Kỹ thuật quân sự VN ngày xưa
05.07.2009 19:02
Quảng Ngãi: Phát hiện 960 viên đạn súng thần công Tiến sĩ Nguyễn Đăng Vũ, Phó Giám đốc Sở VH, TT và DL Quảng Ngãi cho biết: Bảo tàng tổng hợp tỉnh vừa phối hợp với lực lượng công an, biên phòng và chính quyền địa phương tiến hành thống kê tổng số đạn súng thần công bằng gang đang cất giữ tại nhà ông Võ Tiến thôn Định Tân, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn với số lượng 960 quả, đây là số đạn súng thần công được phát hiện lớn nhất từ trước đến nay tại Quảng Ngãi.
Tuy nhiên, ông Nguyễn Đăng Vũ cho biết thêm do số lượng đạn quá nhiều, gia đình ông Tiến chỉ đề nghị Bảo tàng hỗ trợ trả chi phí trục vớt khoảng 40- 50 triệu đồng, hiện nay Bảo tàng không có khoản kinh phí trên để chi trả cho gia đình ông Tiến (mỗi năm Bảo tàng này chỉ được cấp 20 triệu đồng phục vụ sưu tầm, khảo sát, nghiên cứu), Sở VH, TT và DL Quảng Ngãi đã đề nghị UBND tỉnh và Bộ VH, TT và DL cấp kinh phí để Bảo tàng tổng hợp Quảng Ngãi có nguồn kinh phí hỗ trợ cho gia đình ông Võ Tiến. Sau khi nhận tiền hỗ trợ, ông Tiến mới cho chuyển toàn bộ số đạn thần công nêu trên về Bảo tàng tổng hợp tỉnh. Theo tin đã đưa, ngày 2/7, ông Nguyễn Lịch (sinh năm 1955) ở thôn Xuân An, xã Tịnh Hoà, huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi) đã tự nguyện hiến tặng Bảo tàng tổng hợp tỉnh một khẩu súng thần công cổ có niên đại ở thế kỷ XVII được ông mua lại của những người chuyên rà sắt vụn. Đồng thời trong ngày 2/7, cán bộ Bảo tàng tỉnh Quảng Ngãi đã phát hiện tại nhà ông Võ Tiến, thôn Định Tân, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (gần cảng Sa Kỳ) một lượng đạn bằng gang (khoảng 5 tấn) dùng cho súng thần công; mỗi viên đạn có đường kính từ 10- 12cm, trọng lượng từ 5 - 6kg. Số đạn này ông Tiến cho biết do em trai của ông trục vớt được tại khu vực cảng Sa Kỳ gửi tại nhà ông. Theo TTXVN 151 năm trận đầu đánh Pháp: Đà Nẵng 1858 Vào ngày 1.9.1858, liên quân Pháp và Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Nhân dân Đà Nẵng đã anh dũng cùng Nguyễn Tri Phương đánh giặc. Đây là cuộc chiến lâu dài, tiêu biểu và đáng tự hào của nhân dân ta trong suốt lịch sử chống Pháp  | Thành An Hải, hữu ngạn sông Hàn, sau khi thất thủ. Bức ảnh này cho phép ta hình dung khá rõ mối tương quan lực lượng lúc ấy |
Hạm đội Pháp đã hành quân cấp tốc từ sáng tinh mơ ngày 31.8.1858 ở cuối đảo Hải Nam và đã đến vịnh Đà Nẵng ngay chiều tối hôm đó. Sáng ngày 1.9.1858, Rigault De Genouilly gửi tối hậu thư cho quan trấn thủ Đà Nẵng buộc phải nộp các thành và pháo đài cho Pháp trong vòng hai giờ. Quá hạn hai giờ chiều ngày 1.9, Genouilly cho tàu chiến chia làm hai cánh, một đánh vào các đồn luỹ ở Sơn Trà, một tấn công vào pháo đài Điện Hải và An Hải. Cuộc tiến công được chuẩn bị hùng hậu, gồm có 3.000 quân, 16 chiến hạm trang bị vũ khí hiện đại, tổ chức đánh nhanh để chiếm lấy Đà Nẵng, làm bàn đạp tiến ra kinh thành Huế. Sau nửa giờ pháo kích liên tục, hầu hết các vị trí của ta đều trúng đạn, các kho thuốc súng phát nổ, lực lượng đồn trú các đồn buộc phải vừa đánh trả, vừa rút lui. Trước hoả lực hiện đại của địch, các khẩu súng thần công của ta bắn đi những quả đạn sắt to bằng quả bóng từ súng thần côn. Quân Pháp và Y Pha Nho thấy viên đạn lớn lù lù bay tới sau khi súng xịt khói nên hoảng sợ cho thuyền quay lui vì sợ nổ bay mảnh,nhưng cuối cùng chẳng nổ, chỉ trúng tên nào thì mới bể đầu, địch né tránh nên chẳng gây cho địch thiệt hại gì đáng kể. Chúng cười và quay tàu lại bắn đạn tới tấp vào thành. Chỉ trong hai ngày 1 và 2.9, toàn bộ các đồn luỹ, pháo đài ở Sơn Trà và Đà Nẵng đều rơi vào tay giặc. Cuộc chiến tranh nhân dân Cùng với quân đội triều đình, nhân dân các làng xã quanh khu vực chiến sự đều rào làng, đắp luỹ, ụ cản chắn đường tiến của giặc, cung cấp lương thực và tham gia xây dựng phòng tuyến cùng quân đội. Việc đánh du kích triệt đường tiếp lương của giặc, đan sọt, đắp đất, đào hào, dựng luỹ... là công việc của toàn dân Đà Nẵng lúc bấy giờ. Có thể nói, quân đội triều đình và nhân dân đã phối hợp biến Đà Nẵng thành một phòng tuyến phòng thủ rất chặt chẽ, liên hoàn. Mười tháng sau khi chiếm giữ Sơn Trà cùng với những trận đánh thọc sâu vào nội địa nhưng sau đó phải rút, ngày 15.6.1859, Genouilly phải báo cáo cho Chính phủ Pháp với lời lẽ bi đát. “Những người An Nam đã trở thành những chiến sĩ dũng cảm. Họ lùi từng bước trước chúng ta, nhưng bắt được họ không phải là chuyện dễ. Chúng tôi có chiếm lĩnh được trận địa, nhưng họ chỉ lui vài trăm thước để ẩn nấp trong những chiến luỹ được xây dựng kiên cố phi thường...”. Trước khi rút đi, chúng đã đốt tất cả các doanh trại trong khu vực tạm chiếm và để lại nơi đây hơn một ngàn nấm mồ của lính thực dân Pháp mà hiện nay người Đà Nẵng gọi là nghĩa địa Y Pha Nho ở chân núi Sơn Trà, khu vực cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Một năm rưỡi chiến đấu và chiến thắng ở Đà Nẵng là cuộc chiến lâu dài, tiêu biểu và đáng tự hào của nhân dân ta, và nhân dân Đà Nẵng nói riêng, trong suốt lịch sử chống Pháp. Chiến tranh còn làm cho cả tỉnh Quảng Nam lẫn Đà Nẵng lâm vào một nạn đói kéo dài, khiến triều đình phải đưa ra chính sách “Thóc đưa đến, dân đưa đi”. Một bộ phận dân Quảng Nam, Đà Nẵng vào định cư khai phá đất Nam bộ cũng hình thành từ sau nạn đói này. Dấu vết còn lại Suốt một năm rưỡi chiến đấu, nhiều chiến sĩ và nhân dân ta đã hy sinh và phải chôn cất tạm thời ở các nơi, sau được quy tập vào các nghĩa trủng (có nghĩa là cái đài lớn), hiện ở Đà Nẵng có hai nghĩa trủng là Hoà Vang và Phước Ninh. Nếu nghĩa trủng Hoà Vang, sau hai lần di dời do xây dựng sân bay vẫn còn khá nguyên vẹn với hơn năm trăm mộ chí, thì nghĩa trủng Phước Ninh, nằm ngay trung tâm thành phố Đà Nẵng chỉ sau một lần di dời để xây dựng nhà thi đấu Nguyễn Tri Phương, đã gần như hoàn toàn biến mất, chỉ còn lại một tấm bia với những lời văn thật hay và nhiều ý nghĩa ... Người quân tử chỉ nghĩ đến điều nghĩa mà dốc lòng vào việc thiện. Dù việc thiện nhỏ thế nào, cũng không bỏ qua. Kẻ tiểu nhân thì chỉ nghĩ đến điều lợi, hễ thấy lợi thì không việc gì không thực hiện... Nơi ngày xưa là thành xiêu luỹ đổ chất chồng. Người ta đã vùi dập đó đây những nắm xương của người vì nghĩa cả mà hy sinh... Và nay thì nhà thi đấu Nguyễn Tri Phương cũng đã bị đập phá để làm con đường từ sân bay qua cầu Rồng. Nhiều người đã cảm thấy tiếc. Nghĩa địa của ta, của những chiến sĩ hy sinh vì dân, vì nước, thì không còn nữa, chỉ còn một tấm bia khá độc đáo, chép lại xa xôi chuyện cũ, nhưng cũng chưa biết số phận nó sẽ đi về đâu? Hồ Trung Tú
Lịch sử súng thần công tại Việt Nam
Người được xem là ông tổ của nghề đúc súng thần công ở Việt Nam là Hồ Nguyên Trừng. Ông là nhà kỹ thuật quân sự nổi tiếng thời Hồ, quê ở Đại Lại, phủ Thanh Hoa (nay là Kim Mâu, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá). Súng mang tên "Thần công" được các thế hệ cha ông xưa coi đây là loại vũ khí có sức mạnh như "Thần".
Người được xem là ông tổ của nghề đúc súng thần công ở Việt Nam là Hồ Nguyên Trừng. Ông là nhà kỹ thuật quân sự nổi tiếng thời Hồ, quê ở Đại Lại, phủ Thanh Hoa (nay là Kim Mâu, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hoá).
Ông là con trưởng của Hồ Quý Ly, từng làm quan tư đồ thời nhà Trần (1399). Khi Hồ Quý Ly làm vua, Hồ Nguyên Trừng nhường ngôi vị thái tử cho em là Hồ Hán Phương. Năm 1401, được phong là Tả tướng quốc trông coi việc chế tạo súng và đóng thuyền. Ông chế tạo thành công súng thần cơ, đóng thuyền lớn 2 tầng (tầng dưới để chèo thuyền, tầng trên để chiến đấu).
Năm 1405, khi nhà Minh chuẩn bị xâm lược Đại Việt, Hồ Nguyên Trừng thấy trước nguy cơ thất bại của nhà Hồ, ông đã nói với Hồ Quý Ly "Thần không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo". Năm 1407, quân Minh xâm lược, Hồ Nguyên Trừng chỉ huy chiến đấu ở cửa Giao Thuỷ - Nam Định và cửa Hàm Tử.
Tháng 6/1407, ông bị bắt ở cửa biển Kỳ La - Kỳ Anh - Hà Tĩnh, bị giải sang Kim Lăng (Nam Kinh - Trung Quốc). Nhà Minh phong cho ông chức Tả thị lang Bộ công, trông coi xưởng đúc súng nhưng ông luôn hướng về quê hương, viết sách "Nam ông mộng lục"....
Từ đầu thế kỷ XVIII, Nhà Nguyễn cho trưng bày súng thần công trước cung điện thể hiện sức mạnh của vương triều. Vào các buổi sáng, buổi chiều, nhà Nguyễn cho bắn súng lệnh, dân thường bị cấm không được đi ngang qua súng thần công, nếu đi ngang xa xa phải ngả mũ chào. Đối với các quan võ thời ấy khi được thăng quan tiến chức phải thờ thần công tạ lễ, một tháng hai lần cúng bái thần công.
Dưới triều Vua Gia Long (1802 - 18190) và Minh Mạng (1820 - 1840), là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của kỹ thuật đúc súng thần công của Việt Nam. Các vị vua này đã cho đúc 2.468 khẩu súng thần công các loại.
Năm 2006, tại đồi Bạch Dinh - Vũng Tàu, lễ hội bắn súng thần công được tái hiện theo nghi lễ truyền thống Việt Nam. Nơi đây xưa vốn là một pháo đài. Sử cũ ghi, từ đầu Trung Hưng năm 1788, Chúa Nguyễn đã xây dựng ở đây phong hoả đài. Pháo đài này sau đổi tên là thành Phước Thắng và đến năm 1839 được xây dựng với quy mô lớn (thời Minh Mạng). Vua Minh Mang cho đặt 2 cỗ súng thần công và 6 cỗ hồng y. Mùa xuân năm 1859, tại pháo đài Phước Thắng, súng thần công đã nã đạn vào quân Pháp và Tây Ban Nha, mở màn cho cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Nam Bộ.
Lễ hội Festival Biển Vũng Tàu tái hiện lại lễ hội bắn súng thần công của nhà Nguyễn. Mở màn lễ hội là ba hồi trống trận.
Trước khi khai hoả, làm lễ dâng hương. Người Suất đội bước lên phía trước (theo ngạch quan chức nhà Nguyễn, chức võ quan chỉ huy một đội hoặc một liên đội), 20 pháo thủ trang phục quân lính thời Nguyễn vào vị trí chờ lệnh.
Cờ lệnh tả thuỷ và hữu thuỷ của Suất đội lần lượt phất lên, 8 loạt đạn thần công phát hoả llên trời lao ra biển...
Tái hiện lễ hội bắn súng thần công tại Vũng Tàu giúp chúng ta hiểu biết về cách bắn súng thần công của cha ông ta thủa trước và sẽ tận mắt thấy các loại súng thần công hiện đang trưng bày tại các bảo tàng.
Sưu tập súng thần công Thế kỷ XVIII - Thế kỷ XIX Súng thần công Châu Âu chế tạo thế kỷ XIX, phát hiện tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1975. Sưu tập súng thần công Thế kỷ XVIII - Thế kỷ XIX. Súng thần công thời Nguyễn, phát hiện tại phía Đông khu vực thành cổ Hà Nội, năm 2001. Súng thần công thời Nguyễn, phát hiện tại số nhà 2 phố Hoàng Văn Thụ, Hà Nội, năm 2002. Súng thần công thế kỷ XIX, phát hiện tại thôn Hoà Duân, huyện Phú Vang, thành phố Huế, năm 1985. (Theo Bảo tàng quân sự Việt Nam) Nếu phương Tây đã có nhiều bộ sử công phu về lịch sử khoa học quân sự, sự chuyển giao và tác động của công nghệ quân sự đối với tiến trình lịch sử phương Tây, lĩnh vực này ở Đông Nam Á vẫn chưa được khảo sát đầy đủ. Trong số ra tháng Mười 2003, tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (Journal of Southeast Asian Studies) của Đại học quốc gia Singapore giới thiệu chuyên đề về sự chuyển giao quân sự từ bên ngoài vào Đông Nam Á. Chùm ba bài tiểu luận đặt trong chủ đề chung “Foreign military transfers in mainland Southeast Asian wars: adaptations, rejections and change.” Trong phần giới thiệu, giáo sư Christopher E. Goscha, đại học Lyon II, viết: “Như tại châu Âu, việc chuyển giao, thích ứng và sử dụng kiến thức và kỹ thuật quân sự nước ngoài đã đóng góp nhiều vào sự phát triển của các nhà nước Đông Nam Á. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng dễ để viết về những sự chuyển giao quân sự đó tại Đông Nam Á. Sau nhiều thập niên dưới chế độ thuộc địa phương Tây, chưa kể các cuộc chiến giải phóng dân tộc ở Đông Dương và Indonesia, các kiến trúc sư quá khứ, mang quan điểm dân tộc chủ nghĩa, muốn chọn cách nhấn mạnh yếu tố ‘bản địa’ và ‘chân thật’ thay vì ngoại lai.” “Việc đưa các đóng góp ‘phương Tây’ và ‘Hoa kiều’ vào bức tranh chung có thể gây vấn đề cho các sử gia dân tộc chủ nghĩa, những người muốn nhấn mạnh vai trò của dân tộc họ trong việc xây dựng quốc gia và quá khứ của nó.” “Mặc dù ba bài viết ở đây lưu ý các quan tâm ‘quốc gia’ và ‘khu vực’, nhưng chúng cũng dựa trên niềm tin rằng không quốc gia hay khu vực nào là một hòn đảo – cũng như quá khứ của quốc gia đó. Bản chất tương liên của Đông Nam Á, vị trí của nó ở giao lộ các tuyến thủy-bộ chính và sự đa dạng trong văn hóa-xã hội khiến các quan niệm về sự tự chủ quốc gia và khu vực khó đứng vững. Điều này đặc biệt đúng khi ta tìm hiểu dòng lưu chuyển kiến thức và kỹ thuật quân sự nước ngoài vào Đông Nam Á lục địa.” Trong ba bài tiểu luận, một bài của Sun Laichen xem xét sự du nhập công nghệ từ nhà Minh vào Đông Nam Á lục địa thời kì từ 1390 đến 1527. Nhìn từ phía nam, Frédéric Mantienne tập trung vào chuyển giao quân sự của Pháp vào Việt Nam trong thế kỷ 18 và đầu 19. Bài của Christopher E. Goscha tìm hiểu dòng chảy vũ khí vào Việt Nam qua các ngả đường châu Á từ 1905 đến 1954. Bài viết của Sun Laichen, giáo sư đại học bang California, Fullerton, bao quát cả khu vực Đông Nam Á, tuy vậy trong một bài tiểu luận khác (sẽ xuất bản trong tập Vietnam: Borderless Histories, Nhung Tuyết Trần & Anthony Reid biên tập, University of Wisconsin Press, 2004), ông tập trung hẳn cho chủ đề Đại Việt. Bài viết có tựa đề “Chinese Military Technology and Dai Viet: c. 1390-1497.” Nội dung nghiên cứu này sẽ mở đầu cho loạt bài về du nhập công nghệ quân sự giới thiệu lần này. Xin lưu ý các bài viết trình bày ở đây chỉ mang tính giới thiệu, tóm tắt nội dung chính, chứ không phải là bản dịch lại trọn vẹn văn bản gốc. Người đọc quan tâm có thể tìm đọc nguyên bản trong Journal of Southeast Asian Studies (Đại học quốc gia Singapore, tháng Mười 2003) hoặc download ở đây. Đại Việt thời Hậu Trần – HồThế kỷ 15 chứng kiến Việt Nam (Đại Việt – quốc hiệu có từ thời nhà Lý) mở rộng cương vực rộng lớn chưa từng có. Sự bành trướng này bao gồm sự kiện nổi tiếng năm 1471 khi kinh đô Vijaya của Chămpa thất thủ trước quân Lê Thánh Tông, và cuộc “trường chinh” ít người biết của Đại Việt đến sông Irawaddy của Miến Điện khoảng giữa 1479 và 1484. Trong chủ đề bài viết của Sun Laichen, câu hỏi chính đặt ra là vì sao, sau hàng trăm năm đối đầu với Chămpa, Đại Việt lại có thể đánh quỵ Chămpa vào thời điểm này? Các quan điểm giải thích chính trước nay có thể tóm tắt như sau: Đầu tiên, luận điểm về nông nghiệp và dân số: quan điểm này cho rằng sự tăng dân số của Đại Việt vừa tạo động lực lại vừa đem lại lợi thế cho tiến trình Nam tiến của người Việt. Chiến thắng của người Việt, tóm gọn lại, là chiến thắng của biển người. Thứ hai, luận điểm về sự chuyển hóa Khổng giáo cho rằng cuộc xâm lược của nhà Minh năm 1406-1407 dẫn tới việc người Việt áp dụng mô hình Trung Hoa kiểu nhà Minh, đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497), khiến nhà nước Việt Nam được chuyển hóa. Cụ thể, Đại Việt bám lấy hệ tư tưởng của Trung Hoa “văn minh đối nghịch dị chủng” và áp dụng nó trong quan hệ với Chămpa. Như lời của John K. Whitmore, một trong những chuyên gia nổi tiếng về triều Lê: “Giờ đây câu hỏi về đạo đức chiếm vai trò trung tâm và đánh dấu sự khác biệt giữa người “văn minh” và người “man di”. Sự tương đối văn hóa không còn ngự trị , và các cuộc tấn công cũng thôi không còn là các cuộc cướp phá để sau đó một hoàng tử địa phương khác được đặt lên ngôi. Giờ đây mục tiêu là đem ‘văn minh’ cho các địch quốc dị chủng.” Nói cách khác, người Việt phải chiếm vĩnh viễn Chămpa để khai hóa cho dân tộc đó. Thứ ba, luận điểm về định chế. Nếu lý thuyết về Khổng giáo giải thích sức mạnh thể chế của Đại Việt, sự diễn giải định chế giải thích yếu kém của Chămpa. Theo Kenneth R. Hall, Chămpa là “một hệ thống nhà nước được thể chế hóa yếu ớt phụ thuộc vào các mạng lưới liên minh cá nhân để liên kết một dân số tản mác.” Kết quả là sự yếu kém thể chế cố hữu của nhà nước Chăm cuối cùng đóng dấu số phận của nó. Thế bài của Sun Laichen có gì khác? Nghiên cứu của ông tiếp cận vấn đề từ góc độ kỹ thuật bằng cách xem xét khía cạnh công nghệ quân sự. Nó cho rằng hỏa khí lấy từ gốc Trung Quốc đã đóng vai trò quan trọng trong tiến trình tiến về miền Tây, Nam của Đại Việt trong cuối thế kỷ 15. Vũ khí Đại Việt thời kỳ đầuViệc chuyển giao công nghệ quân sự từ Trung Quốc vào Việt Nam đã có từ lâu, nhưng một diễn biến quan trọng xảy ra đầu thời Minh. Năm 1390, vua Chế Bồng Nga của Chămpa bị giết khi trúng đạn của quân nhà Trần. Loại súng được dùng để bắn vào thuyền vị vua họ Chế trước nay thường được hiểu là thần công, nhưng có lẽ nên hiểu đó là súng cầm tay. Như Momoki Shiro - đại học Osaka, Nhật Bản - chỉ ra, đó là loại vũ khí mới. Để hiểu tầm quan trọng của chiến thắng năm 1390 của Đại Việt, cần nhớ trong suốt nhiều năm trước đó, sức mạnh của vua Chế Bồng Nga là nỗi kinh hoàng cho nhà Trần. Trong ba thập niên (1361-1390), Chế Bồng Nga thực hiện khoảng mười cuộc xâm lăng vào Đại Việt, và thủ đô Thăng Long rơi vào tay quân Chàm ba lần. Khi tướng Trần Khát Chân được cử đi chống quân Chămpa, vua tôi nhà Trần cùng khóc giữa lúc quân tiến lên đường. Giữa lúc khủng hoảng đó, thì một đầy tớ của họ Chế vì bị tội, trốn sang quân Trần chỉ cho biết thuyền của vua Chế. Tướng Trần Khát Chân cho tập trung hỏa lực bắn vào thuyền Chế Bồng Nga, Chiêm vương trúng đạn chết, quân tướng bỏ chạy. Trong tác phẩm về lịch sử Chămpa, học giả Pháp Maspero cho rằng sự phản bội của người đầy tớ Chàm đã ngừng bước tiến của quân Chàm và cứu Đại Việt khỏi sụp đổ. Tuy vậy, nếu không có kỹ thuật thuốc súng mới thu lượm, chiến thắng thủy chiến của Đại Việt, cũng như số phận vương quốc, sẽ không chắc chắn. Vì thế, năm 1390 được nhiều người xem là đánh dấu sự thay đổi trong tương quan lực lượng giữa Đại Việt và Chămpa. Có vẻ như hiệu quả của công nghệ quân sự mới của Đại Việt đóng một vai trò trong thay đổi này. Mặc dù nguồn gốc của loại súng cầm tay của Đại Việt không được nhắc rõ, có thể suy đoán nó được học hoặc từ các thương nhân hoặc từ những binh lính đào ngũ nhà Minh trước năm 1390. Dường như việc áp dụng súng tại Đại Việt đã tăng nhu cầu về thuốc súng, giống như vào năm 1396, nhà Hậu Trần dưới sự kiểm soát của Hồ Quý Ly phát hành tiền giấy và yêu cầu nhân dân đổi lại tiền đồng, có thể một phần với mục đích thu thêm đồng để sản xuất súng. Sự xâm lăng và chiếm đóng của nhà Minh tại Đại Việt từ 1406 đến 1427 thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ quân sự từ Trung Quốc. Nhà Minh đã huy động các vị tướng và binh lính thiện chiến nhất cho chiến dịch tấn công Đại Việt. Để đối phó với hỏa khí của Đại Việt, vua Minh Thành Tổ ra lệnh sản xuất các khiên lớn và dày. Ông ra lệnh không được để lộ kỹ thuật làm súng cho đối phương, phải bảo đảm là khi rút quân, súng “phải được đếm theo số hiệu và không để một khẩu súng nào thất lạc.” Trong số 215.000 quân Minh tham gia chiến dịch viễn chinh, khoảng 21.000 lính thuộc khẩu đội được vũ trang bằng súng. Ngày 19 tháng 11-1406, quân Minh do Trương Phụ dẫn đầu tiến vào từ Quảng Tây, còn đội quân của Mộc Thạnh tấn công từ Vân Nam. Sau các thắng lợi ban đầu, quân Minh tổ chức đánh thành Đa Bang, thuộc Sơn Tây, là tiền tuyến của quân Hồ. Việc chiếm thành Đa Bang bộc lộ vai trò quan trọng của súng ống của quân Minh. Đa Bang là vị trí chiến lược quan trọng nhất trong toàn bộ hệ thống phòng thủ khi ấy của Đại Việt, và nhà Hồ tập trung quân tướng và vũ khí tốt nhất để phòng thủ nơi này. Trận tấn công bắt đầu ngày 19 tháng Giêng, 1407. Khi quân Minh dùng thang ập vào thành mà leo lên, những người lính Việt chỉ có thể bắn vài mũi tên và đạn. Sau khi vào thành, quân Minh đối diện với các đoàn voi trận. Quân Minh vẽ hình sư tử trùm lên ngựa để làm voi sợ, và đặc biệt, nhóm quân súng thần cơ đóng vai trò quyết định cho thắng lợi của quân Minh. Các đoàn voi trận Đông Nam Á vốn vẫn là đối thủ đáng gờm trước quân Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, nhưng trước hỏa lực mạnh của đối phương, voi đành bỏ chạy. Khi Đa Bang vỡ, quân nhà Hồ không còn ngăn được đà tiến về miền đông và nam của quân Minh. Ngày 20 tháng Giêng, Đông Đô (Thăng Long) sụp đổ, và sáu ngày sau, Tây Đô (vùng Thanh Hóa) cũng rơi vào tay quân viễn chinh. Trong các trận chiến sau đó, súng của quân Minh cũng chứng tỏ hiệu quả. Ngày 21 tháng Hai, trên Lục giang, quân Minh huy động thủy – lục quân với nhiều loại súng, tấn công 500 chiến thuyền của Hồ Nguyên Trừng, giết chết hơn 10.000 lính Việt. Một nguồn sử Trung Hoa mô tả trận chiến là “súng bắn ra như sao rơi, sét đánh.” Đầu tháng Năm 1407, một trận lớn diễn ra ở bến Hàm Tử, Hưng Yên. Nhà Hồ huy động lực lượng đáng kể (70.000 quân) và nhiều chiến thuyền kéo dài trên sông đến năm cây số. Mặc dù quân Hồ cũng sử dụng súng chống trả, nhưng hỏa lực quân Minh vẫn đủ sức tạo chiến thắng, với 10.000 lính Việt tử trận. Ngày 16-17 tháng Sáu 1407, quân Minh kết thúc chiến dịch với việc bắt sống Hồ Quý Ly và các con. Chiến thắng nhanh chóng khiến tướng Hoàng Phúc bình luận: “Thành công nhanh chóng thế này chưa bao giờ xảy ra trong quá khứ.” Đại Việt dưới thời Hồ Quý Ly đã chuẩn bị cho khả năng bị xâm lăng từ sớm, và huy động một lực lượng quân đội lớn chưa từng thấy. Tuy vậy, chế độ nhà Hồ sụp đổ nhanh chóng. Lý do, bên cạnh các yếu tố khác như bất mãn của tầng lớp quý tộc và dân chúng trong nước, sai lầm chiến lược, còn là ưu thế quân sự, bao gồm súng đạn, của nhà Minh. Đại Việt áp dụng kỹ thuật súngTuy nhiên, quân Minh dần dần đánh mất ưu thế công nghệ này vì đối phương của họ, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, cướp ngày càng nhiều vũ khí của quân Minh trong các trận đánh năm 1418, 1420, 1421, 1424 và 1425. Ví dụ như trận Ninh Kiều cuối năm 1426. Trước đó, quân Minh ở Đông Quan (Thăng Long) đã sử dụng súng để chống đỡ đợt vây ráp của quân Lê Lợi. Người Việt rút lui, và quân Minh đuổi theo. Khoảng 100.000 quân Minh do Vương Thông và các tướng khác dẫn đầu bị phục kích và chịu thất bại thảm hại. Điều quan trọng cho chủ đề ta đang bàn ở đây là trong số quân Minh có 510 người lính thuộc đơn vị quân súng thần cơ. Vì thua trận, quân Minh mất gần hết vũ khí. Sau khi lui về Đông Quan, họ buộc phải tái sản xuất súng đạn, sử dụng chất liệu đồng từ việc phá hủy chuông Quy Điền và vạc Phổ Minh (được gọi là hai trong số bốn tứ bảo của Việt Nam). Chiến thắng Ninh Kiều có hai tầm quan trọng cho quân Lê Lợi. Thứ nhất, đây là lần họ thu được nhiều nhất súng ống của quân Minh, khiến trang bị được tăng cường. Thứ hai, trận đánh là điểm bước ngoặt trong phong trào chống Minh của Đại Việt. Đến tháng 12-1426, Lê Lợi đã đưa quân ra vây Đông Quan. Ngoài ra, những tù binh và hàng tướng quân Minh cũng dạy lại cho người Việt các kỹ thuật quân sự. Trong số hàng binh, có lẽ viên sĩ quan có tên Cai Fu là nhân vật cao cấp nhất. Ông ta đã đóng vai trò lớn giúp quân Minh chiếm thành Đa Bang năm 1407, nhưng đến đầu năm 1427, ông đầu hàng và dạy cho quân của Bình Định Vương Lê Lợi các kỹ thuật đánh thành mà sau đó sẽ dùng để lấy Xương Giang và Đông Quan. Các loại vũ khí, thu được hay chế tạo mới, đã giúp quân Đại Việt đánh đuổi quân Minh. Điều này đặc biệt thể hiện trong việc vây thành Xương Giang, có lẽ là cứ điểm quan trọng nhất của quân Minh đầu năm 1427. Quân Minh dựa vào đây để hỗ trợ Đông Quan trong lúc chờ viện binh từ Trung Quốc. Vì thế, quân Đại Việt quyết chiếm lấy Xương Giang trước khi viện binh Trung Quốc đến từ Vân Nam. Lê Lợi đã vây thành này hơn sáu tháng, nhưng vẫn chưa đánh được. Khoảng hai ngàn lính Minh đã dùng súng và máy bắn đá để bảo vệ thành phố. Cuối cùng, khoảng 80.000 chiến binh Đại Việt đã cướp được thành bằng cách dùng những kỹ thuật học từ người Trung Quốc. Đại Việt sử ký toàn thư chép quân Lê Lợi “mở đường đánh nhau với giặc, dùng câu liêm, giáo dài, nỏ cứng, tên lửa, súng lửa, bốn mặt đánh vào, thành cuối cùng bị hạ.” Giống như việc quân Minh chiếm thành Đa Bang năm 1407 báo hiệu nhà Hồ sụp đổ, việc Xương Giang vỡ cũng báo hiệu ngày tàn của quân Minh. Nếu không có hỏa lực hạng nặng, gần như không thể có chiến thắng của quân Đại Việt. Hai mươi năm sau khi Đa Bang sụp đổ, quân Đại Việt giờ đây được vũ trang tốt hơn với các loại súng mà nhiều trong đó lấy của quân Minh. Chiếm được Xương Giang, quân Đại Việt cướp thêm được nhiều vũ khí, và họ chiếm thêm được nhiều hơn nữa khi cuối năm 1427, quân Đại Việt đánh bại 150.000 viện binh nhà Minh. Đại Việt sử ký toàn thư chép là số vũ khí mà quân Lê Lợi lấy từ viện quân nhiều gấp đôi số lượng lấy được từ Xương Giang. Khi hơn 80.000 quân và thường dân nhà Minh cuối cùng rút khỏi Đại Việt tháng Giêng 1428, chắc chắn số binh lính Minh đã bi tước vũ khí. Số lượng vũ khí cũng như người Minh còn ở lại Đại Việt sau khi quân Minh rút lui đã gây lo ngại lớn cho triều đình phương Bắc. Nhà Minh liên tục đòi Đại Việt trao trả các quan binh, và vũ khí. Về vũ khí, mặc dù chính thức thì bảo đã trả hết, nhưng Đại Việt không trả lại món nào và cuối cùng triều Minh phải từ bỏ yêu sách. Nguồn: BBCV
NHỚ NHỮNG NGÀY SẮP TẾT 1785 ÐẠI ÐẾ QUANG TRUNG ÐÃ TIÊU DIỆT 2 VẠN QUÂN XIÊM-LA TẠI RẠCH GẦM, XOÀI MÚT TỈNH ÐỊNH TƯỜNG Hồ Đinh(viết tặng Bùi Nhật Huy, Nguyễn Hữu Chế và Phạm Phong Dinh)Từ xưa tới nay, bất cứ quốc gia nào cũng đều có những trang lịch sử đẫm máu và nước mắt. Từ đó mới có những anh hùng-liệt nữ, cũng như bọn phản tặc bán nước hại dân, các đấng minh quân hay lũ bạo chúa. Lịch sử là vậy , nên dù được viết bằng văn tự rõ ràng hay loan truyền qua bia miệng, miên viễn người đời ai cũng thích tôn kính các bậc anh hùng vì dân vì nước, dù họ có phạm lỗi lầm như Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Trần Thủ Ðộ, Hồ Quý Ly, Lê Lợi.. Cận sử VN có Vua Gia Long (Nguyễn Phúc Ánh), đã có công rất lớn đối dân tộc Lac-Hồng vì Ngài là người thống nhất được đất nước, từ Ải Nam Quan cho tới Mũi Cà Mâu, sau hơn 300 năm nội chiến triền miên, nồi da xáo thịt giữa Trịnh-Nguyễn và nhà Tây Sơn. Ngài cũng đã ổn định được một vùng đất mới, do các chúa Nguyễn tại Nam Hà, đã khái phá được, từ Thuận Trấn (Bình Thuận) vào tới Hà Tiên ( Thủy Chân Lạp), biến chốn hoang vu ma thiêng nước độc, bị người Chàm và Khmer bỏ hoang hằng bao thế kỷ, thành nơi thị tứ phồn hoa, ruông vườn xanh mơ bát ngát, mà ngày nay con cháu thênh thang ấm no mừng hưởng. Nhưng đã nói lịch sử vốn vô tình, công thì sùng kính ca ngơi nhưng nếu có tội vẫn bị chữ nghĩa phanh thây trên trang giấy. Nên đồng thời nhà vua cũng bị các sử gia nặng bút phê phán về nhiều tội như ‘ Vong Ân Bội Nghĩa ‘, khi chính tay giết những công thần đã giúp mình gồm Ðổ Thành Nhơn, Nguyễn Văn Thành, Ðặng Trần Thường.. Vua cũng là người nhỏ nhen khi ra lệnh đào mồ Quang Trung, phân thây Bùi Thị Xuân và trên hết vì muốn chiếm lại đế nghiệp, đã phải nhờ nước ngoài giúp mình, gây nên cảnh nồi da xáo thịt. Ngoài ra vua cũng như nhà Nguyễn đã quá ngu muội, đần độn, khi vẫn tiếp tục coi Nho là quốc giáo, để an bang tế thế, trong lúc đã nhìn thấy rõ, là Thanh Triều, cũng vì chính trị thối nát, nên nước cũng đang bệ rạc, đâu có điều gì hay, để cho VN phải bắt chước ? Ngày nay qua những khai quật của lịch sử, việc quân Xiêm vào xâm lăng đất đai Nam Kỳ, nói là do Nguyễn Ánh cầu viện, vẫn đang là một nghi vấn. Nhưng sử viết vua Gia Long là người cực đoan, có tình yêu nước nồng nàn, qua hành động không bao giờ chịu cắt một ly đất đai của nước ta, nhường cho ngoại quốc, kể cả sứ bộ Bá Ða Lộc, từng vào sinh ra tử với Chúa, đó là sự thật. Qua sử liệu, ai cũng biết xưa nay, trên bán đảo Ðông Dương, Ðại Việt và Xiêm La là hai con cọp, lúc nào cũng muốn tranh giành ảnh hưởng chính trị với hai nước yếu nằm giữa là Chân Lạp và Ai Lao, nên trong quá khứ đã có nhiều đụng chạm giữa hai nước và lần nào người Xiêm cũng bị bại trước sự dũng mãnh phi thường của nước Việt. Tuy nhiên người Xiêm đã thật sự sợ dân Việt hơn cọp, sau khi bị vua Quang Trung (Nguyễn Huệ), tiêu diệt hơn 2 vạn quân, đồng thời đốt rụi 300 tháp thuyền, tại Vàm Rạch Gầm-Xoài Mút, tỉnh Ðịnh Tường, vào những ngày sắp Tết năm 1785. Vì vậy từ đó tới nay, Thái Lan thâm thù người Việt đến tận xương tủy, nên hằng tìm đủ mọi cách để trả thù. Thảm kịch của đồng bào tị nạn Nam VN trên biển Ðông, do hải tặc Thái Lan gây ra, được chính quyền nước này làm ngơ hay chỉ ngó tới một cách lơ là chiếu lệ, đã nói lên rõ ràng sự trả thù của vua chúa nước này đối với VN, qua những hận nhục bại trận quá khứ. Ðây cũng là một hệ lụy tất yếu của dân tộc hùng anh dũng liệt Ðại Việt, nhưng luôn bất hạnh vì thiếu vắng những bậc cầm quyền tài trí đảm lược, nhất là trong thời cận sử cho tới ngày nay, khiến cho nước ta luôn bị lệ thuộc ngaọi bang, không biết tới bao giờ mới ngoi lên khỏi vũng bùn nô lệ. ‘ tiếng ai than khóc sầu thương Nhị Hà nước xuống trùng dương xa mờ Chương Dương, Hàm Tử ngàn xưa Giờ sao sông núi, bụi Hồ vấn vương .. ’ ’ 1- NƯƠC XIÊM LA : Xiêm La hay Thái Lan ngày nay có diện tích 198.455 sq.ml hay 512.998 km2, dân số tính tới năm 2004 là 55.448.000 người, thủ đô là Bangkok (Vọng Các) chưa kể ngoại ô có 1.867.297 người. 95% người Thái theo Phât giáo tiểu thừa. Thật ra Xiêm không phải là quốc hiệu của người Thái. Ðó là cái tên mà người Cao Mên và Chiêm Thành dùng để gọi họ. Ngay từ thế kỷ thứ XI, danh từ SYAM đã thấy xuất hiện tên các văn bía của người Chàm tại Trung phần VN, còn hình ảnh của người Syam, thì đầy rẩy nơi các di tích của người Khmer, tại đền Angkor được dựng lên từ thế kỷ thứ XII sau TL. Người VN theo cách gọi của Miên và Chàm, cũng gói là Xiêm. Riêng người Tàu qua lối phát âm Bắc Kinh, đọc là Tiêm, rồi ghép với tên của nước La Hộc, tức là vùng Lyo ngày nay, thuộc Lopburi ở hạ lưu sông Mê Nam, thành nước Tiêm-La. Còn người Pháp cũng dựa vào lối phiên âm Tàu mà đọc là Siam, trong lúc người Anh thì nói trại là Saiam. Trong bộ Bách Khoa Từ Ðiển của Ý Ðại Lợi (Enciclopedia Italiana), đã giải thích rằng Anh và Pháp khi dùng tiếng Siam để chỉ người Thái, là căn cứ vào tiếng Saiam Sayang của người Miến Ðiện dùng để chỉ người Xiêm, rồi đọc trại ra là Siam hay Saiam. Nhưng căn cứ vào sử liệu, ta thấy từ ngày lập quốc đến nay, người Thái gọi mình là Thay, còn người Shan là Nghiện. Riêng danh từ Siam chỉ mới xuất hiện gần đây. Do trên thời xưa, nước Thái Lan được gọi là Mường Thay hay Prathet Thay. Ðời vua Rama IV (1851-1868), quốc hiệu mới được đổi là Sayam (Xiêm), để đánh dấu nước này canh tân theo văn minh tây phương. Năm 1939, tướng Phibul Songgram lên làm thủ tướng, mới đổi quốc hiệu từ Xiêm sang Thái. Từ 1945-1948, tên nước trở lại là Xiêm và sau đó tới ngày nay, chính thức là Thái. Với người Anh, họ phiên âm Thay thành Thai, còn Prathet là Land, nên sau này gọi nước Xiêm là Thailand. Theo cách đó, người Pháp viết là Thailande, còn VN thì đọc là Thái Lan. 2- NHỮNG GÂY CẤN GIỮA ÐẠI VIỆT VÀ THÁI LAN : Từ đầu thế kỷ thứ XVII, người Việt đã tới khai hoang tại vùng Ðồng-Nai và Mỏi-Xùy (nay là Biên-Hoà và Bà Rịa) của Chân Lạp. Vì muốn thoát khỏi ảnh hưởng và sự kềm kẹp của Xiêm La đã có từ trước đến nay, nên quốc vương nước này là Chey Chetia II sang cầu thân với Chúa Nguyễn Nam Hà, để nhờ che chở. Nhân dịp đó, Chúa Hy Tôn-Nguyễn Phúc Nguyên đã vì dân nước, nên đành đem con gái cưng của mình là Ngọc Vạn, gã cho vua này làm Hoàng Hậu vào năm 1620, để lấy chỗ dựa cho dân Ðại Việt tới làm ăn tại Chân Lạp. Chúa còn đem người con gái kế là Ngọc Khoa, gã cho vua Chàm để mượn đường bộ từ Phú Yên vào Ðồng Nai, vì lúc đó nước Chiêm Thành vẫn còn. Do trên Xiêm La đả kết thù với Ðại Việt, vì cả hai đều muốn giành giựt ảnh hưởng tới Lào và Miên, vốn là hai nước nằm giữa rất yếu kém, do nội loạn thường trực. Năm 1672, Chey Croetha III làm loạn, giết cha vợ là vua Batom Reachea và dắt quân Xiêm từ Nam Vang xuống Sài Côn, chiếm lại tất cả thành trì, đồng thời đuổi giết người Việt đang khẩn đất làm ăn tại Ðồng-Nai, Mõ Xùy. Năm 1674 Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần sai binh tướng sang Thủy Chân Lạp, đánh đuổi quân Xiêm chạy về biên giới Miên-Thái, giết vua Nặc Ông Ðài. Sau đó lập Năc Thu làm vua Lục Chân Lạp, đóng tại Nam Vang và Năc Nộn là phó vương miền Thủy Chân Lạp, tại Sài Gòn. Từ đó người Miên thần phục Chúa Nguyễn. Năm 1687, quân Xiêm lại vào cướp phá đất Hà Tiên, bắt Mạc Cửu đem về giam lỏng tại Muang Garaburi nhưng sau đó, ông đã trốn được về nước vào năm 1700. Từ đó Mạc Cửu đem đất đai Hà Tiên và binh sĩ dưới quyền, xin thần phục Nam Hà, nên được Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu phong chức tổng binh. Năm 1717, quân Xiêm tấn công Hà Tiên, Mạc Cửu binh ít chống cự không nổi, nên phải bỏ thành lui về giữ Long Kỳ. Quân Xiêm vào tàn phá Hà Tiên thành bình địa nhưng sau đó chiến thuyền bị bão đánh đắm trong vịnh Phú Quốc, nên phải rút về nước. Mạc Cửu trở về kiến tạo lại Hà Tiên và đắp thành ngăn giặc vào năm 1718. Năm 1769, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh đem quân thủy bộ tấn công Hà Tiên, lại đặt đại bác trên núi Tô Châu bắn vào thành sát hại nhiều dân chúng vô tội. Tổng binh Mạc Thiên Tứ vì binh ít và không có tiếp viện, nên phải bỏ thành, cùng các con Mạc Tử Hoàng, Tử Thương, Tử Duyên.. lui về Trấn Giang (Cần Thơ). Nhưng quân Xiêm đã bị các tướng lãnh trấn thủ Long-Hồ và Ðông Khấu là Tống Phước Hợp và Nguyễn Hữu Nhân, đánh đuổi phải bỏ Hà Tiên, chạy về cố thủ thành Nam Vang. Năm 1772, Duệ Vương Nguyễn Phúc Thuần sai chưởng cơ Nguyễn Cửu Ðàm, thống suất hai đạo Bình Khánh và Bình Thuận, gồm 10.000 quân thủy bộ và 30 chiến thuyền. Quân Nguyễn chiếm lại Hà Tiên và Chân Lạp, rồi đưa Nặc Tôn về Nam Vang làm vua trở lại. Từ đó quân Nguyễn đóng luôn ở Nam Vang, bảo hộ và làm cố vấn cho quốc vương Chân Lạp. Năm 1780, vì tàu buôn bị cướp ở Hà Tiên, vua Xiêm nghe theo lời xúi của quan Chân Lạp tên Bồ Công Giao, bắt cha con Mạc Thiên Tứ, Tử Hoàng, Tử Thương, Tử Duyên cùng sứ thần của chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Xuân.. đem xử trảm. Mạc Thiên Tứ lúc đó trên 70 tuổi, uất ức tự tử chết. Riêng gia quyến của họ đều bị đầy lên tận biên giới Miến-Thái. Năm 1782, vua Xiêm là Trịnh Quốc Anh bị hai tướng Chất Trí và Sô Sĩ giết chết. Chất Trí lên làm vua Xiêm, xưng Phật Vương (Rama 1), tha những người Việt bị đầy , đồng thời giao hảo với chúa Nguyễn Ánh lúc đó đang bị quân Tây Sơn đuổi giết tận tuyệt Năm 1784, mượn cớ sang giúp Nguyễn Ánh, vua Rama 1, sai 2 vạn thủy quân và 300 tháp thuyèn, do hai người cháu là Chiêu Sương, Chiêu Tăng sang xâm lăng Nam Phần. Quân Xiêm chiếm các đạo Kiên Giang, Trấn Giang, Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Ðéc.. đồng thời cướp của giết người, không ai có thể ngăn cản nổi. Sự kiện trên làm cho Nguyễn Ánh cũng phẫn uất nhưng phải bó tay ví không còn binh lực để kềm chế giặc. Cuối tháng chạp cùng năm, được tin quân Xiêm đã tới Ðịnh Tường, nên Long Nhưỡng tướng quân là Nguyễn Huệ, từ Qui Nhơn đem quân thủy bộ vào chận đánh, phá tan 2 vạn quân Xiêm tại vàm Rạch Gầm-Xoài Mút. Từ đó người Xiêm sợ Ðại Việt như sợ cọp. Năm 1817, sau khi chiếm được Stung Treng và Vạn Tượng của Lào. Quân Xiêm tràn sang chiếm một phần cao nguyên Trung Phần, lúc đó gần như chưa có chính quyền VN hiện diện. Bọn quan lại Xiêm cai trị đồng bào thiểu số tại đấy rất tàn ác dã mang. Tình trạng kéo dài tới thời Pháp thuộc mới chấm dứt. 3-NGUYỄN HUỆ TIÊU DIỆT QUÂN XIÊM TẠI ÐỊNH TƯỜNG: ** ÐỊA DANH RẠCH GẦM-XOÀI MÚT TẠI MỸ THO : Ðất Ðịnh Tường thuộc dinh Phiên Trấn, được Túc Tông Nguyễn Phúc Trú thành lập vào năm 1731. Vào năm 1772 Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần đổi là Ðạo Trường Ðồn, rồi thành Huyện Kiến An vào năm Gia Long nguyên niên 1801. Năm 1802 lại cải thành Dinh Trấn Ðịnh, phiên trấn Ðịnh Tường. Ðời vua Minh Mang (1820-1840), chính thức chia đất Nam Kỳ, thành sáu tỉnh trong đó có tỉnh Ðịnh Tường. Danh xưng này tồn tại tới ngày 30-4-1975 thì mất . Riêng hai địa danh ‘ RẠCH GẦM-XOÀI MÚT’ nằm trong tỉnh Ðịnh Tường. Theo các tài liệu cổ có từ thời nhà Nguyễn, thì Rạch Gầm ngày xưa được gọi là Sầm Giang. Ðó là một con rạch dài chừng 15km, phát nguồn từ xã Long Tiên (Cai Lậy), chảy qua các thôn xóm trù phú thuộc các xã Kim Sơn, Vĩnh Kim, Mỹ Luông, Thuộc Phiên.rồi đổ vào sông Mỹ Tho (Tiền Giang) tại Kim Sơn. Khi người Việt từ miệt ngoài, theo chân các Chúa Nguyễn vào đây khẩn hoang lập ấp, thì vùng này toàn là rừng rậm cây cao, đầy các loại dã thú như voi, cọp, trăn-rắn, heo rừng, cá sấu. Nói chung chỗ nào đêm ngày cũng có tiếng cọp gầm voi rống, làm cho ai cũng kinh hồn, sởn óc, nhiều người vô phước bị cọp vồ, cá sấu táp khi phá rừng làm ruộng. Do trên, tổ tiên ta mới đặt tên vùng này là ‘ Rạch Cọp Gầm’. Về sau để dễ nhớ, nên kêu là Rạch Gầm tới ngày nay không đổi. Ở đây cây cối sầm uất, hai bên bờ rạch đầy dừa nước và nhiều cây bần mọc gie ra khỏi con rạch. Ðúng là một vị trí chiến lược lý tưởng, để các nhà quân sự tài danh, áp dụng lối đánh du kích, phản kích và nhất là hỏa công trận. Vàm Rạch Gầm có bề ngang chừng 100m, thuộc xã Kim Sơn. Trên bờ có chợ nhỏ, bán đầy các loại thổ sản miệt vườn như cam, quít, ổi, chuối .. Nhưng chợ Rạch Gầm nổi tiếng xưa nay vẫn là Vú Sửa, món đặc sản bản địa, ngon-ngọt hơn bất cứ nơi nào khác. Ðặc biệt, vú sữa lại đơm bông kết trái đúng vào cuối đông sắp Tết Nguyên Ðán. Cũng theo tài liệu, thì xã Kim Sơn được thành lập rất sớm trong trấn Ðịnh Tường, vào đầu thế kỷ thứ XVIII, do tiên hiền Lê Công Báu, nhưng dân chúng kiêng cữ đã đọc là Bích. Về sau ông được nhà Nguyễn phong làm Thành Hoàng và vẫn được dân chúng điạ phượng thờ kính cho tới ngày nay. Xoài Mút chảy từ Giòng Dứa thuộc Ấp Thạch Long tới Ấp Thạnh Hưng, xã Phước Thạnh, rồi đổ vào rạch Xoài Hột và ra sông Mỹ Tho (Tiền Giang). Khúc rạch này cũng giống như Rạch Gầm rất um tùm. Hai bên bờ đầy dừa nước và cây bần mọc gie ra ngoài, tạo nên địa thế quanh co hiểm trở. Ở đây ngày xưa mọc đầy một loại xoài trái nhỏ, hột to, cơm ít, nên muốn ăn phải mút, nên mới xuất hiện danh xưng Xoài Mút. Ngày nay dân địa phương đã chặt bỏ hết để lấy đất làm vườn, nên họa hoằn lắm mới thấy một vài cây còn sót lại. Về hành chánh, thì Xoài Mút là tên con rạch, còn Xoài Hột là tên của một ngôi chợ thuộc xã Thạnh Phú, kế xã Bình Ðức. Rạch Gầm cách Xoài Mút 7km và thành phố Mỹ Tho chừng 14 km. **VUA QUANG TRUNG NGUYỄN HUỆ : Trong dòng Việt sử, dù triều đại Tây Sơn hiện hữu thật ngắn ngủi (1778-1802) nhưng qua hai chiến thắng bất hủ : Trận Thủy Chiến Rạch Gầm tiêu diệt quân Xiêm và Xuân kỷ Dậu đại thắng quân Thanh, đã đưa tên tuổi Quang Trung-Nguyễn Huệ, lên hàng Ðại Ðế, sánh bằng các quân vương-dũng tướng của dân tộc Hồng Lạc mọi thời như Ngô Quyền, Lê Ðại Hành, Lê Thánh Tông, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Ðạo, Lê Lợi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Phúc Tần.. Dù không đồng chính kiến nhưng tất cả các sử gia triều Nguyễn cũng như đọc qua các thiên du ký của các nhà truyền giáo phương tây. Ai cũng xưng tụng ngài là một trong những thiên tài quân sự lửng lẫy của VN, có thể so sánh với các tên tuổi như Ðại Ðế Alexander Le Grand của Hy Lạp và vua Hung Nô Attila, là những thiên tài quân sự bách chiến bách thắng. Giống như các bậc danh tài trên, trong khi dùng binh vua Quang Trung luôn luôn theo đúng binh pháp Tôn Tử-Trần Hưng Ðạo-Nguyễn Trải, đạt yếu tố bất ngờ, hành binh thần tốc và trên hết là biết tiên liệu tình hình địch, trước khi quyết định bày binh bố trận để tấn công. Ngoài ra để nêu gương với sĩ tốt cùng thuộc tướng dưới quyền, ngài luơn luôn xông xáo nơi trận mạc, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lâm trận đi đầu hàng quân, hiệu lệnh rất nghiêm minh. Bởi vậy, tướng sĩ ai cũng muốn hăm hở, lăn xả vào cái chết, để được đền ơn nhà trả nợ nước, xứng đáng bổn phận làm trai nước Việt. Ngoài thiên tài quân sự, vua Quang Trung còn được các sử gia đề cao là một nhà chính trí có thao lược, điển hình qua cách chiêu hiền đãi sĩ, kính trọng tài năng mọi người không phân biệt bất cứ một ai. Riêng tư cách thì hòa nhã độ lượng, trong khi đối xử với vua Lê và cái chết của chúa Trịnh Khải Nói chung từ trước tới nay, qua dòng lịch sử, VN có ba thiên tài quân sự là Hưng Ðạo Ðại Vương Trần Quốc Tuấn, Bình Ðịnh Ðại Vương vua Lê Lợi và Ðại Ðế Quang trung-Nguyễn Huê. Nhưng các ngài đều có phép hành binh riêng biệt. Với Hưng Ðạo Vương, sở trường về lối đánh ‘ Dùng ít chọi đông ‘ mà binh pháp gọi là Dàn Binh, Tướng Trận. Còn Bình Ðịnh Vương Lê Lợi thì ứng dụng phép ‘ Dĩ Dật Ðãi Lao ‘, tức là lối đánh du kích, làm tiêu hao lực lượng địch. Trái lại Quang Trung Nguyễn Huệ thì luôn luôn sử dụng vận động chiến, tấn công địch trước trong tư thế mạnh với quân số, hỏa lực, mưu kế và phương tiện. **THỦY QUÂN VN DƯỚI THỜI TÂY SƠN : Từ năm 1627-1672, Trịnh Nguyễn đã đánh nhau bảy lần, trên chiến trường Nam và Bắc Bố Chánh (tỉnh Quảng Bình ngày nay), nhưng bất phân thắng bại. Trong lúc giao tranh, cả hai phía gần như chỉ sử dụng bộ chiến, dù cả hai đều có một đạo thủy quân rất quan trọng. Theo tài liệu của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, thì chúa Nguyễn ở Nam Hà có 200 chiến thuyền loại Galéré, còn họ Trịnh ở miền Bắc có tới 600 chiếc. Còn Quang Trung Nguyễn Huệ trái lại, đã đề cao vai trò thủy quân trên hết. Nhà vua đã cách mạng hoá hải quân bằng lối đóng thuyền cho phù hợp với bờ biển VN, trong đó đặt nặng việc trang bị vũ lực trên tàu thuyền. Theo sử liệu, thủy quân Tây Sơn có nhiều tàu vận tải cũng như tàu chiến, số lượng trên 1000 chiếc. Một du khách người Anh tên John Barraw, tới thăm Ðàng Trong vào thế kỷ XVIII, đã viết :’Người Việt ở đây có một nghề rất tự hào, đó là kỹ thuật đóng tàu đi biển ‘.Theo tác giả, thuyền của Người Việt rất đẹp, chiều dài từ 50-80 pieds (1 pied bằng 0,30m), được ghép bằng 5 tấm ván, ăn khít nhờ có mộng bên trong. Thuyền lại được chia thành nhiều khoang kín, nên rất khó chìm. Theo Jean Baptiste Chaogeau, một võ quan người Pháp từng theo giúp chúa Nguyễn Ánh, cho biết một thủy quân Tây Sơn gồm có nhiều hải đội, tổ chức khác nhau tùy theo trang bị. Do đó có thủy đội gồm 9 tàu, mỗi chiếc được trang bị tới 66 khẩu đại bác loại đường kính 24. Có thủy đội chỉ có 5 tàu, mỗi chiếc mang 50 khẩu đại bác cũng loại 24. Có thủy đội gồm tới 40 tàu, mỗi chiếc trang bị 16 khẩu đại bác cỡ 12 ly và một thủy đội đặc biệt gồm 93 tàu, mỗi chiếc chỉ có một khẩu đại bác lớn, nòng cỡ 36. Ngoài ra còn có 300 pháo hạm và 100 tàu buôn cỡ lớn. Tất cả tàu thuyền của Tây Sơn đều dùng cánh buồm hình chữ nhật. Về thủy quân trên tàu, thì mỗi thủy đội loại trang bị 66 khẩu đại bác, có quân số trên 700 người. Quân Tây Sơn được trang bị rất mạnh, vũ khí cá nhân gồm giáo mác, còn có súng điểm thương nhưng lợi hại nhất vẫn là loại súng phun lửa, gọi là ‘ Hoả Hổ’ khi hai bên cận chiến. Nhờ những ưu thế về trang bị cũng như kỹ thuật tác chiến, nên thủy quân Tây Sơn đã thắng quân Xiêm một cách dễ dàng. Mặc dù lúc đó hạm đội Xiêm La cũng rất tân tiến, vì được đóng theo kỹ thuật Tây Phương, mà người Việt gọi là Tháp thuyền. Ðây là loại ghe tam bản rất cao lớn, trên có pháo tháp trí súng đại bác. Các thủy thủ ngồi ngoảnh mặt về phía bánh lái mà chèo. **THỦY CHIẾN TẠI RẠCH GẦM-XOÀI MÚT : Các sử gia hiện nay, khi viết về chiến thắng của Vua Quang Trung tại Rạch Gầm-Xoài Mút, đều thắc mắc về việc hành quân của Tây Sơn. Ngay khi nghe hung tin, đại quân Xiêm La gồm thủy bộ hơn 50 vạn và 300 tháp thuyền, đã chiếm gần hết các trấn tại Nam phần. Hiện thủy quân Xiêm đã tới trấn Ðịnh Tường. Trong lúc đó Long Nhưỡng tướng quân là Nguyễn Huệ còn ở tận Qui Nhơn. Vậy ngài đã cho thủy quân từ biển vào cửa Tiểu để tới Mỹ Tho hay là vào cửa Cần Giờ, rồi men theo dòng Vàm Cỏ Tây để tới Rạch Gầm Xoài Mút, tạo yếu tố bất ngờ, đối với quân Xiêm ? Ðiều không thấy các nhà sử học xưa đề cập tới, kể cả các tài liệu của quốc sử quán triều Nguyễn. Nhưng về chiến tích của trận thủy chiến lịch sử, thì hiện nay vẫn còn đầy rẩy trên đất Ðịnh Tường cũng như trong kho tàng văn chương bình dân bản địa, qua các bài hát ru em, ca dao, tục ngữ.. ’ ’ ‘ Ầu ơ, Rạch Gầm-Xoài Mút tăm tăm xế xuống chút nữa, xuống vàm Mỹ Tho bần gie đóm đậu sáng ngời Rạch Gầm-Xoài Mút muôn đời oai linh Chẻ tre bện sáo cho dầy Ngăn ngang sông Mỹ có ngày gặp nhau Hay : ‘ gái Mỹ Tho mày tằm mắt phượng Giặc đến nhà, ch8ảng vụng hươi đao.. ’ ’ Ngày nay người dân sống ở rạch Bà Hào, kế rạch Gầm , vẫn thường hay kể những chuyện ma quỷ xuất hiện, vào những đêm mưa to gió lớn, mà họ quả quyết, đó là ma Xiêm, chưa được siêu thoát, dù cuộc chiến đã tàn hơn vài thế kỷ. Cũng ở vùng này, còn có một địa danh mang tên là ‘ Nghĩa địa Xiêm’ vì có nhiều thuyền tháp bị chìm, hiện vẫn còn trơ các hàng cột ở Ðìa Ðôi (Ấp Hội), đầu cồn Phú Túc (Bến Tre). Ngoài ra còn nhiều quân dụng của lính Xiêm bỏ lại trận địa, được tìm thấy như súng thần công, gươm giáo, ấm, chén, nồi đồng.. tại vàm Rạch Gầm. Mùa thu năm 1785, vin vào cớ giúp Nguyễn Ánh đang bị quân Tây Sơn truy sát. Vua Xiêm Rama 1, cử 50 ngàn quân thủy bộ, tấn công VN bằng hai cánh quân. Lộ quân bộ chiến gồm 3 vạn, từ Nam Vang vào Nam Phần. Cánh thứ hai gồm 20 ngàn thủy quân, với 300 tháp thuyền. Cánh quân thủy này do hai người cháu của vua tên Chiêu Sương và Chiêu Tăng thống lãnh, theo đường biển, vào cửa Rạch Giá ngày 25-7-1785. Hai đạo quân Xiêm thế mạnh như chẻ tre, lần hồi chiếm hết các dinh trấn tại Nam phần như Kiên Giang, Trấn Giang,Ba Thắt, Trà Ôn, Măng Thít.. và tới Ðịnh Tường. Bấy giờ đạo quân tinh nhuệ nhất của chúa Nguyễn Ánh ở Nam Phần đã bị tan vỡ vì chúa tướng là Châu Văn Tiếp tử thương, nên không còn ai có thể cản nổi quân Xiêm. Do đó, trên bộ cũng như dưới sông, quân Xiêm tới đâu, cũng cướp của giết người, hãm hiếp phụ nữ Việt, tiếng than oán vọng tận trời cao, thật là thảm tuyệt. Tin dữ tới Phú Xuân, nên Long Nhưỡng tướng quân được lệnh, tức tốc đem quân thủy bộ từ Qui Nhơn. Lúc đó trời đang cuối đông, chỉ còn vài ngày nửa là đón Tết Giáp Thìn 1785. Ðể có thể tiêu diệt quân Xiêm lúc đó đang trong thế mạnh và đông hơn quân ta, Ngày cho bày diệu kế, bằng lối mai phục rồi bất thần đánh úp tàu giặc đang neo đầy trên sông Mỹ Tho, giữa đọan Rạch Gầm-Xoài Mút. Ðồng thời dùng hỏa công trận, để thiêu rụi toàn bộ thủy quân Xiêm. Mở đầu cuộc tấn công, quân Tây Sơn dùng cùi, lá và dầu dừa trộn chung với dầu mù u để làm bè lửa. Lại bày nghi binh kế, bằng cách lấy vỏ dừa khô rồi vẽ mặt người, đoạn kết thành bè, thả trôi lềnh bềnh gần chỗ thuyền giặc đậu. Chính diệu kế này, khiên cho quân Xiêm hoảng hốt, cứ ngỡ là quân Tây Sơn lặn đục thuyền, nên các tàu liên tiếp nhả đạn cho tới hết. Ðể nắm vững tình hình trận chiến, Ngài cho dựng hai chòi chỉ huy ở hai đầu sông, một tại Chùi Mong (đầu rạch Xoài Mút), còn chòi kia ở vàm Rạch Gầm. Hai chòi chỉ huy có nhiệm vu ban lệnh tấn công, khi thấy thuyền quân Xiêm lọt hết vào trận địa. Ngoài ra không muốn để cho một thuyền giặc nào còn sống sót, Nguyễn Huệ cho chẻ tre bện thành sáo dầy có cột đá hòn, để ngăn dòng Tiền Giang, tại Ấp Tây, thuộc xã Kim Sơn, ngược vàm Rạch Gầm khoảng 1 cây số. Khi toàn bộ chiến thuyền của Quân Xiêm đã lọt vào khúc sông trận địa, do tín hiệu từ hai chòi chỉ huy cấp bào, lập tức ngài ban lệnh tấn công. Lúc đó giu84a sông thì lửa đốt, còn trên bờ dùng đại bác, tên và súng phóng lửa nhắm vào 300 tàu giặc mà bắn. Vì quá bất ngờ, nên hai đại tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương cũng 300 tháp thuyền với 20.000 quân, trở tay không kịp, lớp thì chết cháy, phần khác bị quân Tây Sơn giết. Chiêu Sương cùng Chiêu Tăng và vài ngàn tàn quân may mắn lội được vào bờ , cùng với quân bộ chiến, dùng đường bộ chạy về Nam Vang, rồi rut1 hết về Vọng Các, vì sợ quân Tây Sơn truy sát. Từ đó người Xiêm La bỏ mộng tranh bá đồ vương với Ðại Việt trên bán đảo Ðông Dương, đồng thời sợ người Việt hơn cọp. Ngày nay nhờ đọc lại những trang sử củ, ta mới thấy tiền nhân đã mở dựng và giữ nước thật là gian lao cực khổ, có thể nói là người Việt đã đem máu và nước mắt của mình, để tô bồi làm xanh thêm đất, khiên hoa cỏ mới nở rộ được khắp thôn làng, đê cho chúng ta thênh thang tọa hưởng. Bổng thấy thấm thía tận cùng về lời nói của vị thánh quân Lê Thánh Tôn cách ta hằng bao thế kỷ : ‘ phải giữ gìn cẩn thận, đừng để ai lấy mất một phần sông núi của tổ tiền để lại’. Xem như thế đủ chứng tỏ rằng tiền nhân từ thời xa xưa, đã thấy trước dã tâm xâm lăng đồng hoá nước Việt của giặc Tàu, nên lúc nào cũng đoàn kết để ngăn chống ngaọi xâm. Vậy mà ngày nay cọng sản VN lại liên tiếp, hết bán đất biên giới, hải đảo, tới sang nhượng biển vùng đánh cá ngàn đời của dân tộc trên biển đông, làm cho cơn hồng thủy sóng thần nỗi dậy, trước sự bất lực ù lỳ của một tập đoàn cầm quyền, đang làm nô lệ cho Trung Cộng. Ðúng như sử gia Hoàng Xuân Hãn đã viết :’ trong dòng lịch sử Việt, khi thế nước bị suy vi hèn yếu vì chia rẻ, thì giặc Tàu mới dám lấn đất dành biển ‘. Không biết ngày nào cả nước mới có dịp theo sau gót ai như ngày xưa dân Việt đã theo sau bóng voi của Quang Trung Ðại Ðế vào Rạch Gầm-Xoài Mút đốt tàu giặc Xiêm hay ra Bắc Hà đánh đuổi quân Mãn Thanh chạy về Tàu vào những ngày Tết Kỷ Dậu 1789. "Nhà tan sống cũng lạc loài thánh hiền sách nát đọc hoài hay sao ? biển Ðông sóng vổ aò aò ta nương cánh gió đi vào cõi xa ngày mai cũng có một ngày theo chân voi trận để vào Thăng Long.. " Xóm Cồn
HỒ ÐINH
Marie Curie là nữ khoa học vĩ đại nhất mọi thời Ba nhà nữ khoa học lớn nhất mọi thời đại: Marie Sklodovskaya - Curie, Rosalind Franklin, Hypatia xứ Aleksandria (từ trên xuống). Tạp chí Mỹ New Scientist vừa công bố kết quả trưng cầu ý kiến độc giả bình chọn nhà nữ khoa học lớn nhất mọi thời. Vị trí thứ nhất với ưu thế vượt trội đã được dành cho bà Marie Sklodovskaya - Curie (1867-1934). 25,1% số độc giả tham gia đã bỏ phiếu cho nhà nữ hoá học và vật lý vĩ đại này. Ở vị trí thứ hai là nhà sinh học Rosalind Franklin (14,2%). Tiếp theo là nhà nữ khoa học thời Hy Lạp cổ đại Hypatia xứ Aleksandria (9,4 %). Sinh trưởng ở Ba Lan, Marie Sklodovskaya - Curie đã hai lần được nhận giải Nobel: năm 1903 về vật lý và năm 1911 về hóa học. Bà đã cùng với chồng, nhà bác học người Pháp Pierre Curie thực hiện những thí nghiệm mở đường trong lĩnh vực phóng xạ, đã tìm ra những chất phóng xạ như radium và polonium... Khi nghiên cứu các chất phóng xạ, Marie Sklodovskaya - Curie đã không áp dụng bất cứ một biện pháp phòng ngừa nào và vì thế, bà đã bị nhiễm xạ và mất vì bệnh máu trắng ở tuổi 67. Bà Rosalind Franklin (1920-1958) đã nghiên cứu về ADN. Chính nhờ những bức ảnh X-quang của bà mà về sau hai nhà khoa học James Watson và Francis Crick mới tìm ra cấu trúc của phân tử này. Khi phát minh đó được nhận giải Nobel, bà Franklin đã không còn trên cõi đời nữa, cũng như Marie Sklodovskaya - Curie, bà chết vì bệnh ung thư. Hypatia xứ Aleksandria sống ở thế kỷ IV trước CN (bà sinh năm 370 trước CN). Bà nghiên cứu về triết học, toán học, thiên văn học và đã giảng bài về các môn khoa học này. Là người đã thần giáo, Hypatia bị những tín đồ Thiên chúa giáo ủng hộ cha đạo Kirill sát hại vào năm 415 trước CN
Nhóm người châu Âu đầu tiên ăn thịt ngườiMột nhà khảo cổ người Tây Ban Nha đã khẳng định, những di tích hóa thạch vừa được tìm thấy trong hang đá vôi Atapuerca, Tây Ban Nha cho thấy những người châu Âu đầu tiên ăn thịt người.
 José Maria Bermudez de Castro (trái) và Euđal Carbonell, hai giám đốc của nhóm nghiên cứu Atapuerca. Ảnh: AFP.Dấu tích không thể phủ nhận Những dấu vết hóa thạch của người châu Âu đầu tiên được tìm thấy tại hệ thống hang đá vôi Atapuerca, Tây Ban Nha đã dấy lên giả thiết người châu Âu tiền sử có khả năng thuộc chủng ăn thịt người. Không những thế, họ thích thịt trẻ em và thiếu niên. "Chúng tôi biết rằng học có đặc tính ăn thịt người", khẳng định với hãng thông tấn AFP, José Maria Bermudez de Castro, Bảo tàng quốc gia về tự nhiên tại Mandrid và đồng giám đốc của nhóm nghiên cứu Atapuerca cho biết. Atapuerca là một trong những hang đá vôi nổi tiếng nhất châu Âu, được UNESCO công nhận di sản văn hóa nhân loại năm 2000. Việc nghiên cứu những dấu tích được tìm thấy này cũng cho thấy, việc ăn thịt người này nhằm sinh tồn chứ không phải là hình thức nghi lễ. Những người châu Âu đầu tiên ăn thịt người sau khi đã giết họ, nạn nhân chủ yếu là trẻ con và thiếu niên. "Đây là trường hợp ăn thịt người đầu tiên được ghi nhận trong lịch sử loài người, tuy nhiên, điều này cũng chưa khẳng định đó là trường hợp cổ xưa nhất". Giáo sư M. Bermudez de Castro cho biết thêm.  | Một trong những hóa thạch được tìm thấy ở Atapuerca. Ảnh AFP. |
Những dấu tích nói trên tìm thấy ở hang đá vôi Gran Dolina. Chúng nằm rải rác, gãy vụn và lẫn lộn với những mẩu xương động vật khác như ngựa, hươu, tê giác, đối tượng săn bắt ăn thịt của con người. Theo ông M. Bermudez de Castro, "Việc những chiếc xương người và động vật nằm lẫn lộn ở đây đều có dấu vết của dao và sự xẻ thịt cho thấy những yếu tố của việc tích tụ xương sau khi đã bị ăn thịt. Điều này cho chúng ta liên tưởng việc ăn thịt người là nhu cầu sinh tồn, chứ không phải là nghi thức. Bởi người tiền sử chưa thể có khả năng tín ngưỡng như con người hiện nay". Di trú của người tiền sử Những di tích hóa thạch được tìm thấy từ năm 1994 ở Gran Dolina cho thấy đó là những người châu Âu đầu tiên với tên gọi Homo antecessor. Những người Homo antecessor, ra đời sớm hơn người Néandertal và Homo sapiens, đã cư trú tại châu Âu cách đây khoảng 800.000 năm trong những hang đá ở Atapuerca sau một sự di cư dài từ châu Phi qua Cận Đông, tới phía Bắc nước Ý, và sau đó là nước Pháp. Dãy đá vôi Atapuerca rộng 13km2 này nằm trong một vùng tách biệt ở phía bắc bán đảo Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Đây là nơi giao nhau giữa 2 dòng sông, khí hậu ôn hòa, sinh thái đa dạng, với nguồn nước và thức ăn phong phú, có thể săn bắn lợn lòi, ngựa, hươu. "Họ giết đối thủ và ăn thịt", giáo sư M.Bermudez giải thích sau khi phân tích những di tích hóa thạch của 11 nạn nhân. "Chúng tôi cũng khám phá ra những dấu vết chứng tỏ, việc ăn thịt người này không chỉ xảy ra trong một giai đoạn mà còn tiếp diễn theo thời gian. Một khám phá khác mà chúng tôi chưa giải thích được rõ lắm, là phần lớn trong số 11 nạn nhân này đều là trẻ em hoặc thiếu niên. Cũng có thể có 2 người trưởng thành, trong đó có 1 phụ nữ". Vùng Atapuerca cho phép người Homo antecessor phát triển một kiểu gen riêng biệt, với những nét đặc trưng vừa cổ vừa hiện đại. Ngoài săn bắn, họ còn hái lượm, chế tạo công cụ. Quang cảnh ở đây đặc trưng với rừng sồi, dẻ, bách xù, nhiều đồng cỏ, và là nơi sinh sống của cáo, gấu, linh miêu, báo, linh cẩu Phát hiện mới về tuyết rơi trên sao HỏaMột nhóm nhà khoa học Canada vừa tuyên bố tuyết rơi vào mỗi sáng sớm trên sao Hỏa xuất phát từ những dải mây mỏng và nhẹ cũng giống như những đám mây ti trên Trái đất (các vệt trắng trên bầu trời có chứa tinh thể nước đá).
 Dấu vết của các dòng sông trên bề mặt sao Hỏa. (Ảnh: xaluan.com)Trên cơ sở tập hợp những dữ liệu do tàu thăm dò sao Hỏa "Phoenix" của Cơ quan hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) gửi về, Giáo sư Jim Whiteway, thuộc trường Đại học York ở Toronto, cùng nhóm nghiên cứu, cho biết lần đầu tiên họ đã phát hiện rất nhiều đám mây trắng và các hạt tinh thể trên Hành tinh Đỏ, thậm chí còn nhiều hơn những dự đoán trước đây của các nhà khoa học.
Ban ngày, không có các đám mây trên khí quyển sao Hỏa. Tuy nhiên, từ nửa đêm, các đám mây được phát hiện gần sát bề mặt sao Hỏa, hình thành các tinh thể nước và bắt đầu rơi xuống bề mặt Hành tinh Đỏ.
Giáo sư Whiteway nhấn mạnh các đám mây băng trên sao Hỏa cũng giống như các đám mây rất mỏng được nhìn thấy ở Bắc Cực vào mùa Đông, "chúng giống như những đám bụi kim cương, khi ngước nhìn lên trời, bạn sẽ thấy những hạt nước long lanh trong suốt rơi xuống, toả sáng dưới ánh Trăng".
Tàu thăm dò sao Hỏa "Phoenix" đã trải qua 5 tháng ở vùng đồng bằng phía Bắc sao Hỏa vào mùa Hè năm ngoái và đã hoàn thành sự mệnh vào tháng 11/2008.
Phoenix đã phát hiện ra dấu vết của nước vào ngày 29/9/2008, sau đó các nhà khoa học tham gia chương trình thám hiểm Hành tinh Đỏ khẳng định có tuyết rơi trên sao Hỏa./. |
|