Bệnh đái tháo đường và cách trị bằng ăn hạnh nhân
25.07.2009 00:05
Bệnh đái tháo đường, còn gọi là bệnh tiểu đường, là một bệnh do rối loạn chuyển hóa cacbohydrat khi hoóc môn insulin của tụy bị thiếu hay giảm tác động trong cơ thể, biểu hiện bằng mức đường trong máu luôn cao; trong giai đoạn mới phát thường làm bệnh nhân đi tiểu nhiều, tiểu ban đêm và do đó làm khát nước. Bệnh tiểu đường là một trong những nguyên nhân chính của nhiều bệnh hiểm nghèo, điển hình là bệnh tim mạch vành, tai biến mạch máu não, mù mắt, suy thận, liệt dương, hoại thư, v.v.
Dịch tễ học Ở Anh khoảng 1,6 triệu người bị ĐTĐ[1]. Tại Hoa Kỳ, số người bị ĐTĐ tăng từ 5,3% năm 1997 lên 6,5% năm 2003 và tiếp tục tăng rất nhanh. Người tuổi trên 65 bị ĐTĐ gấp hai lần người tuổi 45–54[2]. Tại Việt Nam, trong 4 thành phố lớn Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tỷ lệ bệnh tiểu đường là 4%, riêng quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) lên tới 7%. Phần lớn người bệnh phát hiện và điều trị muộn, hệ thống dự phòng, phát hiện bệnh sớm nhưng chưa hoàn thiện. Vì vậy, mỗi năm có trên 70% bệnh nhân không được phát hiện và điều trị. Tỷ lệ mang bệnh tiểu đường ở lứa tuổi 30-64 là 2,7%, vùng đồng bằng, ven biển 2,2%, miền núi 2,1%. Nếu không được phòng chống và cứu chữa kịp thời, bệnh dễ biến chứng, 44% người bệnh đái tháo đường bị biến chứng thần kinh, 71% biến chứng về thận, 8% bị biến chứng mắt. Hiện trên thế giới ước lượng có hơn 190 triệu người mắc bệnh tiểu đường và số này tiếp tục tăng lên. Ước tính đến năm 2010, trên thế giới có 221 triệu người mắc bệnh tiểu đường. Năm 2025 sẽ lên tới 330 triệu người (gần 6% dân số toàn cầu). Tỷ lệ bệnh tăng lên ở các nước phát triển là 42%, nhưng ở các nước đang phát triển (như Việt Nam) sẽ là 170%[3].
Phân loại Bệnh tiểu đường có hai thể bệnh chính: Bệnh tiểu đường loại 1 do tụy tạng không tiết insulin, và loại 2 do tiết giảm insulin và đề kháng insulin. Loại 1 (Typ 1) Khoảng 5-10% tổng số bệnh nhân Bệnh tiểu đường thuộc loại 1, phần lớn xảy ra ở trẻ em và người trẻ tuổi (<30T). Các triệu chứng thường khởi phát đột ngột và tiến triển nhanh nếu không điều trị. Giai đoạn toàn phát có tình trạng thiếu insulin tuyệt đối gây tăng đường huyết và nhiễm Ceton. Những triệu chứng điển hình của Bệnh tiểu đường loại 1 là tiểu nhiều, uống nhiều, đôi khi ăn nhiều, mờ mắt, dị cảm và sụt cân, trẻ em chậm phát triển và dễ bị nhiễm trùng. Loại 2 (Typ 2) Bệnh tiểu đường loại 2 chiếm khoảng 90-95% trong tổng số bệnh nhân bệnh tiểu đường, thường gặp ở lứa tuổi trên 40, nhưng gần đây xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi 30, thậm chí cả lứa tuổi thanh thiếu niên. Bệnh nhân thường ít có triệu chứng và thường chỉ được phát hiện bởi các triệu chứng của biến chứng, hoặc chỉ được phát hiện tình cờ khi đi xét nghiệm máu trước khi mổ hoặc khi có biến chứng như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não; khi bị nhiễm trùng da kéo dài; bệnh nhân nữ hay bị ngứa vùng do nhiễm nấm âm hộ; bệnh nhân nam bị liệt dương. Bệnh tiểu đường do thai nghén Tỷ lệ bệnh tiểu đường trong thai kỳ chiếm 3-5% số thai nghén; phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ. Chẩn đoán Bệnh tiểu đường là một bệnh không thuần nhất, có nhiều thể lâm sàng nên triệu chứng. Bệnh tiểu đường loại 2 có các triệu chứng diễn ra êm dịu hơn loại 1. Triệu chứng Các triệu chứng thường thấy là tiểu nhiều, ăn nhiều, uống nhiều, sụt cân nhanh là các triệu chứng thấy ở cả hai loại. Lượng nước tiểu thường từ 3-4 lít hoặc hơn trong 24 giờ, nước trong, khi khô thường để lại vết bẩn hoặc mãng trắng. Tiểu dầm ban đêm do đa niệu có thể là dấu hiệu khởi phát của đái tháo đường ở trẻ nhỏ. Với bệnh nhân đái tháo đường loại 2 thường không có bất kỳ triệu chứng nào ở giai đoạn đầu và vì vậy bệnh thường chẩn đoán muộn khoảng 7-10 năm (chỉ có cách kiểm tra đường máu cho phép chẩn đoán được ở giai đoạn này). Xét nghiệm Chẩn đoán ĐTĐ bằng định lượng đường máu huyết tương: ĐTĐ: đường máu lúc đói ≥126mg/dl (≥7 mmol/l) thử ít nhất 2 lần liên tiếp. Đường máu sau ăn hoặc bất kỳ ≥200mg/dl (≥11,1mmo;/l). Người có mức đường máu lúc đói từ 5,6-6,9 mmol/l được gọi là những người có ‘rối loạn dung nạp đường khi đói’. Những người này tuy chưa được xếp vào nhóm bệnh nhân ĐTĐ, nhưng cũng không được coi là ‘bình thường’ vì theo thời gian, rất nhiều người người ‘rối loạn dung nạp đường khi đói’ sẽ tiến triển thành ĐTĐ thực sự nếu không có lối sống tốt. Mặt khác, người ta cũng ghi nhận rằng những người có ‘rối loạn dung nạp đường khi đói’ bị gia tăng khả năng mắc các bệnh về tim mạch, đột quị hơn những người có mức đường máu <5,5mmol/l. Đôi khi các bác sỹ muốn chẩn đoán sớm bệnh ĐTĐ hơn nữa bằng cách cho uống đường glucose làm bộc lộ những trường hợp ĐTĐ nhẹ mà thử máu theo cách thông thường không đủ tin cậy để chẩn đoán. Cách đó gọi là ‘test dung nạp glucose bằng đường uống’. Test này được thực hiện như sau: Điều kiện: ăn 3 ngày liền đủ lượng carbonhydrat (>200g/ngày), không dùng thuốc làm tăng đường máu, đường máu lúc đói bình thường, không bị stress. Thực hiện: nhịn đói 12 giờ, uống 75 gam đường glucose trong 250ml nước (không nóng - không lạnh). Định lượng đường máu sau 2 giờ. Đọc kết quả: ‘Test dung nạp glucose đường uống’: Nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose ≥11,1mmol/l: chẩn đoán ĐTĐ; nếu đường máu 2 giờ sau uống đường glucose ≥7,8 mmol/l nhưng < 11,1 mmol/l: những người này được xếp loại giảm dung nạp đường glucose. Người mắc giảm dung nạp đường glucose không những có nguy cơ cao tiến triển thành ĐTĐ sau này, mà còn tăng nguy cơ mắc các bệnh tim-mạch như tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não. Định lượng đường niệu: chỉ có giá trị rất hãn hữu trong việc theo dõi đối với bản thân bệnh nhân ngoại trú. Không dùng để chẩn đoán bệnh. Các xét nghiệm bổ sung: sau khi được chẩn đoán xác định và làm những xét nghiệm theo dõi thường kỳ (1-2lần/năm) để thăm dò các biến chứng mạn tính và để theo dõi điều trị: Khám lâm sàng: lưu ý kiểm tra cân nặng, huyết áp, bắt mạch ngoại biên và so sánh nhiệt độ da, khám bàn chân, khám thần kinh bao gồm thăm dò cảm giác sâu bằng âm thoa. Khám mắt: phát hiện và đánh giá tiến triển bệnh lý võng mạc. Xét nghiệm: đặc biệt lưu ý creatinin, mỡ máu, microalbumin niệu (bình thường < 30 mg/ngày) hoặc định lượng protein niệu. Đo điện tim nhằm phát hiện sớm các biểu hiện thiếu máu cơ tim. Soi đáy mắt.. Định lượng HbA1 hoặc HbA1c: đánh giá hồi cứu tình trạng đường máu 2-3 tháng gần đây. Đường máu cân bằng tốt nếu HbA1c < 6,5%. Trong một số tình huống (không phải là xét nghiệm thường qui): Fructosamin: cho biết đường máu trung bình 2 tuần gần đây, có nhiều lợi ích trong trường hợp người mắc ĐTĐ đang mang thai. Nếu đường máu cân bằng tốt, kết quả < 285 mmol/l. Peptid C (một phần của pro-insulin): cho phép đánh giá chức năng tế bào bêta tụy. Điều trị Lối sống và thái độ ăn uống Chế độ ăn tốt cho bất kỳ người ĐTĐ cũng cần thoả mãn các yếu tố cơ bản sau: - Đủ chất Đạm - Béo - Bột - Đường - Vitamin - Muối khoáng - Nước với khối lượng hợp lý.
- Không làm tăng đường máu nhiều sau ăn.
- Không làm hạ đường máu lúc xa bữa ăn.
- Duy trì được hoạt động thể lực bình thường hàng ngày.
- Duy trì được cân nặng ở mức cân nặng lý tưởng hoặc giảm cân đến mức hợp lý.
- Không làm tăng các yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu, tăng huyết áp, suy thận ...
- Phù hợp tập quán ăn uống của địa dư, dân tộc của bản thân và gia đình.
- Đơn giản và không quá đắt tiền.
- Không nên thay đổi quá nhanh và nhiều cơ cấu cũng như là khối lượng của các bữa ăn.
Thuốc uống Insulin (dùng cho dạng typ1) Căn cứ vào tác dụng, giới chuyên môn chia ra 03 nhóm: - Insulin tác dụng nhanh: gồm Insulin hydrochlorid, nhũ dịch Insulin-kẽm
- Insukin tác dụng trung bình: Isophan Insulin, Lente Insulin
- Insulin tác dụng chậm: Insulin Protamin kẽm, Insulin kẽm tác dụng chậm
Insulin được chỉ định dùng cho bệnh nhân đái tháo đường thuộc Typ1, nó chỉ dùng cho bệnh nhân đái tháo đường typ2 khi đã thay đổi chế độ ăn, luyện tập và dùng các thuốc điều trị đái tháo đường tổng hợp mà không hiệu quả - Phản ứng phụ của Insulin: Dị ứng (sau khi tiêm lần đầu hoặc nhiều lần tiêm), hạ Glucose máu (thường gặp khi tiêm quá liều), Phản ứng tại chỗ tiêm (ngứa, đau, cứng vùng tiêm)
Thuốc dùng cho dạng typ2 Các dẫn xuất của Sulfonyl ure, chia làm 02 nhóm: - Nhóm 1: có tác dụng yếu, gồm - Tolbutamid, Acetohexamid, Tolazamid, Clopropamid
- Nhóm 2: có tác dụng mạnh hơn, gồm - Glibenclamid, Glipizid, Gliclazid
Các nhóm trên có tác dụng hạ đường huyết do ngăn cản tế bào tuyến tụy tạo ra Glucagon và kích thích tế bào Beta ở tuy tiết ra Insulin - Phản ứng phụ khu dùng: hạ Glucose máu,dị ứng, rối loạn tiêu hóa, tan máu, mất bạch cầu hạt
Thay ghép tế bào tụy
Thảo dược phòng chữa tiểu đường Chủ nhật, 23 Tháng ba 2008, 07:38 GMT+7
http://www.mediafire.us/images/5ym7t6ov3mn7z5rvzim.jpg (http://www.mediafire.us/)
Tiểu đường được Đông y gọi là tiêu khát với triệu chứng ăn nhiều, đái nhiều, uống nhiều. Y học cổ truyền đã sử dụng nhiều loại thảo dược để điều trị bệnh này, chẳng hạn như nhân sâm, củ mài, mướp đắng...
Nhân sâm: Vị ngọt, hơi đắng, có tính hơn ôn, vào hai kinh phế và tỳ, có tác dụng ích khí, bổ phế, dịu hen, kiện tỳ, sinh tân dịch, dịu khát... Nghiên cứu hiện đại cho thấy, nhân sâm làm tăng tính nhạy cảm của tế bào với insulin, kích thích bài tiết insulin trong cơ thể.
Tuy nhiên, việc dùng liều có thể gây một số tác dụng phụ như nhức đầu, choáng váng, nôn mửa và thậm chí làm tăng huyết áp; đây cũng là những biến chứng của bệnh tiểu đường. Vì vậy, việc sử dụng nhân sâm cần phải tuân theo lời khuyên của thầy thuốc. Nhân sâm còn tiềm ẩn nguy cơ làm tăng hiệu ứng thuốc hạ đường huyết. Vì vậy, việc dùng phối hợp nhân sâm với thuốc giảm đường huyết có thể gây nguy hiểm do hạ thấp đường huyết quá mức khi dùng. Trong thực tế lâm sàng, có thể dùng nhân sâm kết hợp với một số vị thuốc khác để chữa bệnh đái tháo đường.
Một số cách dùng nhân sâm chữa tiểu đường: Nhân sâm 3 g, hãm hoặc sắc uống hằng ngày thay nước.
Nhân sâm 3 g, củ mài sao 20 g, tán bột hoặc nấu cháo ăn ngày một lần. Bài thuốc này có tác dụng chữa tiểu đường ở người già khí huyết hư nhược.
Củ mài: Tên thuốc là hoài sơn. Theo nghiên cứu của Nhật Bản, hoài sơn đã được dùng chữa khỏi bệnh tiểu đường trên một số bệnh nhân điều trị bằng insulin không khỏi. Có thể dùng dưới dạng thuốc sắc, bột thuốc hoặc thực phẩm như chè, canh...
Ứng dụng chữa bệnh:
Củ mài 50-100 g, nấu cháo, ăn thay cơm hằng ngày.
Củ mài 30 g, thục địa 12 g, sơn thù 10 g, đan bì 12 g, bạch linh 10 g, thiên hoa phấn 12 g. Sắc uống ngày một thang.
Củ mài 15 g, hoàng kỳ 15 g, râu ngô 30 g, sắc uống ngày một thang.
Củ mài 40 g, bí ngô 120 g, lá sen 50 g. Lá sen sắc lấy nước, bỏ cái, nấu với củ mài và bí ngô thành cháo. Ăn ngày một lần.
Mướp đắng: Theo nghiên cứu hiện đại, mướp đắng có tác dụng hạ thấp đường huyết trên động vật. Nó đã được Philippines sử dụng làm thuốc điều trị tiểu đường rất hiệu quả. Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng mướp đắng có tác dụng hạn chế sự phát triển của tế bào ung thư và kéo dài tuổi thọ của người bệnh ung thư.
http://www.mediafire.us/images/jkdbnoxh6qd6qg935p6k.jpg (http://www.mediafire.us/)
Quả mướp đắng có vị đắng, tính lạnh, trừ tạng nhiệt, làm sáng mắt, mát tim, nhuận tỳ, bổ thận, nuôi dưỡng can huyết, bớt mệt mỏi, giải phiền khát... Hạt mướp đắng có vị đắng ngọt, thêm khí lực, cường dương. Người ta đã bào chế tới 18 loại dược trà từ mướp đắng, có tác dụng an thần, gây ngủ, kích thích tiêu hóa, hoạt huyết... Hiện nay nhân dân ta cũng đã dùng mướp đắng để làm chè thuốc, hãm uống hằng ngày chữa các bệnh tiểu đường, giảm mỡ máu...
Ứng dụng chữa bệnh:
Mướp đắng thái mỏng, sấy khô. Hằng ngày hãm uống thay nước chè.
Mướp đắng tươi 1-2 quả. Nấu canh ăn hằng ngày.
Hà thủ ô đỏ: Thường dùng lá và rễ củ làm thuốc. Rễ củ phải được bào chế với nước đậu đen mới dùng. Khi dùng hà thủ ô cần kiêng không ăn các loại cá không vảy, hành, tỏi, cải củ. Hà thủ ô có tác dụng bổ máu, giảm đường máu. Ứng dụng chữa bệnh:
Hà thủ ô đỏ 12 g, long nhãn 12 g, quyết minh tử (hạt muồng) sao 12 g, lá dâu 20 g. Sắc uống ngày một thang, chia uống 2-3 lần trong ngày. Bài thuốc này có tác dụng chữa mất ngủ ở người tiểu đường.
Hà thủ ô đỏ 12 g, long nhãn 12 g, quả dâu chín 20 g, quy thân 10 g, cam thảo dây 10 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần uống trong ngày. Bài thuốc này có tác dụng chữa thiếu máu ở người bị tiểu đường.
Hà thủ ô đỏ chế 12 g, củ mài sao 20 g. Tán bột mịn, uống mỗi ngày 20 g; uống liên tục trong nhiều ngày. Có thể sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Bài thuốc này có tác dụng chữa tiểu đường. Nếu đã có biến chứng mạch máu, nên gia thêm cỏ xước 20 g, kim ngân hoa 20 g, rễ quýt gai 12 g, cam thảo dây 10 g; sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày.
Hà thủ ô đỏ chế 12 g, thục địa 12 g, củ mài sao 12 g, sơn thù 10 g, đan bì 10 g, bạch linh 10 g, thiên hoa phấn 10 g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần trong ngày (đây là bài Lục vị gia vị). Bài thuốc này có tác dụng chữa tiểu đường.
Hoa hướng dương: Rễ cây hướng dương 150 g, sắc uống trước khi ăn cơm, vào buổi sáng sớm, uống liền 5-7 ngày, có tác dụng chữa tiểu đường. (Theo SK&ĐS)
MỘT TOA THUỐC TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG RẺ TIỀN Xin chuyển tiếp đễ tùy nghi xữ dụng, may thầy phứơc chủ ... Nhân chuyến đi Canada vào cuối tháng 4 vừa qua. Tôi có ghé Seattle ở lại Thiền Viện Minh Chánh một đêm, tôi đã được gặp thầy Kiên Tánh. Thầy nói chuyện lúc trước Thầy bị đường nặng ghê lắm có khi đo lên tới 1,200 phải chích Insulin ngày 2 lần, sau đó Thầy được người ta chỉ cho phương cách này. Thầy theo đó và bây giờ Thầy không phải uống thuốc nữa mà có khi đường xuống chỉ còn dưới 50 nên lúc nào, đi đâu Thầy cũng phải mang kẹo theo . Vật liệu : - Hột hạnh nhân (ALMOND) của Tàu có bán ở các chợ Tàu và Việt Nam. Có 2 loại một loại gọi là BẮC và một loại gọi là NAM. Loại BẮC ăn thì đắng (bitter), loại NAM thì bình thường. Công thức như sau : 1 - mua một gói 6 oz loại BẮC 2 - mua 2 gói mổi gói 6 oz loại NAM Cách làm: Đem 2 loại BẮC và NAM trộn chung lại với nhau cho đều, rồi cho vào nồi với một lít nước nấu kỷ, rồi đem ăn vào mổi bữa cơm như ăn canh. Ăn cả nước lẫn cái . Một công thức chia ra làm 4, 5 lần nấu.
Tôi đã thử ngay sau khi tôi đi chơi về. Nhưng có một cái trở ngại là khi ra chợ Việt Nam tôi chỉ thấy bán có một loại thôi. Thầy dặn tôi ra chợ mua thì rẽ hơn nên tôi làm theo nhưng khi ra chợ thi chỉ có một loại mình không biết cái nào gọi là BẮC cái nào gọi là NAM, nên tôi trở về tiệm thuốc Bắc quen ở gần nhà. Tôi hỏi mua thi có liền và ông chủ tiệm giải thích cho tôi là Bắc thi đắng Nam thi không đắng. Giá cũng rẻ lắm chỉ có $4.50 USD một pound thôi. Tôi liền mua cho 3 phần một lúc. Tôi nói ông cần mổi phần 1 gói 6 oz Bắc và 12 oz Nam. Tôi đem về nấu liền, uống thì hơi đắng như mình ăn trái hủ qua vậy đó. Nhưng còn cái hột thì nó cứng lắm chứ không nhừ ra như hạt sen. Hôm sau tôi cho vào máy xay sinh tố xay ra nhưng ăn cũng không trôi. Tôi liền nhớ ra hôm cô bán hàng lúc cân cho tôi cô nói với tôi là có 2 vợ chồng người Mỹ mổi lần họ tới là mua 5 pound một lần và cứ ăn sống như vậy . Tôi hỏi cô ta họ có nói ăn để chửa gì không ? Cô ta nói họ nói ăn để chữa cancer thế là tôi bắt chước theo, từ hôm đó mổi ngày tôi nhai ăn sống. Sáng một muỗng canh, chiều một muỗng canh thay vì tôi nấu. Nếu muốn xuống nhanh thi ăn nhiều hơn lên, nhưng tôi ăn từ từ sợ ăn nhiều một lúc đường xuống nhiều quá cũng dễ bị trở ngại. Kết quả: một tuần này tôi đo đường sáng nào cũng dưới 100 mặc dù bữa cơm chiều tôi ăn tới 2 chén cơm, thêm mổi ngày ăn 2 ly sữa chua mỗi ly 8 oz . Thuốc thì bớt đi nữa viên mỗi ngày, nếu đường đo xuống thì sẽ từ từ bớt thuốc . Lúc tôi chưa ăn hạnh nhân thì tôi uống đủ thuốc, không dám ăn cơm, không ăn ngọt mà đo đường lúc nào cũng ở mức từ 120 đến 150. Bạn nào có bị tiểu đường thì hảy thử đi. Không đắt tiền mà cũng dễ dàng xử dụng. Không nhai được thì cứ nấu rồi uống nước như canh theo Thầy nói. Bạn nào thử xong, thấy có kết quả, xin vui lòng cho biết. Liều thuốc rữa gan, mật, thận giíp trịđau lưng, tiểu đường
· Vật liệu 1: Muối Epsom (bán tại Long Drug hay Rite Aids…), nước lọc. · Vật liệu 2: Dầu Extra Virgin Olive, nước bưởi vắt từ trái. · Pha chế: Tạo hai loại dung dịch để dùng trong tiến trình tẩy rữa: a- Dung dịch loại Một: 4 chiếc ly loại 12 oz (loại chứa đủ lon bia). Mỗi ly đựng 2/3 nước lọc, pha với một muỗng canh muối Epsom; hãy đặt tên: Ly muối số (Lms) 1 = 2 = 3 = 4 b- Dung dịch loại Hai :Dùng chiếc ly trên, đựng 2/3 dầu olive cộng 1/3 nước bưởi tươi. Hãy cho tên: Ly dầu olive (Ldo) (nhớ quậy thật đều thanh bọt). c- Cách chữa trị: Nhịn ăn từ 12 giờ trưa hôm nay đến 12 giờ trưa hôm sau. Suốt thời gian 24 tiếng nầy bạn hãy thực hiện 5 bước: 6 giờ tối: Uống Lms1 (độ ½ tiếng, bụng bắt đầu soi, có thể sẽ tiêu chảy (không nhiều). 8 giờ tối: Uống Lms 2 (độ 15 phút, tiêu chảy bắt đầu va kéo dài độ một tiếng. Bao nhiêu đồăn trong ruột non, ruột già đều bị tống khứ ra ngoài. 10 giờ tối: Uống Ly dầu olive. Uống xong đi ngủ lập tức. Đểđống hồ reo, tránh dậy trể (Nhớ quậy thật nhiều để hai thứ trộn lẫn hoàn toàn). 6 giờ sáng: Uống Lms 3. Từđây tiêu chảy dễ dàng xảy ra và chi tiêu nước. Không có phân lẫn lộn. 8 giờ sáng: Uống Lms 4. Uống xong, độ 10 phút, tiêu chảy và cho nhiều viên nhỏ, màu sắc giống nhưsạn. Đây là thành quả tốt. Đến 10 giờ sáng thì có thể dùng cháo.
Lương Nguyễn Chế độ ăn uống
Sự lựa chọn thực phẩm sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lượng đường trong máu Ổn định đường trong máu chính là mục tiêu đầu tiên trong điều trị đái tháo đường. Yếu tố quan trọng trong quản lý bệnh đái tháo đường là kiểm soát số lượng thực phẩm thuộc nhóm bột, đường trong khẩu phần của mình. Ngoài ra, cũng không kém phần quan trọng là kiểm soát ngăn ngừa các biến chứng của bệnh đái tháo đường như khẩu phần hạn chế chất béo no (mỡ động vật), khẩu phần hạn chế muối (ít hơn 6 g/ngày) và khẩu phần giàu chất xơ (25 g-30 g chất xơ/ngày). Kiểm soát từng nhóm thực phẩm
Đối với nhóm lương thực, ngũ cốc giàu chất bột như gạo, mì, nui, bánh mì, các loại đậu... nên chọn loại còn nhiều chất xơ như gạo chưa qua chà xát, đậu (còn vỏ). Đối với nhóm trái cây, nên dùng kết hợp vài loại trái cây trong ngày, dùng vào các bữa phụ xen kẽ bữa chính, hoặc sau khi ăn.
Một ngày dùng 2 - 3 lần. Phải lưu ý kết hợp giữa trái cây giàu đường và trái cây ít đường. Đối với nhóm thực phẩm giàu đạm như thịt, cá, trứng... nên ăn vừa đủ trong 3 bữa chính. Chú ý đậu phụ làm từ đậu nành là thực phẩm rất giàu đạm thực vật, nên kết hợp đạm thực vật với đạm động vật. Đạm động vật thường kèm chất béo cao, do đó nên chọn loại nạc ít chất béo.
Bữa ăn kiêng cho người bị tiểu đường. Ảnh: N.HỮU
|
Đặc biệt, lưu ý đừng thiếu 1 - 2 cữ sữa trong ngày, vì sữa là nguồn thực phẩm không chỉ giàu đạm mà còn cung cấp dồi dào lượng khoáng chất cần thiết như canxi, sắt, kẽm, ma-giê... Đối với nhóm cung cấp chất béo, nên hạn chế dùng mỡ động vật, margarine, bơ vì đây là những loại thực phẩm giàu transfat, bất lợi cho tim mạch. Sử dụng dầu thực vật hoặc cá thì có lợi cho tim mạch.
Đối với nhóm rau, gồm rau lá, rau củ, rau trái, nên sử dụng đa dạng các loại rau trong bữa ăn. Tổng cộng khoảng 300 g/ngày. Như vậy mới đáp ứng được nhu cầu chất xơ trong ngày.
Cuối cùng, đối với nhóm gia vị hay nước xốt hoặc nước trộn có đường, lượng đường có thể sử dụng trong ngày trung bình không quá 10g.
Nên chọn đa dạng thực phẩm
Mỗi người bệnh đái tháo đường đều khác nhau, không ai giống ai. Phải tạo bữa ăn theo nhu cầu riêng và nhu cầu đặc biệt nếu có cho mỗi người bệnh. Nên chọn đa dạng thực phẩm, kết hợp nhiều loại thực phẩm trong bữa ăn, trong ngày. Trong bữa ăn nên dùng các món canh, xúp, rau trước khi ăn đến món ăn chính.
Vì là khẩu phần hạn chế đường, béo, muối và giàu chất xơ, người bệnh nên chế biến các món ăn theo cách luộc, hầm, nấu (ít sử dụng chất béo thêm vào) hơn là các món chiên xào nhiều dầu mỡ. Hạn chế muối bằng cách nấu không nêm nếm trước, đến khi ăn mới lường cho muối hay nước mắm vào phần ăn của mình.
Tăng cường chất xơ bằng các món rau như rau trộn, rau luộc, rau xào, rau nấu canh... Nên có các bữa ăn phụ (2 - 3 bữa) giữa các bữa ăn chính để giúp giảm đói giữa bữa và phòng ngừa giảm đường huyết. Các bữa phụ nên là sữa, trái cây...
| Lối sống làm tăng bệnh tiểu đường ở châu Á | Hầu như không ai cho rằng Le Thu Quy béo phì, cho dù là nếu lấy chuẩn vóc dáng người Việt để làm thước đo. Với trọng lượng 44 kg, trông chị chẳng có chút nào dấu hiệu của người có bệnh tiểu đường type 2, căn bệnh đi liền với béo phì và tuổi già.
Thế nhưng nữ y tá 48 tuổi này lại là một phần trong số ngày càng đông đảo những người bị tiểu đường ở châu Á, nơi mà ngày càng nhiều lứa tuổi, cân nặng và tầng lớp xã hội trở thành đối tượng bị bệnh này tấn công. Tiểu đường thậm chí xông cả vào trẻ em. Nạn nhân trẻ nhất ở Việt Nam hiện mới 11 tuổi. Tại Nhật có trẻ 9 tuổi đã bị tiểu đường. Còn ở Singapore, "dịch" tiểu đường type 2 ở trẻ em khiến chính phủ phải tiến hành chiến dịch vận động mang tên "Mảnh và khỏe". "Trẻ em đang mắc phải một căn bệnh mà trước đây chỉ có ông bà hoặc cha mẹ chúng mắc", Anil Kapur, phó chủ tịch Quỹ Tiểu đường Thế giới (WDF) nhận xét tại hội nghị thượng đỉnh về căn bệnh này ở Hà Nội mới đây. Ở châu Á, tiểu đường đang bùng nổ với tốc độ nhanh chóng hơn bất kỳ châu lục nào khác trên thế giới, và vượt quá mọi dự đoán của các chuyên gia. Tổ chức Y tế thế giới WHO dự đoán số ca mắc bệnh tiểu đường ở châu Á sẽ tăng 90% trong vòng 20 năm tới. Căn bệnh cũng những rối loạn trong cơ thể mà nó gây ra sẽ trở thành khủng hoảng nghiêm trọng nhất đối với con người trong thế kỷ 21. "Khoảng 330 triệu người sẽ bị ảnh hưởng trong vòng 20 năm tới. Sẽ kinh khủng hơn AIDS hay cúm gà", Paul Zimmet, giám đốc Viện nghiên cứu tiểu đường quốc tế ở bang Victoria, Australia, nói. Châu Á đang là nơi có nhiều ca mới nhất. Đây là nơi có 4 trong số 5 nước có đông đảo bệnh nhân nhiễm tiểu đường nhất thế giới: Ấn Độ 33 triệu ca, Trung Quốc 23 triệu, Pakistan 9 triệu và Nhật Bản 7 triệu người mắc. Lối sống Một phần nguyên nhân gây tiểu đường là do gene. Nhưng lối sống, thói quen ăn uống và vận động mới chính là nguyên nhân dẫn đến bùng nổ tiểu đường ở châu Á hiện nay. "Trong mười năm qua ở Hà Nội, người ta đã đổi từ đi xe đạp sang xe máy, và số ca bệnh tiểu đường tăng gấp đôi", tiến sĩ Gauden Galea, cố vấn của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương về các bệnh không lây qua hô hấp, cho biết. Thói quen ăn uống của người dân khu vực thay đổi chóng vánh, ngày càng nhiều người ăn đồ ăn nhanh và thức ăn không có lợi cho sức khỏe. Thức ăn được nấu ở các cửa hàng thường chứa nhiều calorie hơn đồ chế biến tại gia. Chẳng hạn, nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy phở gà bán ở cửa hàng chứa nhiều hơn 23% calorie so với phở nấu ở nhà. Còn tại New Delhi, nơi mà cứ 6 trẻ có một đứa bị béo phì, tỷ lệ người lớn đi ăn tiệm lên đến 3 lần mỗi tuần, ông Kapur cho hay. Ở những thành phố lớn của Trung Quốc, khoảng 20% trẻ 7 tuổi trở lên bị béo phì và thừa cân. Quỹ tiểu đường thế giới, hỗ trợ các dự án phòng chống tiểu đường ở khu vực, đang tích cực hoạt động để ngăn chặn hai hậu quả nghiêm trọng nhất của căn bệnh này - mất tay chân hoặc mù. Các bác sĩ cảnh báo rằng phần lớn người châu Á không chuẩn bị sẵn sàng cho nguy cơ của tiểu đường, căn bệnh được dự đoán là có thể đưa hàng loạt bệnh nhân vào làm chật ních các bệnh viện trong tương lai, đồng thời làm cạn kiệt ngân sách của ngành y tế. "Nhiều bệnh viện ở Ấn Độ đã bắt đầu cảm thấy sức ép từ nguy cơ này", ông Mohan cho biết, và thêm rằng các chính phủ ở châu Á cần hành động ngay từ bây giờ. "Nếu không, trong vòng 10 đến 15 năm nữa, chúng ta sẽ thấy hàng triệu người phải dùng xe lăn, chạy thận nhân tạo và điều trị bằng laser". |
|
|