Đàm phán là cuộc đo sức về trí tuệ giữa hai bên, không giống như cuộc thi chạy, thi chạy là người nào về đích cuối cùng thì người đó thắng. Nhưng đàm phán không chỉ ganh đua về thực lực mà còn bao gồm cả việc áp dụng các kỹ xảo đàm phán, nó có tác dụng ảnh hưởng tới toàn bộ cuộc đàm phán.
Là một người đàm phán có kinh nghiệm, trước hết nên biết làm thế nào để mở đầu một cuộc đàm phán. Điều này rất quan trọng đối với đôi bên tham gia. Lời mở đầu chính là thông tin đầu tiên của người đàm phán, giống như tiếng trống mở đầu cho một cuộc chơi, có ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý, thái độ của đối phương. Lời mở đầu thành công sẽ xoá đi những nghi ngờ giữa hai bên đàm phán cũng như làm dịu bớt không khí căng thẳng, cuộc thảo luận nhờ đó mà được tiến hành thuận lợi hơn.
Phương thức biểu đạt lời mở đầu chủ yếu bao gồm:
1. Phương thức vòng quanh: Thông thường khi mở đầu một cuộc đàm phán không nên đề cập tới vấn đề chính trước tiên, điều này dễ gây cho người đàm phán rơi vào thế “ gươm tuốt vỏ, nỏ giương dây ”, gây ảnh hưởng tới không khí hoà thuận giữa đôi bên. Khi đàm phán có thể vận dụng phương thức quay vòng, ví dụ như hàn huyên hỏi chuyện tình hình liên quan đến công ty đối phương. Những chủ đề nói chuyện được coi là phổ biến nhất là những vấn đề liên quan đến khí hậu, thời tiết hay thăm hỏi tình hình gia đình đối phương, ngoài ra còn nhiều đề tài khác như bàn luận về một bức hoạ nào đó hay một sự việc trong cuộc sống. Mặt khác có thể bàn luận về tình hình kinh doanh, kinh tế của đối phương. Thông qua các hình thức trò chuyện như trên có thể tiến hành bàn bạc một cách thuận lợi những đề tài đàm phán chính thức.
2. Phương thức trực tiếp: Phương thức trực tiếp hay còn gọi là bàn luận đi thẳng vào vấn đề, trực tiếp biểu đạt suy nghĩ của mình. Để đối phương lắng nghe ý kiến. Phương thức trực tiếp là phương thức hai bên đối tác tiến hành đàm phán dưới hình thức quan hệ đàm phán thân mật dưới một thời gian gấp rút, nhanh chóng, phương thức này được bắt đầu từ những vấn đề nhỏ nhất, cũng có thể được tiến hành từ những vấn đề mang tính nguyên tắc, hay một vấn đề cụ thể nào đó. Ví dụ như: “ Ông X, bây giờ trời đã sang xuân, theo tôi được biết, công ty ông vừa sản xuất một kiểu dáng điều hoà mới, việc tiêu thụ điều hoà vào thời điểm này là hoàn toàn hợp lý ”.
Khi biểu đạt lời mở đầu cần lưu ý khi hỏi han đối phương nên có thái độ chân thành, nhiệt tình, hữu nghị. Điều này có thể mau chóng thu nhỏ khoảng cách giữa hai bên, và xây dựng được bầu không khí tốt đẹp. Nếu vừa bắt đầu cuộc đàm phán kèm theo ánh mắt lạnh lùng, sẽ là điều bất lợi cho cuộc đàm phán, vì mỗi người chúng ta khi tiến hành đàm phán đều có tâm lý sợ từ chối. Bất luận chúng ta có chuẩn bị tốt một dũng khí tự tin nhưng trên thực chất luôn có tâm lý sợ khó khăn hay rắc rối xảy ra. Giống như những người đi leo núi hay đi trên đường cũng vậy, họ luôn muốn đi trên một con đường thẳng, chứ không muốn đi trên một con đường đầy rẫy nguy hiểm, gập ghềnh, mấp mô.
Đàm phán là quá trình cân đo “giá trị đàm phán”, còn là biểu hiện một tinh thần hợp tác, dựa trên cơ sở hai bên cùng có lợi, thông qua nỗ lực đàm phán nhằm mục đích đạt được thoả thuận chung thống nhất. Một người đàm phán giỏi không thể áp dụng cách thức đàm phán mạnh mẽ, cứng nhắc để đạt được mục đích của mình. Vì vậy trong quá trình tiến hành đàm phán, chúng ta phải nắm bắt tốt kỹ xảo đàm phán, các kỹ xảo chủ yếu là: kỹ xảo trình bày, giải thích; kỹ xảo đưa ra câu hỏi hay kỹ xảo trả lời, phá vỡ bế tắc, hay thuyết phục đối tác v.v…
Trước tiên thái độ đàm phán cần đối đãi chân tình. Khiêm tốn, thành khẩn, thân mật, tôn trọng tuy nhiên đó cũng chưa phải là điều kiện bắt buộc trong ngôn ngữ đàm phán, trong đàm phán nên có thái độ chân tình, không chỉ nhằm nói chuyện một cách chân thành với đối phương mà điều này rất thích hợp khi bạn muốn đối phương hiểu rõ những động cơ và suy nghĩ của mình, làm tốt việc đối đãi chân tình còn cần giữ chừng mực một cách thích hợp, tránh việc bộc lộ tất cả suy nghĩ, dễ bị đẩy vào thế bị động, còn khiến cho lợi ích của bản thân bị ảnh hưởng.
Tiếp theo đó là nội dung trình bày phải rõ ràng, đơn giản dễ hiểu. Trong đàm phán cần có lời lẽ rõ ràng không được mơ hồ, khó hiểu, để truyền đi thông tin chính xác đến đối phương, vì đàm phán không giống viết văn bản, văn bản sau khi viết xong, có thể cân nhắc từng câu từng chữ, có thể sửa lại. Nhưng ngôn ngữ trong đàm phán là “một câu nói ra, không lấy lại được”. Vì thế khi trình bày giải thích cần nắm bắt vấn đề trọng tâm, nêu bật được vấn đề trọng tâm mới là quan trọng. Khi trình bày cần rõ ràng, cần có sự sắp xếp hợp lý việc nên nói gì trước tiên và nói gì sau đó. Khi nói không phân biệt vấn đề chủ yếu hay thứ yếu. Vừa nói xong vấn đề này thì chuyển ngay sang vấn đề khác, điều này dễ gây rối rắm trong tư duy của đối phương, không có lợi cho việc tiến hành đàm phán. Do trí nhớ con người có hạn, với lượng thông tin truyền đạt cho đối phương trong một khoảng thời gian ngắn chỉ nhớ được một phần nội dung chủ yếu. Trong quá trình đàm phán, khi trình bày không chỉ cần nội dung rõ ràng, có trật tự, mà cũng cần có nội dung đơn giản dễ hiểu.
Để có được nội dung đơn giản, cần chú ý hai vấn đề sau: Thứ nhất không nên đưa ra quá nhiều lời đối thoại. Ví như, một lúc thì “chúng ta đã nói…..”, khi thì “tôi nói…”, lúc lại “anh ấy lại nói…”, “lúc đó thì tôi nói…”. Từ “nói” dược nhắc đi nhắc lại, ngôn ngữ lộn xộn, khiến người khác cảm thấy chán ngán. Thứ hai đó là không nên đề cập quá nhiều đến những chi tiết nhỏ. Nhất thiết phải đặt mình vào toàn hoàn cảnh, không nên chỉ vì những vấn đề nhỏ mà để vướng mắc. Nếu không sẽ bị vướng thân vì những chuyện nhỏ nhặt mà khó thực hiện được những bước quan trọng. Tận dụng hết sức thực hiện một cuộc hội nghị để giải quyết một hay nhiều vấn đề. Ngoài ra sau khi tường thuật một nội dung dài khi hết thúc nên rõ ràng rành mạch tổng kết nội dung một lần. Việc này sẽ để lại ấn tượng tốt với đối tác đàm phán.
Ví dụ: Khi bạn được giới thiệu sản phẩm, nhưng công ty bạn không cần tới sản phẩm đó, bạn có thể nói như thế này: “Cảm ơn quí công ty đã giới thiệu, tuy nhiên hiện tại công ty chúng tối chưa cần sản phẩm này”. Hay ví dụ như, khi hai bên đàm phán chưa đạt được thoả thuận chung, thì có thể nói: “Một số yêu cầu của quí công ty chúng tôi sẽ nghiên cứu kĩ lưỡng, và sẽ tiến hành đàm phán nếu như có cơ hội thích hợp”, “vấn đề bạn giải quyết thật thông thoáng, dễ hiểu, khâm phục, khâm phục, hi vọng rằng lần sau chúng ta sẽ có một cuộc đàm phán thành công”.
Về phương diện từ ngữ trần thuật, nên chú ý tới ngữ điệu, tốc độ nói và âm lượng. Còn cần chú ý tới phương diện mượn từ, thông thường, cùng một câu ngữ điệu biểu đạt hàm ý khác nhau là không giống nhau, điều này cũng biểu đạt tình cảm và suy nghĩ của người nói, Vì thế, người đàm phán nên thông qua việc biến đổi ngữ điệu khác nhau để biểu đạt sự tự tin, quyết tâm, bất mãn, nghi ngờ cũng như sự ghen ghét. Đồng thời cũng có cùng sự thay đổi tình cảm trong ngữ điệu của đối phương.
Trong khi nói, không nên nói quá nhanh, điều này sẽ làm cho đối phương khó nghe. Tốc độ nói cũng không nên quá chậm, quá chậm sẽ gây ra cảm giác ngượng ngùng, không nhanh nhẹn và không quyết đoán.
Âm lượng không nên quá nhỏ, nhỏ quá sẽ làm cho đối phương khó nghe, gây ra cảm giác trầm tĩnh, và không để lại ấn tượng. Tuy nhiên âm lượng cũng không được quá to, quá to sẽ gây cảm giác hùng hổ hăm doạ hay giận dữ xúc phạm. Về phương diện mượn từ, lựa chọn cách dùng từ dễ hiểu, thông thuộc. Sử dụng từ quen, từ chuyên dụng để đối phương dễ hiểu. Dùng từ chính xác, nhất thiết không được sử dụng ngôn ngữ mờ ám khó hiểu, tránh tồn tại khoảng trống giữa đôi bên. Trong khi đàm phán vận dụng những từ hỏi để thu hút sự chú ý của đối phương, đồng thời đưa ra phương hướng cụ thể theo suy nghĩ của đối phương, và trong quá trình đối thoại thu thập những thông tin chưa rõ hoặc những tư liệu chưa biết.
Hình thức hỏi trong đàm phán muôn màu muôn vẻ. Có thể hỏi về một vấn đề cụ thể nào đó. Ví dụ như: “Ông cho rằng cung cách phục vụ sau khi tiêu thụ liệu có thể cải tiến được không?”. Cũng có thể tiến hành hỏi đối với một vấn đề tổng hợp hay vấn đề toàn cục. Ví dụ như: “Ông có cách nhìn nhận như thế nào đối với tình hình cạnh tranh trên thị trường hiện nay?” Cách hỏi như thế này không giới hạn về phạm vi. Cũng có thể tiến hành phương thức hỏi thăm dò. Ví dụ: “Chúng tôi sẽ tăng lượng hàng mua, về phía quí công ty liệu có đãi ngộ gì không?”. Có thể vận dụng phương án hỏi dẫn dắt, ví dụ: “Kinh doanh tiêu thụ mặt hàng này nếu không nhận được triết khấu 3% chúng tôi sẽ không thể thu được nhiều lợi nhuận và sẽ khó đạt được hiệu quả cao nhất”. Cách hỏi như thế này sẽ khiến đối phương không còn cách lựa chọn nào khác sẽ phải trả lời. Hỏi cũng có thể hỏi theo phương thức hiệp thương, ví dụ: “Quí công ty xem với chiết khấu là 3% của phía chúng tôi như vậy đã thoả đáng chưa?”. Ngữ khí hỏi như thế này luôn mang ngữ khí chuyển biến, dễ được tiếp nhận. Phương thức hỏi đa dạng, chúng ta có thể tiến hành các phương thức hỏi đối với các tình huống khác nhau. Nên hỏi sau khi đối phương đã nói xong.
Khi đối phương phát ngôn, nói leo chính là hành vi gây phản cảm nhất. Tuy nhiên nếu đối phương nói quá dài dòng, thì có thể lựa để hỏi chen ngang một cách tế nhị. Ví dụ như, có thể hỏi khi đối phương ngừng giữa chừng: “Ý của ông vừa nói có ý nghĩa gì vậy...?”; “Vấn đề trên chúng tôi đã nắm được rồi, còn vấn đề kia thì như thế nào?”. Ngoài ra có thể tiến hành hỏi trước và sau khi phát ngôn. Còn có thể hỏi trong thời gian thảo luận trong hội nghị. Kỹ xảo trả lời trong đàm phán cũng không phải là một việc dễ dàng. Đòi hỏi phải trải qua tổng quan toàn cục của người đàm phán, sau khi suy nghĩ tỉ mỉ mới có thể trả lời. Vì vậy mà trên thương trường bây giờ luôn có câu “nhất ngôn cửu đỉnh, tứ mã nan truy", khi bạn hối hận vì câu nói của mình thì đó là hành vi thất ngôn, và phải trả giá từ điều đó. Câu hỏi của đối phương trong khi đàm phán được tính toán hết sức tỉ mỉ. Trong đó có chiến lược, có nghi ngờ, có cả cạm bẫy. Đối với những vấn đề này, người trả lời cần phải tuỳ cơ ứng biến, tuy nhiên không nhất thiết phải trả lời chính diện vấn đề.
A, Cần chuyển hướng đối thoại. Khi hai bên đàm phán phát sinh tranh chấp mâu thuẫn, chẳng qua cũng chỉ là việc bé xé ra to, là chướng ngại trong khi đàm phán. Cần biết thay đối cuộc đối thoại. Ví dụ như: “Chúng ta đã bàn luận sang chủ đề khác, bây giờ có thể thảo luận lại chủ đề ban đầu hay không?”, “Vấn đề này tương đối phức tạp, chúng ta nên phân ra để thảo luận dễ hơn”.
B, Không nhất thiết phải trả lời tận cùng câu hỏi của đối phương. Trong quá trình tiến thêm một bước đàm phán, chúng ta có thể sẽ rơi vào thế bị động. Ví dụ: đối phương đưa ra câu hỏi về chất lượng sản phẩm. Chúng ta cũng không nên giới thiệu tận cùng tỉ mỉ tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, chỉ nên trả lời một số các chỉ tiêu chủ chốt, để từ đó xây dựng một ấn tượng chất lượng tốt.
C, Phương thức từ chối trả lời. Đàm phán đó là nhằm mục đích đôi bên cùng có lợi, và đôi bên cùng đạt được hiệu quả đàm phán như ý. Nếu như không tiếp nhận được điều kiện của đối phương, không ký kết được hợp đồng. Lúc này chính là lúc sử dụng phương án từ chối cự tuyệt, không nên khiến đối phương có cảm giác “đối thủ” mà nên duy trì quan hệ “đối tác”. Khi cự tuyệt vẫn phải giữ hoà khí, sự chuyển biến. Ví dụ: “Ý kiến của bạn rất hay, chúng tôi có thể xem xét lại”, “tôi rất thích sản phẩm cả bạn, nhưng tiếc là vốn dùng của chúng tôi quá ít”.
D, Mượn cách trả lời vòng vo. Trong đàm phán, khi đối phương đưa ra câu hỏi mà bạn chưa suy nghĩ cân nhắc kỹ mà đối phương thúc giục không đúng lúc, bạn có thể vận dụng những tư liệu còn dang dở hay mượn cách nói vòng vo để trả lời. Ví dụ: “Tôi chưa thể đưa ra câu trả lời đối với câu hỏi của bạn, nhất thiết phải hỏi ý kiến cấp trên”. Trả lời vòng vo không có nghĩa là từ chối không trả lời. Điều này biểu thị sự việc này cần phải được suy nghĩ cân nhắc trước khi đưa ra quyết định.
Trong quá trình đàm phán, do hai bên luôn mong duy trì được lợi ích cho bản thân, để mong sao đạt được thoả thuận chung, tuy nhiên cũng tồn tại nhiều ý kiến bất đồng, có khi làm cho cuộc đàm phán rơi vào bế tắc. Lúc này nếu không giải quyết được bế tắc thì cuộc đàm phán không cách nào có thể tiến hành được. Nếu muốn phá vỡ bế tắc, một mặt chúng ta nên đưa ra những lời cổ vũ động viên đối phương về những nỗ lực đã đạt được; mặt khác có thể áp dụng những phương án khác để giải quyết.
Phương pháp cụ thể để vận dụng kĩ xảo này đó là:
A, Dùng lời lẽ khích lệ cổ vũ đối phương. Khi đàm phán rơi vào bế tắc, bạn có thể dùng những câu nói khích lệ như: “Ngài thấy đấy, chúng ta đã giải quyết được rất nhiều vấn đề, hiện giờ chỉ còn lại một số ít, nếu không giải quyết ngay thì có phải là rất tiếc không?” Cách nói này xem ra ổn nhất, trên thực tế nếu biết cổ vũ khích lệ thì sẽ mang lại tác dụng rất tốt.
Đối với cuộc đàm phán có quá nhiều vấn đề để thảo luận, nên xoá bỏ những bế tắc còn tồn tại, ví dụ, trong cuộc đàm phán có sáu vấn đề cần thảo luận mà trong đó có bốn vấn đề là quan trọng, còn lại hai vấn đề là thứ yếu, giả sử như trong bốn vấn đề thì có ba vấn đề đạt được thoả thuận, còn lại một vấn đề quan trọng và hai vấn đề nhỏ, thì khi đối diện với bế tắc bạn nên nói với đối phương như thế này: “Trong bốn vấn đề đã giải quyết được ba vấn đề, còn lại một vấn đề nếu như giải quyết được thì coi như các vấn đề nhỏ khác cũng giải quyết được, để chúng ta có thể tiếp tục nỗ lực, yên tâm thảo luận nốt vấn đề cuối cùng! Nếu gạt bỏ nó thì tất nhiên sẽ cảm thấy rất tiếc!” Nghe vậy đối phương rất có thể sẽ tiếp tục đàm phán, và bế tắc đã bị loại hoàn toàn.
B, Tìm một phương án khác. Trong đàm phán, do hai bên không đồng nhất quan điểm nên giao dịch dễ rơi vào bế tắc. Lúc này mà dùng lời nói để giải quyết bế tắc thì không thể thành công. Dưới tình hình này, chúng ta có thể vận dụng các phương pháp nhằm loại bỏ những bế tắc. Và dưới đây là những biện pháp thay thế:
(1) Thay đổi lãnh đạo hoặc nhân viên của nhóm nhỏ đàm phán.
(2) Lựa chọn thời gian đàm phán. Ví dụ như định lại thời gian đàm phán để có thể thảo luận bàn bạc những vấn đề khó giải quyết. Vì lúc đó có thể sẽ có nhiều tư liệu và lí do đầy đủ.
(3) Thay đổi phương thức phục vụ sau khi tiêu thụ, ví dụ như đề nghị giảm bớt các thủ tục rườm rà, để bảo đảm phục vụ sau này.
(4) Cải biến các mức độ nguy hiểm. Phân tích những lợi ích cũng như tổn thất có thể xảy ra, giúp đối phương quay trở lại vòng đàm phán.
(5) Thay đổi hình thái đàm phán, từ tình hình tranh đấu căng thẳng cho tới tình trạng cùng nhau nỗ lực, đồng tâm hiệp lực. Tăng sự liên lạc liên kết giữa ông chủ, kiến trúc sư, và các kỹ sư kỹ thuật của hai bên đàm phán, cùng có sự ảnh hưởng để đi đến giải quyết vấn đề.
(6) Tìm một người trung gian để lí giải, đương nhiên người này phải có uy tín và có quyền đưa ra sự cảm hoá điều tiết.
(7) Thiết lập một uỷ ban nghiên cứu do nhân viên hai bên hợp thành.
(8) Nhượng bộ hợp lí, đưa nhiều phương án để đối phương có cơ hội lựa chọn.
(9) Bỏ qua vấn đề này, bàn luận những vấn đề dễ giải quyết, sau đó đợi có cơ hội để giải quyết những vấn đề khó.
(10) Tạm thời nghỉ giải lao, sau khi thoải mái, thích hợp kết nối tình cảm đôi bên, có thể đưa ra thái độ nhẹ nhàng để giải quyết vấn đề.
Hoá giải những bế tắc để tăng thêm thành ý hợp tác giữa đôi bên, giúp cho tiến trình đàm phán đạt được thuận lợi.
Theo website Lãnh Đạo
Hướng đi mới cho nông thôn
Gia Minh, phóng viên RFA
2009-07-23
Vấn đề thể chế tại nông thôn Việt Nam gần đây được đề cập đến nhiều. Và theo ý kiến của giới chuyên gia thì nếu không có những thay đổi trong lĩnh vực đó sẽ cản trở phát triển cho nông nghiệp Việt Nam.
Đồng lúa miền Nam. AFP photo
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">Gia Minh hỏi chuyện Giáo sư Viện sĩ Đào Thế Tuấn từ Hà Nội, trình bày một số ý kiến về vấn đề vừa nêu.
Xin được nhắc lại giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn vừa được chính phủ Pháp trao Huân chương hạng nhất về những đóng góp của ông cho lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam.
Thể chế mới dựa theo hinh nghiệm của Pháp?
Gia Minh: Người ta nói rằng thể chế hiện nay có những cản trở không để cho nông thôn phát triển và người nông dân chưa hưởng lợi được từ sản phẩm họ làm ra?
GS Đào Thế Tuấn:
Lẽ tất nhiên những vấn đề đó chưa thể giải quyết một cách đồng bộ ở các nơi được, vì trong thời gian qua Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi đường lối của chủ nghĩa tự do mới; tức là chủ trương để cho thị trường phát triển một cách tự do thì sẽ giải quyết được tất cả mọi vấn đề.
Nhà nước phải rút lui ra khỏi mọi lĩnh vực kinh tế để nhường bước cho thị trường. Nhưng mà thực tế thì lại cho thấy ngược lại vì nếu để chủ nghĩa tự do mới phát triển như vậy thì người nông dân bị bóc lột tàn tệ, do nền thương nghiệp ở VN không công bằng.
Nhà nước phải rút lui ra khỏi mọi lĩnh vực kinh tế để nhường bước cho thị trường. Nhưng mà thực tế thì lại cho thấy ngược lại vì nếu để chủ nghĩa tự do mới phát triển như vậy thì người nông dân bị bóc lột tàn tệ, do nền thương nghiệp ở VN không công bằng.
Trong lĩnh vực này thì tôi nghĩ chính kinh nghiệm của Pháp đối với VN rất bổ ích, chúng tôi đã có nhiều chương trình đang tiếp tục làm-cho nông dân xây dựng thể chế mới; một ví dụ là ‘chỉ dẫn địa lý’ giúp nâng cao chất lượng nông sản phẩm lên, phát huy bản sắc của địa phương.
Thứ nữa là xây dựng hợp tác xả theo kinh nghiệm của Pháp là cho nông dân trực tiếp tham gia thị trường, được mặc cả trên thị trường…Sắp tới là chúng tôi hợp tác với Pháp đưa du lịch vào nông thôn…
Đó là những công việc mà chúng tôi tiếp tục làm để giúp nông dân thoát khỏi tình trạng bế tắc hiện nay, nhất là trong tình hình khủng hoảng kinh tế hiện nay. Chúng tôi coi cuộc khủng hoảng hiện nay là thời cơ để phát huy lợi thế cạnh tranh về nông nghiệp của VN.
Trong lĩnh vực này thì tôi nghĩ chính kinh nghiệm của Pháp đối với VN rất bổ ích, chúng tôi đã có nhiều chương trình đang tiếp tục làm-cho nông dân xây dựng thể chế mới; một ví dụ là ‘chỉ dẫn địa lý’ giúp nâng cao chất lượng nông sản phẩm lên, phát huy bản sắc của địa phương.
Giúp nông dân nâng cao chất lượng nông sản
Gia Minh: Qua cuộc khủng hoảng thì VN mới đặt lại vấn đề tam nông; nhưng đất nông nghiệp của VN quá manh mún không thể sản xuất ra những loại sản phẩm đồng đều. Vậy vấn đề đất đai thì giáo sư nghĩ sao?
GS Đào Thế Tuấn: vấn đề này là vấn đề lớn vì hiện đang có cuộc tranh luận rất lớn. Có ý kiến cho rằng làm sao phải tăng qui mô nông trại lên; nhưng mà tình hình ở VN rất khó khăn là lao động ở nông thôn thừa rất nhiều.
Con đường mà chúng tôi muốn giải quyết làm thế nào giải quyết bằng những thể chế đầu ra: tức là vẫn sản xuất trên những thửa ruộng trung nhưng nhờ thể chế hợp tác xã để giúp nông dân nâng cao chất lượng nông sản và tiến vào thị trường một cách hiệu quả hơn.
Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thì tất cả những lao động bị thu hút vào công nhiệp, dịch vụ nay quay lại nông thôn hết.Trong điều kiện thế này mà để những người chiếm hữu ruộng đất lớn thì nhiều người sẽ không có ruộng đất để làm.
Con đường mà chúng tôi muốn giải quyết làm thế nào giải quyết bằng những thể chế đầu ra: tức là vẫn sản xuất trên những thửa ruộng trung nhưng nhờ thể chế hợp tác xã để giúp nông dân nâng cao chất lượng nông sản và tiến vào thị trường một cách hiệu quả hơn.
Hiện ở VN đang có việc đầu cơ ruộng đất rất mạnh; giá trị ruộng đất bắt đầu tăng lên nên người ta đầu cơ nhiều; nếu mà áp dụng những thể chế thuận lợi cho đầu cơ ruộng đất thì sẽ gây những khó khăn rất lớn cho nông nghiệp.
Mức độ tham gia của nhà nước
Trong phần tiếp theo đây, mời quí thính giả nghe tiếp những ý kiến của giáo sư viện sĩ Đào Thế Tuấn về vai trò của nhà nước, và cách thức giúp nông dân không ly nông và ly hương.
Nhà nước có phương tiện và thông tin tương đối tốt hơn nên phải giúp cho nông dân quyết định. Lâu nay có những chủ tương không phù hợp ví dụ nhà nước chủ tương có vùng sản xuất lớn, tập trung, nhưng khi có sản lượng hàng hóa lớn thì giá bán sụt
GS Đào Thế Tuấn
Gia Minh: Mức độ tham gia của nhà nước, cơ quan chức năng và việc để cho nông dân tự quyết định hoạt động của họ thì ra sao?
GS Đào Thế Tuấn: Nhà nước có phương tiện và thông tin tương đối tốt hơn nên phải giúp cho nông dân quyết định. Lâu nay có những chủ tương không phù hợp ví dụ nhà nước chủ tương có vùng sản xuất lớn, tập trung, nhưng khi có sản lượng hàng hóa lớn thì giá bán sụt; như ở vùng ĐBSCL, rồi giá cà phê cũng thế.
Đối với nông dân thì người ta muốn giải quyết tăng thu nhập bằng đa dạng hóa sản xuất hay đa dạng hóa sinh kế. Phải làm sao cho hòa hợp hai vấn đề đó với nhau. Nếu chỉ tập trung vào một số nông sản thôi thì giá cả sẽ sụt xuống.
Đối với nông dân thì người ta muốn giải quyết tăng thu nhập bằng đa dạng hóa sản xuất hay đa dạng hóa sinh kế. Phải làm sao cho hòa hợp hai vấn đề đó với nhau.
GS Đào Thế Tuấn
Nông nghiệp hợp đồng
Gia Minh: Lâu nay người ta cũng nói đến sự hợp tác giữa bốn nhà?
GS Đào Thế Tuấn: Chủ tương đó phổ biến tại Việt Nam, nhưng chủ tương đó dẫn đến hiện tượng ‘nông nghiệp hợp đồng’. Tuy nói bốn nhà nhưng nhà thế lực nhất là doanh nghiệp.
Ở Việt Nam có thực tế là nơi nào có nông nghiệp hợp đồng là nông dân bỏ, họ không hợp tác. Đây là hình thức bóc lột mới của doanh nghiệp đối với nông dân.
Tuy nói bốn nhà nhưng nhà thế lực nhất là doanh nghiệp. Ở Việt Nam có thực tế là nơi nào có nông nghiệp hợp đồng là nông dân bỏ, họ không hợp tác. Đây là hình thức bóc lột mới của doanh nghiệp đối với nông dân.
GS Đào Thế Tuấn
Chúng tôi không chủ trương phát triển mạnh nông nghiệp hợp đồng; chúng tôi xây dựng thể chế trong đó có sự tham gia của người sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm và có sự phân chia lợi nhuận công bằng.
Bây giờ có thể nói lợi nhuận trong nông nghiệp chủ yếu là doanh nghiệp ăn hết. Hai vùng châu thổ Cửu Long và Tây nguyên là nơi mà nông dân tăng thu nhập chậm nhất. Ở một nước như Pháp vẫn có nông nghiệp hợp đồng đối với mặt hàng phải chế biến còn mặt hàng khác thì nông dân họ không tham gia.
Ở nơi nào mà nông nghiệp hợp đồng 50% và 50% nông nghiệp hợp tác xã thì thị trường ấy đứng về giá cả thì giá cả ổn định và phân chia lợi nhuận công bằng hơn.
Chúng tôi không chủ trương phát triển mạnh nông nghiệp hợp đồng; chúng tôi xây dựng thể chế trong đó có sự tham gia của người sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm và có sự phân chia lợi nhuận công bằng.
GS Đào Thế Tuấn
Làm sao để nông dân không bỏ nghề
Gia Minh: Nông dân Việt Nam nhiều đời sống bằng nông nghiệp, nay thì khoa học thay đổi có góp phần vào, thì làm sao để nông dân không bỏ nghề?
GS Đào Thế Tuấn: Ở Việt Nam bây giờ người ta không muốn làm nông dân nữa vì cho rằng nông dân là lạc hậu.
Tôi thì nghiên cứu bộ sách ‘Identité de la France’, và phổ biến ra. Chính nước Pháp nay vẫn công nhận Identité Peasantes là của nước Pháp và phát triển rất là mạnh. Đây là bài học rất quan trọng.
Chúng ta phải giúp họ, đào tạo ra một tầng lớp trí thức từ nông thôn. Có thể nói đại đa số trí thức ở VN là từ nông thôn. Hiện nay vai trò nông thôn đối với vấn đề phát triển giáo dục vẫn quan trọng, nhưng điều đó không được phổ biến…
GS Đào Thế Tuấn
Chúng ta phải giúp họ, đào tạo ra một tầng lớp trí thức từ nông thôn. Có thể nói đại đa số trí thức ở VN là từ nông thôn. Hiện nay vai trò nông thôn đối với vấn đề phát triển giáo dục vẫn quan trọng, nhưng điều đó không được phổ biến…
Gia Minh:Cơ quan chức năng đã thấy nhưng phải mất bao lâu mới có thể bắt kịp?
GS Đào Thế Tuấn: Vấn đề khó nói, vì bây giờ ảnh hưởng nước ngoài đối với Việt Nam rất nhiều và nhiều hướng khác nhau. Trí thức thì được đào tạo từ nhiều nước khác nhau, mà mỗi nước thì có bản sắc riêng nhưng chúng ta phải tạo được luồng suy nghĩ lớn ở trong nước, từ những suy nghĩ đó thành bản sắc của đất nước.
Tập hợp nông dân: Bài toán cho nông nghiệp VN?
Nam Nguyên, phóng viên RFA
2009-07-23
Hiệu suất lao động ở nông thôn được mô tả là quá thấp, nông dân vẫn nghèo trong khi chỉ riêng về mặt hàng gạo mỗi năm Việt Nam xuất khẩu trên dưới 5 triệu tấn gạo, xếp thứ nhì thế giới.
< meta name=ProgId content=Word.Document>< meta name=Generator content="Microsoft Word 12">< meta name=Originator content="Microsoft Word 12">
Làm ăn manh múm, nhỏ lẻ cũng là một hạn chế của nền nông nghiệp Việt Nam trong thời đại cạnh tranh toàn cầu. AFP PHOTO
Một trong những nhược điểm hiện nay là nông dân làm ăn nhỏ lẻ sản xuất không tập trung.
Để giải quyết mắt xích này, các chuyên gia đã nhiều năm kêu gọi tập họp nông dân lại thành tổ chức, tuy nhiên cho đến nay tình hình vẫn không có nhiều chuyển động.
Nhỏ lẻ, phân tán
Ruộng đất nông thôn Việt Nam quá nhỏ lẻ phân tán là một quá trình dài. Chúng tôi xin tóm lược và chú trọng tới vùng đồng bằng sông Cửu Long vì nơi đây là vựa lúa xuất khẩu chủ yếu của cả nước.
Sự kiện nông thôn Việt Nam bị vắt kiệt đất đai lẫn sức lao động nhưng lại không đem lại lợi nhuận thích đáng cho nông dân có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân. Nhưng diện tích canh tác quá nhỏ bé của mỗi hộ nông dân là một trong những chuyện phải giải quyết cấp bách.
Nông dân Việt Nam với qui mô sản xuất nhỏ lẻ như hiện nay không có tài gì có thể tập hợp lại có thể đưa ra khối lượng sản phẩm hàng hóa với chất lượng cao và ổn định.
TS Đặng Kim Sơn
Tiến sĩ Đặng Kim Sơn, Viện trưởng Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn mô tả tình trạng này:
“Nông dân Việt Nam với qui mô 0,6 ha mà lại chia thành 5 tới 15 mảnh ruộng nhỏ và lại chia nhỏ thành hơn 10 triệu hộ riêng lẻ như hiện nay, thì không có tài gì có thể tập hợp lại có thể đưa ra khối lượng sản phẩm hàng hóa với chất lượng cao và ổn định, đưa tới tay khách hàng đúng hạn đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an tòan.
Cũng như không có tài gì mà các ngân hàng, các tổ chức khuyến nông có thể bù đắp nổi chi phí, đưa dịch vụ phục vụ tới tận những làng bản xa xôi cho từng nông dân nhỏ lẻ như thế cả. Đây không thể là kết cấu của một nền sản xuất hàng hóa lớn được.”
Nông thôn Việt Nam nhiều lần chuyển đổi qua các chế độ chính trị từ phong kiến, thuộc địa tới quốc gia và xã hội chủ nghĩa. Trong tất cả các giai đoạn, thực tế thể hiện nông dân lúc nào cũng khổ cũng nghèo.
Ở miền Nam dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa từ năm 1955 tới 1963 đã qua hai đợt cải cách ruộng đất, nhưng nói chung chế độ tá điền, địa tô vẫn được duy trì, số tá điền được mua ruộng trả góp chỉ khoảng hơn 120 ngàn ngừơi, trong khi vào thời gian đó riêng vùng châu thổ sông Cửu Long có tới 1 triệu hộ tá điền.
Qua Đệ Nhị Cộng Hòa từ cuối 1963 tới 1975,Luật Ngừơi Cày Có Ruộng được ban hành năm 1970, từng được phương tây mô tả là cuộc cải cách ruộng đất tiến bộ nhất.
Chế độ tá canh thực sự chấm dứt, theo đó tất cả ruộng đất không canh tác bị truất hữu và được bồi thường theo thời giá. Chủ điền nếu trực tiếp canh tác được giữ tối đa 15 hecta, ngoại trừ ruộng đất hương hỏa hoặc sở hữu của các tôn giáo thì không bị chi phối.
Theo nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy, dù chiến tranh lúc đó khốc liệt, nhưng trong vòng ba năm sau khi ban hành Luật Người Cày Có Ruộng, nông dân ở miền nam đặc biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long, mỗi hộ nông dân không đất canh tác được cấp 3 ha ruộng đất, còn ở cao nguyên và miền Trungdiện tích cấp phát là 1 ha.
Còn ở miền Bắc XHCN cải cách ruộng đất được nhiều tài liệu mô tả là tàn bạo kinh hoàng, địa chủ bị đấu tố và ruộng đất bị tịch thu.
Tuy nhiên theo các tài liệu chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam thì từ 1953 tới 1957,khỏang 800 ngàn hécta ruộng đất ở đồng bằng và trung du miền Bắc đã được chia cho 2 triệu hộ nông dân, như vậy mỗi hộ nông dân được khoảng từ 0,3 tới 0,4 hécta đất,
Những số liệu mà chúng tôi trích dẫn về diện tích canh tác của nông dân ở miền Bắc và miền Nam chứng tỏ rằng, nói chung nông dân Việt Nam có quá ít đất để canh tác.
Hiện nay một số địa phương cũng phối hợp để làm cánh đồng chuyên canh, sẽ phối hợp nhiều nông hộ lại với nhau dứơi hình thức hợp tác tự nguyện.
TS Lê Văn Bảnh
Cơ chế nào?
Ngày nay, 20 năm sau đổi mới Việt Nam đang chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Các nhà kinh tế, các chuyên gia đều đề cập tới việc tập họp nông dân lại thành tổ chức.
Tiến sĩ Lê Văn Bảnh, Viện trưởng Viện lúa vùng đồng bằng sông Cửu Long nhận định rằng, việc tăng diện tích canh tác cho nông dân hoặc tổ chức nông dân sản xuất tập thể đã được chính phủ nghĩ tới, có thể hạn điền 3 ha sẽ được mở rộng hơn, xem xét việc sở hữu ruộng đất, nông dân có khả năng có thể tích góp thêm ruộng đất qua nhượng bán để tạo thành những trang trại lớn.
Tuy nhiên Tiến sĩ Lê Văn Bảnh đề cao nỗ lực tập hợp nông dân cùng sản xuất. Ông nói:
“Hiện nay một số địa phương cũng phối hợp để làm cánh đồng chuyên canh, sẽ phối hợp nhiều nông hộ lại với nhau dứơi hình thức hợp tác tự nguyện. Họ tự nguyện cùng nhau gieo sạ đồng loạt, thu hoạch đồng loạt có sản phẩm rồi dự trữ, cuối cùng chờ thu mua mới bán.
Cánh đồng chuyên canh này không chỉ riêng cho lúa gạo mà cây trái cũng vậy. Đồng bằng sông Cửu Long đang triển khai cái này mặc dù hơi chậm.”
Qua thông tin báo chí, đã thấy những hợp tác xã kiểu mới được tổ chức nhưng còn lẻ tẻ, thí dụ như vùng lúa Nhật rộng 1.750 hécta ở Long Xuyên An Giang, nông dân trồng lúa Nhật theo hợp đồng với công ty Angimex Kitoku, họ được bao tiêu sản phẩm và trợ giúp kỹ thuật.
Không có lòng tin. Ở đây thì chỉ có thương buôn mua, làm mặt hàng gì cũng qua tay thương buôn. Bây giờ em ở trong này thì làm cái gì, nuôi con gì vật gì cũng coi thương buôn chấp nhận mua thì em mới làm.
Nông dân ĐBSCL
Tuy vậy trên diện tích trồng lúa 1 triệu 600 ngàn ha ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, cho đến nay có được bao nhiêu khu vực sản xuất tập thể nhưở An Giang. Người nông dân đồng bằng sông Cửu Long mà chúng tôi hỏi chuyện đã tỏ ra dịứng với sản xuất tập thể:
“Không có lòng tin, bởi vì dưới em không như trên An Giang mà bao tiêu sản phẩm công ty chính thức mua tại đám tại ruộng. Ở đây thì chỉ có thương buôn mua, qua tay thương buôn hết, làm mặt hàng gì cũng qua tay thương buôn.
Bây giờ em ở trong này thì làm cái gìthí dụ hạt giống hoặc nuôi con gì vật gì cũng coi thương buôn chấp nhận mua thì em mới làm.”
Câu chuyện sửa đổi luật đất đai, cho phép tích tụ ruộng đất, hay tập họp, tái tổ chức nông dân lại, lúc này thực sự là một nhu cầu cấp bách.
Bởi vì Việt Nam đã là thành viên Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO, nông sản Việt Nam phải đủ điều kiện cạnh tranh, trong đó vấn đề sản xuất sạch, an tòan thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế là những thứ người nông dân làm ăn nhỏ lẻ không thể nào vượt qua được.