Đây cũng là một câu hỏi thường trực cho các chính sách quốc phòng và ngoại giao của Việt Nam, và anh hàng xóm khổng lồ của Việt Nam là Trung Quốc.
Quy luật lịch sử
Khi nào thì Trung Quốc có thể đánh Việt Nam? Tương lai không thể nói trước được, nhưng nếu lịch sử cho thấy có quy luật thì có nhiều khả năng quy luật đó sẽ tiếp tục ứng nghiệm trong tương lai.
Lịch sử từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời có ba lần lớn và một số lần nhỏ hơn Trung Quốc ra quân đánh Việt Nam.
Lần thứ nhất năm 1974, Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay Việt Nam Cộng hòa.
Lần thứ hai năm 1979, Trung Quốc tấn công toàn tuyến biên giới trên bộ, vào sâu nhiều chục cây số, phá huỷ cơ sở vật chất, rồi rút về sau đúng một tháng.
Lần thứ ba năm 1988, Trung Quốc chiếm 6 bãi đá trong vùng lân cận các đảo do Việt Nam kiểm soát ở quần đảo Trường Sa, riêng vụ đụng độ chiếm đá Gạc Ma (Johnson South Reef) bắn cháy ba tàu vận tải và giết khoảng 70 thuỷ thủ của Hải quân Việt Nam.
Những lần đánh nhỏ hơn bao gồm các cuộc tấn công ở biên giới sau cuộc chiến 1979, liên tục cho đến năm 1988. Trong thời gian này, Trung Quốc đã chiếm được một số điểm cao chiến lược dọc biên giới như ở các huyện Vị Xuyên, Yên Minh (tỉnh Hà Giang) và Cao Lộc, Tràng Định (tỉnh Lạng Sơn). Các cuộc lấn chiếm này dường như đã được hợp pháp hóa tại Hiệp ước biên giới trên bộ năm 1999.
Ngoài ra, trên quần đảo Trường Sa sau năm 1988, Trung Quốc đã chiếm thêm các bãi đá ở gần vị trí đóng quân của Việt Nam như Én Đất (Eldad Reef) và Đá Ba Đầu (Whitson Reef) vào các năm 1990, 1992, và sau đó chiếm đá Vành Khăn (Mischief Reef) ở gần Philippin năm 1995.
Thế và Thời
Tư duy chiến lược Trung Hoa đặc biệt coi trọng chữ Thế và chữ Thời. Các cuộc tấn công Việt Nam cho thấy có một quy luật khá nhất quán trong việc Trung Quốc chớp thời cơ vào lúc thế của họ đi lên và thế của đối phương đi xuống để tung quân ra đánh.
Thời điểm tháng 1-1974, Trung Quốc đánh Hoàng Sa đang do Việt Nam Cộng hòa kiểm soát là sau khi Mỹ cam kết chấm dứt can thiệp quân sự ở Việt Nam (Hiệp định Paris tháng 1-1973) và Quốc hội Mỹ cấm Chính phủ can thiệp trở lại (Tu chính án Case-Church tháng 6-1973), tạo ra một khoảng trống quyền lực ở khu vực và khiến cho Việt Nam Cộng hòa chới với không nơi nương tựa.
Trong khi đó thế của Trung Quốc đang dâng lên với việc Bắc Kinh trở thành một thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (tháng 10-1971) và từ địa vị kẻ thù của cả hai siêu cường (Liên Xô và Mỹ) trở thành đối tác của Mỹ (với Thông cáo chung Thượng Hải tháng 2-1972).
Trung Quốc tấn công Việt Nam năm 1979 là để trả đũa Việt Nam đưa quân vào Campuchia nhưng cũng là khi thế của Việt Nam đi xuống trong khi thế của Trung Quốc đi lên.
Một tháng sau khi Việt Nam và Liên Xô ký liên minh quân sự (tháng 11-1978) thì Trung Quốc và Mỹ cũng tuyên bố lập quan hệ ngoại giao. Đồng thời, Việt Nam đang bị thế giới ngoài phe Liên Xô tẩy chay vì chiếm đóng Campuchia nên thế của Việt Nam đang xuống rất thấp.
Các cuộc tấn công của Trung Quốc dọc biên giới trong các năm từ 1980 đến 1988 diễn ra trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục bị bao vây cô lập với thế giới bên ngoài trong khi Liên Xô, chỗ dựa chủ yếu của Việt Nam, cũng bị cô lập trên trường quốc tế (do đưa quân vào Afghanistan) và, cộng với những khó khăn kinh tế, phải đi vào giai đoạn hòa hoãn và thỏa hiệp với Trung Quốc cũng như phương Tây.
Hai nước Việt Trung đã quyết định xong về biên giới trên bộ
Chiến dịch chiếm một phần Trường Sa năm 1988 của Trung Quốc khởi sự từ năm 1986, khi Liên Xô chuyển sang nhượng bộ chiến lược với phương Tây và Trung Quốc, đồng thời rục rịch rút lui ảnh hưởng khỏi Đông Nam Á cũng như toàn thế giới.
Bài nói tại Vladivostok của lãnh tụ Liên Xô Gorbachov ngày 28-7-1986 tỏ ý Liên Xô sẵn sàng chấp nhận các điều kiện Trung Quốc đưa ra để bình thường hóa quan hệ Xô-Trung (Liên Xô rút quân khỏi Afghanistan và giảm căng thẳng ở biên giới Xô-Trung, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia) đánh dấu sự thay đổi chiến lược trong chính sách của Liên Xô ở châu Á, đồng thời cũng là chỉ dấu cho thấy thế của Liên Xô đi xuống và thế của Trung Quốc đi lên.
Trong các năm sau, việc Liên Xô rút lui trong khi Mỹ không trám vào đã thực sự tạo ra một khoảng trống quyền lực ở khu vực.
Trong khi ấy Việt Nam vẫn bám vào Liên Xô mà không phá được thế bị cô lập. Một nghị quyết mật của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam điều chỉnh cơ bản chiến lược đối ngoại từ dựa vào Liên Xô sang "đa phương hóa" chỉ được thông qua vào tháng 5-1988, hai tháng sau vụ đụng độ ở quần đảo Trường Sa.
Xung đột biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam giai đoạn 1980-1988 có thể coi là dư chấn của cuộc chiến năm 1979. Các cuộc chiếm đảo ở Trường Sa thời kỳ 1990-1992 cũng có thể coi là dư chấn của chiến dịch năm 1988.
Thời kỳ 1980-1988, Việt Nam tiếp tục bị bao vây cô lập trong khi Liên Xô, chỗ dựa chủ yếu của Việt Nam, đi vào giai đoạn hòa hoãn và thỏa hiệp với Trung Quốc.
Thời kỳ 1990-1992, tuy là những năm Trung Quốc bị phương Tây cô lập phần nào sau vụ Thiên An Môn, cũng lại là những năm Việt Nam mất hẳn chỗ dựa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong khi vẫn chưa được nhận vào ASEAN và chưa bình thường hóa quan hệ được với Mỹ.
Việt Nam làm gì?
Hiện nay Việt Nam có thể làm gì để Trung Quốc không đánh? Lý thuyết quan hệ quốc tế gợi ý năm phương pháp chính: 1) cùng chung một nhà, 2) ràng buộc bằng lợi ích, 3) ràng buộc bằng thể chế, 4) răn đe quân sự, 5) răn đe ngoại giao.
Phương pháp "cùng chung một nhà" xem ra không ổn vì ít nhất ba lý do. Thứ nhất, Trung Quốc rất thiếu cảm tình với Việt Nam và kinh nghiệm quan hệ với Việt Nam khiến Trung Quốc tin rằng Việt Nam hay tráo trở. Các cuộc thăm dò dư luận ở Trung Quốc cho thấy Việt Nam cùng với Mỹ và Nhật Bản là ba nước bị người Trung Quốc ghét nhất trên thế giới. Thứ hai, Trung Quốc chỉ coi Việt Nam là đồng chí chứ không phải đồng minh. Thứ ba, lịch sử cho thấy quan hệ "gắn bó như môi với răng" giữa Hà Nội và Bắc Kinh vẫn không ngăn được Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa, nẫng tay trên người "đồng chí anh em" Bắc Việt.
Phương pháp "ràng buộc bằng lợi ích" sẽ không ngăn được Trung Quốc đánh ở Biển Đông vì lợi ích của Trung Quốc ở Biển Đông có vị trí rất cao trong chiến lược lớn của Trung Quốc. Biển Đông là yết hầu con đường tiếp tế vật tư và nhiên liệu cho Trung Quốc từ Trung Đông, châu Âu, châu Phi, Nam Á và Đông Nam Á, với 2/3 lượng dầu khí nhập khẩu và 4/5 lượng hàng hóa nhập khẩu của Trung Quốc đi qua.
Biển Đông cũng là bàn đạp để khống chế Đông Nam Á, một khu vực mà nếu Trung Quốc khống chế được thì sẽ có thể quy phục được Nhật Bản và trung lập hóa cả Mỹ lẫn Ấn Độ, còn nếu Trung Quốc không khống chế được thì sẽ không thể ngoi lên địa vị đứng đầu châu Á. Trung Quốc không có lợi ích nào ở Việt Nam, kể cả trong hiện tại lẫn trong tương lai, lớn hơn lợi ích ở Biển Đông để Trung Quốc phải đánh đổi.
Phương pháp "ràng buộc bằng thể chế" càng khó ngăn cản Trung Quốc ra tay khi cần thiết vì Trung Quốc cũng như các nước lớn khác chỉ tuân thủ thể chế quốc tế nếu thể chế ấy phục vụ lợi ích chiến lược của họ. Trong trường hợp lợi ích chiến lược của họ đòi hỏi làm khác đi, họ sẽ có cách giải thích thể chế quốc tế theo kiểu riêng để biện minh cho hành động của mình.
Trung Quốc đã làm như thế khi xâm lăng Việt Nam năm 1979, nói rằng để trừng phạt Việt Nam xâm lăng Campuchia. Đây không phải là đặc điểm riêng của Trung Quốc mà các nước lớn đều như vậy. Mỹ và phương Tây đánh Nam Tư rồi tách Kosovo ra khỏi nước này hay Nga đánh Gruzia rồi tách Nam Ossetia và Abkhazia ra khỏi nước này đều nói là dựa trên luật pháp và thể chế quốc tế nhưng đó là luật pháp và thể chế quốc tế theo cách giải thích riêng của họ.
Ải Chi Lăng là di tích lịch sử nhắc lại trận quân Lê Lợi chém Liễu Thăng hồi thế kỷ 15
Phương pháp "răn đe quân sự" không phải là cách mà Việt Nam có thể làm với Trung Quốc trong lúc này vì Việt Nam không có vũ khí hạt nhân để răn đe chiến lược (trong khi Trung Quốc có) và lực lượng quân sự thông thường của Việt Nam hiện còn quá yếu để có thể tạo sức mạnh răn đe chiến thuật đối với Trung Quốc.
Còn lại duy nhất phương pháp "răn đe ngoại giao". Phương pháp này là dùng quan hệ với các nước mạnh hơn Trung Quốc và áp lực của quốc tế để Trung Quốc không dám đánh Việt Nam. Hiện nay trong khu vực, Trung Quốc vẫn phải kiêng dè Mỹ, do đó Việt Nam quan hệ càng gần gũi với Mỹ bao nhiêu càng có tác dụng răn đe bấy nhiêu. Một điểm nữa Việt Nam có thể tận dụng là Trung Quốc muốn thế giới tin rằng họ không phải là mối đe dọa đối với các nước.
Nếu những lấn lướt ức hiếp của Trung Quốc với Việt Nam được thế giới quan tâm và hiểu như bước đầu của một mối đe dọa lớn hơn đối với họ thì thứ nhất, chúng có thể làm Trung Quốc yếu thế đi, và thứ hai, đó cũng là một lý do để Trung Quốc phải cân nhắc kỹ hơn nếu có ý định đánh Việt Nam.
Bài học lịch sử
Quy luật rút ra từ lịch sử ba lần Trung Quốc đánh Việt Nam và qua phân tích năm phương pháp nói trên cho thấy để tránh không bị Trung Quốc đánh, Việt Nam phải làm được ba điều.
Thứ nhất, phải liên tục nâng cao vị thế của mình trên trường quốc tế, đặc biệt chú ý trong tương quan với Trung Quốc. Nếu Trung Quốc có thêm bạn thì Việt Nam cũng phải có thêm bạn mạnh hơn và nếu Trung Quốc xích lại gần các nước thì Việt Nam còn phải xích lại gần các nước hơn. Không bao giờ được để Việt Nam ở thế cô lập hơn Trung Quốc trên thế giới.
Sống cạnh một anh hàng xóm khổng lồ mà không để bị đánh hoặc ăn hiếp quả là rất khó nhưng vẫn có thể được
Thứ hai, phải hết sức bén nhạy với cán cân quyền lực trong khu vực và phải lập tức mạnh dạn điều chỉnh chiến lược đối ngoại khi tương quan lực lượng trong khu vực biến đổi bất lợi cho Việt Nam.
Thứ ba, phải sáng suốt tìm ra ai là kẻ mạnh trong khu vực và đâu là chỗ yếu của Trung Quốc để thực hiện kế răn đe ngoại giao.
Trong dài hạn, chỉ có kết hợp răn đe ngoại giao (kết thân với nước lớn và tranh thủ dư luận thế giới) với răn đe quân sự (quân đội mạnh, đặc biệt hải quân và không quân) và liên tục nâng cao vị thế quốc tế của mình thì Việt Nam mới có thể tương đối yên tâm không bị Trung Quốc đánh.
Sống cạnh một anh hàng xóm khổng lồ mà không để bị đánh hoặc ăn hiếp quả là rất khó nhưng vẫn có thể được, nhất là khi anh hàng xóm đó chưa phải là kẻ mạnh nhất trong vùng.
Bài viết thể hiện ý kiến riêng của tác giả, tiến sĩ Alexander Vuving (Vũ Hồng Lâm), không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Bộ Quốc phòng và Chính phủ Hoa Kỳ.
Sách lược tốt nhất là phòng thủ,
VN phải hợp với hai nước Miên, Lào để thành lập liên bang Viet Cam Lao, đặt thủ đô tại Đà Nẵng với 5 tiểu bang Bắc, Trung, Nam Việt, Lào và Campuchia. Lực lượng quân sự của liên bang nầy sẽ có hạm đội, hàng không mẫu hạm và hỏa tiển tầm xa mang đầu đạn scudd, có tàu ngâm nguyên tử, ngư lôi hiện đại và các oanh tạc cơ tối tân. Ngoài ra, VN cần phải chế tạo các robot chiến sĩ để đương đầu với hiểm họa một đạo quân biển người.
Đương đầu với chiến thuật biển người của TQ tưong lai, Mỹ nghiên cứu chế tạo chiến binh robot
Quân đội Mỹ sẽ thiết kế những robot chiến đấu có khả năng hoạt động độc lập, được lập trình để ngăn chặn những hành động vi phạm tội ác chiến tranh của binh sĩ là con người ngoài chiến trường.
> Robot biết nấu ăn / Người máy làm diễn viên
![]() |
| Người máy T-800 trong loạt phim Terminator của Mỹ. Ảnh: Telegraph. |
Từ nay tới năm 2010 Bộ Quốc phòng Mỹ sẽ đầu tư 4 tỷ USD vào chương trình nghiên cứu “những hệ thống tự động”, mật danh của robot quân sự. Mục tiêu của họ là tạo ra những binh sĩ máy không biết sợ hãi song cũng chẳng thích giết chóc người vô tội. Mỹ đã thuê nhiều chuyên gia về robot người Anh để tư vấn cách chế tạo những người máy không có khả năng vi phạm Công ước Geneva về chiến tranh.
Các quan chức cao cấp trong Lầu Năm Góc quan tâm tới những nghiên cứu về tình trạng khủng hoảng tâm lý ở các binh lính từng phục vụ tại Iraq. Những nghiên cứu này cho thấy một tỷ lệ lớn quân nhân tham gia chiến đấu tại đây ủng hộ biện pháp tra tấn và hành hạ các tay súng đối phương.
Ronald Arkin, một chuyên gia máy tính tại Đại học Kỹ thuật Georgia đang phát triển một phần mềm cho quân đội Mỹ, cho rằng việc sử dụng chiến binh máy sẽ giảm được tình trạng vi phạm Công ước Geneva. “Robot không lo nghĩ về mạng sống và cũng chẳng bị tình cảm chi phối trong việc ra quyết định. Chiến binh máy cũng không bị kích động hay giận dữ trước những sự kiện bi thương trên chiến trường”, Ronald nói.
Trong khi đó các máy bay không người lái đã được sử dụng tại Iraq và Afghanistan để thực hiện các cuộc ném bom vào những phần tử chống đối chính phủ. Các phương tiện cơ giới tự động cũng được sử dụng để vô hiệu hóa bom mìn và nhiều loại thiết bị nổ khác.
Tháng trước quân đội Mỹ công bố loại robot có thể bắn ra nhiều thứ, từ những túi đậu, bột hạt tiêu cho tới lựu đạn. Nó được trang bị một khẩu súng máy 7,62 mm. Nhưng thế hệ robot này vẫn cần được điều khiển từ xa bởi con người. Các nhà nghiên cứu muốn chế tạo những chiến binh máy có khả năng tự xác định mục tiêu, vũ khí và biết phân biệt các loại binh chủng của đối phương (xe tăng, con người, máy bay) với những mục tiêu “mềm” như xe cứu thương và dân thường.
Phần mềm cài trong bộ vi xử lý sẽ ngăn cản chúng thực hiện các hành động bị cấm trong Công ước Geneva về chiến tranh. Quân đội Mỹ muốn chế tạo những chiến binh máy tự động hoàn toàn vì những robot mà họ đang có vẫn cần được điều khiển bởi con người. Chính vì thế mà chi phí để sản xuất và vận hành chúng khá cao. Một máy bay không người lái Predator cần tới 6 người điều khiển và những người này cũng cần được đào tạo bài bản.
Một số chuyên gia lo ngại rằng robot chiến đấu có thể bắn giết bừa bãi nếu con người mắc sai sót trong quá trình chế tạo. Noel Sharkey, một chuyên gia máy tính của Đại học Sheffield (Anh), là một trong những người phản đối mạnh mẽ kế hoạch của quân đội Mỹ.
“Tham vọng của họ khiến tôi cảm thấy ớn lạnh ở xương sống. Tôi đã nghiên cứu trí tuệ nhân tạo nhiều thập kỷ, song vẫn cảm thấy ghê sợ trước ý tưởng tạo ra một thế hệ robot có khả năng quyết định việc giết hay tha đối với con người”.
V.L (theo Telegraph)
Lầu Năm Góc đã chấp nhận chi 12 triệu USD cho công trình chế tạo một robot có khả năng thực hiện các ca phẫu thuật ngay tại chiến trường. Động thái này cho thấy Mỹ đang có ý định đưa thêm quân vào Iraq và Afghanistan.
Người ta cho biết kết quả của cuộc nghiên cứu này sẽ là một bước tiến rất lớn trong việc cứu sống con người. Sắp tới Lầu Năm Góc sẽ được xem một đoạn băng của nhà sản xuất cho thấy khả năng của robot này có thể phẫu thuật một binh lính ngay giữa đạn bom rồi sau đó chuyển người lính đến nơi an toàn.
Kỹ thuật chế tạo robot này sẽ dựa trên và cải tiến kỹ thuật phẫu thuật Da Vinci. Đây là một kiểu phẩu thuật dân sự dùng robot có 3 tay (2 tay cầm dụng cụ phẫu thuật và 1 tay cầm máy quay phim được đưa vào cơ thể bệnh nhân thông qua 3 vết rạch dài 1 cm) nối với bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ không trực tiếp đụng vào người bệnh nhân mà thao tác cách bệnh nhân vài mét và quan sát diễn tiến ca mổ thông qua một màn ảnh 3 chiều, robot sẽ thực hiện đúng tất cả hững thao tác của bác sĩ giải phẫu. Hiện nay kỹ thuật này thường được dùng để phẫu thuật cắt bỏ khối u tuyến tiền liệt hoặc phẫu thuật van tim.
Tuy nhiên để chế tạo được loại robot phẫu thuật ngay tại chiến trường, các nhà khoa học phải vượt qua được 2 thử thách chính đó là:
- Trong kỹ thuật phẫu thuật Da Vinci thì y tá sẽ là người thay dụng cụ mổ cho robot trong khi nếu ra ngoài chiến trường thì công việc này sẽ được thực hiện tự động.
- Khi ra chiến trường sẽ không còn dây nối giữa robot và bác sĩ phẫu thuật do đó robot phải là một thiết bị không dây đồng thời nó còn phải né được quân thù.
Robot quân sự: Lợi ích và nguy hại |
Các nước tiên tiến trên thế giới đang lao vào một cuộc đua chế tạo robot quân sự. Lời cảnh báo mới đây của vị giáo sư hàng đầu người Anh về trí thông minh nhân tạo khiến người ta lo ngại hơn về tương lai bất ổn cho nhân loại từ chính những robot đó. Giờ đây, một con robot có thể tự mình di chuyển khắp các ngóc ngách chiến trường, tự phát hiện kẻ thù và chiến đấu với chúng bằng tên lửa hay súng máy mà không cần bất cứ sự điều khiển nào từ con người. Tuy nhiên, Lầu Năm Góc khẳng định, khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực quân sự vẫn không thể loại con người trong những quyết định sử dụng vũ lực. Cuộc đua robot vũ trang toàn cầu Năm 2007, ba robot vũ trang đầu tiên trang bị súng máy cỡ lớn được triển khai đến Iraq, đã “phát huy hiệu quả” lớn tới mức Mỹ phải ra lệnh huy động thêm hơn 80 robot tương tự tới chiến trường này. “Thế giới đang mê ngủ trong một cuộc đua robot toàn cầu,” Giáo sư Noel Sharkey đã nói thẳng lo ngại của mình tại hội nghị ở “Mối đe dọa ngày càng tăng lên khi các cường quốc như Trung Quốc, Mỹ,
Robot phá mìn Bộ Quốc phòng Mỹ đã đưa ra lộ trình phát triển các hệ thống điều khiến tự động đến năm 2013. Theo đó,Mỹ đề xuất chi khoảng 4 tỉ USD đến năm 2010 nhằm phát triển công nghệ các hệ thống không có người điều khiển, nâng tổng số chi phí vào lĩnh vực này lên 24 tỷ USD. Mỹ muốn 1/3 xe trên chiến trường là không người lái vào năm 2015. Không chịu kém cạnh, các nước khác ở châu Âu và đồng minh của Mỹ cũng đang bắt đầu đặt một bàn chân vào cuộc đua chế tạo robot vũ khí. Đó là Lợi ích Mục đích của con người khi tạo ra robot quân sự là giúp giảm bớt thương vong cho con người trên chiến trường. Tuy nhiên, mục tiêu lâu dài cần hướng tới là tiến hành các cuộc chiến tranh bằng robot, chứ không phải giết người. Hiện tại có một số loại robot đang hoạt động trên các chiến trường Robot quân sự có thể được sử dụng để dò mìn, đặt thuốc nổ, do thám, dò chất độc sinh học hoặc hạt nhân và thu dọn các chất nguy hiểm. Binh sĩ Mỹ đang đối mặt với nhiều thách thức ngày nay tại Nhiều robot hiện đang làm việc tại Trọng lượng khiêm tốn của robot giúp binh sĩ dễ dàng vận chuyển và triển khai chúng trên chiến trường. Những kẻ chống đối tại Robot "đánh hơi" bom sử dụng các camera có độ rõ nét cao với khả năng phóng to thu nhỏ và máy chụp ảnh nhiệt giúp nhận dạng một người nào đó đang trốn trong bụi rậm. Một số robot còn mang micro để dò âm thanh từ thiết bị nổ hoặc con người. Phần lớn các robot trên có một cánh tay để nhấc vật thể lên kiểm tra. Công việc này chỉ nguy hiểm đối với robot mà thôi. Mặc dù mục đích là tháo dỡ thuộc nổ không làm chúng nổ tung song thỉnh thoảng quân đội Mỹ cũng mất một vài robot trị giá... 50.000 USD/con. Căn cứ vào nhiệm vụ chiến đấu, các robot cũng được chế tạo để mang vũ khí có hoả lực mạnh. Robot bộ binh, được trang bị vũ khí, bao gồm hệ thống Gladiator của quân đoàn lính thuỷ đánh bộ Mỹ. Nó là một chiếc xe bọc thép nặng 900kg, di chuyển trên bánh xích hoặc bánh xe. Gladiator được phát triển để phục vụ chiến đấu trong khu vực đô thị. Nó có thể di chuyển phía trước binh sĩ, đánh giá nguy hiểm và phản ứng với các cuộc tấn công bằng hoả lực cực mạnh. Nguyên mẫu Gladiator được trang bị súng máy M240. Trong tương lai, hệ thống Gladiator sẽ được kiểm soát từ xa. Binh sĩ ngày nay thích ứng với công nghệ mới nhanh không kém tốc độ phát triển của các công nghệ đó. Trong tương lai, lính robot sẽ sử dụng các hệ thống tự động và bán tự động để làm nhiệm vụ mà không cần tới người điều khiển. Kẻ săn mồi MQ-1 (MQ-1 Predator) - máy bay không người lái làm nhiệm vụ trinh thám, có thể mang hai tên lửa AGM-114 Hellfire Nguy hại Con người đang khát khao có sự hỗ trợ của robot trong mọi lĩnh vực có thể. Dĩ nhiên, các lực lượng khủng bố cũng hiểu điều đó. Những robot được chế tạo để chống lại đối phương hay tiêu diệt khủng bố về mặt nào đó có thể gây phương hại cho con người. Hơn nữa, nếu như kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, robot có khả năng "tư duy" và có thể tự ra quyết định mà không cần mệnh lệnh từ con người, thì hành động của nó khó mà lường trước được. Lý giải điều này, các nhà khoa học cho rằng, các phần mềm của robot hiện tại do nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực kiến tạo nên. Và không phải ai cũng nắm hết được các đặc điểm của mỗi lĩnh vực. Vậy nên khi cài đặt chương trình, rất có thể một vài yếu tố tương tác để tạo nên những kết quả bất ngờ trên thực tế. Chẳng hạn, một robot được ứng dụng để tiêu diệt đối phương, nhưng do lỗi hoặc do sự kết hợp của vài phần mềm trong đó mà nó không phân biệt đâu là địch, đâu là ta và nó sẽ tiêu diệt tất cả các thực thể sống. Chờ đợi sự can thiệp của con người lúc đó thì đã quá muộn. Trong báo cáo của mình các nhà khoa học cũng đặt ra một số vấn đề mà chưa có lời giải đáp. Làm thế nào bảo vệ robot quân sự trước virus hay tin tặc? Ai sẽ là người chịu trách nhiệm nếu robot bỗng nhiên dở chứng, tàn sát thường dân? Đó sẽ là lỗi của người lập chương trình hay viên chỉ huy ra lệnh bắt đầu chiến dịch? Một câu hỏi nữa: Robot loại này có cần chức năng tự hủy diệt mình? Vũ Việt (Theo báo Mỹ) |






Hàng ngàn công nhân Trung quốc được đưa sang Việt Nam

HÀ NỘI (TH) - Hàng ngàn công nhân từ Trung Quốc được dùng để thực hiện các dự án xây dựng quan trọng tại Việt Nam trong khi Việt Nam đang đối diện với tình trạng thất nghiệp ngày một nặng hơn, một số viên chức nhà nước nhìn nhận như vậy.
Việc Trung Quốc đưa một số lượng khá lớn nhân công sang Việt Nam dù Việt Nam cũng quá nhiều người thất nghiệp và cần việc làm cho thấy ảnh hưởng chính trị và sức mạnh của Bắc Kinh đè nặng lên đảng và nhà nước CSVN hiện nay như thế nào.
Các bản thông cáo chung, các bản tin của hai hãng thông tấn chính thức của Hà Nội và Bắc Kinh đưa ra mỗi khi có cuộc thăm viếng chính thức lẫn nhau của lãnh tụ hai nước đều luôn luôn nói “nâng lên tầm cao mới” cho mối quan hệ song phương và mọi hợp tác, giải quyết các vấn đề đều phải “cùng có lợi.”
“Các nhà thầu Trung Quốc đã thắng thầu nhiều dự án quan trọng trong các lãnh vực điện, xi măng, xây dựng và hóa học... và họ gửi sang Việt Nam hàng ngàn công nhân cùng với trang thiết bị.” Trần Ngọc Hùng, chủ tịch Hội Xây Dựng Kiến Trúc Việt Nam nói như vậy trong một cuộc hội thảo.
Ðây là lần đầu tiên người ta thấy có sự xác nhận, tuy không chính thức và không có con số cụ thể, về số lượng công nhân Trung Quốc được đưa sang Việt Nam thực hiện các dự án khác nhau.
Báo Tuổi Trẻ khi tường thuật cuộc hội thảo này kể ra cho thấy một dự án xây dựng trong tỉnh Quảng Ninh đã dùng tới 2,000 công nhân Trung Quốc cũng như sử dụng xi măng Trung Quốc và các nhà máy điện được xây dựng bởi các công ty Trung Quốc.
Tờ Tuổi Trẻ cũng dẫn lời Trần Hồng Mai, một viên chức cao cấp của Bộ Xây Dựng CSVN, nói, “Các nhà thầu Trung Quốc thường thắng thầu” ở Việt Nam. Ông này nói các công ty Trung Quốc nhận được “nhiều hình thức hỗ trợ từ nhà nước Trung Quốc để có thể hạ giá bỏ thầu xuống thấp hơn những nhà thầu khác.”
Mới đây, ông Nguyễn Thành Sơn, một viên chức cao cấp của Tổng Công Ty Than Khoáng Sản (TKV) gửi thư cho Bộ Chính Trị đảng CSVN tố cáo tập đoàn quốc doanh nhiều tai tiếng tham nhũng này đã cố ý hạ thấp tiêu chuẩn và điều kiện thầu để Trung Quốc bỏ giá thầu ở mức không có nhà thầu nào khác có thể cạnh tranh nổi. Thêm nữa, và có thể quan trọng hơn, nhà thầu Trung Quốc mang các loại công nghệ, trang bị lạc hậu bị phế thải ở nước họ sang Việt Nam sử dụng. Ðiều này rất tai hại cho môi trường và tốn nhiều nhân công, không có lợi cho Việt Nam về lâu về dài.
Ông Nguyễn Thành Sơn và các nhà khoa học khác ở Việt Nam đã kịch liệt phản đối việc khai thác quặng bauxite, và tệ hơn nữa, lại để cho Trung Quốc đem công nghệ lạc hậu ở xứ này cùng với hàng ngàn công nhân sang Việt Nam. Tướng Võ Nguyễn Giáp, khi gửi thư cho Nguyễn Tấn Dũng hồi Tháng Giêng vừa qua, đã cáo buộc rằng, theo tin ông nhận được, hàng ngàn công nhân Trung Quốc được lặng lẽ mang sang Việt Nam khai thác bauxite. Chế độ Hà Nội đã bắt đầu kế hoạch khai thác bauxite từ mấy năm qua trong âm thầm, bất chấp qui định những dự án “trọng điểm quốc gia” phải được đem ra Quốc Hội của chế độ thảo luận và chấp thuận hay không.
Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên vì cho rằng đây là sự sai lầm chiến lược khi để cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc hiện diện một số người rất lớn ở khu vực “yết hầu” quân sự của Việt Nam.
Tướng Giáp viện dẫn bản khảo cứu hai chục năm trước của khối Camecon (thời còn Liên Xô và khối Cộng Sản Ðông Âu) để khuyến cáo không nên khai thác bauxite.
Cách đây ít ngày, bộ trưởng Bộ Lao Ðộng-Thương Binh-Xã Hội CSVN báo động chỉ nửa năm đầu năm nay có khoảng 300,000 người thất nghiệp và cho cả năm, con số có thể khoảng 400,000. Người ở Việt Nam cần việc trong khi công nhân Trung Quốc được đưa sang Việt Nam ngày một đông đảo hơn.
Báo chí ở Việt Nam nhiều lần kêu ca hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam với giá rẻ hơn vì một số lượng không nhỏ đã được nhập lậu qua các ngả biên giới giữa hai nước. Chỉ riêng trên mặt chính thức, nhập cảng từ Trung Quốc đã cao hơn nhiều lần so với hàng Việt Nam xuất sang Trung Quốc.
* Source: http://www.saigontimes.com.au

Các chuyên mục 



