Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Hai 2026
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 4
 Lượt truy cập: 28525498

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 01.02.2026 20:54
Liên bang VCL đối trọng TQ
05.09.2009 21:37

Việt Nam làm gi để tự vệ: Thành lập liên bang Việt Cam Lào, sản xuất chiến sĩ, máy bay, chiến đỉnh , chiến xa robot chống chiên thuật biển người TQ, tấn cống lấy lại Hoàng Sa

Vũ Việt

Ai sống cạnh một anh hàng xóm khổng lồ trong một thế giới vô chính phủ cũng phải canh cánh câu hỏi: Khi nào thì anh ta có thể đánh mình, và làm sao để mình không bị anh ta đánh?
Đây cũng là một câu hỏi thường trực cho các chính sách quốc phòng và ngoại giao của Việt Nam, và anh hàng xóm khổng lồ của Việt Nam là Trung Quốc.
   

Hình trên: Chiến sĩ robot, oanh tạc cơ, chiến đỉnh và xe tank không người lái

Quy luật lịch sử

Khi nào thì Trung Quốc có thể đánh Việt Nam? Khi VN yếu và TQ manh. Tương lai không thể nói trước được, nhưng nếu lịch sử cho thấy có quy luật thì có nhiều khả năng quy luật đó sẽ tiếp tục ứng nghiệm trong tương lai.

Lịch sử từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời có ba lần lớn và một số lần nhỏ hơn Trung Quốc ra quân đánh Việt Nam.

Lần thứ nhất năm 1974, Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng hòa.
Lần thứ hai năm 1979, Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới trên bộ, vào sâu nhiều chục cây số, phá huỷ cơ sở vật chất, rồi rút về sau đúng một tháng.
Lần thứ ba năm 1988, Trung Quốc chiếm 6 bãi đá trong vùng lân cận các đảo do Việt Nam kiểm soát ở quần đảo Trường Sa, riêng vụ đụng độ chiếm đá Gạc Ma (Johnson South Reef) bắn cháy ba tàu vận tải và giết khoảng 70 thuỷ thủ của Hải quân Việt Nam.

Những lần đánh nhỏ hơn bao gồm các cuộc tấn công ở biên giới sau cuộc chiến 1979, liên tục cho đến năm 1988. Trong thời gian này, Trung Quốc đã chiếm được một số điểm cao chiến lược dọc biên giới như ở các huyện Vị Xuyên, Yên Minh (tỉnh Hà Giang) và Cao Lộc, Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn). Các cuộc lấn chiếm này dường như đã được hợp pháp hóa tại Hiệp ước biên giới trên bộ năm 1999.
Ngoài ra, trên quần đảo Trường Sa sau năm 1988, Trung Quốc đã chiếm thêm các bãi đá ở gần vị trí đóng quân của Việt Nam như Én Đất (Eldad Reef) và Đá Ba Đầu (Whitson Reef) vào các năm 1990, 1992, và sau đó chiếm đá Vành Khăn (Mischief Reef) ở gần Philippin năm 1995.

Thế và Thời
Tư duy chiến lược Trung Hoa đặc biệt coi trọng chữ Thế và chữ Thời. Các cuộc tấn công Việt Nam cho thấy có một quy luật khá nhất quán trong việc Trung Quốc chớp thời cơ vào lúc thế của họ đi lên và thế của đối phương đi xuống để tung quân ra đánh.
Thời điểm tháng 1-1974, Trung Quốc đánh Hoàng Sa đang do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát là sau khi Mỹ cam kết chấm dứt can thiệp quân sự ở Việt Nam (Hiệp định Paris tháng 1-1973) và Quốc hội Mỹ cấm Chính phủ can thiệp trở lại (Tu chính án Case-Church tháng 6-1973), tạo ra một khoảng trống quyền lực ở khu vực và khiến cho Việt Nam Cộng hòa chới với không nơi nương tựa.
Trong khi đó thế của Trung Quốc đang dâng lên với việc Bắc Kinh trở thành một thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (tháng 10-1971) và từ địa vị kẻ thù của cả hai siêu cường (Liên Xô và Mỹ) trở thành đối tác của Mỹ (với Thông cáo chung Thượng Hải tháng 2-1972).
Trung Quốc tấn công Việt Nam năm 1979 là để trả đũa Việt Nam đưa quân vào Campuchia nhưng cũng là khi thế của Việt Nam đi xuống trong khi thế của Trung Quốc đi lên.
Một tháng sau khi Việt Nam và Liên Xô ký liên minh quân sự (tháng 11-1978) thì Trung Quốc và Mỹ cũng tuyên bố lập quan hệ ngoại giao. Đồng thời, Việt Nam đang bị thế giới ngoài phe Liên Xô tẩy chay vì chiếm đóng Campuchia nên thế của Việt Nam đang xuống rất thấp.
Các cuộc tấn công của Trung Quốc dọc biên giới trong các năm từ 1980 đến 1988 diễn ra trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục bị bao vây cô lập với thế giới bên ngoài trong khi Liên Xô, chỗ dựa chủ yếu của Việt Nam, cũng bị cô lập trên trường quốc tế (do đưa quân vào Afghanistan) và, cộng với những khó khăn kinh tế, phải đi vào giai đoạn hòa hoãn và thỏa hiệp với Trung Quốc cũng như phương Tây.

*Hai nước Việt Trung đã quyết định xong về biên giới trên bộ

Chiến dịch chiếm một phần Trường Sa năm 1988 của Trung Quốc khởi sự từ năm 1986, khi Liên Xô chuyển sang nhượng bộ chiến lược với phương Tây và Trung Quốc, đồng thời rục rịch rút lui ảnh hưởng khỏi Đông Nam Á cũng như toàn thế giới.
Bài nói tại Vladivostok của lãnh tụ Liên Xô Gorbachov ngày 28-7-1986 tỏ ý Liên Xô sẵn sàng chấp nhận các điều kiện Trung Quốc đưa ra để bình thường hóa quan hệ Xô-Trung (Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan và giảm căng thẳng ở biên giới Xô-Trung, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia) đánh dấu sự thay đổi chiến lược trong chính sách của Liên Xô ở châu Á, đồng thời cũng là chỉ dấu cho thấy thế của Liên Xô đi xuống và thế của Trung Quốc đi lên.
Trong các năm sau, việc Liên Xô rút lui trong khi Mỹ không trám vào đã thực sự tạo ra một khoảng trống quyền lực ở khu vực.
Trong khi ấy Việt Nam vẫn bám vào Liên Xô mà không phá được thế bị cô lập. Một nghị quyết mật của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam điều chỉnh cơ bản chiến lược đối ngoại từ dựa vào Liên Xô sang "đa phương hóa" chỉ được thông qua vào tháng 5-1988, hai tháng sau vụ đụng độ ở quần đảo Trường Sa.
Xung đột biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn 1980-1988 có thể coi là dư chấn của cuộc chiến năm 1979. Các cuộc chiếm đảo ở Trường Sa thời kỳ 1990-1992 cũng có thể coi là dư chấn của chiến dịch năm 1988.
Thời kỳ 1980-1988, Việt Nam tiếp tục bị bao vây cô lập trong khi Liên Xô, chỗ dựa chủ yếu của Việt Nam, đi vào giai đoạn hòa hoãn và thỏa hiệp với Trung Quốc.
Thời kỳ 1990-1992, tuy là những năm Trung Quốc bị phương Tây cô lập phần nào sau vụ Thiên An Môn, cũng lại là những năm Việt Nam mất hẳn chỗ dựa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong khi vẫn chưa được nhận vào ASEAN và chưa bình thường hóa quan hệ được với Mỹ.

Việt Nam làm gì?

Hiện nay Việt Nam có thể làm gì để Trung Quốc không đánh? Lý thuyết quan hệ quốc tế gợi ý năm phương pháp chính: 1) cùng chung một nhà, 2) ràng buộc bằng lợi ích, 3) ràng buộc bằng thể chế, 4) răn đe quân sự, 5) răn đe ngoại giao.
Phương pháp "cùng chung một nhà" xem ra không ổn vì ít nhất ba lý do. Thứ nhất, Trung Quốc rất thiếu cảm tình với Việt Nam và kinh nghiệm quan hệ với Việt Nam khiến Trung Quốc tin rằng Việt Nam hay tráo trở. Các cuộc thăm dò dư luận ở Trung Quốc cho thấy Việt Nam cùng với Mỹ và Nhật Bản là ba nước bị người Trung Quốc ghét nhất trên thế giới. Thứ hai, Trung Quốc chỉ coi Việt Nam là đồng chí chứ không phải đồng minh. Thứ ba, lịch sử cho thấy quan hệ "gắn bó như môi với răng" giữa Hà Nội và Bắc Kinh vẫn không ngăn được Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa, nẫng tay trên người "đồng chí anh em" Bắc Việt.
Phương pháp "ràng buộc bằng lợi ích" sẽ không ngăn được Trung Quốc đánh ở Biển Đông vì lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông có vị trí rất cao trong chiến lược lớn của Trung Quốc. Biển Đông là yết hầu con đường tiếp tế vật tư và nhiên liệu cho Trung Quốc từ Trung Đông, châu Âu, châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á, với 2/3 lượng dầu khí nhập khẩu và 4/5 lượng hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc đi qua.
Biển Đông cũng là bàn đạp để khống chế Đông Nam Á, một khu vực mà nếu Trung Quốc khống chế được thì sẽ có thể quy phục được Nhật Bản và trung lập hóa cả Mỹ lẫn Ấn Độ, còn nếu Trung Quốc không khống chế được thì sẽ không thể ngoi lên địa vị đứng đầu châu Á. Trung Quốc không có lợi ích nào ở Việt Nam, kể cả trong hiện tại lẫn trong tương lai, lớn hơn lợi ích ở Biển Đông để Trung Quốc phải đánh đổi.
Phương pháp "ràng buộc bằng thể chế" càng khó ngăn cản Trung Quốc ra tay khi cần thiết vì Trung Quốc cũng như các nước lớn khác chỉ tuân thủ thể chế quốc tế nếu thể chế ấy phục vụ lợi ích chiến lược của họ. Trong trường hợp lợi ích chiến lược của họ đòi hỏi làm khác đi, họ sẽ có cách giải thích thể chế quốc tế theo kiểu riêng để biện minh cho hành động của mình.
Trung Quốc đã làm như thế khi xâm lăng Việt Nam năm 1979, nói rằng để trừng phạt Việt Nam xâm lăng Campuchia. Đây không phải là đặc điểm riêng của Trung Quốc mà các nước lớn đều như vậy. Mỹ và phương Tây đánh Nam Tư rồi tách Kosovo ra khỏi nước này hay Nga đánh Gruzia rồi tách Nam Ossetia và Abkhazia ra khỏi nước này đều nói là dựa trên luật pháp và thể chế quốc tế nhưng đó là luật pháp và thể chế quốc tế theo cách giải thích riêng của họ.

*Ải Chi Lăng là di tích lịch sử nhắc lại trận quân Lê Lợi chém Liễu Thăng hồi thế kỷ 15

Phương pháp "răn đe quân sự" không phải là cách mà Việt Nam có thể làm với Trung Quốc trong lúc này vì Việt Nam không có vũ khí hạt nhân để răn đe chiến lược (trong khi Trung Quốc có) và lực lượng quân sự thông thường của Việt Nam hiện còn quá yếu để có thể tạo sức mạnh răn đe chiến thuật đối với Trung Quốc.
Còn lại duy nhất phương pháp "răn đe ngoại giao". Phương pháp này là dùng quan hệ với các nước mạnh hơn Trung Quốc và áp lực của quốc tế để Trung Quốc không dám đánh Việt Nam. Hiện nay trong khu vực, Trung Quốc vẫn phải kiêng dè Mỹ, do đó Việt Nam quan hệ càng gần gũi với Mỹ bao nhiêu càng có tác dụng răn đe bấy nhiêu. Một điểm nữa Việt Nam có thể tận dụng là Trung Quốc muốn thế giới tin rằng họ không phải là mối đe dọa đối với các nước.
Nếu những lấn lướt ức hiếp của Trung Quốc với Việt Nam được thế giới quan tâm và hiểu như bước đầu của một mối đe dọa lớn hơn đối với họ thì thứ nhất, chúng có thể làm Trung Quốc yếu thế đi, và thứ hai, đó cũng là một lý do để Trung Quốc phải cân nhắc kỹ hơn nếu có ý định đánh Việt Nam.
Bài học lịch sử
Quy luật rút ra từ lịch sử ba lần Trung Quốc đánh Việt Nam và qua phân tích năm phương pháp nói trên cho thấy để tránh không bị Trung Quốc đánh, Việt Nam phải làm được ba điều.
Thứ nhất, phải liên tục nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, đặc biệt chú ý trong tương quan với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc có thêm bạn thì Việt Nam cũng phải có thêm bạn mạnh hơn và nếu Trung Quốc xích lại gần các nước thì Việt Nam còn phải xích lại gần các nước hơn. Không bao giờ được để Việt Nam ở thế cô lập hơn Trung Quốc trên thế giới.
Sống cạnh một anh hàng xóm khổng lồ mà không để bị đánh hoặc ăn hiếp quả là rất khó nhưng vẫn có thể được
Thứ hai, phải hết sức bén nhạy với cán cân quyền lực trong khu vực và phải lập tức mạnh dạn điều chỉnh chiến lược đối ngoại khi tương quan lực lượng trong khu vực biến đổi bất lợi cho Việt Nam.
Thứ ba, phải sáng suốt tìm ra ai là kẻ mạnh trong khu vực và đâu là chỗ yếu của Trung Quốc để thực hiện kế răn đe ngoại giao.
Trong dài hạn, chỉ có kết hợp răn đe ngoại giao (kết thân với nước lớn và tranh thủ dư luận thế giới) với răn đe quân sự (quân đội mạnh, đặc biệt hải quân và không quân) và liên tục nâng cao vị thế quốc tế của mình thì Việt Nam mới có thể tương đối yên tâm không bị Trung Quốc đánh.
Sống cạnh một anh hàng xóm khổng lồ mà không để bị đánh hoặc ăn hiếp quả là rất khó nhưng vẫn có thể được, nhất là khi anh hàng xóm đó chưa phải là kẻ mạnh nhất trong vùng.
Bài viết thể hiện ý kiến riêng của tác giả, tiến sĩ Alexander Vuving (Vũ Hồng Lâm), không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Bộ Quốc phòng và Chính phủ Hoa Kỳ.

Sách lược tốt nhất là phòng thủ

VN phải hợp với hai nước Miên, Lào để thành lập liên bang Viet Cam Lao, đặt thủ đô tại Đà Nẵng với 5 tiểu bang Bắc, Trung, Nam Việt, Lào và Campuchia. Lực lượng quân sự của liên bang nầy sẽ có hạm đội, hàng không mẫu hạm và hỏa tiển tầm xa mang đầu đạn scudd, có tàu ngâm nguyên tử, ngư lôi hiện đại và các oanh tạc cơ tối tân. Ngoài ra, VN cần phải chế tạo các robot chiến sĩ để đương đầu với hiểm họa một đạo quân biển người.

  See full size image   
Đương đầu với chiến thuật biển người của TQ tưong lai, Mỹ nghiên cứu chế tạo chiến binh robot
Quân đội Mỹ sẽ thiết kế những robot chiến đấu có khả năng hoạt động độc lập, được lập trình để ngăn chặn những hành động vi phạm tội ác chiến tranh của binh sĩ là con người ngoài chiến trường.
Từ nay tới năm 2010 Bộ Quốc phòng Mỹ sẽ đầu tư 4 tỷ USD vào chương trình nghiên cứu “những hệ thống tự động”, mật danh của robot quân sự. Mục tiêu của họ là tạo ra những binh sĩ máy không biết sợ hãi song cũng chẳng thích giết chóc người vô tội. Mỹ đã thuê nhiều chuyên gia về robot người Anh để tư vấn cách chế tạo những người máy không có khả năng vi phạm Công ước Geneva về chiến tranh.
Các quan chức cao cấp trong Lầu Năm Góc quan tâm tới những nghiên cứu về tình trạng khủng hoảng tâm lý ở các binh lính từng phục vụ tại Iraq. Những nghiên cứu này cho thấy một tỷ lệ lớn quân nhân tham gia chiến đấu tại đây ủng hộ biện pháp tra tấn và hành hạ các tay súng đối phương.
Ronald Arkin, một chuyên gia máy tính tại Đại học Kỹ thuật Georgia đang phát triển một phần mềm cho quân đội Mỹ, cho rằng việc sử dụng chiến binh máy sẽ giảm được tình trạng vi phạm Công ước Geneva. “Robot không lo nghĩ về mạng sống và cũng chẳng bị tình cảm chi phối trong việc ra quyết định. Chiến binh máy cũng không bị kích động hay giận dữ trước những sự kiện bi thương trên chiến trường”, Ronald nói.
Trong khi đó các máy bay không người lái đã được sử dụng tại Iraq và Afghanistan để thực hiện các cuộc ném bom vào những phần tử chống đối chính phủ. Các phương tiện cơ giới tự động cũng được sử dụng để vô hiệu hóa bom mìn và nhiều loại thiết bị nổ khác.
Tháng trước quân đội Mỹ công bố loại robot có thể bắn ra nhiều thứ, từ những túi đậu, bột hạt tiêu cho tới lựu đạn. Nó được trang bị một khẩu súng máy 7,62 mm. Nhưng thế hệ robot này vẫn cần được điều khiển từ xa bởi con người. Các nhà nghiên cứu muốn chế tạo những chiến binh máy có khả năng tự xác định mục tiêu, vũ khí và biết phân biệt các loại binh chủng của đối phương (xe tăng, con người, máy bay) với những mục tiêu “mềm” như xe cứu thương và dân thường.
Phần mềm cài trong bộ vi xử lý sẽ ngăn cản chúng thực hiện các hành động bị cấm trong Công ước Geneva về chiến tranh. Quân đội Mỹ muốn chế tạo những chiến binh máy tự động hoàn toàn vì những robot mà họ đang có vẫn cần được điều khiển bởi con người. Chính vì thế mà chi phí để sản xuất và vận hành chúng khá cao. Một máy bay không người lái Predator cần tới 6 người điều khiển và những người này cũng cần được đào tạo bài bản.
Một số chuyên gia lo ngại rằng robot chiến đấu có thể bắn giết bừa bãi nếu con người mắc sai sót trong quá trình chế tạo. Noel Sharkey, một chuyên gia máy tính của Đại học Sheffield (Anh), là một trong những người phản đối mạnh mẽ kế hoạch của quân đội Mỹ.
“Tham vọng của họ khiến tôi cảm thấy ớn lạnh ở xương sống. Tôi đã nghiên cứu trí tuệ nhân tạo nhiều thập kỷ, song vẫn cảm thấy ghê sợ trước ý tưởng tạo ra một thế hệ robot có khả năng quyết định việc giết hay tha đối với con người”.
V.L (theo Telegraph)
Lầu Năm Góc đã chấp nhận chi 12 triệu USD cho công trình chế tạo một robot có khả năng thực hiện các ca phẫu thuật ngay tại chiến trường. Động thái này cho thấy Mỹ đang có ý định đưa thêm quân vào Iraq và Afghanistan.
Người ta cho biết kết quả của cuộc nghiên cứu này sẽ là một bước tiến rất lớn trong việc cứu sống con người. Sắp tới Lầu Năm Góc sẽ được xem một đoạn băng của nhà sản xuất cho thấy khả năng của robot này có thể phẫu thuật một binh lính ngay giữa đạn bom rồi sau đó chuyển người lính đến nơi an toàn.
Kỹ thuật chế tạo robot này sẽ dựa trên và cải tiến kỹ thuật phẫu thuật Da Vinci. Đây là một kiểu phẩu thuật dân sự dùng robot có 3 tay (2 tay cầm dụng cụ phẫu thuật và 1 tay cầm máy quay phim được đưa vào cơ thể bệnh nhân thông qua 3 vết rạch dài 1 cm) nối với bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ không trực tiếp đụng vào người bệnh nhân mà thao tác cách bệnh nhân vài mét và quan sát diễn tiến ca mổ thông qua một màn ảnh 3 chiều, robot sẽ thực hiện đúng tất cả hững thao tác của bác sĩ giải phẫu. Hiện nay kỹ thuật này thường được dùng để phẫu thuật cắt bỏ khối u tuyến tiền liệt hoặc phẫu thuật van tim.
Tuy nhiên để chế tạo được loại robot phẫu thuật ngay tại chiến trường, các nhà khoa học phải vượt qua được 2 thử thách chính đó là:
- Trong kỹ thuật phẫu thuật Da Vinci thì y tá sẽ là người thay dụng cụ mổ cho robot trong khi nếu ra ngoài chiến trường thì công việc này sẽ được thực hiện tự động.
- Khi ra chiến trường sẽ không còn dây nối giữa robot và bác sĩ phẫu thuật do đó robot phải là một thiết bị không dây đồng thời nó còn phải né được quân thù.

Robot quân sự: Lợi ích và nguy hại
Các nước tiên tiến trên thế giới đang lao vào một cuộc đua chế tạo robot quân sự. Lời cảnh báo mới đây của vị giáo sư hàng đầu người Anh về trí thông minh nhân tạo khiến người ta lo ngại hơn về tương lai bất ổn cho nhân loại từ chính những robot đó.
Giờ đây, một con robot có thể tự mình di chuyển khắp các ngóc ngách chiến trường, tự phát hiện kẻ thù và chiến đấu với chúng bằng tên lửa hay súng máy mà không cần bất cứ sự điều khiển nào từ con người. Tuy nhiên, Lầu Năm Góc khẳng định, khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực quân sự vẫn không thể loại con người trong những quyết định sử dụng vũ lực.Cuộc đua robot vũ trang toàn cầu
Năm 2007, ba robot vũ trang đầu tiên trang bị súng máy cỡ lớn được triển khai đến Iraq, đã “phát huy hiệu quả” lớn tới mức Mỹ phải ra lệnh huy động thêm hơn 80 robot tương tự tới chiến trường này. “Thế giới đang mê ngủ trong một cuộc đua robot toàn cầu,” Giáo sư Noel Sharkey đã nói thẳng lo ngại của mình tại hội nghị ở London trước các tướng lĩnh quốc phòng Anh ở Viện Quốc phòng và an ninh hoàng gia Anh.
“Mối đe dọa ngày càng tăng lên khi các cường quốc như Trung Quốc, Mỹ, Nga, Israel dẫn đầu trong việc nghiên cứu và đi vào sử dụng các robot đặc biệt tiên tiến”. Trong 10 năm tới, ưu tiên của Bộ Quốc phòng Mỹ là cho ra đời loại robot có thể tự quyết định thời gian, địa điểm, đối tượng để ra tay tàn sát.
Bộ Quốc phòng Mỹ đã đưa ra lộ trình phát triển các hệ thống điều khiến tự động đến năm 2013. Theo đó,Mỹ đề xuất chi khoảng 4 tỉ USD đến năm 2010 nhằm phát triển công nghệ các hệ thống không có người điều khiển, nâng tổng số chi phí vào lĩnh vực này lên 24 tỷ USD.
Mỹ muốn 1/3 xe trên chiến trường là không người lái vào năm 2015. Không chịu kém cạnh, các nước khác ở châu Âu và đồng minh của Mỹ cũng đang bắt đầu đặt một bàn chân vào cuộc đua chế tạo robot vũ khí. Đó là Canada, Hàn Quốc, Nam Phi, Singapore và Israel. Trung Quốc, Nga và Ấn Độ cũng bắt đầu tham gia cuộc đua chế tạo các loại vũ khí tự động.

Lợi ích
Mục đích của con người khi tạo ra robot quân sự là giúp giảm bớt thương vong cho con người trên chiến trường. Tuy nhiên, mục tiêu lâu dài cần hướng tới là tiến hành các cuộc chiến tranh bằng robot, chứ không phải giết người.
Hiện tại có một số loại robot đang hoạt động trên các chiến trường Iraq và Afghanistan: Máy bay không người lái Predator, xe không người lái Mini-flair UGV. Predator có khả năng do thám và bắn tên lửa. Chúng đã bay hàng trăm chuyến tại Bosnia, Afghanistan và Iraq. Mini-flair là một cỗ xe lớn được chế tạo trên khung gầm của xe ủi đất John Deer Skid Steer và lần đầu tiên được sử dụng để chống mìn tại Bosnia. Quân đội và ngành công nghiệp tư nhân cũng đang tập trung vào việc phát triển các robot nhỏ hơn mà mỗi binh sĩ có thể mang được và triển khai nếu cần.
Robot quân sự có thể được sử dụng để dò mìn, đặt thuốc nổ, do thám, dò chất độc sinh học hoặc hạt nhân và thu dọn các chất nguy hiểm. Binh sĩ Mỹ đang đối mặt với nhiều thách thức ngày nay tại Iraq và Afghanistan. Theo các nhà nghiên cứu, những tình huống đó là phòng thí nghiệm lý tưởng đối với công nghệ robot mới. Ngay cả khi các dự án này chỉ hoàn thành 80%, chúng vẫn có thể được sử dụng để cứu sống con người bằng cách đưa các hệ thống kiểm soát từ xa vào hoạt động và tránh nguy hiểm cho binh sĩ.
Nhiều robot hiện đang làm việc tại Iraq và Afghanistan, hỗ trợ cho nhóm phá mìn. Lính Mỹ đang sử dụng những chiếc xe chiến thuật nhỏ, nặng chừng 25-45kg. Chúng giống như những chiếc xe tăng nhỏ được điều khiển từ xa và có nhiều hình dạng, kích cỡ. Điều đặc biệt là chúng có thể mang một loạt thiết bị tuỳ ý, cần cho công việc.
Trọng lượng khiêm tốn của robot giúp binh sĩ dễ dàng vận chuyển và triển khai chúng trên chiến trường. Những kẻ chống đối tại Iraq đang sử dụng chiến thuật đánh du kích, đặt thuốc nổ trong các khối bê tông, động vật chết và mọi thứ khác. Họ cho chúng nổ tung khi binh sĩ Mỹ đi ngang qua. Để đối phó, quân đội Mỹ trang bị cho binh lính những cỗ xe nhỏ, không người lái nhằm giúp họ tiến hành các cuộc do thám chất lượng cao từ khoảng cách 90 tới 915m.
Robot "đánh hơi" bom sử dụng các camera có độ rõ nét cao với khả năng phóng to thu nhỏ và máy chụp ảnh nhiệt giúp nhận dạng một người nào đó đang trốn trong bụi rậm. Một số robot còn mang micro để dò âm thanh từ thiết bị nổ hoặc con người. Phần lớn các robot trên có một cánh tay để nhấc vật thể lên kiểm tra. Công việc này chỉ nguy hiểm đối với robot mà thôi. Mặc dù mục đích là tháo dỡ thuộc nổ không làm chúng nổ tung song thỉnh thoảng quân đội Mỹ cũng mất một vài robot trị giá... 50.000 USD/con.
Căn cứ vào nhiệm vụ chiến đấu, các robot cũng được chế tạo để mang vũ khí có hoả lực mạnh. Robot bộ binh, được trang bị vũ khí, bao gồm hệ thống Gladiator của quân đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ. Nó là một chiếc xe bọc thép nặng 900kg, di chuyển trên bánh xích hoặc bánh xe. Gladiator được phát triển để phục vụ chiến đấu trong khu vực đô thị. Nó có thể di chuyển phía trước binh sĩ, đánh giá nguy hiểm và phản ứng với các cuộc tấn công bằng hoả lực cực mạnh. Nguyên mẫu Gladiator được trang bị súng máy M240.
Trong tương lai, hệ thống Gladiator sẽ được kiểm soát từ xa. Binh sĩ ngày nay thích ứng với công nghệ mới nhanh không kém tốc độ phát triển của các công nghệ đó. Trong tương lai, lính robot sẽ sử dụng các hệ thống tự động và bán tự động để làm nhiệm vụ mà không cần tới người điều khiển.
Nguy hại
Con người đang khát khao có sự hỗ trợ của robot trong mọi lĩnh vực có thể. Dĩ nhiên, các lực lượng khủng bố cũng hiểu điều đó.
Những robot được chế tạo để chống lại đối phương hay tiêu diệt khủng bố về mặt nào đó có thể gây phương hại cho con người. Hơn nữa, nếu như kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, robot có khả năng "tư duy" và có thể tự ra quyết định mà không cần mệnh lệnh từ con người, thì hành động của nó khó mà lường trước được.
Lý giải điều này, các nhà khoa học cho rằng, các phần mềm của robot hiện tại do nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực kiến tạo nên. Và không phải ai cũng nắm hết được các đặc điểm của mỗi lĩnh vực. Vậy nên khi cài đặt chương trình, rất có thể một vài yếu tố tương tác để tạo nên những kết quả bất ngờ trên thực tế.
Chẳng hạn, một robot được ứng dụng để tiêu diệt đối phương, nhưng do lỗi hoặc do sự kết hợp của vài phần mềm trong đó mà nó không phân biệt đâu là địch, đâu là ta và nó sẽ tiêu diệt tất cả các thực thể sống. Chờ đợi sự can thiệp của con người lúc đó thì đã quá muộn.
Trong báo cáo của mình các nhà khoa học cũng đặt ra một số vấn đề mà chưa có lời giải đáp. Làm thế nào bảo vệ robot quân sự trước virus hay tin tặc? Ai sẽ là người chịu trách nhiệm nếu robot bỗng nhiên dở chứng, tàn sát thường dân? Đó sẽ là lỗi của người lập chương trình hay viên chỉ huy ra lệnh bắt đầu chiến dịch? Một câu hỏi nữa: Robot loại này có cần chức năng tự hủy diệt mình?
Vũ Việt (Theo báo Mỹ) Nam Úc Tuần Báo



Kỹ thuật chiến tranh robot
chiến xa không người lái
Mỹ tăng cường triển khai phương tiện chiến tranh không người lái
Ngày 13/8/08 một quan chức quân sự cao cấp của Mỹ đã kêu gọi Bộ quốc phòng và các nhà phát triển các phương tiện không người lái cần thiết thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc triển khai khả năng của các phương tiện chiến tranh không người lái cho các chiến trường tại Iraq và Afghanistan.

Phát biểu trong một cuộc họp tại Washington hôm 13/8, Trung tướng Rick Lynch, Tư lệnh quân đoàn 3 đóng tại Fort Hood/Texas đã nhấn mạnh mối quan tâm của mình trước Hội nghị về hệ thống phương tiện không người lái khu vực Bắc Mỹ năm 2009 trong khuân khổ của Tổ chức các hệ thống phương tiện không người lái quốc tế.

 

Đây là một Hội thảo thuộc khuân khổ quốc tế được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Washington từ ngày 09 đến 15 tháng 8/2009, với sự tham gia của trên 5000 đại biểu từ 30 quốc gia.

 

Đây cũng là một cuộc triển lãm lớn nhất thế giới về các hệ thống không ngưới lái và Rôbốt. Trong đó có hơn 320 sản phẩm các hệ thống không người lái tiên tiến nhất cho cả trên không, trên biển và trên mặt đất đã được trưng bày.

 

Cũng tại cuộc triển lãm này, Tướng Rick Lynch đã nói “Hàng ngày, chúng ta luôn tìm cách để tạo cho binh lính của chúng ta và gia đình họ được tốt hơn và chính công nghệ không người lái này đã tạo ra một phần lớn của điều tốt đẹp đó”.

 

Tướng Rick Lynch đã rất quan tâm và ủng hộ cho các chương trình hệ thống không người lái trên mặt đất từ năm 1985, ngay sau khi mới tốt nghiệp Master về chuyên nghành kỹ thuật Rôbốt tại Học viện Công nghệ Massachusetts.

 

Rick Lynch đam mê Rôbôt khi còn là một sỹ quan trẻ và lòng đam mê ấy tiếp tục được hun đúc khi ở cương vị một sỹ quan chỉ huy dự án người máy thuộc ban chỉ huy chương trình phát triển hệ thống tác chiến thuộc Trung tâm Thiết giáp của Lục quân đóng tại Fort Knox, Ky.

 

Cũng trong bối cảnh có liên quan tới chiến trường ở Afghanistan, hôm thứ tư (13/8), Tướng Walter Givhan, một sỹ quan cao cấp của quân đội Mỹ hiện đang giúp Kabul tái thiết lại lực lượng Không quân của Afghanistan cho biết, quân đội Mỹ đang tìm kiếm giải pháp trang bị các máy bay không người lái cho lực lượng Không quân Afghanistan nhằm tăng cường cho nhiệm vụ do thám.

 

Vì hiện nay quân đội Mỹ đang mong muốn củng cố lại lực lượng Không quân Afganistan nhằm tạo khả năng thực hiện các nhiệm vụ phục vụ cho các hoạt động tình báo ở nước này như trinh sát và do thám, nhưng những nhiệm vụ này trước tiên sẽ được thực hiện bằng các máy bay không người lái.

 

Những phương tiện không người lái này được sử dụng vào mục đích theo dõi và tìm kiếm những kẻ bạo động, nó cũng đã trở thành những phương tiện chiến tranh vô giá của quân đội Mỹ tại IraqAfghanistan

Vũ khí chiến tranh không người lái trong lòng đại dương của quân đội Mỹ
Đứng trước những yêu cầu của nhiệm vụ tác chiến hiện nay và tương lai, đã khiến các nhà nghiên cứu kỹ thuật quân sự của Mỹ luôn phải vận động tìm ra những giải pháp về công nghệ chiến tranh hiện đại. Với tinh thần đó, các nhà khoa học đã xây dựng một mô hình vũ khí mới nhằm đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ này. Trong đó chương trình phát triển công nghệ không người lái cho Hải quân đã được Bộ Quốc phòng và Hội đồng Khoa học Mỹ đặc biệt quan tâm.

Các robot dưới nước trở thành những phương tiện chiến tranh hữu hiệu và lặng lẽ của Hải quân Mỹ, bên cạnh đó nó cũng là dụng cụ quan trọng để phục vụ cho các nhiệm vụ phi quân sự như: nghiên cứu đại dương và phục vụ cho các hoạt động khảo sát dầu khí ngoài khơi.

 

Mục tiêu của Hải quân Mỹ là sử dụng các phương tiện không người lái này vào các nhiệm vụ rà soát thuỷ lôi, định vị tàu ngầm của đối phương và hỗ trợ cho nhiệm vụ phòng thủ bờ biển chống lại sự tấn công của chủ nghĩa khủng bố.

 

Trước đó, Hải quân Mỹ đã chế tạo và thử nghiệm một số phương tiện dưới nước không người lái (UUVs), nhưng hiện nay vẫn chưa đi vào sản xuất hàng loạt.

 

Theo các quan chức lãnh đạo của chương trình phát triển UUVs đã cho biết, hiện nay Hải quân mong muốn tiếp tục đánh giá về khả năng công nghệ này và thử nghiệm các mẫu đầu tiên cho tới khi họ có thể xác định được điều gì là cần thiết nhất cho Hải quân.

 

Theo đại tá Paul Siegrist, giám đốc điều hành về các hệ thống phương tiện hàng hải không người lái thuộc Bộ Tư lệnh các hệ thống trên biển của Hải quân cho biết: đối với Hải quân, phương tiện UUVs là rất quan trọng vì nó sẽ thay thế con người làm việc trong những môi trường “ảm đạm, bẩn thỉu và nguy hiểm”.

 

Ông Siegrist cho biết, ông đã đã yêu cầu các chuyên gia của nhóm Các phương tiện Tác chiến Dưới nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Quốc phòng đánh giá về khả năng công nghệ của các UUVs trong tương lai. Qua đó họ sẽ xác định về khả năng tự động hoá, vật liệu chế tạo, khả năng kiểm soát, các sensor, hệ thống thông tin liên lạc, khả năng hoạt động, khả năng quay trở lại khi kết thúc nhiệm vụ và tải trọng mang theo của các UUVs.

 

Ông Siegrist nói rằng, hiện nay vẫn chưa biết được các phương tiện này sẽ thực hiện ra sao, phải đợi cho tới khi các đề tài nghiên cứu này thành công và Hải quân sẽ có cơ hội để thực nghiệm các hệ thống này trên biển thì mới có thể đánh giá được.

 

Về hình dáng của các UUVs sẽ được thiết kế giống như những quả thuỷ lôi nhỏ và có các kích cỡ khác nhau; loại nhỏ nhất có trọng lượng từ 25 đến 100 pounds, loại trung bình khoảng từ 500 đến 3000 pounds, loại lớn nhất có trọng lượng lên tới 20.000 pounds.

 

Theo đại tá Siegrist cho biết: Hiện nay, Hải quân Mỹ đã bắt đầu triển khai các UUVs để thực hiện vào một số mục đích như tác chiến thuỷ lôi, nghiên cứu hải dương và hỗ trợ cho tác chiến đặc biệt. Các phương tiện này đang được triển khai thử nghiệm trên một số tàu quét mìn và được xác định về khả năng của chúng thông qua hệ thống đánh giá hoạt động của người sử dụng.

 

Theo như tổ chức biên chế, mỗi đội tác chiến thuỷ lôi đã được trang bị 02 phương tiện UUVs loại có đường kính 7.5 inch và 01 UUV có đường kính 12.75 inch, mỗi bộ được trang bị đi kèm một thiết bị định vị sóng âm. Những hệ thống này có thể được mang theo bên người (vác vai) hoặc được triển khai từ các cầu cảng và từ các tàu nhỏ.

 

Theo nhận định, trong tương lai các UUVs sẽ được trang bị các sensor tân tiến hơn, như thiết bị sóng âm có tổng hợp khẩu độ. Đó là một trong những mục tiêu phát triển một loại UUV quét mìn trên mặt nước, sẽ được triển khai từ các tàu tác chiến ven bờ hoặc từ các cầu cảng.

 

Ông Siegrist nhấn mạnh rằng Hải quân cũng đang tiếp tục thiết kế các UUVs được triển khai từ các tàu ngầm. Chủ yếu là loại có đường kính 21 inch, có hình dạng giống như thuỷ lôi, được thiết kế để phóng ra từ ống phóng thuỷ lôi và khi tác chiến xong sẽ quay trở lại vị trí cũ.

 

“Hải quân đã thử nghiệm các phương tiện UUVs loại 21 inch với hệ thống dò tìm thuỷ lôi ngắn hạn (NMRS) và hệ thống dò tìm thuỷ lôi dài hạn (LMRS). Nhưng cả hai loại đó đều có khả năng hạn chế khi được triển khai từ các tàu ngầm” ông Siegrist cho biết.

 

Một điểm yếu cơ bản của các phương tiện này là công nghệ truyền tin lỗi thời và thiếu hụt cấu trúc mở, điều này làm hạn chế tới việc nâng cấp các sensor. Lý do này sẽ ảnh hưởng tới việc thực hiện các nhiệm vụ mở rộng của Hải quân như triển khai các UUVs vào các hoạt động tình báo, theo dõi và trinh sát (ISR). Ông Siegrist cho biết “một nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là tái cấu hình lại các UUV” nhằm khắc phục các điểm yếu nêu trên. Đồng thời, cũng phải kết cấu lại ống phóng của các tàu ngầm tấn công lớp Virginia để đồng bộ với các UUV. Tất nhiên việc này còn phụ thuộc vào đơn đặt hàng, đối với các UUV có đường kính lớn có thể lên tới 36 inch. Hiện nay Hải quân đã quyết định kiểm tra lại khả năng ứng dụng của các UUV có đường kính lớn khi được triển khai từ các tàu ngầm để xác định cho bước tiếp theo.

 

Đô đốc Mark Kenny, chỉ huy lực lượng Tác chiến Đặc biệt của Hải quân cho biết, các UUVs càng lớn càng có lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ ISR, đặc biệt cho các hoạt động đặc biệt, như chống khủng bố.

 

Tại cuộc hội thảo của Hiệp hội Phương tiện Không người lái Quốc tế được tổ chức tại Washington, Đô đốc Mark Kenny đã phát biểu “Chúng tôi đã thiết kế lại tiết diện của các UUVs loại 21 inch, bởi vì chúng tôi cần có sự kết cấu chắc chắn và có tải trọng mang theo lớn.

 

Ông Siegrist đã đoán trước được nhu cầu mở rộng đối với các hệ thống không người lái của Hải quân, nhưng các UUVs này sẽ không bao giờ thay thế được cho các tàu có người lái. “Không lâu nữa, chúng tôi sẽ cải tiến về sức đẩy, các tiềm năng ứng dụng, tải trọng và khả năng tự động, trong tương lai gần các UUVs sẽ đạt được hoàn thiện, có thể thực hiện nhiệm vụ đa năng, linh hoạt và là lý do để thay thế cho các hệ thống có người lái” ông Mark Kenny nói.

 

“Điều đó không phải là vấn đề công nghệ; nó là một vấn đề văn hóa và các UUVs sẽ sớm được đưa vào hoạt động, nó sẽ trở thành những phương tiện chiến đấu có giá trị”.

 

Một trong những thách thức lớn nhất của các công nghệ này là cải tiến tính tự động hóa, vì vậy các UUVs có thể hoạt động độc lập.

 

Robert Manning, giám đốc cơ quan nghiên cứu Hải quân cho biết, Hải quân đang có xu hướng thử nghiệm một phần mềm thuật toán mới, có thể cho phép các phương tiện UUVs tự động đưa ra “các quyết định” và chúng có khả năng định vị được các thủy lôi trên biển. Các thử nghiệm này sẽ được lên kế hoạch vào năm 2011.

 

Các thuật toán này được dựa trên một số tiêu chuẩn, như trong môi trường nước trong và nước đục. Nếu hệ thống không phát hiện thấy thủy lôi trong môi trường nước trong, tức là ở đó không có thủy lôi; nhưng đối với môi trường nước đục, nếu không phát hiện được gì thì phương tiện này sẽ vẫn tiếp tục tìm kiếm hoặc yêu cầu các đơn vị khác hỗ trợ.

 

Ông Manning cho biết, tổ hợp các thuật toán-sensor tân tiến được trang bị cho các UUVs, khi phát hiện có thủy lôi và các vật cản khác, thì các thông tin này sẽ lập tức được chuyển vào hệ thống cảnh báo nguy hiểm (có trở ngại) được đặt ở các cảng. Công nghệ này có tác dụng thực thi các nhiệm vụ an ninh như bảo vệ cảng.

 

Một dự án hứa hẹn khác của phương tiện UUV là “Bluefin 12”- là một chiếc tàu có chiều dài 5 foot, chuyên thực thi các nhiệm vụ ban đầu, có chức năng xác định các khu vực có thủy lôi. Dự án này sẽ bắt đầu vào năm 2011.

 

Theo ông Manning, phương tiện này sử dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) có thể phát hiện được thủy lôi ở cách xa 100 yards. Sau khi phương tiện đến gần một vật thể giống thủy lôi, nó bơi qua vật thể đó –Cameras sẽ ghi nhận hình ảnh của vật thể đó từ nhiều góc độ khác nhau – và xác định từ tính của vật thể.

 

Phương tiện Bluefin được lắp đặt một thiết bị camera quang điện tử, có thể cho phép ghi nhận được hình ảnh các vật thể trong môi trường nước đục. Phương tiện này cũng được lắp đặt một thiết bị lazer “quang điện từ dưới nước” để có thể chiếu ra một lượng ánh sáng đủ để nhìn xuyên qua đám nước bùn.

 

Ông Manning cho biết, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nếu nghi ngờ có thủy lôi, lập tức nó ghi nhận các hình ảnh theo nhiều góc độ khác nhau, việc này sẽ giảm bớt đi những cảnh báo sai.

 

Nathan Hughes, một nhà phân tích tại trường đại học Stratfor nói “Thực ra hiện nay quân đội mới chỉ bắt đầu đề cập sơ lược về tính hữu ích của các hệ thống không người lái, đặc biệt đối với các phương tiện dưới nước. Nhưng, dường như cũng đã có những dấu hiệu hứa hẹn”.

 

Nathan Hughes nêu rõ, khác với máy bay không người lái, các phương tiện UUVs chưa trở thành những phương tiện quan trọng trong chiến tranh. Vì hiện chưa có nhiều kinh nghiệm về công nghệ này

Robot đóng vai trò quan trọng trong chiến lược quân sự Mỹ
Hiện nay Bộ Quốc phòng Mỹ đang đặc biệt chú trọng vào lĩnh vực phát triển công nghệ robot tác chiến. Việc ứng dụng các robot người máy vào các hoạt động tác chiến đã có một thời gian dài bị quên lãng và đã trở thành vấn đề khoa học viễn tưởng. Tuy nhiên, hiện nay công nghệ chế tạo các robot tác chiến đã trở thành nhân tố quan trọng hàng đầu trong hệ thống vũ khí chiến đấu của quân đội Mỹ.

Trong một tuyên bố mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates đã bày tỏ quan điểm rất tán thành đối với chương trình phát triển các phương tiện chiến đấu không người lái này. Đồng thời, ông Robert Gates cũng đã tuyên bố là sẽ đầu tư phát triển cho Hội đồng Công nghệ robot của quân đội Mỹ.

 

Qua đó ông Robert Gates cũng đã đề xuất thêm một khoản tài chính nhằm tiếp tục mua sắm thêm 50 máy bay không người lái loại Predator, thêm vào đó là ý định sẽ tăng thêm 62% số lượng các máy không người lái trong tương lai.

 

Song song với việc tăng cường thêm các máy bay không người lái, thì hiện nay ông Gates cũng đã quan tâm tới phát triển và triển khai một số lượng lớn hơn các robot trên mặt đất. Hiện nay Lục quân Mỹ cũng đang sử dụng một số robot vào các hoạt động quân sự theo như chương trình của hệ thống tác chiến tương lai của quân đội.

 

Trong một cuộc hội thảo chuyên đề về công nghệ không người lái trong tương lai đã được tổ chức tại Dallas bang Texas. Đến dự hội thảo này gồm có phó đô đốc Hải quân, Joe Dyer, phó chủ tịch về các chương trình iRobot của Chính phủ; Thứ trưởng Bộ quốc phòng, Tony Melita, phụ trách về các vấn đề vũ khí và tác chiến trên bộ và ông Ellen Purdy, giám đốc doanh nghiệp về các Robot mặt đất. Hội thảo đã tập trung vào các biện pháp duy trì và thúc đẩy những hệ thống mới. Cụ thể hơn là, mục đích là để hiểu biết được những gì mà Chính phủ và ngành công nghiệp có thể làm để thúc đẩy mạnh hơn việc triển khai công nghệ robot.

 

Hiện nay, việc phát triển các công nghệ robot tác chiến đã đạt được những thắng lợi to lớn, đã tạo một bước đột phá quan trọng trong lĩnh vực không người lái của quân đội Mỹ, đồng thời sự thành công đó cũng đã tạo ra những kế hoạch mới cho Bộ quốc phòng Mỹ trong việc ứng dụng khả năng công nghệ của robot vào tác chiến. Các robot, sensors và các mạng lưới điều khiển đều được quân đội Mỹ quan tâm và phát triển, trở thành những nhân tố quan trọng nhằm hỗ trợ cho các máy chiến đấu, giảm bớt những nhân công điều khiển


Kỹ thuật chiến tranh Robot của Mỹ
Mỹ: Máy bay không người lái, biểu tượng cho tương lai của Hàng không Quân sự Mỹ
Theo một sỹ quan cao cấp nhất của quân đội Mỹ hôm thứ năm (14/5) cho biết, thế hệ máy bay chiến đấu và máy bay ném bom không người lái là sẽ biểu tượng cho tương lai của Hàng không Quân sự Mỹ.
Trong bài phát biểu trước Uỷ ban Quân vụ Thượng viện, Đô đốc Mike Mullen, Chủ Tịch Ban Tham Mưu Liên Quân Mỹ cho biết “Chúng ta đang ở một giai đoạn thực sự của sự chuyển đổi về tương lai của Hàng không Quân sự và toàn bộ những gì chúng ta đã có được, cả về máy bay có người lái và không người lái”.


Ảnh Defencetalk


Khi hỏi về kế hoạch phát triển một thế hệ máy bay ném bom không người lái mới, ông Mullen đã nói “Tôi nghĩ rằng chúng ta đang bắt đầu của sự chuyển đổi này và việc sử dụng máy bay không người lái mới chỉ bắt đầu trong vài năm vừa qua”.

Cũng trong cuộc họp đó, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates nói, các nhà hoạch định chiến lược quân sự cần phải nghiên cứu xem chúng ta cần có một máy bay ném bom thế hệ mới không cần người lái hay vận hành như máy bay không người lái.

Phát biểu trước Uỷ ban Quân vụ Thượng viện, ông Mullet đã nói rằng thế hệ máy bay chiến đấu hỗn hợp của hãng Lockheed Martin hiện đang chế tạo có thể là những chiếc có người lái cuối cùng trước khi những máy bay không người lái chiếm lĩnh vai trò.

Hiện nay quân đội và cơ quan tình báo của Mỹ đang sử dụng hàng ngàn máy bay không người lái với các loại dài từ 1 mét đến 35 mét ở chiến trường Iraq, Afganistan và những nới khác.

Mặc dù ông Gates đã công bố cắt giảm những hệ thống vũ khí đắt tiền -- như cắt giảm kế hoạch mở rộng máy bay F-22. Nhưng có đề xuất ngân sách cho năm tài khoá 2010 là kêu gọi đầu tư cho các máy bay không người lái, bao gồm các loại máy bay như Predators và mới hơn là Reapers.

Theo ông Gates thì “đây là một trong những dấu hiệu tăng ngân sách quốc phòng”.

Bộ Quốc phòng Mỹ đề xuất khoản ngân sách 02 tỷ USD để đầu tư cho tình báo, do thám và trinh sát, nhằm hỗ trợ cho binh lính ở Iraq và Afghanistan, cùng với một khoản tiền lớn cho các máy bay không người lái.

Ảnh minh hoạ.
Trung Quốc: Sẵn sàng cho sản xuất trực thăng robot
VIT - Hôm nay các nhà khoa học Trung Quốc cho biết trực thăng robot do họ tự sản xuất, máy bay này có thể bay tự động mà không cần điều khiển từ xa, đã sẵn sàng đi vào sản xuất.

Viện Tự động hoá Thẩm Dương thuộc Học Viện Khoa học Trung Quốc đã mất 4 năm để phát triển 2 loại robot này.

Loại lớn hơn có chiều dài 3m, tương đương kích thước của một chiếc xe con, nặng 120kg và có tải trọng lên tới 40kg. Nó có thể bay liên tục 4 giờ liền với tốc độ tối đa là 100 km/h.

Loại nhỏ hơn nặng 40kg, có tải trọng 15kg và tốc độ bay tối đa đạt 70 km/h.

Được gắn một chiếc camera, robot này có thể bay trên cao chụp ảnh trong không trung, và tự động tìm kiếm hoặc theo dõi các mục tiêu.

Các nhà nghiên cứu trong viện cho biết robot này có thể bay thực hiện các nhiệm vụ dựa vào các chương trình sắp đặt và điều khiển được định sẵn, khi gió thổi dưới cấp 6 (11 km/h).

“Các máy bay này chạy bằng dầu và có giá từ 700.000 (102.000 USD) tới 2 triệu Nhân dân tệ”, ông Wu Zhenwei, một nhà nghiên cứu của viện này có trụ sở tại Tỉnh Liêu Ninh phía Đông Bắc Trung Quốc cho biết.

“Chúng tôi không có bất kỳ kế hoạch tiếp thị nào cho robot này. Tuy nhiên, nếu có đơn đặt hàng, chúng tôi có thể sẽ sản xuất ở quy mô nhỏ, khoảng 20-30 chiếc” ông Wu nói.

Ông Wu cho biết viện đã không có đối tác liên danh nào để sản xuất quy mô lớn.

Dự án Robot này đã được chính quyền trung ương tài trợ và là một dự án nghiên cứu quốc gia lớn trong năm 2006 bởi vì triển vọng sử dụng của nó trong việc thu thập thông tin và trở hàng hoá trong những điều kiện khắc nghiệt như động đất hoặc rò rỉ khí độc. Nó cũng có thể được sử dụng để phun thuốc sâu.

Làm thế nào để VN phát triễn kỹ thuật chiến tranh robot?

Những trưởng đại học lớn VN như ĐH Đà Nẵng, Hà Nội, TP HCM, đại học Quân Sự nên mở ngành Robotics, đặc biệt chú trọng về nghiên cứu vũ khí robot qúôc phòng. Các công ty quốc phòng nên chuyên môn hóa lãnh vực nầy ngay từ bây giờ đừng nên chạm trễ vì đó là sứ mạng bảo vệ tổ quốc.

Nhưng hiện nay lãnh đạo chính phủ CSVN nhất là về quốc phòng rất yếu kém, thiếu tư duy sáng tạo, mạnh ai nấy lo trương mục Thụy Sĩ của mình hơn là an ninh tổ quốc nên họ sẽ chẳng làm những điều trện Thay vào đó họ chuẩn bị hai đầu gối cho nhuyễn để qùy xuống hiên dâng lãnh thổ và lãnh hải cho quân thù truyền kíêp khi được lệnh,  miễn là họ và gia đình họ vẫn vinh thân phì da, giữa dân tộc VN và lãnh tụ TQ họ chọn cái thứ hai không cần tranh cãi!



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
💔 Tố Hữu và Mối Tình Đầu Định Mệnh: Lời Tố Cáo Đau Thương trở thành mối thù giai cấp muôn đời! [Đã đọc: 485 lần]
💔 Lời Nguyền Hận Thù: Phế Phẩm Độc Hại Trong Văn Hóa Giao Tiếp Việt thời đại HCM CSVN [Đã đọc: 445 lần]
Mức lương cụ thể và thủ tục nhập cư để các bạn VN được thuê làm chồng [Đã đọc: 383 lần]
CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN ĐỐI PHÓ VỚI BIÊN GIỚI – AN NINH KHU VỰC CAMPUCHIA 2025 [Đã đọc: 370 lần]
Sự im lặng đồng lõa – khi lãnh đạo miền Bắc đứng nhìn Trung Quốc nuốt Hoàng Sa [Đã đọc: 365 lần]
Đạo Đức và Cái Bẫy Tự Tôn của dân tộc VN- Mẹ Thứ Anh Hùng - Bi kịch của Thuyền nhân Việt Nam [Đã đọc: 343 lần]
Giữa Mạc Tư Khoa Nghe Câu Hò Ví Dặm [Đã đọc: 305 lần]
Bẫy thu nhập trung bình của VN [Đã đọc: 280 lần]
Constitution of the Federal Republic of VCL [Đã đọc: 265 lần]
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [Đã đọc: 262 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.