Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Hai 2026
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 6
 Lượt truy cập: 28524037

 
Bản sắc Việt 01.02.2026 16:10
Di tích Hoàng Sa và tang chứng bán nước của CSVN
04.04.2009 15:49

Hải đội Hoàng Sa: Đội hùng binh của biển

Từ nhiều thế kỷ trước, VN đã có các hải đội Hoàng Sa làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và khai thác quần đảo này. Lớp lớp chiến binh vượt sóng gió biển Đông ghi dấu ấn VN ở đó, và lịch sử đã khắc ghi lòng ái quốc của họ.

Kỳ 1: Đội hùng binh của biển

Người đàn ông xóm chài dẫn tôi men theo con đường lởm chởm sỏi đá quanh năm rì rào sóng vỗ. Ngay tại cửa biển Sa Kỳ, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi này, hiện vẫn còn nhiều người già đang giữ trong ký ức những câu chuyện lưu truyền về hải đội Hoàng Sa.

Vì nước vong thân

Từ đình làng An Vĩnh (đảo Lý Sơn), những người con của Tổ quốc đã đi khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa - Ảnh: Quốc Việt/Tuổi trẻ.

Dõi mắt nhìn ra đại dương xa xăm, ông Nguyễn Văn Tiếu (ngư dân 75 tuổi ở xã Tịnh Kỳ, huyện Sơn Tịnh) kể rằng ngày xưa ở vùng biển này có một lăng Hoàng Sa rất trang nghiêm thờ tự những người lính Hoàng Sa ra đi không có ngày về. Đó cũng là nơi mà một phần hải đội Hoàng Sa là trai tráng ở hai làng An Vĩnh, An Hải bên cửa Sa Kỳ thường làm lễ tế trước khi giong buồm xuất quân.

Hàng trăm năm qua, chiến tranh loạn lạc với bao đổi thay thế cuộc đã làm lăng Hoàng Sa ở đây trở thành phế tích. Cổng làng xưa nơi từng tiễn đưa bao đội hùng binh ra biển cũng chỉ còn chút đá vỡ với rêu phong, nhưng con cháu đời sau vẫn không quên công đức tổ tiên mở mang, bảo vệ Tổ quốc. Tiết xuân hằng năm, họ vẫn làm lễ cúng tế ở nơi này để tưởng nhớ linh hồn những hùng binh đã vì nước vong thân.

Tôi lên thuyền ra đảo Lý Sơn. Cùng với vùng cửa biển Sa Kỳ, Lý Sơn chính là rẻo đất giữa đại dương đã từng dâng hiến biết bao trai tráng cho hải đội Hoàng Sa thuở nào. Sử xưa và những gia phả cổ của các tộc họ ở Lý Sơn kể rằng vào khoảng đầu những năm 1600, 15 vị tiền hiền ở vùng cửa biển Sa Kỳ, phủ Bình Sơn cũ đã giong thuyền ra cù lao Ré, tức Lý Sơn ngày nay, để khai khẩn, lập làng.

Bảy vị tiền hiền của các dòng họ Phạm Văn, Phạm Quang, Võ Văn, Lê, Nguyễn, Võ Xuân, Đặng đã lập làng An Vĩnh. Ở phía đông của đảo, tám dòng họ Nguyễn, Dương, Trương, Trần, Võ, Lê, Nguyễn Đình, Nguyễn Văn mở làng An Hải. Theo thời gian, các tộc họ này dần sinh sôi đông đúc trên đảo. Rất nhiều trận, họ đã hợp sức chiến đấu anh dũng chống lại nạn cướp bóc của kẻ thù. Rồi khi Tổ quốc cần, họ đã cống hiến những người con ra đi bảo vệ, khai thác biên cương xa xôi trên hải đảo Hoàng Sa.

Ở Lý Sơn, Âm Linh tự thờ tự vong hồn đội hùng binh vẫn còn vững chãi giữa phong ba biển cả. Đình làng Lý Vĩnh, nơi bao lần tế sống tiễn đưa người lính Hoàng Sa ra đi không trở về, đã trở thành phế tích trong chiến tranh đang được phục dựng... Dưới tán bàng đại thụ, cổng làng hướng thẳng ra biển Đông như sẵn sàng đối mặt với quân thù. Hàng cây phong ba làm thành bức tường rào như ý chí kiên cường của đội hùng binh năm xưa.

Ông Lê Hai, 77 tuổi, người chăm sóc hàng cây phong ba và trưởng ban khánh tiết đình làng An Vĩnh, tâm sự rằng từ khi còn nhỏ ông đã nghe ông cố, ông nội nhắn nhủ tâm huyết của tổ tiên bao đời trước: "Con cháu đời sau phải gìn giữ bằng được đình làng cổ này. Bởi đó chính là một trong những nơi từng in dấu chân của các anh hùng trước khi ra biển, hi sinh vì Tổ quốc".

"Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa"

Các cụ già là hậu duệ của những người lính Hoàng Sa rưng rưng đọc lại câu đối ghi nhớ công đức tiền nhân: "Ân đức dựng xây miền đảo Lý. Nghĩa tình bồi đắp dải Hoàng Sa". Những mái tóc đã bạc trắng, những đôi mắt đã mờ nhòa theo thời gian, nhưng không ai kiềm được nỗi xúc động khi nhắc lại chuyện xưa!

Sử liệu cũ trong Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn kể rằng: "Nhà Nguyễn thiết lập đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người ở An Vĩnh bổ sung. Mỗi năm họ luân phiên nhau đi biển, lấy tháng giêng ra đi nhận lãnh chỉ thị làm sai dịch. Đội Hoàng Sa này được cấp mỗi người sáu tháng lương thực. Họ chèo năm chiếc thuyền câu nhỏ ra ngoài biển cả ba ngày ba đêm mới đến đảo Hoàng Sa. Họ tha hồ lượm nhặt, tự ý bắt chim, bắt cá làm đồ ăn. Họ nhặt được những đồ như gươm và ngựa bằng đồng, hoa bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, ngà voi...

Họ còn lượm những vỏ đồi mồi, những con hải sâm, những con ốc hoa thật nhiều. Đến kỳ tháng tám thì đội Hoàng Sa ấy mới trở về cửa Eo (cửa Thuận An), rồi họ tới thành Phú Xuân trình nạp các vật hạng đã lượm nhặt được. Người ta cân, khám nghiệm và định xong đẳng hạng các sản vật, rồi mới cho đội này bán riêng những con ốc hoa, mai hải ba, hải sâm. Bấy giờ, đội ấy được nhận lãnh bằng cấp về nhà...".

Lần giở lại các sử liệu cũ như Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Đại Nam thực lục do các sử thần trong quốc sử quán biên soạn, Việt sử cương giám khảo lược của Nguyễn Thông, Đại Nam nhất thống chí... đều có những trang ghi chép cụ thể về đội Hoàng Sa. Công việc của họ được ghi lại không chỉ là lượm nhặt hải vật, đồ đạc tàu thuyền bị đắm, mà kiêm quản cả đội Bắc Hải cùng làm nhiệm vụ ở Trường Sa và các đảo phía trong Nam. Đặc biệt, đội Hoàng Sa còn làm nhiệm vụ đo đạc thủy trình, canh chừng giặc biển, dựng bia chủ quyền và giữ gìn các hải đảo Hoàng Sa.

Suốt cả buổi tối ngồi đợi trăng lên trên biển Lý Sơn, ông Nguyễn Thanh Tùng, hậu duệ của cai đội Hoàng Sa Nguyễn Tám, cứ miên man tâm sự không dứt với tôi về tiền nhân của mình. Từng là hiệu trưởng trường cấp III trên đảo, rồi làm phó chủ tịch phụ trách văn hóa huyện Lý Sơn, ông đã bỏ rất nhiều công sức sưu tầm, biên soạn tư liệu về những hùng binh trên biển năm xưa.

Theo ông, sở dĩ trai tráng vùng cửa biển Sa Kỳ, mà nhiều nhất là đảo Lý Sơn, được chọn vào hải đội Hoàng Sa vì họ có truyền thống đi biển rất thạo. Ngoài ra, từ đây cũng là nơi có hải trình ngắn nhất để ra quần đảo Hoàng Sa.


 

Trong làn khói hương phảng phất, nấm mộ chiêu hồn của người anh hùng Phạm Hữu Nhật nằm lặng lẽ trên triền đồi Lý Sơn. Cách nay 172 năm, từ chính hòn đảo này, Phạm Hữu Nhật đã giong thuyền ra biển Đông để khẳng định chủ quyền Tổ quốc.

  • Cuộc ra đi hùng tráng

Bia chủ quyền VN ở Hoàng Sa được dựng vào những năm 1930 (ảnh chụp tại phòng lữu trữ tư liệu Hoàng Sa, Đà Nẵng) - Ảnh: V.Hùng chụp lại. Nguồn: TTO

Lần nào ra đảo Lý Sơn, tôi cũng viếng khu mộ gió không hài cốt của những người lính Hoàng Sa thuở nào. Lần này, mộ chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhật đã được dời về nằm kế bên khu lăng mộ thủy tổ họ Phạm trông ra biển Đông. Đôi câu đối khắc ghi trên cột đá tưởng nhớ bậc tiền hiền vẫn còn đậm nét: "Tổ tiên khai sáng xây cơ nghiệp. Con cháu đời đời nguyện phát huy". Ngày ngày, người dân Lý Sơn vẫn lên đồi tưới tắm và chăm sóc nơi yên nghỉ của các bậc tiền nhân.

Tôi ngồi lặng nghe các hậu duệ của tộc họ Phạm kể lại chuyện xưa. Trong ký ức truyền lưu từ cha ông họ, Phạm Hữu Nhật vẫn mãi mãi là một anh hùng, dù bây giờ chứng tích hiện vật về ông không còn nhiều nữa. Sử liệu cũ cũng kể rằng năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua chỉ thị cho Bộ Công chuẩn bị việc phái người ra dựng bia chủ quyền ở Hoàng Sa. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 165, đã chép rằng từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tấu vua hằng năm cho cử người ra Hoàng Sa cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền và đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ. Vua Minh Mạng phê trong bản tấu của Bộ Công ngày 12-2-1836 rằng: mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ dài 4,5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc làm cột mốc...

Phạm Hữu Nhật đã vinh dự được chọn phụng mệnh vua đi khẳng định chủ quyền biển đảo Hoàng Sa. Quyển 6, Đại Nam thực lục chính biên chép: Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo mười bài gỗ làm dấu mốc. Mặt bài khắc chữ: Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật vâng mệnh ra Hoàng Sa, xem xét, đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ...

Ngày nay, trong nhiều sử liệu cũ và ký ức của các cụ già ở Lý Sơn vẫn khắc ghi câu chuyện được lưu truyền từ tổ tiên rằng đó là cuộc ra đi hùng tráng. Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật đã dẫn đầu 5-6 chiếc thuyền ra biển Đông. Mỗi thuyền chở khoảng mười người với mười tấm bài gỗ và mang theo lương thực đủ ăn sáu tháng, đi suốt ba ngày ba đêm thì tới bãi Cát Vàng, tức quần đảo Hoàng Sa bây giờ. Cập vào đảo nào, họ cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền ở đảo đó và đo đạc thủy trình, trồng thêm cây cối, thu lượm hải vật, rồi mới về tấu trình hoàn thành nhiệm vụ.

Không ai rõ Phạm Hữu Nhật đã đi bao nhiêu chuyến. Nhưng có một điều chắc chắn rằng lần cuối cùng ông đi mãi không về, nên người xưa ở Lý Sơn đã phải ngậm ngùi an táng ông bằng nấm mộ chiêu hồn không có hài cốt. Tổ quốc cũng khắc ghi công ơn của ông bằng việc đặt tên Hữu Nhật cho một hòn đảo lớn nằm ở phía nam quần đảo Hoàng Sa. Diện tích của đảo rộng khoảng 0,32km2, có nhiều san hô, cây lùm và cỏ tranh. Mỗi năm vào mùa xuân, hạ, con vích biển thường lên đây đẻ trứng, đem lại dấu hiệu sinh tồn cho đảo.

Phạm Hữu Nhật là ai?

Hậu duệ Phạm Thoại Tuyền thắp hương trên mộ anh hùng Phạm Hữu Nhật - Ảnh: Quốc Việt. Nguồn: TTO

Suốt cả buổi chiều, ông Phạm Thoại Tuyền, một trong những hậu duệ đời nay của người anh hùng Phạm Hữu Nhật, dẫn tôi lang thang khắp đảo Lý Sơn để tìm lại dấu tích người xưa.

Thắp nén nhang trên nấm mộ tiền nhân, ông Tuyền xúc động kể rằng ba năm trước đã tình cờ phát hiện tông tích Phạm Hữu Nhật trong chuyến sưu tầm tài liệu để viết hồ sơ di tích đình Bà Roi (Nguyễn Tiên Điều), người được xem như phúc thần của cù lao Ré. Các tài liệu phổ hệ, sắc phong, linh vị... viết bằng chữ Hán Nôm trong nhà thờ của hậu duệ Phạm Văn Đoàn đã nói đến một số người trong tộc họ đi lính Hoàng Sa không về như Phạm Văn Sanh, Phạm Văn Nhiên, Phạm Văn Triều...

Theo ông Tuyền, từ đầu, phổ hệ ghi rõ: Thủy tổ tộc họ Phạm (Văn) tại xã An Vĩnh tên Phạm Văn Tuệ là thế hệ thứ 4 của ông Phạm Văn Nghiêm ở xã Tịnh Kỳ, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi có gốc ở Cao Bằng, Bắc bộ. Trong đó, ông Phạm Văn Triều, con của ông Phạm Văn Nhiên và bà Dương Thị Lãng, là thế hệ thứ tư của thủy tổ họ Phạm (Văn) ở cù lao Ré. Và tên Phạm Văn Triều chính là tên húy của Phạm Hữu Nhật. Điều này đã được minh chứng qua linh vị và trên bia mộ cổ có ghi: "Phục vì vong Cao Bình Quận Phạm Hữu Nhật thần hồn chi linh vị sanh Giáp Tý niên 1804, Giáp Dần 1854 tôn điệt phụng tự".

Ngôi nhà xưa nằm khuất trong vườn kiểng của mẹ ông Tuyền là bà Phẩm, một hậu duệ mấy đời của Phạm Hữu Nhật. Năm nay đã 85 tuổi, dòng thời gian làm nhạt nhòa nhiều ký ức, nhưng bà vẫn hào hứng ôn lại công đức tiền nhân. Bà kể khi phát hiện chính xác Phạm Hữu Nhật tức là Phạm Văn Triều, người đã được tộc họ thờ tự lâu nay, bà và các con cháu đã không thể ngủ được vì xúc động. Từ chân núi Hòn Vung, mộ của Phạm Hữu Nhật được di dời về bên lăng mộ thủy tổ họ Phạm (Văn) của mình và cũng gần bên bia tưởng niệm các liệt sĩ Hoàng Sa. Người anh hùng vì quốc vong thân, thi thể trao cho biển cả, nấm mộ chiêu hồn xưa chỉ có đất cát thay người. Buổi lễ đưa vị tiền nhân về nơi an nghỉ, mọi người rưng rưng bốc nắm cát dưới huyệt mộ thay cho hài cốt. Một con thuyền bằng giấy được thả xuống biển ngay trước nấm mộ ông để nhắc mọi người ghi nhớ cuộc ra đi khẳng định chủ quyền Tổ quốc thuở nào.

Không chỉ có tộc họ và chính quyền, người dân trên đảo Lý Sơn, mà nhiều người từ tận những nơi xa xôi trong đất liền cũng lặn lội ra đảo, thắp nén nhang tiễn đưa người anh hùng về nơi yên nghỉ mới. Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã đã cảm khái đề bia trước mộ: "Phạm Hữu Nhật đã đưa binh thuyền đi xem xét, đo đạc, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa. Cũng từ đây trở thành lệ hằng năm.

Sự kiện này là một trong những bằng chứng không thể chối cãi về sự chiếm hữu thật sự của Nhà nước VN tại quần đảo Hoàng Sa! Hoàng Sa đi dễ khó về! Các miếu thờ lính Hoàng Sa cũng như lễ khao lề lính Hoàng Sa hằng năm vào ngày 20-2 âm lịch luôn có linh vị: Phục vì vong Cao Bình Quận Phạm Hữu Nhật thần hồn chi linh vị, là bằng chứng hùng hồn hậu thế khắc ghi công đức Phạm Hữu Nhật cùng các vị vị quốc vong thân để xác lập và thực thi chủ quyền ở Hoàng Sa!".

Trước khi giong thuyền vượt biển Đông, nhiều người lính Hoàng Sa đã quấn vành tang trắng vì biết rằng khó có ngày về. Những người ở nhà cũng làm một lễ tế họ cho trời biển. Họ ngẩng cao đầu ra đi để khẳng định và bảo vệ chủ quyền tổ quốc. 

  • Lớp lớp người đi không về

Mỗi năm ở Lý Sơn đến ngày kỷ niệm hải đội Hoàng Sa ra đi, những chiếc thuyền giấy được thả xuống biển để tưởng nhớ họ - Ảnh: Quốc Việt. Nguồn: TTO
Buổi chiều, ông già ngồi lặng lẽ tưởng nhớ người xưa. Trước mặt ông, nấm mộ gió dài hơn 10m là nơi yên nghỉ của 10 vong hồn người lính Hoàng Sa đã gửi xác thân cho biển cả.

Thắp nén nhang cắm lên đầu mộ, ông tâm sự mình là Phạm Quang Tĩnh, hậu duệ đời thứ sáu của Phạm Quang Ảnh đang yên nghỉ dưới nấm đất nhô cao ở đầu ngôi mộ gió tập thể. Ông là con cháu của Phạm Quang, người đã có công khai lập tộc họ này trên đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).

Khi mệnh nước cần người hùng dám xông pha đại dương ra quần đảo Hoàng Sa xác lập chủ quyền, Phạm Quang Ảnh được chọn phong làm cai đội lãnh quân ra đi. Rồi đến khi ra khơi, ông cùng hải đội đã đi mãi không về. Con cháu làm nấm mộ chiêu hồn tập thể cho ông cùng 10 người lính của mình.

Đến nay, nấm mộ gió đó vẫn còn được thờ tự nguyên vẹn ở thôn Đông, xã Lý Vĩnh. Tương truyền ông được phong làm thượng đẳng thần để hộ vệ và ban phúc cho những người vượt sóng gió biển Đông. Một hòn đảo lớn trong nhóm đảo Lưỡi Liềm ở Hoàng Sa cũng được đặt tên Quang Ảnh của ông để ghi nhớ người xưa đã từng đặt chân lên đây khẳng định chủ quyền.

Ông Tĩnh lần giở cho tôi xem các kỷ vật và tài liệu cổ nói về công đức tiền nhân. Trong đó có cả các gia phả, linh vị xưa vẫn còn rõ nét với thời gian. Sử liệu cũ trong Đại Nam thực lục chính biên, đời vua Gia Long, cũng ghi chép rằng: "Tháng giêng năm Ất Hợi (1815), vua Gia Long sai  Phạm Quang Ảnh thuộc đội Hoàng Sa ra Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình…".

Ngoài cai đội Phạm Quang Ảnh, các tộc họ Phạm ở Lý Sơn còn có nhiều người lần lượt tham gia các hải đội này. Và đa số họ ra đi không về.

Cuối thôn Tây, xã Lý Vĩnh, nấm mộ gió của cai đội Hoàng Sa Võ Văn Khiết cũng còn nguyên vẹn. Hậu duệ họ Võ dựng cả một nhà thờ người anh hùng xưa. Trong ký ức lưu truyền của các cụ già ở đảo, Võ Văn Khiết được người dân sánh ngang với Phạm Quang Ảnh.

Ông phụng mệnh vua lãnh binh tiến ra Hoàng Sa, không có ngày về. Người đời sau đã thờ cúng ông như một vị thành hoàng đem lại phúc lành cho hòn đảo Lý Sơn. Những dịp ra đảo, ngoài những vị cai đội Hoàng Sa còn lưu đậm chứng tích, tôi được nghe người dân kể nhiều về các bậc anh hùng khác như Võ Văn Hùng, Phạm Văn Sanh, Phạm Văn Nhiên, Phạm Văn Nguyên...

Trong đó, Phạm Văn Nguyên theo lệnh vua Minh Mạng, vào năm thứ 16 (1835) chở vật liệu ra xây dựng một ngôi miếu chủ quyền trên đảo Hoàng Sa. Quanh miếu, họ còn gieo hạt cây mang theo từ đất liền để đem lại sinh khí cho đảo và dấu hiệu cho tàu thuyền bị nạn biết chỗ vào tránh...

Luật vua ban con trai trưởng được ở nhà thờ tự cha mẹ, các con trai thứ chưa có gia đình đều có thể vào hải đội, việc đó cứ kéo dài nhiều đời vua. Và tộc họ nào ở Lý Sơn cũng nhiều lần quấn vành tang trắng, hiến dâng con cái của mình cho quần đảo ngoài biển xa. Có người cùng chung một hải đội. Có người tiến ra Hoàng Sa trước, người vượt biển Đông sau. Nhưng hầu hết đều giống nhau vì tổ quốc ra đi không về!

Trên đảo Lý Sơn bây giờ, một số trong họ vẫn còn mộ chiêu hồn, linh vị rõ ràng để hậu thế thờ tự, nhưng nhiều người đã phai nhòa dấu vết theo thời cuộc đổi thay. Cả một nghĩa trang mộ gió cũ của những người lính Hoàng Sa nay cũng không còn lại được bao nhiêu dấu vết.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, phó chủ tịch UBND huyện Lý Sơn, kể ngày xưa người Pháp đặt chân lên đây đã ra tay tàn phá rất nhiều, đặc biệt là chứng tích của những anh hùng vị quốc vong thân.

Lưu dấu anh hùng

"Hoàng Sa trời bể mênh mông. Người đi thì có mà không thấy về". Câu thơ tưởng nhớ người xưa vẫn còn truyền miệng ở Lý Sơn đã phần nào nói lên được cảnh tiễn biệt xúc động của những người lính Hoàng Sa thuở nào cũng như hiểm nguy mà họ phải đối mặt.

Phụ nữ VN ở Hoàng Sa. Ảnh chụp trước năm 1940 (ảnh trong album của Pierre Bodin, tuần báo Le Point (Pháp) ngày 4-3-1974).

Sử cũ chép rằng hầu hết hải đội Hoàng Sa đều vượt biển trên những chiếc thuyền câu nhỏ, để tiện luồn lách trong quần đảo có nhiều rạn san hô và bãi đá ngầm hiểm trở.

Đến bây giờ, ngư dân già Võ Hiến Đạt đã gần bước sang tuổi 80 vẫn nhớ mãi lời tổ tiên kể đó là những chiếc ghe bầu được đóng bằng gỗ chò vùng cửa biển Sa Kỳ và ngay trên đảo Lý Sơn mà người xưa hay gọi là tiểu điếu thuyền.

Ghe chỉ rộng khoảng 3m, dài hơn 10m, chở được 10 người. Nương theo chiều gió, ghe căng ba cánh buồm cùng với sức chèo đi khoảng ba ngày ba đêm thì thấy quần đảo Hoàng Sa. Ngoài lương thực, nước uống được mang theo tạm đủ dùng trong sáu tháng, những người lính này còn bắt cá, chim để ăn thêm.

Đặc biệt, từng người lính còn mang theo mình một thẻ bài ghi rõ danh tính, phiên hiệu hải đội, bản quán. Nhưng xúc động nhất là họ chuẩn bị cả chuyện hậu sự cho mình trong chuyến hải trình dài hiểm nguy. Mỗi người một chiếc chiếu, bảy nẹp tre và dây mây để khi chết sẽ bó xác mình, thả xuống biển, mong có ngày trôi dạt về đất quê hương hoặc ghe thuyền nào đó vớt được cũng biết quê quán để chở về.

Buổi chiều dưới bóng Âm Linh tự, nơi đang thờ tự vong hồn những người lính Hoàng Sa xưa, các cụ già trên đảo Lý Sơn đã rưng rưng đọc một đoạn văn tế những người anh hùng vì quốc vong thân: "...Ngoảnh sang đông, ngóng về tây... Tiếng sóng bể Đông trập trùng cuồn cuộn, tưởng niệm dấu thần phương nao mờ mịt. Hồn thiêng xa vời vợi mong được ngày trở về...".

Để yên lòng những hùng binh ra đi khó có ngày về và cho con cháu đời sau không quên công đức tiền nhân, các tộc họ ở Lý Sơn vẫn làm lễ tang, đắp mộ tươm tất cho những người lính gửi xác thân cho biển cả. Dưới nấm mồ, một hình nhân bằng đất sét được chôn thay thi hài người lính. Tấm bia đá cũng được khắc ghi tên tuổi để lưu dấu anh hùng với non sông.

Thời gian đã trôi qua lâu với bao thế cuộc đổi thay, các hải đội Hoàng Sa cũng không còn nữa. Nhưng mỗi năm cứ đến ngày 20-2 âm lịch, người dân ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) vẫn thành kính làm lễ cúng tế để con cháu đời sau mãi mãi không quên những vị hùng binh vị quốc vong thân.

  • Hiến tế anh linh

Âm Linh tự thờ vong hồn những liệt sĩ Hoàng Sa trầm mặc trong buổi hoàng hôn lộng gió. Tôi theo các cụ già thắp lên bàn thờ nén hương tưởng nhớ người xưa. Hàng trăm năm trước, tại chính ngôi cổ tự này đã từng diễn ra bao buổi lễ tế sống những người lính Hoàng Sa trước khi tiễn họ ra biển. Buổi lễ bi hùng dành cho những người sắp hi sinh vì Tổ quốc đó giờ vẫn đang được tiếp nối.Và hậu duệ đời sau vẫn gìn giữ trang nghiêm những kỷ vật, nghi thức thờ tự người xưa.

Âm Linh tự - nơi thờ vong hồn liệt sĩ Hoàng Sa - Ảnh:Quốc Việt - Tuổi Trẻ
Theo lời kể của tiền nhân còn lưu truyền trong ký ức các cụ già ở đảo Lý Sơn, Âm Linh tự được xây dựng vào thế kỷ 17 tại thôn Tây, xã Lý Vĩnh. Ngôi cổ tự được thiết kế theo hình chữ "công" với nguyên bản lợp bằng ngói âm dương, sau tấm bình phong ngay trước sân vẫn còn tháp thờ khắc bốn chữ "Chiến sĩ trận vong" để tưởng nhớ những người lính đã hi sinh vì Hoàng Sa. Về sau, nơi này còn được phối thờ thêm tiền hiền lục tộc Võ Văn, Võ Xuân, Phạm Văn, Phạm Quang, Lê, Nguyễn đã có công khai phá, gầy dựng tộc họ tại đảo và vong hồn những ngư dân bỏ mình trên biển sau này.

Mỗi năm đến ngày lễ họ ở Âm Linh tự, các lớp hậu duệ ở Lý Sơn vẫn ngâm nga lại những dòng thơ bi hùng truyền miệng về họ:

Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn
Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây...
Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng hai khao lề thế lính Hoàng Sa...

Các cụ già ở Lý Sơn cho biết đó là buổi lễ lớn trang nghiêm và được đông người tham dự nhất ở đây, vì hầu như tộc họ nào trên đảo cũng có nhiều tiền nhân hi sinh vì Hoàng Sa. Thuở xưa, khi cha ông còn giong thuyền đi khẳng định chủ quyền Tổ quốc, buổi lễ này được gọi là khao lề thế lính Hoàng Sa để tế sống họ cho trời biển. Ngày nay, nghi thức lễ vẫn được kính cẩn thực hiện như xưa, nhưng nó đã chuyển sang ý nghĩa tưởng nhớ công đức tiền nhân.

Bắt đầu từ ngày 17-2 âm lịch, nhưng lễ chính diễn ra vào cuối đêm 19 và kéo dài suốt ngày 20-2 âm lịch. Mỗi linh vị cao khoảng 20cm, rộng 7cm ghi tên tuổi những người lính trong tộc họ đã hi sinh. Khi kết lễ, tất cả linh vị này đều được đốt hết và thả tro tàn xuống biển như người lính năm xưa đã bỏ xác thân giữa đại dương.

Trung Quốc đã xâm chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa từ lúc nào?

Năm 1956, lợi dụng tình hình Pháp rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc cho quân đội ra chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa, Đài Loan cho quân đội ra chiếm đảo Ba Bình trên quần đảo Trường Sa.

Tháng 1-1974, lợi dụng tình hình Mỹ phải rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc dùng một lực lượng hải quân, không quân quan trọng đánh chiếm nhóm phía tây quần đảo Hoàng Sa khi đó do quân đội của chính quyền Sài Gòn bảo vệ.

Năm 1988, Trung Quốc lại huy động lực lượng không quân, hải quân tấn công chiếm sáu điểm trên quần đảo Trường Sa, từ đó ra sức củng cố các điểm này làm bàn đạp cho những bước tiến mới. 

LÊ MINH NGHĨA (cố trưởng Ban biên giới của Chính phủ

Đặc biệt, một con thuyền mã được làm bằng giấy hoặc phên tre, thân chuối cũng được thả xuống biển. Trên thuyền có các hình nhân làm bằng rơm tượng trưng cho người lính. Ngoài ra, trong lòng thuyền còn được đặt một số món như gạo, muối, xôi chè, rượu, nước, củi lửa... là những thứ mà người lính ngày xưa từng mang theo đi làm nhiệm vụ. 

Ông Võ Hiến Đạt, người đã tham dự biết bao lễ khao lề thế lính Hoàng Sa trong suốt cuộc đời gần 80 năm của mình, rưng rưng tâm sự rằng buổi lễ không chỉ có ý nghĩa tâm linh. Các hải đội Hoàng Sa đã kết thúc sứ mạng lịch sử của mình lâu lắm rồi, nhưng hằng năm dân đảo Lý Sơn vẫn thực hiện lại buổi lễ này vì muốn con cháu đời sau mãi mãi ghi nhớ hình ảnh tiền nhân đã ra đi và hi sinh vì nước như thế nào.

Trường tồn cùng Tổ quốc 

Lần nào ra Lý Sơn, tôi cũng được người dân địa phương dẫn đi thăm các nơi từng in dấu hải đội Hoàng Sa xưa. Gần đây, nhiều di tích đã được Nhà nước và người dân chung tay sửa sang lại. Trên triền núi Hòn Vung, những người thợ xây đang gấp rút hoàn thành tượng đài liệt sĩ Hoàng Sa kiêm quản hải đội Bắc Hải. Đình làng An Vĩnh trông ra biển Đông tiêu điều trong thời cuộc loạn lạc cũng được trùng tu ngay trên nền đất đã từng in dấu chân bao hùng binh trước khi bước xuống thuyền. Các nhà thờ tộc họ có người đi lính, các nấm mộ chiêu hồn không hài cốt cũng đang được thành kính trùng tu.

Ông Nguyễn Thanh Tùng, phó chủ tịch UBND huyện, tự hào kể rằng mọi người đều đang cố gắng hết sức để Lý Sơn trở thành đảo cho nhân dân cả nước có thể viếng thăm, ghi nhớ công đức của những người lính trong hải đội Hoàng Sa.

Suốt hàng chục năm qua, ông Phạm Thoại Tuyền - hậu duệ của anh hùng Phạm Hữu Nhật - cứ lặng lẽ đi sưu tập những chứng tích còn lại của đội lính Hoàng Sa. Ông cặm cụi sao lại các gia phả cổ, cắt dán những bài báo cũ, nhặt nhạnh từng viên đá, vốc cát vun đắp lên nấm mộ người xưa. Mỗi khi các nhà nghiên cứu viếng thăm quê hương hải đội Hoàng Sa, ông cũng trở thành người dẫn đường tình nguyện bất kể nắng mưa. Ngồi trước linh vị tiền nhân, người đàn ông có gương mặt chai sạm nắng gió biển Đông nói với tôi rằng mong mỏi lớn nhất của ông là có ngày được đặt chân lên quần đảo Hoàng Sa, thắp nén nhang ngay chính nơi tiền nhân đã hi sinh để khẳng định và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Ông Phạm Thoại Tuyền nói: "Dù mai sau những di tích bằng đất đá này có mòn vỡ theo thời gian, những vị hùng binh năm xưa cùng quần đảo Hoàng Sa vẫn trường tồn trong mỗi trái tim người VN".



Không thể bẻ cong sự thật về Trường Sa - Hoàng Sa!

Nguyên nhân dẫn đến việc thiết lập các cơ quan quản lý các quần đảo Tây Sa và Nam Sa của Trung Quốc (vốn là Hoàng Sa và Trường Sa của VN) bắt nguồn từ việc sử dụng các nguồn sử liệu rất mơ hồ để làm nền tảng, cố tình làm sai lệch ý nghĩa của nội dung ban đầu, phần lớn trách nhiệm này thuộc về một số học giả và chuyên gia nghiên cứu hiện đại Trung Quốc. 

Tài liệu lịch sử Trung Quốc: không chính thống

Điều dễ nhận thấy là những sử liệu mà các học giả Trung Quốc như Tề Tân (1974 - Thất thập niên đại nguyệt san), Tô Độc Sử (1992 - Trung Quốc biên cương sử địa nghiên cứu quí san) dựa vào để chứng minh và đi đến kết luận về chủ quyền trên hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa đều là các nguồn tài liệu không phải chính sử, hoặc nếu có rải rác đôi câu thì chúng lại nằm ở phần truyện các nhân vật, như trong Nguyên sử, ở truyện Sử Bật (tuy nhiên chi tiết về quần đảo Tây Sa bị hiểu nhầm sang quần đảo Trung Sa).

Bản đồ đường qua xứ Quảng Nam đời Lê, theo Thiên Nam lộ đồ vẽ lại năm 1741 (bản sao chép của Dumoutier, có chữ quốc ngữ). Bãi cát vàng trên bản đồ tức là Hoàng Sa - Ảnh tư liệu. Nguồn: Tuổi Trẻ

Lẽ ra các ghi chép để xác định chủ quyền phải nằm ở các mục Địa lý chí (hoặc tương đương) trong các bộ chính sử. Điều chúng tôi lưu ý là Trung Quốc vốn là nơi có truyền thống sử học lâu đời, các biên chép về lịch sử, địa dư luôn liên tục, nhưng trong Nhị thập tứ sử (bộ chính sử được tất cả các triều đại Trung Quốc thừa nhận) tức từ Sử ký ghi chép từ Thượng cổ đến Tần, Hán, cho đến Minh sử;Thanh sử cảo soạn thời Dân Quốc, ở các mục Địa lý chí đều không đề cập các hòn đảo ở xa hơn đất Nhai Châu, Quỳnh Châu, tức Hải Nam ngày nay. Trong khi ở VN, mặc dù sử liệu có muộn hơn nhưng hầu hết đều nằm trong các bộ sử chính thống do Quốc sử quán nhận chỉ dụ từ triều đình tổ chức biên soạn, như Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục...

Mặt khác, xem trong Quỳnh Châu phủ chí (tức tương đương Hải Nam tỉnh chí ngày nay) do Quận thú Tiêu Khánh Thực tổ chức biên soạn vào năm Càn Long thứ 39 (1774), trong quyển 3, phần Dư địa chí, mục Cương vực, thấy chép: "... nam tắc Chiêm Thành; tây tắc Chân Lạp, Giao Chỉ; đông tắc Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc tiếp Lôi Châu phủ Từ Văn huyện" (nam là Chiêm Thành; tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc giáp huyện Từ Văn, phủ Lôi Châu). Đoạn văn hành chính về tứ cận này cho thấy Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường (tức Tây Sa và Nam Sa theo cách nghĩ và gọi của Trung Quốc ngày nay) còn là một nơi chưa rõ chủ quyền và ngoài lãnh hải Trung Quốc.

Nên lưu ý rằng ngoài Nhị thập tứ sử, các Thông chí của các tỉnh, phủ, huyện đều là những nguồn tài liệu chính thống và luôn có giá trị tối ưu trong việc trích dẫn và sử dụng đối với các vấn đề lịch sử (sử liệu từ Quỳnh Châu Phủ Chí này, tôi chưa thấy các nhà nghiên cứu Trung Quốc và VN sử dụng).

Địa dư, địa đồ khẳng định Tây Sa, Nam Sa nằm ngoài Trung Quốc

Quân đồn trú Pháp - Việt chào cờ trên đảo Hoàng Sa. Ảnh chụp tại phòng lưu trữ tư liệu Hoàng Sa, Đà Nẵng - Ảnh: V.Hùng chụp lại. Nguồn: Tuổi Trẻ
Theo Cổ kim đồ thư tập thành, bộ bách khoa thư gồm 1 vạn quyển do Thanh triều tổ chức biên soạn, hoàn thành năm Khang Hi thứ 45 (1706), phần Chức Phương điển (sách điển chế về địa đồ các đơn vị hành chính) quyển thứ nhất, các địa đồ số 1, 157, 167 tức Chức Phương tổng bộ đồ, Quảng Đông cương vực đồ, Quỳnh Châu phủ cương vực đồ đều không thấy ghi nhận các quần đảo xa hơn Hải Nam ngày nay.

Mặt khác, xem trong Quảng Đông lịch sử địa đồ tập (Quảng Đông tỉnh, Địa đồ xuất bản xã - 1995) khi trích in lại địa đồ từ sách Quảng Đông thông chí vẽ đời Minh Gia Tĩnh (1522 - 1566) phần hải đảo chỉ đến Quỳnh Châu (tức Hải Nam). Xin lưu ý rằng bức địa đồ này được vẽ sau khi Trịnh Hòa hạ Tây Dương lần cuối cùng (1421) đến 100 năm. Trong 100 năm ấy, Minh triều không đủ thời gian và điều kiện để xác lập chủ quyền (dù chỉ trên bản đồ) đối với các nơi mà họ đã đầu tư thám hiểm ư?

Hầu hết các chi tiết có liên quan đến tên gọi Tây Sa và Nam Sa ngày nay mà địa danh lịch sử được các nhà nghiên cứu Trung Quốc dẫn dụng và qui kết mơ hồ như Thất Châu Dương, Thất Lý Dương, Trướng Hải, Vạn Lý Trường Sa, Thiên Lý Thạch Đường... đều được trích thải từ các sách mà ngay tên sách đã để lộ rõ ý rằng: Sách biên chép về các nước khác, như Giao Chỉ dị vật chí của Dương Phu (Đông Hán); Nam Châu dị vật chí của Vạn Chấn (Tam Quốc); Phù Nam truyện của Khang Thái (Tam Quốc); Chư Phiên chí của Triệu Nhữ Quát (Tống); Hải quốc đồ chí của Ngụy Nguyên (Thanh)...

Các địa đồ hành chính Trung Quốc từ thời Dân Quốc trở về trước không hề có các quần đảo xa hơn Quỳnh Châu (Hải Nam). Vào thời nhà Thanh, các quan lại Trung Quốc dùng câu hải giác thiên nhai (chân trời góc biển) để chỉ trấn Tam Á, huyện Nhai tức là đất cực nam tỉnh Hải Nam ngày nay (theo Địa lý song khẩu - Đương Án xuất bản xã - 1988). Như vậy trong khái niệm của giới cầm quyền địa phương (Quỳnh Châu) và cả trên phương diện pháp lý, các quần đảo mà Trung Quốc nay xác lập chủ quyền thật sự chưa hề có một quá trình lịch sử như các nhà nghiên cứu Trung Quốc gần đây lập luận một cách gượng ép.

Từ việc xử lý sử liệu một cách không trung thực và thiếu khoa học, dẫn đến sự không nhất quán về bối cảnh, thời gian và không gian mà các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã đưa Chính phủ nước họ đến tình trạng đặt để tên gọi các quần đảo ở biển Đông rất không trật tự. Quan sát bản đồ Trung Quốc hiện nay có thể đặt một câu hỏi rằng: các quần đảo Đông Sa, Tây Sa, Trung Sa được xác định dựa trên hệ qui chiếu nào so với lục địa?

Nếu lấy Bắc Kinh làm trung tâm thì Tây Sa phải ở hướng Tân Cương, Tây Tạng hoặc Vân Nam. Nếu lấy tỉnh lỵ Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông làm trung tâm, thì cả Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa đều chỉ dọc về hướng nam, làm sao chính danh được? Còn như muốn lấy Trung Sa làm trung tâm đúng như tên gọi của nó, thì quần đảo Đông Sa phải gọi là Bắc Sa mới phải vì nó nằm ở hướng bắc so với Trung Sa.

Về phương diện sử liệu, các học giả Trung Quốc ngày nay đã để lại quá nhiều tồn nghi do cố tình sử dụng sai phương pháp sử học hiện đại. Sử liệu địa dư, phương chí và địa đồ cổ trong kho tàng văn hiến Trung Quốc tính đến cuối đời Thanh chưa từng thể hiện sự xác nhận chủ quyền đối với các quần đảo trên biển Đông ngoài Hải Nam. Trong khi đó, từ đời nhà Lê của VN, địa đồ chính thống Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư thời Hồng Đức đã xác định sự hiện diện của quần đảo Hoàng Sa. Và Đại Nam nhất thống toàn đồ vẽ khoảng năm 1834 (thời Minh Mệnh) đã ghi nhận các quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa thuộc VN.

  • Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân (Tuổi Trẻ)





    Báo Nhân Dân, 1958, Đăng Tin Công Hàm : Tang chứng bán nước của đảng và chính phủ CSVN



    Hầu hết chúng ta đều thấy copy bản Công Hàm do Phạm Văn Đồng thừa lệnh Hồ Chí Minh ký ngày 14 tháng 9, 1958, để gửi Chu Ân Lai. Một bằng chứng nữa để thấy rõ tội của tập đoàn Đảng Cộng Sản Việt Nam trước việc dâng Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Cộng.


    Báo Nhân Dân là tiếng nói chính thức của Đảng Cộng Sản Việt Nam (vào 1959 được ẩn dưới danh xưng Đảng Lao Động).




    Nhìn kỹ vào trang báo trên một bản tin có ghi "Sáng qua, 21-9-1958, tại quảng trường..." Vậy tờ báo này ra ngày 22 tháng 9, 1958.

    Phía dưới góc tay mặt có bản tin về Công Hàm (ngay mũi tên) liên quan tới việc Đảng Cộng Sản Việt Nam xác nhận chủ quyền của Trung Cộng trên vùng Hoàng Sa và Trường Sa.

    Vào ngày 4 tháng 9, 1958, Bắc Kinh tuyên bố lãnh hải của Trung Cộng là 12 hải lý. Bản tuyên bố viết rằng "Điều khoản này áp dụng cho toàn thể lãnh thổ của Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc, gồm các vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa và tất cả các đảo khác thuộc Trung Cộng."

    Mười ngày sau, tức ngày 14 tháng 9, 1958, thủ tướng Việt Cộng Phạm Văn Đồng ký một Công Hàm chấp nhận điều khoản trên của Trung Cộng.

    Như trên ta thấy, tám ngày sau, 22 tháng 9, 1958, báo Nhân Dân tại Hà Nội loan tin. Nhà báo đã đánh máy nguyên văn bản Công Hàm. Tuy nhiên khi nhìn kỹ lại thì thấy ngày tháng ký tên ở dưới thư đề bằng tay. Do vậy, ta có thể kết luận Đảng đã thảo sẵn văn thư này trước, và ngày ký là 14 tháng 9, 1958. Bản gửi cho báo Nhân Dân khác với bản chính thức gửi Chu Ân Lai. Chúng tôi xin ghi lại nguyên văn bản tin:



     

    CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÔNG NHẬN QUYẾT ĐỊNH VỀ HẢI PHẬN CỦA TRUNG-QUỐC

     

    Sáng ngày 21.9.1958, đồng chí Nguyễn Khang, Đại sứ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tại Trung-quốc, đã gặp đồng chí Cơ Bàng-phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa và đã chuyển bức công hàm sau đây của Chính phủ ta:

     

    Thưa đồng chí Chu Ân-lai,

    Tổng lý Quốc vụ viện nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa,

     

    Chúng tôi xin trân trọng thông báo tin để đồng chí Tổng lý rõ:

    Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

    Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.

    Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.

     

    Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958

    PHẠM VĂN ĐỒNG

    Thủ tướng Chính phủ

    nước Việt-nam dân chủ cộng hoà

    Ngoài ra, cũng trên tờ báo Nhân Dân này có bản tin: "TRÊN NĂM VẠN NHÂN DÂN VIỆT-NAM VÀ HOA KIỀU HỌP MÍT TINH TUẦN HÀNH chống Mỹ và ủng hộ nhân dân Trung-quốc giải phóng khu vực Đài-loan." Như vậy thì sự có mặt của người Tàu cộng trên mảnh đất Việt Nam do Đảng Cộng Sản Việt Nam cai trị đã xảy ra từ nhiều thập niên qua!

    Bút Sử

    (Hình ảnh tài liệu này được tìm thấy trong thư viện của nhóm giáo sư Douglas Pike)



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
💔 Tố Hữu và Mối Tình Đầu Định Mệnh: Lời Tố Cáo Đau Thương trở thành mối thù giai cấp muôn đời! [Đã đọc: 482 lần]
💔 Lời Nguyền Hận Thù: Phế Phẩm Độc Hại Trong Văn Hóa Giao Tiếp Việt thời đại HCM CSVN [Đã đọc: 441 lần]
Mức lương cụ thể và thủ tục nhập cư để các bạn VN được thuê làm chồng [Đã đọc: 380 lần]
CHIẾN LƯỢC TOÀN DIỆN ĐỐI PHÓ VỚI BIÊN GIỚI – AN NINH KHU VỰC CAMPUCHIA 2025 [Đã đọc: 366 lần]
Sự im lặng đồng lõa – khi lãnh đạo miền Bắc đứng nhìn Trung Quốc nuốt Hoàng Sa [Đã đọc: 361 lần]
Đạo Đức và Cái Bẫy Tự Tôn của dân tộc VN- Mẹ Thứ Anh Hùng - Bi kịch của Thuyền nhân Việt Nam [Đã đọc: 340 lần]
Giữa Mạc Tư Khoa Nghe Câu Hò Ví Dặm [Đã đọc: 302 lần]
Bẫy thu nhập trung bình của VN [Đã đọc: 277 lần]
Constitution of the Federal Republic of VCL [Đã đọc: 262 lần]
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [Đã đọc: 260 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.