bởi các doanh nhân, Nippon Zaidan chi hàng triệu USD tổ chức nghiên cứu một cách quy mô và bài bản về Okinotori trên tất cả các lĩnh vực, và dĩ nhiên, không thể thiếu lĩnh vực công pháp quốc tế. [12]

  • Nguyễn Lương Hải Khôi (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông)

[1] Đăng ký của Nhật

[2] Công hàm TQ phản đối Nhật

[3] “Trung Quốc phản đối đăng ký thềm lục địa của Nhật: Okinotori chỉ là đá”
(沖ノ鳥島は岩」中国、日本の大陸棚申請に反対)

[4] Đăng ký của VN

[5] Công hàm TQ phản đối Việt Nam

[6] Để biện hộ cho quyền sở hữu này, trong công hàm phản đổi, Trung Quốc chỉ đơn giản là khẳng định rằng họ có “chủ quyền không thể tranh cãi” , đã “quản lý” nó liên tục, và chủ quyền của họ được “quốc tế” “thừa nhận rộng rãi”.

[7] Ở đây họ cố ý né trách UNCLOS đến từng từ ngữ một. Họ không nhắc đến thuật ngữ EEZ, và thay vì dùng thuật ngữ “thềm lục địa” (continental shelf) của UNCLOS, họ dùng những từ đồng nghĩa “tầng đất”(subsoil) và “đáy biển” (seabed).

[8] Có một vấn đề đặt ra cho Việt Nam. Cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đều không có đời sống kinh tế độc lập. Vậy, nếu chiếu theo UNCLOS, cần nói về chúng như là “đảo” hay “đá”? Việc gọi chúng là “đảo” hay “đá” không ảnh hưởng đến chủ quyền của VN với chúng, nhưng có thể ảnh hưởng một phần đến việc tranh chấp lãnh hải, EEZ và thềm lục địa bao quanh những đảo/đá đó.

[9] Việt Nam trả lời Trung Quốc

[10] Yukie Yoshikawa, Okinotorishima: Just the Tip of the Iceberg

[11] Các nghiên cứu của Nippon Zaidan về Okinotori

[12] Ví dụ, báo cáo của Kuribayashi Tadao, giáo sư Luật ở Đại học Toyoeiwa, trong khuôn khổ một nghiên cứu của Nippon Zaidan, cũng dựa vào UNCLOS để biện luận rằng Okinotori có thể có thềm lục địa và EEZ. Lý do là, không có một định nghĩa rõ ràng về “đá” trong UNCLOS. Cái ý niệm cho rằng “đá” là nơi con người không thể cư trú và không có đời sống kinh tế độc lập là những căn cứ mơ hồ, vì trong thời đại ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, người ta hoàn toàn có thể làm cho một nơi không thể cư trú thành có thể cư trú, một nơi không có đời sống kinh tế độc lập trở nên có một đời sống kinh tế riêng.
Tham khảo: 栗林忠男,「沖ノ鳥島」の国際法上の地 (Kuribayashi Tadao, Vị trí của Okinotori trong Luật pháp quốc tế)
Ngược lại, nhiều chuyên gia quốc tế đã so sánh Okinotori của Nhật với Rockall của Anh. Năm 1988, Jon Van Dyke, giáo sư Luật ở ĐH Hawaii, lần đầu tiên cho rằng Okinotori không đủ điều kiện để đòi hỏi 200 hải lý thềm lục địa. Xem: Martin Fackler, A Reef or a Rock? Question Puts Japan In a Hard Place; To Claim Disputed Waters, Charity Tries to Find Use For Okinotori Shima, Wall Street Journal, Feb 16, 2005. pg. A.1.



THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TẠI PARIS NGÀY 22.9.2009

Thượng tọa Thích Viên Định bình luận việc nhà cầm quyền Hà Nội đàn áp, trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã của Sư ông Thích Nhất Hạnh

 

 

PARIS, ngày 22.9.2009 (PTTPGQT) - Chư Tăng Ni thuộc giáo phái Làng Mai của Sư Ông Nhất Hạnh ở tu viện Bát Nhã, tỉnh Lâm Đồng, bị đàn áp, trục xuất kéo dài nhiều tháng qua. Dư luận chung lấy làm lạ vì sao trước đây Sư Ông được nhà cầm quyền Cộng sản trọng vọng đón rước, cho phép tự do thuyết pháp từ Bắc chí Nam, mà nay lại đàn áp Tăng thân của Sư Ông ?

 

Quan hệ hữu hảo giữa Sư Ông và Nhà nước Cộng sản khởi đầu từ cuối thập niên 90, là năm Sư Ông Nhất Hạnh ngỏ ý được về Việt Nam thăm viếng và truyền đạo. Lộ trình chuyến đi hoằng pháp cùng nội dung những bài thuyết pháp từ tháng 3 đến tháng 4 năm 1999 qua ba thành phố Hà Nội, Huế, Saigon, đã được đệ trình Bộ Văn hóa cộng sản. Nhưng không hiểu vì cớ gì Hà Nội bãi bỏ chuyến đi vào phút chót. Mãi đến ngày 11.1.2005, Sư Ông Nhất Hạnh cùng 100 Tăng thân Làng Mai mới được Hà Nội đánh trống khua chiêng đón rước.

 

Phải chăng vào thời điểm 2005, Hà Nội bị Hoa Kỳ liệt vào danh sách các quốc gia đàn áp tôn giáo cần đặc biệt quan tâm (CPC, Countries of Particular Concern) mà hệ quả bị chế tài kinh tế và tài chính chiếu theo Đạo luật 1998 bảo vệ tự do tôn giáo của Quốc hội Hoa Kỳ. Chuyến đi này quảng cáo cho thế giới và Hoa Kỳ thấy rằng “không có đàn áp Phật giáo” tại Việt Nam. Nếu có đàn áp, thì sao một Sư Ông và 100 Tăng thân Làng Mai tự do đi lại, thuyết pháp khắp nước ? Công lao của Sư Ông Nhất Hạnh quả đã “cứu bồ” Hà Nội, khi một năm sau, 2006, Tổng thống Bush rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách CPC.

 

Lập trường của Sư Ông Nhất Hạnh đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng như đối với nhà cầm quyền Hà Nội rất rõ, qua tiếng nói của Sư Cô Chân Không, người phụ tá đặc biệt, rồi Sư Ông Nhất Hạnh tuyên bố trước khi rời Pháp đi Việt Nam và khi tới Hà Nội :

 

Hãng thông tấn AFP đã làm cuộc phỏng vấn Sư Ông và Sư cô tại phi trường Charles De Gaulle ở Paris. Bản tin AFP phát hành chiều ngày 11.1.2005 có đoạn viết rằng : “Nhà sư (tức Sư Ông Thích Nhất Hạnh) không là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, là Giáo hội đang bị chính quyền cấm không cho hoạt động từ năm 1981, vì Giáo hội này từ khước sự kiểm soát và điều khiển của Đảng Cộng sản. Hơn một năm trước đây, Công an Việt Nam đã mở cuộc đàn áp sâu rộng Giáo hội này, hàng giáo phẩm bị bắt quản chế và hàng trăm ngôi chùa bị phong tỏa. Khi được hỏi vì sao một số phong trào tôn giáo bị cấm đoán tại Việt Nam, Sư cô Chân Không trả lời : “Vì một số các Giáo hội này tàng trữ những lá cờ của chế độ cũ (sic). Còn chúng tôi, thì chúng tôi chẳng có một tham vọng chính trị nào cả”.

 

Tại Hà Nội, theo báo Nhân Dân phát hành ngày 13.1.2005, Sư Ông Nhất Hạnh tuyên bố rằng : “Ông đã từng đấu tranh với những thái độ căng thẳng của chính quyền một số nước phương Tây về “vấn đề tôn giáo ở Việt Nam”. Ông kể, ông đã từng nói với một số quan chức Hoa Kỳ rằng : “Người Việt Nam muốn được giải phóng khỏi cái mà người Mỹ gọi là sự giải phóng cho người Việt Nam”.

 

Thế mà nay Hà Nội qua bàn tay của Ban tôn giáo chính phủ đánh thẳng vào pháo đài Làng Mai tại tu viện Bát Nhã ở tỉnh Lâm Đồng ! Ẩn khuất gì đây ?

 

Thượng tọa Thích Viên Định, Phó Viện trưởng kiêm Tổng Thư ký Viện Hóa Đạo, GHPGVNTN, vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế để phổ biến bài bình luận về các biến cố xẩy ra tại Tu viện Bát Nhã. Xin độc giả theo dõi toàn văn bài bình luận dưới đây :

 

 

Vấn đề Nhà cầm quyền cộng sản đàn áp, trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã

Thích Viên Định

 

 

Tin Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đòi trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã, Lâm Đồng sau Đại lễ Vesak 2008 làm cho mọi người, ai cũng hồi hộp, lo lắng, đau xót, cảm thương. Và đúng như vậy, sự thật đau buồn đã xảy ra, tất cả gần 400 Tăng, Ni bị Nhà cầm quyền ra lệnh trục xuất ra khỏi chùa Bát Nhã, Lâm Đồng, hạn chót là ngày 2.9.2009. Bước đầu cuộc đàn áp là điện, nước bị cúp, phòng xá bị phá, tạo áp lực nặng nề, làm cho mọi sinh hoạt của chư Tăng, Ni trở nên vô cùng khó khăn.

 

Chuyện Thiền sư Nhất Hạnh, năm 2005, về Việt Nam hợp tác với Nhà cầm quyền cộng sản, gây hậu quả như thế nào là một vấn đề khác, nhưng việc 400 chư Tăng, Ni trẻ, mới cạo tóc xuất gia, tâm hồn trong trắng, quyết chí tu hành lại bị Nhà cầm quyền dùng bạo lực đàn áp, trục xuất, không cho tu học thì không một người nào là không đau lòng, tức giận.

 

Dân tộc Việt Nam suốt 60 năm qua chịu đựng không biết bao nhiêu đau khổ vì nạn Cộng sản vô thần. Riêng về Phật Giáo, từ ngày 02. 11.1975 đã bị đàn áp quá sức chịu đựng, 12 Tăng, Ni Thiền Viện Dược Sư ở Cần Thơ đã phải tự thiêu để phản đối. Năm 1978, Hoà thượng Thích Thiện Minh bị tra tấn đến chết trong tù. Đại Lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Hoà thượng Thích Quảng Độ và rất nhiều Tăng, Ni và Phật tử đã bị tù tội, quản thúc, lưu đày…tượng Phật bị đập phá khắp nơi, cơ sở Giáo Hội bi trưng thu nhiều vô kể. Là nạn nhân bị đàn áp nặng nề nhất, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất rất đau đớn, cảm thông trước sự kiện Nhà cầm quyền cộng sản đàn áp, trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã, Lâm Đồng, hiện nay và cho đây là một bằng chứng nữa của quốc nạn độc tài, vô thần.

 

Cùng lúc với chùa Bát Nhã ở Lâm Đồng, nhiều cơ sở của các tôn giáo khác cũng bị đàn áp làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước. Vì những việc này, các thành viên trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất cũng được dư luận chiếu cố nhiều. Thư hỏi cũng có, điện thoại phỏng vấn cũng có, đến gặp trực tiếp cũng có, tất cả đều có chung thắc mắc rằng tại sao Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất không lên tiếng can thiệp ? Có người còn trách rằng, cứ ai lo phần nấy, các tôn giáo không đoàn kết, nên cộng sản dễ đàn áp là phải !

 

Những thắc mắc, trách cứ này cũng đúng. Tuy nhiên, có những trường hợp đặc biệt cần phải lắng nghe, tìm hiểu, chờ đợi tiếng nói chính thức từ tổ chức, giáo phái bị đàn áp. Ngay cả các nhà lãnh đạo các giáo phái bị bức hại, đôi khi cũng quá dè dặt, không chịu lên tiếng phản kháng. Không văn thư, không lên tiếng phản kháng, thì căn cứ vào đâu để mọi người chung quanh biết đường hỗ trợ ?

 

Lại nữa, vị thế của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) rất đặc biệt nhạy cảm, dễ bị Nhà cầm quyền cộng sản nghi ngờ, kết tội, không phải ai cũng dám liên hệ. Ngay cả Thiền sư Nhất Hạnh, người đã có quốc tịch nước ngoài, khi về nước, năm 2005, cũng không bao giờ dùng danh xưng GHPGVNTN cùng chức vụ chính thức khi ngài cần tiếp xúc với Đức Tăng Thống, Đại Lão Hoà thượng Thích Huyền Quang và Hoà thượng Viện trưởng Viện Hoá Đạo, Thích Quảng Độ, ngài chỉ xưng hô đơn thuần là Hoà thượng Thích Huyền Quang, Hoà thượng Thích Quảng Độ, như tên những người bình thường, không chức vị gì trong Giáo Hội, trong khi đối với các vị ở Giáo Hội khác thì Ngài cẩn thận ghi đầy đủ chức vị rõ ràng. (xin xem, “Trả lời thư Thiền sư Nhất Hạnh” của Thượng tọa Thích Viên Định, Thông cáo báo chí của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế phát hành ngày 22.1.2005, tại Trang nhà Quê Mẹ, Paris : http://www.queme.net).

 

Về vấn đề Dân oan đòi nhà, đòi đất, nói chung, của toàn dân, không phân biệt tổ chức, tôn giáo, đảng phái nào, GHPGVNTN đều đã lên tiếng, ủng hộ từ lâu.

 

Chuyện Bát Nhã, Lâm Đồng như trên đã nói, là vấn đề xảy ra có vẻ rắc rối, tế nhị. Vừa có vẻ là chuyện nội bộ của chư Tăng tu theo pháp môn Làng Mai với Thượng toạ Đức Nghi, Trú trì chùa Bát Nhã, vừa có vẻ là chuyện xích mích nội bộ trong Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam với Thiền sư Nhất Hạnh, lại cũng có vẻ là chuyện xính mích nội bộ của Nhà cầm quyền cộng sản về Thiền sư Nhất Hạnh. Thiền sư Nhất Hạnh là khách của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, về hợp tác với Giáo Hội và Nhà cầm quyền Cộng sản. Trong vụ này, chưa hề thấy thiền sư Nhất Hạnh trực tiếp lên tiếng như thế nào. Sự việc chưa rõ ràng nên không biết căn cứ vào đâu để hỗ trợ. Nhưng, việc Nhà cầm quyền cộng sản trấn áp chư Tăng Chùa Bát Nhã bằng cách cúp điện, cúp nước, ném đá, ném phân, ngăn chặn đường, không cho người vào tiếp tế lương thực, là một hành động đàn áp tôn giáo quá rõ ràng. Việc đàn áp kéo dài, xảy ra ngay bên cạnh. Nạn nhân lại là đồng bào, đồng đạo, ai thấy mà không tức giận, đau lòng.

 

Không phải quí Hoà thượng trong GHPGVNTN không lên tiếng. Thực ra, quí ngài đã lên tiếng từ lâu rồi. Năm 1998, nghe tin Thiền sư Nhất Hạnh dự định về Việt Nam hợp tác với Nhà cầm quyền cộng sản, Hoà thượng Thích Quảng Độ đã viết thư đề nghị Thiền sư Nhất Hạnh, bằng những lời nhẹ nhàng, tế nhị, đại ý : “ Việt Nam chưa có tự do, dân chủ, nhân quyền, đừng về hợp tác, buôn bán, làm ăn, coi chừng sập tiệm, sẽ mất cả chì lẫn chài !”

 

Bất chấp lời khuyên của Hoà thượng Thích Quảng độ, năm 2005, Thiền sư Nhất Hạnh về Việt Nam, kéo theo đoàn tuỳ tùng đông đảo lên đến 100 người. Chuyện đã lỡ, nhưng còn nước còn tát, Thượng toạ Thích Viên Định cố gắng viết một tâm thư, “Trả lời thư Thiền sư Nhất Hạnh” , phân tích lợi hại chuyến về Việt Nam không được khế thời, và tường trình cặn kẻ cho Thiền sư Nhất Hạnh biết, nhân dân Việt Nam đang bị khốn khổ vì nạn độc tài, độc đảng, nhân quyền, tôn giáo bị đàn áp rất nặng nề. Hy vọng qua thư đó, thấy rõ sự đau khổ của đồng bào Việt Nam, bị kiềm kẹp trong ách độc tài, Thiền sư sẽ đi theo con đường của GHPGVNTN, hợp cùng với các thân hào nhân sĩ và 85 triệu đồng bào, vận động cho tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam.

 

Trong tâm thư “Trả lời Thiền sư Nhất Hạnh” có đoạn nói rõ rằng : “… Ngài đã ở nước ngoài lâu rồi, coi như khách, lại về Việt nam chỉ có ba tháng, nên cách đối xử cũng khác, chánh phủ tiếp Ngài như tiếp phái đoàn quốc tế tham quan vậy thôi. Nếu Ngài về ở ba năm thì vấn đề lại khác, chưa chắc được như vậy”. Thật vậy, năm 2005, phái đoàn Thiền sư Nhất Hạnh từ Pháp về, được tiếp đón trọng thể như thượng khách. Nhưng 3 năm sau, cuối năm 2008, Nhà cầm quyền cộng sản bắt đầu trở quẻ, và nay, 2009, chính thức hạ lệnh trục xuất tăng thân của Thiền sư.

 

Cho đến nay, chưa thấy Thiền sư Nhất Hạnh có phản ứng chính thức với Nhà cầm quyền, mặc dù những năm gần đây, Ngài đã có sự liên hệ thân mật với Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Có lẽ, vì vướng víu chuyện gì đó, nên Ngài còn tránh né, không tiện lên tiếng với Nhà cầm quyền cộng sản chăng ?

 

Gần đây, tháng 8.2009, trong bài tường trình của một Tăng sinh ở chùa Bát Nhã, có lồng vào bức thư riêng của Thiền sư Nhất Hạnh gửi Thượng toạ Đức Nghi, nội dung có tính cách thầy trò, Ngài chỉ nói chuyện phải trái, chuyện nội bộ với Thượng toạ Đức Nghi, tuyệt không có lời nào đề cập đến việc đàn áp, trục xuất của Nhà cầm quyền cộng sản đối với Tăng, Ni chùa Bát Nhã.

 

Thiền sư Nhất Hạnh quên rằng, thầy Đức Nghi mặc dù là đệ tử cầu pháp của Ngài, nhưng cũng là thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam với chức vụ Phó Ban Trị sự Giáo Hội tỉnh Lâm Đồng, mà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam là thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc, tổ chức ngoại vi của Đảng cộng sản Việt Nam. Vậy, Thượng toạ Đúc Nghi vừa là đệ tử của Thiền sư Nhất Hạnh, vừa là cán bộ ngoại vi của Đảng cộng sản, chịu ân huệ của cả hai bên, bên trung bên hiếu, không biết phải chọn bên nào. Tội nghiệp cho Thầy Đức Nghi, mặc dù là trú trì, nhưng hoàn cảnh trên đe dưới búa, không thể tự chủ thì giải quyết được việc gì. Thiền sư Nhất Hạnh không trực tiếp nói chuyện với Nhà cầm quyền cộng sản, lại đi nói chuyện phải quấy với Thượng toạ Đức Nghi. Lâm vào thế khó xử, nhiều lúc Thầy Đức Nghi phải tìm cách lánh mặt khỏi chùa Bát Nhã.

 

Vì, rõ ràng, qua những văn kiện của Ban Trị Sự tỉnh Lâm Đồng, của Hội Đồng Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, nhất là những Văn thư của Bộ Nội Vụ, Ban tôn giáo về vụ chùa Bát Nhã, xem ra vấn đề còn nhiều nguyên nhân sâu xa, không phải là chuyện nội bộ của chư Tăng chùa Bát Nhã, nên Thượng toạ Đức Nghi không thể nào giải quyết được.

 

Việc các nhóm du đảng, xã hội đen, dùng bạo lực ném đá, ném phân lên người, lên xe của chư Tôn đức trong Ban Trị sự Giáo Hội tỉnh Lâm Đồng thuộc nhà nước, khi đến thăm chùa Bát Nhã, trước sự chứng kiến của công an, có vị bị thương rất nặng, phải vào nằm bệnh viện, nhưng lạ một điều, mặc dù rất đau đớn, tức giận, không thấy vị Hoà thượng, Thượng toạ nào lên tiếng phản đối hành động man dã, có sự bao che của Nhà cầm quyền.

 

Có lẽ chư Tăng thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt nam quen chịu nhẫn nhục, hoặc vì một lý do nào khác, không thể nói được ? Câu Cảnh Sách : “Phù xuất gia giả, phát túc siêu phương, tâm hành dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu” (1) bỏ đâu mất rồi ? Con em, đồng đạo trong vòng tay của mình mà mình còn không dám cứu thì hy vọng gì việc cứu giúp cho ai ?

 

Vậy là, từ Thiền sư Nhất Hạnh đến các đệ tử của Ngài, các Hoà thượng bị đánh trọng thương, bị ném phân đầy mình, trong Ban Trị Sự Giáo Hội tỉnh Lâm Đồng đều im lặng, không ai lên tiếng phản kháng Nhà cầm quyền cộng sản trong vụ đàn áp, trục xuất chư Tăng chùa Bát Nhã, Lâm Đồng. Tất cả đều im lặng, một sự im lặng khó hiểu.

 

Sự im lặng đó có thể là kết quả của việc thu phục để sử dụng của cộng sản theo phương châm của Lê-nin : “Đảng phải thông qua tôn giáo để khống chế quần chúng”, nghĩa là, cho các Tôn giáo tổ chức tu học, nhưng không được chống đối, phải biết im lặng, phục tùng, tuyên truyền cho chế độ.

 

Có lẽ, chuyện hục hặc xảy ra ở chùa Bát Nhã, Lâm Đồng chỉ là một tai nạn bất ngờ, tai bay vạ gió, không ai mong muốn, trong sự hợp tác giữa Nhà cầm quyền cộng sản với Thiền sư Nhất Hạnh. Nhà cầm quyền cộng sản muốn thu phục chư Tăng chùa Bát Nhã, Lâm Đồng để sử dụng, giống như tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, thành viên của Mặt Trận Tổ Quốc.

 

Tình trạng Tăng, Ni chùa Bát Nhã hiện nay như rắn mất đầu, rất dễ thu phục. Vậy là Nhà cầm quyền cộng sản đã đạt được mục đích rồi, và có thể đã làm hài lòng thượng cấp. Đó cũng là câu trả lời cho Thiền sư Nhất Hạnh và những ai mơ mộng hợp tác với Nhà cầm quyền độc tài, vô thần, cộng sản để làm văn hoá, làm giáo dục, làm từ thiện, thấy được cái kết cuộc sẽ như thế nào. Chặt rễ, chặt gốc, từ từ cây sẽ chết, chết đứng, không cần xô ngã, khỏi mang tiếng. Nếu không khéo che mắt thiên hạ như thế, thì tại sao ông Đại sứ Hoa kỳ tại Việt Nam, Michael Machalak, lại ca ngợi nhà nước Cộng sản Việt Nam “đã có tiến bộ về quyền tự do tôn giáo”, trong khi, sự thật các tôn giáo vẫn cứ bị đàn áp triền miên ?

 

Vừa qua, thấy bài trả lời phỏng vấn của sư cô Chân Không trên một tờ báo nước ngoài, cô nói về những cái kẹt của thiền sư : “…Cái kẹt thứ hai là của mấy người ở Trung ương bị Trung Quốc ức hiếp. Sư Ông Nhất Hạnh từng phát biểu trên một đài truyền hình Ý về vấn đề Tây Tạng. Nhóm thủ cựu Việt Nam sợ Trung Quốc, lời phát biểu của Sư ông làm cho Trung Quốc giận…” Qua đó, lộ ra một phần những nguyên nhân sâu xa làm xảy ra việc đàn áp, trục xuất chư Tăng, Ni tu theo pháp môn Làng Mai của Thiền sư Nhất Hạnh, ở chùa Bát Nhã, Lâm Đồng. Đó là một chi tiết không mới lạ, nếu có dịp sẽ tìm hiểu thêm.

 

Thích Viên Định

 

 

---------------------

 

(1) Câu này trích từ bài văn Cảnh sách của Ngài Quy Sơn (Quy Sơn cảnh sách văn) tức một trong năm phần phù trì luật Sa di (gồm có Kinh Di giáo, Bát đại nhân giác, các văn Khuyến phát bồ đề tâm, Cảnh sách văn, và Tỳ ni nhật dụng thiết yếu), có nghĩa : “Người xuất gia là cất bước thì muốn vượt tới phương trời cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối rạng rỡ giòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma cũng phải rúng động khuất phục, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi”. PTTPGQT chú.




 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
💔 Tố Hữu và Mối Tình Đầu Định Mệnh: Lời Tố Cáo Đau Thương trở thành mối thù giai cấp muôn đời! [Đã đọc: 485 lần]
💔 Lời Nguyền Hận Thù: Phế Phẩm Độc Hại Trong Văn Hóa Giao Tiếp Việt thời đại HCM CSVN [Đã đọc: 446 lần]
Mức lương cụ thể và thủ tục nhập cư để các bạn VN được thuê làm chồng [Đã đọc: 383 lần]
CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN ĐỐI PHÓ VỚI BIÊN GIỚI – AN NINH KHU VỰC CAMPUCHIA 2025 [Đã đọc: 370 lần]
Sự im lặng đồng lõa – khi lãnh đạo miền Bắc đứng nhìn Trung Quốc nuốt Hoàng Sa [Đã đọc: 367 lần]
Đạo Đức và Cái Bẫy Tự Tôn của dân tộc VN- Mẹ Thứ Anh Hùng - Bi kịch của Thuyền nhân Việt Nam [Đã đọc: 345 lần]
Giữa Mạc Tư Khoa Nghe Câu Hò Ví Dặm [Đã đọc: 306 lần]
Bẫy thu nhập trung bình của VN [Đã đọc: 282 lần]
Constitution of the Federal Republic of VCL [Đã đọc: 266 lần]
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [Đã đọc: 264 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.