Trung Quốc hiện là nước có tỉ lệ mất cân bằng giới tính lớn nhất thế giới, với khoảng 118 bé trai sinh ra so với 100 bé gái. Nhiều phụ nữ đã rời miền quê lên thành phố làm việc càng khiến những thế hệ thanh niên còn lại không tìm thấy một nửa của mình.

"Dùng chung vợ có thể giải quyết vấn đề mất cân bằng giới tính ở Trung Quốc". Ảnh: SCMP
“Thực tế là nước chúng tôi số lượng nam giới nhiều hơn nữ giới bội phần. Những vấn đề xã hội căn cơ như hiếp dâm và tấn công tình dục sẽ xảy ra nếu nam giới không tìm được vợ. Nhưng nếu họ có lựa chọn khác, tình hình ắt sẽ khác đi” - ông Xie nói và ông nhìn nhận vấn đề này từ góc độ kinh tế.
Trước sự mất cân bằng giữa cung và cầu, việc số đàn ông trẻ Trung Quốc tăng lên đáng kể trong khi nữ giới lại “khan hiếm”, tất nhiên giá trị của họ được nâng lên. Những người đàn ông có thu nhập cao có cơ hội lớn hơn để tìm được vợ. Còn đối với những người thu nhập thấp, một giải pháp thiết thực là nên dùng chung vợ với người đàn ông khác, ông nói.
“Tôi không hề bỡn cợt ở đây. Chúng ta không thể tước đoạt quyền có vợ của nam giới chỉ vì vấn đề đạo đức” - ông Xie nói và cho biết đây là thực trạng chung ở những vùng quê nghèo, hai anh em có thể cùng chung một vợ.
Ông Xie thậm chí còn đề nghị rằng Trung Quốc nên thay đổi luật pháp quy định hôn nhân một vợ một chồng. Ông nói Trung Quốc cũng nên chấp nhận việc dùng chung vợ hay thậm chí là hôn nhân đồng tính.
Ý tưởng này của ông gây ra luồng ý kiến trái chiều. Nhiều người còn hoài nghi về lập trường đạo đức trong ý tưởng của ông. Một số khác ủng hộ ông.
Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng hôn nhân là vấn đề riêng tư và phụ thuộc vào tâm ý của các bên liên quan.
hế độ đa phu
Bình-nguyên Lộc
Năm 1861, tức chỉ mới đây thôi, một quyển sách được xuất bản, làm chấn-động giới khoa học quốc-tế.
Soạn-giả của quyển cách đó là ông Bachofen, một nhà cổ ngữ học, chuyên nghiên cứu những văn-bản cổ xưa, khám-phá ra rằng người Hy-Lạp cổ thời đã theo chế độ mẫu hệ.
Trước đó nhiều trăm năm, các nhà truyền đạo Âu châu đã nói đến chế độ mẫu hệ ở các đảo nam Thái Bình Dương, nhưng không được ai tin cả. Vài người hiếm hoi sẵn lòng tin các nhà truyền giáo đó, nhưng họ cho rằng đó là chế độ của “Mọi rợ”, chẳng liên hệ gì đến các dân tộc văn minh.
Đùng một cái, khám phá của Bachofen làm đảo lộn tất cả các quan niệm cũ về khoa dân tộc-học: dân tộc văn minh nhứt hồi cổ thời là dân Hy-Lạp cũng đã theo chế độ mẫu-hệ.
Thế là từ Đông sang Tây, các dân tộc văn ninh cao và sớm đều theo mẫu hệ, hồi cổ thời. Các nhà nghiên cứu bấy giờ mới đổ xô nhau đi tìm biết thêm về chế độ mẫu hệ, và cho tới nay thì họ đã biết khá nhiều về chế độ ấy.
Tôi nói “Khá” nhiều vì họ chưa biết hết. Tôi nói “chưa biết hết” là chỉ mới nói sau một khám phá của chính tôi, chớ trước đó thì phần đông, trong đó có tôi cứ tưởng là đã biết hết. Tôi viết bản phúc trình nầy vào năm 1954, định dịch ra Pháp-văn để gởi cho Viện Viễn-Đông bác-cổ của Pháp, nhưng dạo ấy, tôi quá bận về bộ sử “Nguồn gốc Mã Lai của dân-tộc Việt Nam” của tôi, nên cứ để đó. Nay sang đây, tôi viết lại thuộc lòng và gởi đăng báo lần nầy lần đâu tiên, cũng cứ viết với tính cách phúc trình khoa-học như vào năm 1955.
*
* *
Ở miền Nam, từ phía Nam của thành phố Phan Thiết, chạy dài xuống đến phía Bắc của tỉnh Bà Rịa, là một vùng đất gần như là hoang vu, trong đó còn rừng nguyên thể. Dân ta có sống lưa-thưa ở đó, đã lập ra được một huyện nhỏ là huyện Hàm Tân. Huyện nầy dưới thời Pháp thuộc, nhớ đâu như là thuộc tỉnh Bình Thuận (Phan Thiết). Trong vùng hoang vu ấy còn ba nơi có người mình sanh sống, mà một nơi mang địa danh Mã Lai là Lagi, nơi thứ nhì mang địa danh Bắc-Phạn là Cù-My, do tiếng Bắc Phạn BUMI (có nghĩa là Đất) mà ra. Nơi thứ ba mang tên Việt là Xuyên Mộc.
Trên đây là đia đanh ven bờ biển, cho biết khá rõ ranh giới của vùng đó ở mặt Đông (bờ biển); ở mặt Bắc là (Bắc Hàm Tân), mặt Nam (là Xuyên Mộc và Bắc Long Hải). Về hướng Tây vùng đất nầy chồm qua khỏi đường xe lửa Sài gòn Hà nội, ăn sâu vào trong rừng, không có ranh giới rõ rệt.
Ông Ngô Đình Diệm lên cầm quyền, biến vùng hoang địa ấy thành một tỉnh, Tỉnh Bình Tuy. Đây là một tỉnh nhơn tạo, mang tánh cách chiến lược, vì về hành chánh thì không có gì hết, bởi dân còn rất thưa. Tỉnh lỵ được khoét rừng để xây cất lên, và nằm cách chợ Lagi ở bờ biển lối ba dặm Anh.
Năm 1955 là thời tạm thái bình sau hiệp định Genève, và tôi có việc gia đình nên đã đến thị trấn nhỏ xíu là Lagi, lần đầu tiên trong đời tôi.
Tôi nghe người mình nói rằng cách chợ Hàm Tân về phía Tây Bắc lối mười dặm Anh có mấy làng Chàm và trong đó, phụ nữ được quyền công khai và chánh thức lấy nhiều chồng. Mới nghe qua, tôi rất ngạc nhiên. Người Chàm quả còn theo chế độ mẫu-hệ, nhưng không hề có tục đa phu. Vậy, mấy làng đó là của dân tộc nào? Thế nên tôi ở lại đó chớ không về Sàigòn sau công việc gia đình, để lìm những làng “Chàm” ấy cho rõ trắng đen.
Tưởng cũng nên nói rõ về cái dân-danh Chàm đã bị người Pháp lẫn lộn, và là chính các dân tộc thiểu số cũng bị lôi cuốn theo. Theo khám phá thứ nhứt của tôi thì nước Chàm, nói tắt của Champa, bị Tàu gọi là Chiêm Thành hay Chiêm Tư, chỉ là một nước cở có biên giới phía Bắc là tỉnh Thanh Hóa của ta, và biên giới phía Nam là phía Nam của tỉnh Quảng Ngãi của ta mà thôi. Ở dưới nữa thì không phải như thế. Từ Nam Quảng Ngãi cho tới Bắc Biên Hòa là một dân tộc khác, xưa kia là một đại cường quốc, quốc hiệu là Hapang Durang. Đại cường quốc nầy đã bị Chiêm Thành diệt quốc hồi thế kỷ thứ 9 của Dương lịch. Dĩ nhiên là vùng dưới, rồi thì cũng thuộc chủ quyền của Chàm. Nhưng dân thì khác, có ngôn ngữ khác Chiêm ngữ. Nay họ còn sống sót ở tỉnh Ninh Thuận. Những điều trên đây là hai khám phá đã được tôi viết ra thành sách, nhưng chưa hề in, và không có vấn đề tóm lược sách ấy ở đây, vì làm như thế thì sẽ lạc đề.
Người địa phương cho rằng họ là người Chàm. Tôi chưa chú tâm lắm vì sự kiện dân tộc, mà chỉ muốn biết xem họ có theo chế độ đa phu thật sự hay không, và nếu có thì họ thuộc dân tộc nào? Tôi cũng không ngại mà đi tìm họ trong rừng, vì người mình cho biết rằng họ thạo tiếng Việt Nam, ăn mặc gần như ta, và làm ruộng khá giống ta.
Làng của họ rất nhỏ, không đầy đến năm sáu ngàn người như các làng lớn của ta, mà chỉ có lối năm sáu trăm đầu người ở mỗi làng thôi, vừa già vừa trẻ. Vùng đất đó khô cằn nhưng họ vẫn làm ruộng nước, mà vì đất khô, nên họ chỉ làm được một mùa thôi, y hệt như đa số các làng ta ở khu vực sông Đồng Nai.
Nhà cửa đều xây cất ngay trên mặt đất như nhà cửa của ta, chớ không có nhà sàn như trong vùng của dân Hapang Darang ở Ninh Thuận (mà Pháp gọi lầm là Chàm). Và họ mặc y phục như nông dân ta là đồ gọi là bà-ba. Nhưng thôn nữ ta vẫn có áo dài, còn họ thì không.
Họ nói khá thạo tiếng Việt Nam, có người nói được thật đúng giọng Việt Nam, nhưng nếu có giọng lơ-lớ thì không phải lơ-lớ như khi người Hapang Darang nói tiếng Việt, mà lơ-lớ một cách khác.
Mặc dầu người Chiêm Thành không còn có mặt trong nước Việt Nam nữa, nhưng tôi biết rõ ngôn ngữ của họ, nhờ nhiều nguồn khác nhau. Người Hapang Darang thì cứ còn đó, nên rất dễ cho ta so sánh. Danh từ con Nai, thì ba dân tộc đó và Malaysia nói khác nhau như sau đây:
Mã Lai Xia: Rusa
Chàm: Rita
Hapang Darang: Ritha
Thứ người ấy: Bá xá
Họ có thinh trong ngôn ngữ, còn ba dân tộc trên thì không. Nhưng sự kiện có thinh, có thể là do ảnh hưởng Viêt Nam mà có, chớ xưa kia thì không.
Danh từ Mây (Mây trên trời) thì bốn dân tộc nói cũng khác nhau:
Mã Lai Xia: Awan
Chàm: Awan
Hapang Darang: Taganum Ganam
Thứ người ấy: Tchan
So sánh một từ thứ ba, ta thấy rằng thứ người ấy vẫn thuộc chủng Mã Lai, và đồng nhóm với Chàm và Hapang Darang. Đó là từ có nghĩa là “một mình” (myself).
Chàm: Sa tra
Hapang Darang: Tha tra
Thứ người ấy: Tha gày
Từ thứ tư lại cho thấy là họ đồng nhóm với Mã Lai Xia (Malasia) và Việt Nam.
Mã Lai Xia: Tahan (Giảm tốc độ)
Việt Nam: Hãm
Thứ người ấy: T.Hán (Đọc là Thắn)
Nam Kỳ vay của họ: T. Hán (Đọc là Thắn)*
Và điều rất bẩt ngờ: Một ngàn từ lạ mà Nam dùng khác Bắc, là chính của họ, nhưng từ xưa đến nay không ai biết là của dân tôc nào.
Thí dụ:
Sét thay cho Han rỉ
Bén thay cho Sắc (dao sắc)
Bén thay cho Xuýt (bén chết, xuýt chết)
Tôi kết luận rằng họ là dân tộc Phù Nam, chủ đất cũ của Nam Kỳ. Nước Phù nam xưa đã mất nước trong tay nước Campuchêa. Đây Phù Nam bị đồng hóa với Campuchêa chớ không có bị diệt tộc bằng sắt máu. Thiểu số còn sót lại thì bị Việt hóa. Họ bị đồng hóa với Campuchêa từ thế kỷ thứ bảy của Tây lịch, thời mà họ mất nước, và bị đồng hóa với ta từ năm 1580, năm mà di dân ta vào nam (Xin xem The rushing to Southern country của B.N.L).
Sở dĩ có sự kết luận như trên là vì các lẽ sau đây. Những từ đó, không thể nào mà là từ của các dân tộc kém mở mang, mà cho đến từ của dân tộc văn minh là dân tộc Campuchêa cũng không có. Dân tộc đã cho dân Việt miền Nam vay mượn từ, hẳn là dân đã lập quốc rồi, có một nền văn minh rất cao vào thời mất nước (thế kỷ 7). Thí dụ danh từ Cái mái, trỏ một thứ lu không lồ, chứa được 280 lít nước. Các dân tộc khác như Việt Nam, Chàm và Campuchêa, chỉ có danh từ Cái lu thôi, tức kém hơn, Phù Nam đã biết chế tạo lu khổng lồ. Còn nhiều thứ nữa, chớ không phải chỉ có cái Mái thôi, nhưng lần nầy chỉ phúc trình về chế độ đa phu thì người phúc trình không được phép nói nhiều về ngôn ngữ, dân tộc, chủng tộc.
*
* *
Tình trạng đa phu thì có thật sự, không phải là lời đồn huyễn. Nhưng không phải là có trong toàn dân, mà chỉ khá giả đến nhà giàu mới theo tục đa-phu, vì họ cũng theo tục mẫu-hệ, con gái cưới chồng, chớ không phải con trai cưới vợ. Cưới chồng thì tốn tiền, càng cưới nhiều, càng tốn nhiều, nên sự nhiều chồng là dấu hiệu giàu sang. Nhà nghèo cứ một vợ cưới một chồng thôi.
Tôi theo dõi một gia đình. Bà chủ gia đình trạc băm lăm tuổi, có ba chồng, nhưng chỉ có một chồng là ở nhà. Anh chồng nầy làm ruộng không công cho vợ. Anh chồng thư nhì, tôi không thấy và nghe nói là đẹp trai lắm. Anh ta ăn no rồi đi chơi cả ngày, chẳng biết là đi đâu. Anh chồng thứ ba cũng vắng mặt. Hỏi ra thì anh đi lính cho quân đội ta.
Người đàn bà Phù Nam nầy không hề e thẹn vì tục của dân của chị ta, và ăn nói tự nhiên như là chuyện ấy chẳng có gì đáng làm cho chị ta nhột nhạt. Tôi hỏi chị các anh ấy có ghen tương, có gây gổ, có đánh nhau chăng. Chị ấy bảo rằng là có thể có, nhưng phong tục không cho phép các anh ghen, hóa ra không bao giờ xảy ra xung đột nào hết.
Lại hỏi nếu cả ba đều có mặt ở nhà thì việc phân phối về phòng trong như sao. Chị ấy đáp rằng ai cưới nhiều chồng thì phải nới rộng nhà cửa ra để cho mỗi chồng có buồng ríêng rẻ. Và người chồng nào đến với vợ, thì đã có dấu hiệu riêng để những người chồng khác biết. Hoăc nếu vợ tự động đến với chồng thì lại càng giản dị hơn. Anh nào đến với vợ mà thấy buồng vợ trống không, thì anh ta hiểu ngay.
Thắc mắc cuối cùng của tôi là về con cái. Biết con nào là con của chồng nào. Nhưng cũng chỉ giản dị thôi. Các anh chồng không hề tranh giành con cái vì dưới chế độ mẫu hệ, chồng là đồ bỏ, vợ chết đi thì chồng trở về với cha mẹ của chồng, gia tài để cả lại cho các con gái. Thế thì hỏi các anh ấy chẳng giành con trai làm gì ? Còn con gái thì do các chị quyết định. Các chị sẽ cho đứa con cưng nhứt là con của anh chồng cưng nhứt. Những đứa khác, chị ta bảo là của các anh khác. Không ai có quyền tranh chấp trước quyết định của các chị vợ.
Vậy họ không là Chàm, cũng không là Hapang Darang. Tại ta gọi họ là Chàm, và với họ cũng chẳng biết họ là ai, họ cũng cứ nhận rằng họ là Chàm. Vả lại Tha Tra với lại Tha Gầy không khác nhau lắm, họ đoán mà hiểu người Ninh Thuân, Bình Thuận được, thế họ lại càng dễ tin rằng họ là Chàm.
Nhưng trong chế độ mẫu hệ nào hồi xưa cũng có tục đa phu, hay chỉ có một vài dân tộc theo mẫu-hệ mới là tục ấy ? Chưa có thể biết được trong hiện tình nghiên cứu ngày nay.
Dưới đây là vài ý nghĩ của người phát hiện ra dân đa phu, ý nghĩ nầy được trình ra thêm, chớ thật ra nghiên cứu xong tục đa phu là người nghiên cứu có thể nói là đã xong nhiệm vụ.
Tại sao lại có tục đa phu ? Chắc cũng dễ hiểu thôi. Con người có khuynh hướng đa bằng, thì chế độ phụ hệ đưa tới tục đa thê, chế độ mẫu hệ đưa tới tục đa phu, chớ có gì đâu. Còn sự kiện trong ấm ngoài êm cũng thế, người chồng có quyền xử sao các bà nghe vậy; chị vợ có quyền thì chị ấy xử sao, các anh cũng phải nghe.
*
* *
Năm 1975, một người cán bộ gốc Miền Nam trở về Sàigòn. Đó là một người quen biết, một cán bộ bị cho về vườn trước 1975. Anh nầy thông thạo về văn hóa, nhưng anh ấy có nghe loáng thoáng một cái tin văn hóa như sau: Các nhà nghiên cứu ở miền Bắc cũng có tìm được một nhóm thiểu số ngoài ấy sống theo tục đa phu. Nhóm đó, người Việt miền Bắc gọi là dân Vân Kiều. Người quen với tôi chỉ biết có bấy nhiêu đó thôi, hóa ra tôi không dùng được khám phá ấy để mà so sánh đối chiếu. Dầu sao, cho tới đây thì loài người cũng đã biết được hai thứ dân theo tục đa phu.
*
* *
Người Phù Nam trong một Bình Tuy ca hát, tôi không hiểu, chỉ thấy họ có làm thơ lục bát trong đó tiếng Phù Nam và tiếng Việt bị pha trộn với nhau:
Bó hư bạc nghĩa như thâu
Mứ khăn cần ... cuốc bỏ câu tha gầy
Nghia:
Mặc mầy bạc nghĩa như chó
Đêm đi chơi bỏ tau một mình.
Gia đình một vợ nhiều chồng, con anh cũng là con tôi
Có một bí quyết khiến gia đình đa phu ở Tây Tạng vẫn giữ được sự êm ấm đó là những người đàn ông không quan tâm ai là con đẻ của mình mà tất cả những đứa trẻ trong gia đình đều là con của họ.
Chế độ đa phu trong gia đình của người Tây Tạng (Trung Quốc) đã có lịch sử hàng ngàn năm nay, đây cũng là một cách để người Tây Tạng bảo vệ tài sản của gia đình mình không bị chia nhỏ. Dưới mô hình hôn nhân một vợ một chồng thì những người con trai trong gia đình sẽ được phân chia tài sản khi kết hôn và điều đó sẽ khiến sức mạnh của gia đình bị suy yếu, hơn nữa sẽ làm cho lực lượng lao động trong gia đình bị thiếu hụt, ảnh hưởng tới việc tích lũy tài sản chung.
Mô hình hôn nhân một vợ nhiều chồng được hình thành do hoàn cảnh sống đặc biệt, chủ yếu là ở vùng nông thôn. Tây Tạng là một vùng cao nguyên nên rất khó tận dụng diện tích để sản xuất nông nghiệp, cộng với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, một gia đình ít người thì sẽ rất khó để chống chọi với hoàn cảnh sống như vậy trong khi gia đình một vợ nhiều chồng sẽ giúp sức mạnh của họ được tăng lên gấp bội.
Gia đình đa phu trong truyền thống Tây Tạng có thể theo mô hình anh em chung vợ, bạn bè chung vợ và thậm chí là bố con chung vợ. Tuy nhiên phổ biến nhất vẫn là kiểu anh em chung vợ. Trước giải phóng, Đàm Anh Hoa đã tiến hành điều tra 45 gia đình một vợ nhiều chồng ở khu Cam Tư, trong đó có tới 44 hộ là anh em chung vợ với tổng cộng 101 người đàn ông, như vậy bình quân mỗi bà vợ sẽ có 2,3 ông chồng, 1 gia đình còn lại có 2 chồng.
Trong gia đình anh em chung vợ thì phổ biến nhất vẫn là hai anh em chung 1 vợ, tiếp đến là 3 anh em chung 1 vợ còn trường hợp 4, 5 anh em chung vợ thường rất hiếm. Trong 120 hộ gia đình đa phu ở thôn Ninh Thanh huyện Xương Đô Ninh Thanh tổng cộng có tới 257 người đàn ông, bình quân mỗi bà vợ ở đây cưới 2,29 ông chồng.
Hôn nhân ở Tây Tạng vừa có trường hợp cưới vợ về nhà lại vừa có trường hợp về nhà vợ ở nhưng đa số là cưới vợ về nhà và hiếm có trường hợp mấy anh em kéo nhau sang nhà vợ ở. Hôn lễ cũng được tổ chức như đám cưới của gia đình một vợ một chồng. Vì nhiều chồng nên khi tới ăn hỏi, có lúc bên nhà trai cần phải nói rõ là mấy anh em lấy chung vợ nhưng có lúc cũng không cần thiết phải rành mạch như vậy.
Trong lúc tổ chức đám cưới, sẽ có một người trong số mấy anh em đứng ra làm chú rể và thường người anh cả sẽ đảm nhận nhiệm vụ này, sau đó các anh em sẽ lần lượt được “động phòng” với người vợ mới cưới về. Cũng có trường hợp, tất cả các anh em hoặc một vài người trong số họ sẽ cùng nhau tham dự hôn lễ.
Con cái trong gia đình sẽ gọi người chồng lớn tuổi nhất của mẹ (anh cả) là cha và sẽ gọi những người còn lại (các em thứ) là chú hoặc gọi theo thứ tự là chú hai, chú ba…Nếu như người anh cả qua đời thì chú hai sẽ được gọi là cha. Cũng có nơi, con cái sẽ gọi tất cả những người chồng của mẹ là cha. Hai cách gọi này có thể tồn tại trong cùng một cộng đồng vì đó cũng chỉ là thói quen chứ không có ý nghĩa ai được coi trọng hơn ai.
Nhiều người đàn ông ở Xương Đô không bao giờ nghĩ rằng đứa trẻ nào là con mình và đứa trẻ nào là con của anh/em họ vì đứa trẻ nào trong gia đình cũng đều là con của họ. Ngược lại, bọn trẻ cũng coi những người cha của mình là một và cũng không biết ai là bố đẻ của mình. Có lẽ những thói quen này có tác dụng giúp cho gia đình của họ được êm ấm, hòa thuận hơn.
Sầm Hoa(Theo Sohu/xzline)
Chuyện về những người anh em cưới chung một vợ trên dãy Himalayas
< iframe frameborder="0" hspace="0" marginheight="0" marginwidth="0" scrolling="no" tabindex="0" vspace="0" width="100%" id="I0_1445790258817" name="I0_1445790258817" src="https://apis.google.com/u/0/se/0/_/+1/fastbutton?usegapi=1&size=medium&count=false&origin=http%3A%2F%2Fdantri.com.vn&url=http%3A%2F%2Fdantri.com.vn%2Fthe-gioi%2Fchuyen-ve-nhung-nguoi-anh-em-cuoi-chung-mot-vo-tren-day-himalayas-1349157456.htm&gsrc=3p&jsh=m%3B%2F_%2Fscs%2Fapps-static%2F_%2Fjs%2Fk%3Doz.gapi.en.sS9ePrAoNew.O%2Fm%3D__features__%2Fam%3DAQ%2Frt%3Dj%2Fd%3D1%2Ft%3Dzcms%2Frs%3DAGLTcCNcUxNwpvOeSyewTM9EA2yJfxydDg#_methods=onPlusOne%2C_ready%2C_close%2C_open%2C_resizeMe%2C_renderstart%2Concircled%2Cdrefresh%2Cerefresh&id=I0_1445790258817&parent=http%3A%2F%2Fdantri.com.vn&pfname=&rpctoken=12358431" data-gapiattached="true" title="+1" style="margin: 0px; padding: 0px; outline: 0px; position: static; top: 0px; width: 32px; border-style: none; left: 0px; visibility: visible; height: 20px;">< /iframe>
Dân trí Khi Tashi Sangmo 17 tuổi, cô kết hôn cùng người hàng xóm 14 tuổi tại ngôi làng xa xôi trên dãy Himalayas, Nepal, và đây chỉ là một phần trong “gói kết hôn” bởi cô cũng đồng ý cưới người em trai của chú rể.
Tashi Sangmo trên cánh đồng gần nhà.
Vào thời xưa, những người con trai trong hầu hết mọi gia đình ở vùng Thượng Dolpa sẽ cùng nhau cưới một người phụ nữ, nhưng tục đa phu đang dần chết khi khu vực bắt đầu mở cửa với thế giới hiện đại.
“Theo cách này mọi việc dễ dàng hơn bởi mọi thứ ở trong một gia đình. Không phải chia sẻ giữa nhiều bà vợ và tôi là người chịu trách nhiệm chung”, Sangmo cho biết qua người phiên dịch. “Hai anh em mang tiền về và tôi là người quyết định sẽ làm gì với số tiền”.
Khi Sangmo kết hôn với Mingmar Lama 14 năm trước, mọi người đều hiểu rằng em trai của chồng cô, Pasang, khi đó 11 tuổi, sẽ gia nhập vào mối quan hệ theo truyền thống có từ nhiều thế kỷ nay và hiện chỉ còn tồn tại ở một vài làng sống tách biệt ở dãy Himalaya.
Và giữa họ, giờ có 3 người con trai, 8, 6 và 4 tuổi. “Tôi muốn chia sẻ vợ với anh trai, bởi cuộc sống sẽ dễ dàng hơn cho cả hai chúng tôi”, Pasang, 25 tuổi, cho biết tại nhà ở làng Simen, nằm trên mực nước biển 4.000m và cách thị trấn gần nhất 5 ngày đi bộ.
Trước đây từng là thành viên trong dòng người du mục giữa Nepal và Tây Tạng, người dân ở Thượng Dolpa hiện vẫn theo con đường buôn bán này, dẫn bò Tây Tạng mang muối từ Tây Tạng và mang gạo từ cao nguyên Terai ở miền nam đi bán. Trong không khí loãng của vùng núi cao, đất có thể trồng trọt được có vòng đời ngắn và trang trại lại nhỏ hẹp.
Tuy nhiên, truyền thống đa phu không cho phép mỗi thế hệ trong một gia đình phân chia tài sản, và nguồn cung thực phẩm chỉ có thể đủ để duy trì nhu cầu thiết yếu của người dân.
Đám cưới thường được sắp đặt trước, với gia đình chọn vợ cho con trai lớn nhất và cho phép các em trai sau đó có cơ hội cưới chính người phụ nữ này. Trong một số trường hợp, các bà vợ sẽ giúp nuôi dưỡng những người chồng tương lai của họ.
“Không có ghen tuông”
Tashi Sangmo Lama, 31 tổi, (trái) cùng với Pasang Lama (phải), 25 tuổi, một trong hai người chồng của cô và con trai Pema 8 tuổi của họ (giữa).
Không giống như hầu hết đàn ông ở Nepal, đất nước bảo thủ và phần lớn theo đạo Hindu, những ông chồng trong chế độ đa phu làm công việc trong gia đình, giúp nấu ăn, chăm sóc con cái, trong khi phụ nữ cai quản tiền bạc.
Người chồng trong chế độ đa phu cũng được xem là công cụ “điều chỉnh” tỉ lệ sinh, bởi với họ một phụ nữ có thể có bầu nhiều lần, dù cô có bao nhiêu chồng đi chăng nữa.
Các gia đình đa phu cũng thường không phân biệt ai là cha đẻ thật sự của đứa con nào, và bọn trẻ gọi cha đẻ, chú, bác đều là “cha”.
Đa phu phá vỡ nhiều điều cấm kị về tình dục ở phương Tây, nhưng với người địa phương, họ coi đây là lẽ tự nhiên và có lợi.
Shitar Dorje, 30 tuổi, kết hôn với người chồng Karma, 37 tuổi, một thập niên trước. Em trai của Karma, Pema, “tham gia” vào cuộc hôn nhân vài năm sau đó sau khi học xong Phật giáo.
“Nếu chúng tôi đều ở nhà cùng lúc, thì lúc đó anh cả sẽ ngủ với vợ của tôi”, Pema, 30 tuổi, cho biết. “Với tôi, tôi không thấy ghen. Tôi không cảm thấy tồi tệ khi anh trai tôi ở trong nhà và vợ của chúng tôi đang ở với anh. Nếu tôi cảm thấy ghen, tôi sẽ đi và cưới ai đó khác”, Pema cho hay.
Cuộc sống ở Thượng Dolpa, cách thủ đô Kathmandu nhộn nhịp 500km, đơn giản nhưng khó nhọc. Vệ sinh sơ sài, dịch vụ y tế hiện đại hầu như không tồn tại và phụ nữ dành suốt cả ngày đập đá ở trong thung lũng hay thu hoạch mùa màng dưới cái nắng chói chang.
Chế độ đa phu mang lại lợi ích khi có sự phân công lao động giữa những người anh em trai: một người chăm sóc đàn gia súc, một người giúp vợ trên cánh đồng và người còn lại gia nhập đoàn lái buôn.
Nhiều người thấy đó là một dạng “bảo hiểm nhân thọ”, củng cố vững chắc cho người phụ nữ kết hôn theo sắp đặt, nghĩa là họ sẽ không bao giờ bị bỏ lại một mình nếu một người chồng chẳng may qua đời.
Theo tổ chức từ thiện Hà Lan SNV, tổ chức đã thiết lập mối quan hệ tốt với khu vực, tuổi thọ trung bình ở đây chỉ 48 với đàn ông và 46 với phụ nữ.
“Chúng tôi lần lượt chia sẻ vợ”
Thajom Gurung, 60 tuổi, sống ở làng Saldang tách biệt trên dãy Himalayas, đã mất chồng Choldung 30 năm trước, do ông bị ung thư. Nhưng bà đã kết hôn với cả hai người anh trai của ông và giờ ở với một người còn sống, Choyocap, 67 tuổi.
“Khi chúng tôi đều ở nhà, chúng tôi lần lượt chia sẻ vợ, không có ai phải lo lắng về điều đó”, Choyocap cho biết.
Cho mãi đến gần đây, du lịch phát triển đã soi rọi ánh sáng văn minh tới vùng đất từng bị bỏ quên này. Trên mái của những ngôi nhà đá, nơi từng chỉ có cờ tôn giáo được treo, lấp ló chảo đĩa vệ tinh, cho phép người dân Dolpa được thấy đôi chút về thế giới hiện đại, nơi hình ảnh về sự lãng mạn đối lập hoàn toàn với họ.
SNV cho hay trong khi với thế hệ trước, 80% hộ gia đình vẫn theo đa phu, con số này giờ giảm xuống còn 1/5 và dự kiến sẽ mất hẳn trong vòng khoảng 2 thế hệ nữa.
Mặc dù vậy, giờ đây “đa phu là giữ cho gia đình sống cùng nhau khi cuộc sống khó khăn”, Choyocap Gurung cho hay. “Với nhiều anh em trai, gia đình sẽ mạnh mẽ hơn, và con cái có cơ hội tốt hơn trong tương lai ”.
Vũ Quý
Theo AF
Một bài báo trên trang Psychology Today viết rằng "Hầu hết các cộng đồng đa phu đều theo chế độ mà các nhà nhân loại học gọi là chế độ "đa phu anh em" có nghĩa là các anh em trai có thể lấy chung một vợ.
Việc này tưởng chừng như đã không còn trên thế giới ngày nay, tuy nhiên tại các vùng núi hẻo lánh trên dãy Himalayas hiện vẫn còn lưu giữ.
Câu chuyện về hôn nhân của chị Tashi Sangmo là một minh chứng cho tập tục này. Khi cô Tashi Sangmo 17 tuổi đã kết hôn cùng người hàng xóm 14 tuổi. Nơi cô sống là ngôi làng Simen, nằm trên mực nước biển 4.000m ở lưng chừng dãy Himalayas (ngôi làng nơi cô Sangmo sống cách thị trấn gần nhất tới 5 ngày đi bộ). Cuộc hôn nhân của cô Sangmo chỉ là một phần trong "gói kết hôn" bởi cô tự nguyện đồng ý cưới người em trai của chú rể sau khi người này trưởng thành.
Theo phong tục nơi đây, đám cưới được thoả thuận công khai bằng miệng, gia đình không chỉ chọn vợ cho con trai lớn nhất mà còn để dành cho những người em trai có cơ hội cưới chính người phụ nữ này. Thậm chí, trong một số trường hợp, em trai chồng còn ít tuổi nên những người phụ nữ này sẽ giúp nuôi dưỡng những người chồng tương lai của họ.
Xung quanh hôn nhân của cô Sangmo, 14 năm về trước khi Sangmo kết hôn với Mingmar Lama thì tất thảy mọi người trong làng này đều hiểu rằng em trai của chồng cô là Pasang khi đó 11 tuổi, sẽ gia nhập vào mối quan hệ hôn nhân này. Đến giờ, Pasang và Sangmo có với nhau 3 người con trai, 8, 6 và 4 tuổi. "Tôi muốn chia sẻ vợ với anh trai, bởi cuộc sống sẽ dễ dàng hơn cho cả hai chúng tôi" - Pasang, 25 tuổi nói.
Theo nghiên cứu, sở dĩ ở xứ sở này, việc chung vợ của các anh em trong gia đình xuất phát từ lý do kinh tế. Do điều kiện ở vùng núi cao, đất đai để canh tác nông nghiệp rất ít. Nếu mỗi người đàn ông cưới một vợ, đồng nghĩa với việc phải chia đất cho từng người con trai. Điều đó sẽ rất khó khăn cho cuộc sống của những gia đình nơi đây vì đất đai canh tác quá ít. Việc chung vợ khiến cho cuộc sống của người dân nơi đây thuận lợi hơn.
Cuộc sống trong gia đình đa phu này, anh trai (tức người chồng đầu) sẽ là người quyết định mọi việc trong gia đình. Tất thảy tiền bạc mọi thành viên trong gia đình kiếm được sẽ được mang về nộp cho người anh lớn tuổi nhất, và người này quyết định chi tiêu số tiền đó vào việc gì. Mọi việc đều diễn ra rất bình thường, trong những gia đình đa phu tại ngôi làng Simen đều hạnh phúc và ít khi có mâu thuẫn xung đột giữa các thành viên.
Luật ta: Lấy hai chồng một lúc là phạm luật
Câu chuyện anh em cùng lấy chung một vợ diễn ra tại làng Simen khiến nhiều người ngạc nhiên. Câu chuyện của cô Sangmo nó phần nào phản ánh được nét hoang sơ nơi vùng núi cao thuộc dãy Himalayas bởi ngày nay, hầu hết mọi quốc gia trên thế giới đều chỉ công nhận chế độ hôn nhân một vợ, một chồng. Số ít các quốc gia Hồi giáo cho tồn tại chế độ đa thê.
Dẫu biết rằng, tục đa phu của cư dân sống ở làng Simen xuất phát từ lý do kinh tế, một cách để họ duy trì cuộc sống nơi điều kiện tự nhiên quá khắc nghiệt. Nhưng nếu tục lệ này có ở Việt Nam, chắc chắn sẽ bị pháp luật ngăn cấm bởi Luật Hôn nhân và Gia đình quy định "hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng". Do đó, nếu chiếu theo luật pháp Việt Nam, tình trạng hôn nhân của cô Sangmo sẽ không được pháp luậtthừa nhận.
Người nào cố tình sống chung với người khác như vợ chồng sẽ bị truy cứu theo quy định Điều 147 của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Theo đó, người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
Trinh Phúc