Vua Quang Trung với Hoàng Sa, Trường Sa - Ai chủ mưu đầu độc Quang Trung? Mộ Quang Trung chưa bị Gia Long phá?
12.02.2009 04:03
Mô tả trong nhiều tư liệu lịch sử khẳng định, lực lượng hải quân Tây Sơn trong thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông trên biển và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo giữa Biển Đông.
Di tích miếu Hoàng Sa nay vẫn tồn tại ở đình làng Lý Hải thuộc đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Công việc thực thi chủ quyền ở khu vực hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thật sự được bắt đầu khi chúa Nguyễn Phúc Nguyên lên nắm quyền và đặt ra các đội Hoàng Sa, Bắc Hải đặc trách công việc khai thác và bảo vệ Biển Đông từ tuyến ngoài. Đây là một phương thức thực thi chủ quyền độc đáo của Nhà nước Việt Nam trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông mà không có bất cứ một quốc gia nào trong khu vực có được…  | | Vua Quang Trung. Tranh minh họa. | Thành tựu vĩ đại của phong trào nông dân Tây Sơn là đã bước đầu thống nhất được đất nước sau nhiều thế kỷ bị chia cắt thành hai khu vực Đàng Trong, Đàng Ngoài. Đây cũng là lần đầu tiên sự thống nhất được thực hiện trên phạm vi rộng lớn tương đương với nước Việt Nam ngày nay và cũng là lần đầu tiên, toàn bộ đường bờ biển chạy dài từ Vịnh Bắc Bộ đến Vịnh Thái Lan với hàng nghìn hòn đảo ven bờ cùng các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa ngoài Biển Đông đã thuộc về quyền kiểm soát của Nhà nước Việt Nam. Giống như các chúa Nguyễn trước đây, triều đại Tây Sơn của Quang Trung - Nguyễn Huệ vẫn tiếp tục tổ chức các đội Hoàng Sa và Bắc Hải với chức năng chủ yếu là bảo vệ và khai thác vùng quần đảo xa giữa Biển Đông. Đội Hoàng Sa thời kỳ chúa Nguyễn được ấn định số lượng 70 suất và hoàn toàn chỉ chọn người xã An Vĩnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Hằng năm, cứ vào tháng hai, đội xuất hành gồm 5 chiến thuyền ra Hoàng Sa, Trường Sa thu nhặt hóa vật của tàu bị nạn, tìm kiếm hải vật và ở lại đây đến tháng tám mới trở về nộp cho triều đình Phú Xuân. Đội Bắc Hải tuyển người ở thôn Tứ Chính và xã Cảnh Dương thuộc tỉnh Bình Thuận và không cố định số suất thủy thủ như đội Hoàng Sa. Phong trào nông dân Tây Sơn khi bùng nổ đã phát triển rất nhanh và đến cuối năm 1773, đã giải phóng được một vùng rộng lớn từ Quảng Nam ở phía Bắc cho đến tận Bình Thuận ở phía Nam. Như thế là toàn bộ các vùng quê hương của hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải, từ rất sớm đã nằm trong khu vực kiểm soát của quân Tây Sơn. Vào ngày 15 tháng Giêng năm 1776, Cai hợp phường Cù Lao Ré (đảo Lý Sơn) là Hà Liễu đã làm đơn trình bày rõ: “Bây giờ chúng tôi lập hai đội Trường Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi dâng nạp. Nếu như có tờ truyền báo, xảy chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm. Xong việc rồi chúng tôi xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp”. Tờ đơn đã được chính quyền Tây Sơn (vua Thái Đức) xem xét, chuẩn cho và hiện vẫn còn lưu giữ lại nhà thờ họ Võ, phường An Vĩnh (nay là thôn Tây, xã Lý Vĩnh, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi). Cũng tại nhà thờ họ Võ, đến nay vẫn còn giữ được Chỉ thị ngày 14/2 năm thứ 9 hiệu Thái Đức (1786) của Thái Phó Tổng Lý Quản binh dân chư vụ Thượng tướng công “Sai Hội Đức hầu Cai đội Hoàng Sa luôn xem xét đốc suất trong đội cắm biển hiệu thủy quân, cưỡi bốn chiếc thuyền câu, vượt biển thẳng tiến Hoàng Sa cùng các sứ cù lao ngoài biển, tìm nhặt đồ vàng, bạc, đồng và các thứ đại bác, tiểu bác, đồi mồi, vỏ hải ba, đá quý… đều chở về kinh tập trung nộp theo lệ. Nếu ngạo mạn càn bậy không đến, lại gian dối lấy bớt các vật quý hoặc sinh sự với dân làm muối, làm cá đều sẽ bị trị tội”. Ngoài ra còn có bản Ngự phê lời tâu của dân xã An Vĩnh về việc dâng nộp các loại đồi mồi, hải ba, quế hương và xin miễn sưu dịch đã được thánh chỉ ban thưởng vàng và phê “chuẩn cho”. Văn bản chép rõ: “Niên hiệu Thái Đức năm đầu đến năm thứ 15 (1778-1792)” và “niên hiệu Cảnh Thịnh năm đầu đến năm thứ 9 (1793-1801). Khi ấy John Brrow là phái viên của phái bộ Macartney đi từ Anh sang Trung Quốc có ghé qua khu vực Đà Nẵng vào tháng 6 năm 1793 (dưới triều vua Quang Toản)”. Trong A Voyage to Cochinchina, in the year 1792-1793 (Một chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, vào những năm 1792-1793) mô tả: “Tàu thuyền xứ Đàng Trong có nhiều kiểu dáng khác nhau, được dùng vào việc buôn bán ven biển, chài lưới, thu lượm hải sản và tổ yến trong nhóm quần đảo gọi là Paracels (Hoàng Sa)”. Từ những tư liệu hiện có, đã xác định được chủ quyền trên các quần đảo ngoài Biển Đông dưới thời Tây Sơn. Thời ấy tình hình trước Trung Hoa rất phức tạp, nhiều người chống đối chính quyền Mãn Thanh đã phải phiêu bạt trên Biển Đông, triều Tây Sơn đã ban nhiều tờ chiếu khuyến dụ lực lượng này quy thuận. Chiếu dụ Tàu Ô viết dưới thời Quang Trung từng vạch rõ: “Họ” (dân Tàu) ra vào nơi bể nước (Biển Đông), tụ tập đồ đảng lấy việc cướp bóc làm kế sinh nhai, có lẽ cũng là việc bất đắc dĩ, phần vì thiếu miếng ăn nên phải làm vậy, phần vì những chính sách bạo ngược xua đẩy. Quang Trung kêu gọi họ sớm đầu hàng. Và chiều theo sở nguyện của từng người thậm chí chấp thuận cho cả “những người có chí lớn, muốn xông pha nơi ngọn sóng cùng hải đảo”. Thu phục những người Trung Hoa phiêu bạt trên Biển Đông và sử dụng họ tham gia vào công việc Nhà nước là một chính sách quan trọng và có tính chiến lược của vương triều Tây Sơn lúc ấy. Sách Thánh Vũ Ký của Ngụy Nguyên (1794-1857) cho biết: Có nhiều người Trung Hoa làm nội ứng cho An Nam, được chúa An Nam Quang Toản phong cho làm Tổng binh hoặc Đông Hải vương: “Triều đình đang bận việc dẹp phía Tây, chưa lo xa đến vùng biển đảo, vì thế mà giặc hoạt động rất táo tợn. Năm đầu niên hiệu Gia Khánh (1796) vị tướng ở Khúc Châu là Khôi Luận, Tổng đốc lưỡng Quảng là Cát Khánh đã nhiều lần tâu vua rằng: bọn giặc biển Tàu Ô là Trần Thiên Bảo đã được An Nam cho làm Tổng binh và cấp cho ấn”. Cũng trong cuốn sách này Ngụy Nguyên mô tả “Di thuyền” (thuyền của quân Tây Sơn) cao, to hơn thuyền Trung Hoa, trên đặt nhiều súng, hoành hành lâu năm trên mặt biển và nếu quân nhà Thanh gặp thì cũng khó có thể địch được. Đây là một bằng chứng khẳng định lực lượng hải quân Tây Sơn trong thực tế đã kiểm soát được các tuyến giao thông trên biển và là chủ nhân của các vùng đảo, quần đảo giữa Biển Đông. Sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, nhà Nguyễn vẫn tiếp tục chính sách tiến ra Biển Đông, khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các triều: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị… đã thực thi chủ quyền của mình bằng nhiều hình thức như vãn thám, kiểm tra, kiểm soát, khai thác các vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết. Những đóng góp quan trọng của triều Nguyễn thế kỷ 19 vào lịch sử chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông là sự tiếp nối chính sách của vương triều Tây Sơn ngày ấy.(QDND)
Giấc mơ Quang Trung
Chương trình lớn lao của vua Quang Trung là dựng lại nước Việt-Thường. Trước kia, Trưng vương đã thu hồi toàn bộ đất nước Việt-Thường; sau đó, các vua Lê Đại Hành, Lý Thái tổ, Lý Thái tông, đại tướng quân Lý Thường Kiệt, các vua Trần Thái tông, Lê Thánh tông đã từng tiến quân vào nước cũ. Đến vua Quang Trung thì nhà vua đã có chương trình kế hoạch dứt khoát, cụ thể để dựng lại nước Việt-Thường, giải thoát cho đồng bào bên ấy, giành lại đất đai đã bị đế quốc Tần và Tục-Tần cướp đoạt. Các sự kiện sau đây cho biết phần nào về chương trình ấy :
+ Trong lúc đánh đuổi quân xâm lược, quân ta bắt được vô số tù binh Thanh; vua Quang Trung đã tổ chức họ thành “Binh đoàn nội địa”. Tờ chiếu “Phối trú nội địa hàng binh” của vua có đoạn : “vậy, ban chiếu này phát phối các ngươi vào các cơ đội, sung vào quân ngũ, cấp cho lương hướng, để các ngươi khỏi bị cái khổ gông cùm, được ra trận tòng quân, dùng làm nanh vuốt"
Việc tổ chức Binh đoàn nội địa tất không ngoài việc gây bạo động, cát cứ tại các tỉnh miền nam nước Tàu, tiến tới khởi nghĩa, thiết lập chính quyền cách mạng, công việc ấy lúc này người Tàu bị đô hộ đang tiến hành.
+ Tại Tứ Xuyên có tổ chức “Thiên địa hội” đang gây phong trào chống Mãn Thanh khắp nơi. Vua Quang Trung đã bảo trợ họ, giúp phương tiện cho họ hoạt động, phong cho các thủ lãnh của tổ chức làm tướng (chú : tất nhiên là tướng của vua ta, nước ta)
+ Nhiều toán hải tặc ở biển Tàu bị quân nhà Thanh truy nã liền chạy sang xin qui thuộc nước ta, vua Quang Trung thu dụng tất cả, phong cho các thủ lãnh chức Tổng binh, sai tiếp tục đánh phá quân Thanh triều ở ven biển.
Như vậy, bước thứ nhất của kế hoạch là chuẩn bị các lực lượng nội địa và gây rối loạn bất ổn khắp trên phần đất nước Việt-Thường bị chiếm, khiến vua Thanh thấy khó lòng giữ được phần đất này. Ngay trong năm 1790, bước thứ nhất này đã có kết quả : khi giả vương Phạm Công Trị sang chầu, vua Càn long đã ân cần yêu cầu giả vương bảo vệ an ninh cho phần Việt đông (chú : Việt đông là miền đông nước Việt, tức các tỉnh Triết giang, Phúc kiến, Quảng đông và đảo Hải nam).
Bước thứ hai của kế hoạch : vua bắt đầu thực hiện với tờ sắc ngày rằm tháng tư năm Quang Trung thứ tư (1792), sai Đại đô đốc Vũ Văn Dũng làm chánh sứ sang triều Thanh đòi lại miền Lĩnh Nam của nước ta. Tờ sắc có đoạn : “Sắc sai Hải dương Chiêu viễn Đại đô đốc Đại tướng quân Dực vận công thần Vũ quốc công sung chức Chánh sứ sang Tàu tâu xin lại hai tỉnh Quảng đông và Quảng tây và cầu hôn một vị công chúa” (chú : Vũ quốc công là Vũ Văn Dũng; hậu duệ của Đại tướng họ Vũ ngày nay vẫn còn lưu giữ được tờ sắc phong này).
Đây là cách xử lý rất khôn khéo. Nếu vua Càn long đồng ý thì hai tỉnh Quảng đông, Quảng tây sẽ là của hồi môn của công chúa, triều Thanh không bị tai tiếng gì; còn nếu vua Càn long không đồng ý thì các cuộc khởi nghĩa sẽ bùng nổ ở khắp nội địa miền nam, hải tặc sẽ chiếm lĩnh miền ven biển. Thanh triều động binh đàn áp thì quân đội Việt Nam sẽ giúp nghĩa quân đánh dẹp …
Sứ bộ Vũ Văn Dũng đã sang Tàu. Nhưng vua Quang Trung đột ngột băng hà khiến Đại tướng Vũ phải đổi tờ sớ xin đất thành tờ báo tang. Có phải đây là sự thật ? hay do người ta thêu dệt ? trí người Việt thật cao phải ko ?
Có thể mộ Quang Trung chưa bị Gia Long quật phá!
< script language=javascript type=text/javascript>function openPopup(url) {window.open(url, "popup_id", "scrollbars,resizable,width=450,height=400");}function openPopupCustome(url) {window.open(url, "popup_id", "scrollbars,resizable");}< /script>
Tranh chân dung vua Quang Trung |
(TT&VH online) - Có rất nhiều tài liệu mới, thú vị về vua Quang Trung và triều Tây Sơn được công bố tại hội thảo “Tây Sơn - Thuận Hoá và Anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ - Quang Trung”. Hội thảo do Hội Khoa học lịch sử TT-Huế và UBND thành phố Huế tổ chức trong dịp festival Huế 2008. Có 30 tác giả, phần lớn là những chuyên gia về thời Tây Sơn ở Hà Nội, Huế, TP.Hồ Chí Minh, Bình Định, và 4 tác giả nước ngoài tham gia hội thảo. Những nghi vấn... Nhà nghiên cứu Hoàng Xuân Định, sau khi nghiên cứu những ghi chép về quá trình Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn, lấy lại kinh đô, cũng như việc khai quật mộ, phơi xác, bêu đầu vua Quang Trung...trong “Đại Nam thực lục” của Quốc sử quán triều Nguyễn đã phát hiện 3 điều vô lý: Thứ nhất, trong tháng 11 năm Tân Dậu (1801) đang có chiến sự cấp bách, phía nam Phú Xuân đang có quân Tây Sơn uy hiếp ở vùng Quy Nhơn, phía bắc đang có hơn 3 vạn quân của Quang Toản và Bùi Thị Xuân kéo vào đến tận Sông Gianh để chuẩn bị tái chiếm Phú Xuân và vua Gia Long đang tính đến chuyện thân chinh. Tình hình cấp bách như thế mà cùng lúc, vua Gia Long lại có đủ tâm trí và thời gian để đi tìm mộ Quang Trung và tìm ra được để quật phá (?). Có chăng, đó chỉ là nguỵtạo quật phá mộ ai đó để bá cáo làm yên lòng gia nhân và quân sĩ còn ở Gia Định. Thứ hai, tái chiếm Phú Xuân mới 6 tháng mà lo ngay việc tìm và quật phá mộ vua Quang Trung, và mãi một năm sau mới lo việc lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long. Hoá ra việc quật phá lăng mộ để trả thù quan trọng hơn việc lên ngôi vua (?). Thứ 3 là về mặt sinh học. Vua Quang Trung đã chết qua 10 năm, vậy mà khi quật mộ vẫn còn thây để phơi, còn đầu lâu chưa biến dạng đáng kể để bêu (?) Điều vô lý nữa là trong “Đại Nam liệt truyện” của Quốc sử quán triều Nguyễn chép khá cụ thể về hành xử tàn bạo đối với hài cốt của vua Quang Trung và con cái, tướng lĩnh của ông, thậm chí còn cụ thể với cả những chuyện thâm cung bí sử khi Quang Trung lâm bệnh. Nhưng tại sao khi chép về nơi an táng của vua Quang Trung lại sơ sài và mù mờ chưa đến một câu: “tháng 10 táng ở nam sông Hương”(?) Phải chăng vua Gia Long lúc đó không biết mộ Quang Trung nằm ở đâu (?) Từ những vô lý trên, cùng với nhiều bằng chứng khác, ông Hoàng Xuân Định kết luận: “Rất có thể mộ vua Quang Trung chưa bị vua Gia Long quật phá”.  Hình vẽ minh họa về vua Quang Trung Kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa |
Vua Quang Trung chết do “viêm phổi sặc” (?) Theo sử liệu thì vua Quang Trung mất đột ngột ngày 16.9.1792 (dương lịch), lúc đó mới 39 tuổi, sau một thời gian bị bạo bệnh. Nhiều tài liệu ghi là vua Quang Trung chết do bị bệnh “huyết vựng”, nhưng cũng có nhiều tài liệu đặt ra nhiều giả thiết khác nhau. Bác sĩ Bùi Minh Đức (hiện đang sống ở Hoa Kỳ) gửi đến hội thảo một báo cáo khoa học, lý giải bệnh trạng và nguyên nhân cái chết của vua Quang Trung, dựa trên theo dõi cách điều trị của thái y, cách chăm sóc của Hoàng hậu Ngọc Hân và trạng thái của bệnh nhân trước khi chết, kết hợp với phương pháp nghiên cứu chuyên ngành y hiện đại của nội, ngoại thần kinh, tai mũi họng, tim mạch... Từ những khảo cứu trên, bác sĩ đã đưa ra một giả thuyết về hồ sơ bệnh lý của vua Quang Trung như sau: "Tên và họ: Nguyễn (Văn) Huệ; tuổi: 39; giới tính: Nam; nghề nghiệp: chỉ huy quân đội, tính tình xông xáo, thích hoạt động. Kết luận bệnh án: Xuất huyết não dưới màng nhện (ngày nay thường gọi là tai biến mạch máu não). Nguyên nhân tử vong: Viêm phổi sặc. Bệnh sử: “Bệnh nhân đang ngồi chơi buổi chiều, không vận dụng sức lực hay làm việc gì nặng nhọc, bỗng cảm thấy đầu đau nhức như có ai cầm gậy sắt đánh vào trước trán và té xuống, hôn mê bất tỉnh. Sự việc xảy ra đột ngột. Giờ lâu bệnh nhân mới tỉnh lại”. Hình vẽ Ngọc Hân công chúa và Quang Trung Nguyễn Huệ |
Nhà Tây Sơn có 4 anh em ? Hội thảo còn công bố những thông tin mới liên quan đến triều Tây Sơn và thân thế vua Quang Trung như: Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân công bố và cho trưng bày bản sao bộ tranh “Bình định An Nam chiến đồ”, do hoạ sĩ Dương Đại Cương dưới thời Càn Long vẽ, hiện được lưu trữ ở thư viện của Đại học Harvard (Mỹ). Bộ tranh gồm 6 bức, chủ yếu mô tả cảnh chiến trận giữa quân Thanh và Tây Sơn, trong đó quan trọng nhất là bức miêu tả cảnh vua Càn Long tiếp kiến Nguyễn Quang Hiển – một người cháu của vua Quang Trung thay vua sang yết kiến vua Càn Long sau khi thắng trận. Các tham luận tại hội thảo đã đưa ra một số giả thiết là nhà Tây Sơn có ít nhất 4 anh em trai. Anh đầu là Nguyễn Quang Hoa. Ông này có thể do bị chết sớm, hoặc vì lý do nào đó không tham gia lãnh đạo phong trào Tây Sơn, nên không được sử sách ghi lại. Chỉ sau khi Nguyễn Quang Hiển kê khai lý lịch với quan chức triều Thanh khi đi sứ vào năm 1790, thì nhân thân của ông mới được tiết lộ. Tác giả Nguyễn Duy Chính (Hoa Kỳ) đã tìm thấy trong văn khố của Cố cung viện Bác vật Đài Bắc một bức thư của Đại tư mã Ngô Văn Sở (người được Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ giao trông coi Bắc Hà). Thư gởi cho Phan Khải Đức (trông coi hành chính tỉnh Lạng Sơn) và Trần Danh Bính (trông coi quân sự tỉnh Lạng Sơn), để kêu gọi hai người này (đã đầu hàng khi quân Thanh đem quân sang xâm lược Việt Nam), khuyên hãy quay về với dân tộc. Từ bức thư này cũng có thêm nhiều thông tin liên quan đến triều Tây Sơn như việc vua Quang Trung lên ngôi là đã có chuẩn bị từ trước đó, chứ không phải đợi đến khi nghe tin quân Thanh kéo sang mới lên ngôi cho “chính vị” và ràng buộc lòng người trước khi kéo quân ra Bắc. Cát Tường
Suốt hai thế kỷ qua, nhiều điều nghi vấn về cái chết của vua Quang Trung vẫn chưa được "giải tỏa" một cách thỏa đáng. Liệu khoa học pháp y ngày nay có thể mang lại lời giải thích nào chăng?
VÀI GIẢ THUYẾT
Vua Quang Trung mất vào tuổi bốn mươi, giữa lúc đang chuẩn bị thực hiện hai ý đồ hết sức lớn lao: ông dự tính mở một chiến dịch lớn để tiêu diệt quân Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp để hoàn thành việc thống nhất đất nước; đồng thời tích cực đòi lại hai tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông từ nhà Thanh bên Trung Quốc. Trong bối cảnh lịch sử như vậy, triều đình đã tuyệt đối giữ bí mật về cái chết của nhà vua, ra lệnh giới nghiêm "nội bất xuất, ngoại bất nhập" ngăn chặn từ xa mọi con đường tới kinh đô Phú Xuân. Đến nỗi n_ người anh cả của nhà vua là Nguyễn Nhạc, khi nghe tin vua mất, dẫn một đoàn hơn ba trăm người từ Quy Nhơn ra cũng bị chặn lại ở Quảng Ngãi, chỉ để có một mình bà chị được đi tiếp.
Cho đến nay, đã có nhiều giả thuyết được đưa ra nhưng chưa giả thuyết nào có được chứng cứ xác thực, đủ sức thuyết phục. Có thể tập trung những giả thuyết này vào những ý chính sau đây:
1. Trong khi tích cực chuẩn bị binh mã để tiến đánh chiếm Quảng Tây, Quảng Đông, vua Quang Trung đã làm một động tác ngoại giao nghi binh: phái Đại tường Võ Văn Dũng cầm đầu một thái đoàn sang triều đình nhà Thanh dâng biểu xin cầu hôn con gái vua Càn Long và đòi lại đất lưỡng Quãng, cốt để "dò xem ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây binh đao" (Hoàng Lê Nhất Thống Trí, và Đại Nam chính biên liệt truyện. Vua Càn Long lúc đó đã tám mươi tuổi, đã trị vì hơn sáu mươi năm, là người đã hết sức lão luyện về mọi mưu mô chính trị, liệu còn có thể bị "đánh lừa" như khi tiếp "Quang Trung giả" ở nhiệt Hà và Bắc Kinh với những lời thơ chan chứa tình cảm: "Mới gặp nhau mà như đã thiên thu… Người xa nhưng Trẫm luôn nhắc nhở. Hội ngộ thịnh thời thỏa ước mơ"? Lần này, chắc chắn vị vua cáo già ấy đã nhìn rõ ý định của vua Quang Trung nên "tương kế tựu kế": một mặt chấp nhận cả hai đề nghị của vua Quang Trung, mặt khác lại cho người sang ám hại nhà vua bằng thứ võ khí nham hiểm nhất là thuốc độc.
2. Vào năm 1961, một người tên Nguyễn Thượng Khánh, tự nhận mình thuộc chi phái Lê Duy Mật của hoàng tộc nhà Lê, đã viết một loạt bài đăng trên tạp chí Phổ thông xuất bản ở Sài Gòn (từ số 61 đến 65) dưới nhan đề "Vua Quang Trung chết vì một liều độc dược của Ngọc Hân công chúa". Ông cho đó là một sử liệu bí mật của dòng họ nhà ông, có liên quan đến lịch sử mà "xưa nay chưa ai phát hiện ra". Theo ông này, khi được tin vua Càn Long hứa gả con gái cho Quang Trung, "trong một phút bồng bột vì quá ghen, Ngọc Hân đã bỏ thuốc độc cho Quang Trung uống". Đi xa hơn nữa, ông còn cho rằng: "cuộc hôn phối giữa Nguyễn Huệ và Ngọc Hân không là cuộc hôn phối tốt đẹp, lẽ tự nhiên có một sự oán hờn bên trong", và "nếu không vì chữ hiếu thì Ngọc Hân đã có thể chết đi được khi nàng được tin phải làm vợ của tướng Tây Sơn”. Lại đi xa hơn nữa, ông còn cho rằng: “bài văn tế Quang Trung và Ai Tư vãn cho là của Ngọc Hân công chúa nhưng sự thật chưa hẳn đã đúng…”
Những bài báo của ông Khánh đã gây ra một sự phẫn nộ và phản ứng mạnh mẽ không những từ các nhà học giả, giới tri thức mà cả từ con cháu dòng dõi Lê Duy Mật ở rải rác khắp miền Nam. Sau đó, nhiều bài báo đã vạch ra những sai lầm, dốt nát về lịch sử của ông Khánh, phê phán óc tưởng tượng bệnh hoạn của ông đã dám xúc phạm đến những vị anh hùng, liệt nữ được cả dân tộc mến yêu. Cuối cùng, người ta đã về tận sinh quán của ông Khánh để tra cứu gia phả thì xác minh ông không phải là dòng dõi Lê Duy Mật như ông đã tự nhận.
3. Sách Ngụy Tây liệt truyện, một tài liệu chính sử của Sử quán triều Nguyễn, giải thích cái chết của vua Quang Trung như sau:
“Một hôm, về chiều, Quang Trung đang ngồi bỗng xây xẩm, tối tăm, thấy một ông già đầu bạc từ trên trời xuống, mặc áo trắng, cầm gậy sắt, mắng rằng: “Ông cha người sống ở đất của Chúa, đời đời làm dân Chúa Nguyễn, sao phạm đến lăng tẩm...". Rồi lấy gậy đánh vào trán Quang Trung, mê man ngã xuống, bất tỉnh nhân sự lâu lắm... Từ đó, bệnh chuyển nặng..."
Sách Tây Sơn thực lục cũng có ghi "Huệ mắc bệnh nặng, chữa không khỏi...". Và sau khi Quang Trung mất, vào tháng một năm Càn Long thứ 58 (1793), Quách Thế Huân cũng báo áo với Càn Long: "Quang Trung đã chết vì bệnh".
Một giáo sĩ tên Longer, có mặt ở Đàng Ngoài vào những thời điểm này, đã viết trong một bức thư đề ngày 21 - 12 - 1792 là vua Quang Trung chết vì bệnh, nhưng không rõ là bệnh gì.
Như vậy, tóm lại chỉ có hai giả thuyết chính: nhà vua đã chết vì đầu độc, hay chết vì bệnh nhưng không rõ là bệnh gì.
THỬ PHÂN TÍCH THEO KHOA HỌC PHÁP?
Về mặt pháp y, thông thường chỉ có bốn nguyên nhân gây ra cái chết. Đó là chết vì tai nạn (xe cộ, lao động...), chết vì tự sát, chết vì án mạng (bị giết) và chết tự nhiên (bệnh tật, tuổi già...). Trong thực tế thì phức tạp hơn nhiều: một vụ án mạng có thể được ngụy trang thành một vụ tự tử, một tai nạn, thậm chí một vụ chết tự nhiên. Và ngược lại, có những dấu hiệu có thể làm nhầm lẫn một tai nạn, một vụ tự tử , một cái chết tự nhiên với một vụ án mạng tinh vi có chủ mưu.
Trong trường hợp vua Quang Trung, có thể loại bỏ n_ nguyên nhân tự tử. Còn về nguyên nhân tai nạn thì có nghi vấn, không có sử sách nào nói trong suốt cuộc đời trận mạc, nhà vua đã có lần nào bị thương chưa, bị thương ở phần nào của cơ thể, nhất là có bị thương vào đầu không (chấn thương sọ não).
Về hai nguyên nhân chính bị đầu độc và bị bệnh - thì hai nguyên nhân này cũng không loại trừ nhau. vì có thể có những vụ "đầu độc dần dần", gây nên một sự nhiễm độc chậm, không làm chết nhanh chóng, chết đột ngột mà làm cho cơ thể bị nhiễm độc biểu hiện ra bằng những triệu chứng có thể nhầm với bệnh tật. Ngược lại, cũng có những bệnh tật thực sự, trong quá trình diễn biến sinh ra độc tố, có thể biểu hiện ra bằng những dấu hiệu giống như bị đầu độc.
Trong trường hợp của vua Quang Trung , có thể khẳng định nhà vua không chết đột ngột mà đã trải qua một quá trình bệnh tật nhiều ngày: "Từ nắng hạ, mưa thu trái tiết...", được Ngọc Hân tận tình cứu chữa, lo chạy "khắp mỗi chốn đâu đâu tìm rước. Phương pháp nào đối được cùng chăng?" - (Ai Tư vãn).
Chúng tôi cho rằng có thể gạt bỏ giả thuyết bị đầu độc, vì để đầu độc một người chết dần dần như bị bệnh không phải là chuyện dễ, phải có chất độc thích hợp. Chất gì, kiếm ở đâu ra, làm sao mang được vào trong cung vua, dùng với liều lượng nào để không gây chết nhanh, v.v....? Trong lịch sử nước ta, không hề nghe nói có vụ nào dần dần như vậy. Uống thuốc độc tự tử hay "tam ban triều điển" thường là chết rất nhanh, vừa uống khỏi mồm là đã vật vã chết rồi.
Cuối cùng, chỉ có giả thuyết chết vì bệnh có lẽ gần sự thật nhất. Nhưng chết vì bệnh gì?
Suy luận theo những kiến thức Tây y đương đại, chúng tôi nghĩ rằng một con người như vua Quang Trung, đang ở độ tuổi sung sức, hoạt động mãnh liệt, đánh đông dẹp bắc, ngày đêm lo nghĩ, có một cuộc sống cực kỳ căng thẳng, nói như ngày nay là "luôn luôn bị những stress" như vậy thì không tránh khỏi bệnh cao huyết áp. Thêm vào đó là chế độ dinh dưỡng của một ông vua ngày nào cũng mỡ thịt phủ phê, làm sao không để lại một tỉ lệ cholestérol cao trong máu, dẫn đến xơ vữa động mạch - nguyên nhân của những tai biến mạch máu não.
Ta không thể bỏ qua được điều giải thích trong sách Ngụy Tây liệt truyện: gạt bỏ những chi tiết mê tín dự đoan và ác ý chính trị thì cái lõi còn lại chính là triệu chứng của một cơn tăng huyết áp đột ngột, mà Tây y mô tả như, ở thời chiến trận ngày xưa, người ta dùng những cây gỗ thật lớn lao vào cửa thành để phá cửa: Un coup de bélier hypertensif - Người bệnh bỗng xây xẩm mặt mày, ngã xuống bất tỉnh...
Hiện thời chúng ta có những giả thuyết là Vua Quang Trung chết vì những lý do sau đây:
1. Đứt mạch máu hay đứng tim gây ra bởi con người của ông ấy (cách sống hay sinh ra đã như vậy rồi) 2. Đứt mạch máu hay đứng tim vì làm việc quá độ trong 6 năm cuối cùng. 3. Bị đầu độc bởi người của Nguyễn Ánh 4. Bị đầu độc bởi vợ là Ngọc Hân Công Chúa 5. Bị đầu độc bởi Vua Tầu hay đồ vật cho bởi Vua Tầu 6. Bị đầu độc bởi anh là Nguyễn Nhạc hay em là Nguyễn Lữ 7. Bị đầu độc bởi những người truyền đạo.
Chúng ta có thể đem ra những dữ kiện để bãi bỏ hoặc hỗ trợ những lý do trên. Một nguồn tin cho biết những chi tiết sau đây hỗ trợ cái lý do số 5 ở trên:
" Năm 1789, khi Thành Lâm phong vương cho vua Quang Trung, vua Càn Long có tặng vua Quang Trung áo cẩm bào có thêu 7 chử ngầm báo cho biết là...chết tới nơi! Đó là "Xa tâm chiết trục đa điền thử." Xa= xe,tâm= tim, ngay giữa, chiết= gãy, trục= trục của xe, đa=nhiều, điền= ruộng, thử= con chuột. Một câu kỳ cục, bí hiểm, chả ai hiểu nghĩa là gì? Giữa cái xe, cái trục bị gẩy, do đa số là con chuột đồng?
Năm 1792, vua Quang Trung bị tai biến mạch máu não, nằm liệt giường mấy tháng rồi băng hà. Đó là năm con chuột, Nhâm Tý. Tại sao lại xa tâm? Chữ Xa kết với chữ Tâm ra chữ Huệ, tên vua Quang Trung! Xe gẫy trục là...xe chạy xuống hố, chết! Chết nhằm năm Tý! Như vậy thì áo có tẩm thuốc độc,ngấm dần vào da, chết là cái chắc! "
Thêm một chi tiết là ngày vua băng hà, Khựa cử một đoàn sứ giả qua viếng, khi đến biên giới nước ta thì quan quân trấn thủ biên giới vẫn chưa nhận được tin vua bang hà. (Khựa nó biết trước ngày mất).
Nhưng có một điểm không hơp lý ở đây là: Tại sao Quang Trung lại mặc chiếc áo đó thường xuyên (nhiều lần thì mới bị chất độc ngấm vào người) như vậy? Mà suy theo lẽ thường, Quang Trung vốn chẳng ưa gì mấy thằng Khựa, vậy đúng ra ông ta phải quẳng cái áo kia vào trong kho mới đúng. Chả nhẽ lại cứ lôi ra mặc thường ngày? Quan lại nhìn vào thì ăn nói làm sao? Đây là vấn đề thể diện quốc gia chứ đâu phải chuyện nhỏ mà bảo ông ta sơ ý?
Công việc xây dựng quốc gia đang tiến hành trôi chảy, thình lình Vua Quang Trung băng hà. Vua băng ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý [79](15-9-1792). Nguyên nhân gây ra cái chết của Vua Quang Trung đã trở thành một nghi án lịch sử. Ðại Nam Chính Biên Liệt truyện ghi rằng: Huệ trong lúc lấy kinh đô Phú Xuân có mạo phạm lăng tẩm của Liệt Thánh. Một ngày kia, đương ngồi, thình lình bắt đầu xây xẩm rồi ngã ra hôn mê. Mơ màng thấy một lão trượng đầu bạc áo trắng, cầm gậy sắt, từ không trung đi đến, mắng rằng: Ông cha mày đều sanh ở đất Vua, mày sao dám mạo phạm đến lăng tẩm?. Nói dứt lời liền lấy gậy sắt đánh nơi trán Huệ. Huệ ngã xuống bất tỉnh, hồi lâu mới tỉnh lại. Từ ấy bịnh càng ngày càng nặng, mới triệu viên Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu về thương nghị việc dời đô ra Nghệ An. Ðó là lời của sử gia Nguyễn Gia Miêu[80] bịa ra để bôi nhọ Vua Quang Trung. Bịa không được khéo, bởi ai kể lại câu chuyện hoang đường ấy cho viết sử chép? Chẳng lẽ Vua Quang Trung kể lại giấc mộng không mấy đẹp của mình? Có người bảo nhà vua bị thượng mã phong. Ðó chỉ là chuyện hài hước. Lại có người độc miệng bảo rằng nhà vua bị Ngọc Hân Công Chúa ám hại bằng cách bỏ thuốc độc vào rượu[81]. Rõ là vu cáo giữa trời! Thiết tưởng Vua Quang Trung chết vì bệnh huyết áp cao, làm việc nhiều, suy nghĩ nhiều, bị đứt mạch máu. Cái chết đột ngột do bệnh huyết áp cao gây nên thường xảy ra và dân gian thường gọi là trúng gió. Chớ nếu quả có điều ám muội thì dễ gì triều đình Tây Sơn đã để yên. Truyền rằng: Mùa xuân năm Nhâm Tý (1792), Vua Quang Trung hay tin Nguyễn Phúc Ánh đã chiếm được Gia Ðịnh và kéo quân ra đánh Quy Nhơn, bèn nổi giận: - Giống cỏ gấu không diệt tận gốc, cứ nảy ra hoài! Liền chuẩn bị kéo đại binh vào đánh. Lục quân từ trên đánh xuống, Thủy quân từ dưới đánh lên. Bao vây mặt biển, cắt đứt đường núi, không cho quân Nguyễn chạy thoát. Mọi việc đã sắp đặt chu đáo thì thình lình nhà vua bị cảm. Bệnh mỗi ngày một nặng. Bèn triệu Trấn thủ Nghệ An là Trần Quang Diệu thương nghị về việc dời đô ra Nghệ An và việc đi đánh Nguyễn Phúc Ánh. Nhưng rồi biết mình không còn sống lâu được nữa, liền trối: - Ta mở mang bờ cõi gồm cả miền Nam. Nay bênh tình của ta không thể khá được, mà Thái Tử thì còn nhỏ. Phía trong thì bọn quốc cừu hoành hành ở Gia Ðịnh. Còn anh ta thì tuổi già, cầu an, không lo hậu hoạn. Ta chết rồi, trong vòng một tháng phải lo việc tống táng cho xong. Các khanh phải đồng lòng phò Thái tử và sớm lo việc thiên đô để khấu chế thiên hạ. Nếu không vậy, binh Gia Ðịnh kéo đến, các khanh không có đất chôn thây. Nói rồi băng tại điện Trung Hòa, ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý. Thọ 40 tuổi.Ở ngôi 5 năm. Thái Tử Nguyễn Quang Toản nối ngôi.
Y thuật đầu độc của TQ ngay cả với vua của họ, đừng nói vua Quang Trung của VN: Y học ngày nay đã chứng minh Hoàng đế Quang Tự bị sát hại bằng thạch tín
|
| | Các nhà pháp y cuối đã xác định nguyên nhân dẫn đến cái chết bí ẩn của Hoàng đế đời Thanh Quang Tự (1871-1908): Nhân vật lịch sử này bị đầu độc bằng thạch tín. | (TT&VH) - Các nhà pháp y cuối đã xác định nguyên nhân dẫn đến cái chết bí ẩn của Hoàng đế đời Thanh Quang Tự (1871-1908): Nhân vật lịch sử này bị đầu độc bằng thạch tín. Dự án nghiên cứu về cái chết của Hoàng đế Quang Tự được bắt đầu từ năm 2003, nằm trong chương trình quốc gia mang tên Biên soạn Lịch sử đời Thanh do nhiều cơ quan phối hợp thực hiện, trong đó có Ban Pháp y của Sở Công an thành phố Bắc Kinh và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc – nơi sẽ làm bộ phim tài liệu về dự án nói trên. Quang Tự (1831-1861), miếu hiệu là Đức Tông, thụy hiệu là Cảnh Hoàng đế là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Thanh. Ông trị vì từ năm 1875-1908 với niên hiệu là Quang Tự. Tên tuổi của vua Quang Tự gắn liền với phong trào Duy Tân nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Qua đời năm 36 tuổi, Hoàng đế Quang Tự lừng danh với những nỗ lực cải tổ hệ thống phong kiến yếu kém của triều đại Thanh và áp dụng chế độ quân chủ lập hiến vào năm 1898. Nhưng cuộc cải cách của ông bị thất bại bởi hầu hết quyền lực trong triều vẫn bị Từ Hy Thái Hậu với tư tưởng bảo thủ nắm giữ. Từ Hy Thái hậu là vợ Hoàng đế Hàm Phong và là cô của Vua Quang Tự. Năm 1898, Hoàng đế Quang Tự bị Từ Hy giam lỏng trên đảo Doanh Đài, sống như một kẻ tù tội và ngày 14/11/1908 ông đột ngột băng hà ở đây sau 10 năm bị cầm tù, chỉ 22 giờ trước khi Từ Hy qua đời. Kể từ đó nguyên nhân cái chết huyền bí của ông đã tạo nên nhiều ngờ vực. Các chuyên gia pháp y đã xét nghiệm 2 sợi tóc được lấy từ thi hài Hoàng đế Quang Tự và phát hiện thấy chúng chứa nhiều thạch tín, cao hơn 2.000 lần so với người bình thường khỏe mạnh hiện nay. Họ còn so sánh tóc của Hoàng đế Quang Tự với vợ ông là Hoàng hậu Long Dụ và một viên quan thời đó, kết quả cho thấy thạch tín trên tóc của Hoàng hậu thấp hơn Hoàng đế Quang Tự 261 lần và viên quan thấp hơn 132 lần. Song một số chuyên gia vẫn còn phân vân vì cho rằng Hoàng đế có thể bị nhiễm độc thạch tín khi uống thuốc đông y trong một thời gian dài, bởi trong một số thứ thuốc có chứa một lượng thạch tín nhỏ. Trước nghi ngờ đó, các chuyên gia đã quyết định tìm một người bị nhiễm độc thạch tín để so sánh và phát hiện ra tóc của Hoàng đế Quang Tự còn chứa nhiều chất này gấp 65 lần so với người kia. "Chúng tôi đã xét nghiệm phần tóc nhiễm thạch tín cao nhất của người đó và khi so sánh vẫn thấy mức độ nhiễm thạch tín trên tóc Hoàng đế Quang Tự cao hơn nhiều”, Wang Ke, một chuyên gia của CIAE, người tiến hành xét nghiệm, cho biết. Quang Tự - vị vua cuối cùng bị hành thích |
Xét nghiệm quan tài, trang phục và xương của Hoàng đế Quang Tự, các chuyên gia thấy lượng thạch tín trên quần áo của ông thấp hơn so với tóc và xương. Đồ lót có chứa nhiều thạch tín hơn áo choàng. Họ cho rằng, thạch tín đã lan từ thi thể sang quần áo qua quá trình phân hủy. Họ còn nhận thấy phần vải che bụng của Hoàng đế có lượng thạch tín cao hơn các phần khác và chất đọng lại trong dạ dầy cũng chứa lượng thạch tín rất cao. Gom từ tóc, quần áo và chất còn lại trong dạ dầy thì lượng thạch tín trong người Vua Quang Tự là 201.5 mg. Một người bình thường sẽ chết nếu như ăn từ 60 đến 200 mg thạch tín. "Chúng tôi kết luận, Hoàng đế Quang Tự qua đời do bị đầu độc thạch tín”, theo báo cáo của ban giám định. Nhưng ai là người giết Hoàng đế thì vẫn còn là một bí ẩn. Dai Yi, sử gia nổi tiếng về đời Thanh, phỏng đoán ông bị sát hại theo lệnh của Từ Hy Thái hậu chỉ chưa đầy một ngày trước khi bà băng hà. "Từ Hy (lúc đó 74 tuổi và ốm nặng) lo sợ rằng Quang Tự sẽ giành lại ngai vàng và tiếp tục kế hoạch cải cách sau khi bà qua đời”. Sau khi Hoàng đế Quang Tự và Từ Hy Thái hậu băng hà, cậu bé 2 tuổi tên là Phổ Nghi thừa kế ngai vàng và trở thành vị Hoàng đế cuối cùng của đời Thanh. Ông bị phế ngôi vào năm 1912 bởi cuộc cách mạng thành lập nên nước Cộng hòa Trung Hoa. |
|
|