Thời đại HCM: Vinh quang hay Nhục nhã?
30.08.2015 01:31
Việt Nam dưới ‘thời đại HCM Tác giả không chắc chắn liệu điều mà ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư ĐCSVN nói rằng thời đại Hồ Chí Minh 'rực rỡ nhất trong lịch sử VN' có đúng không.
Phát biểu dịp Việt Nam kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Hồ Chủ tịch cách đây hơn ba tháng, ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng ‘thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội’.
 Dù Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam không nêu cụ thể, có thể nói ‘thời đại’ ấy được bắt đầu từ ‘cách mạng tháng Tám và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà’ cách đây 70 năm. Vì theo ông, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCS), ‘cách mạng’ Việt Nam đã ‘đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác’ và ‘thắng lợi’ đầu tiên được ông nhắc đến là thắng lợi của hai sự kiện này.
‘Rực rỡ, sáng ngời’? Trong số những hoạt động ‘kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh’ ở Việt Nam năm nay cũng có một chương nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Việt Nam - Thời đại Hồ Chí Minh”, diễn ra vào tối 2/9 tại Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình.Chương trình nghệ thuật ấy cũng như diễn văn của lãnh đạo Việt Nam tại lễ kỷ niệm hai biến cố đó vào ngày 2/9 tới hay các bài viết, phát biểu khác của quan chức Việt Nam vào dịp này chắc chắn cũng nhắc lại những ‘mốc son chói lọi’, ‘thắng lợi vĩ đại’, ‘chiến thắng lừng lẫy’, ‘kỳ tích vẻ vang’ hay những ‘thành tựu to lớn’ của Việt Nam dưới ‘thời đại Hồ Chí Minh’ trong 70 năm qua. Nhưng nếu nhìn lại VN trong 70 năm qua và đặc biệt khi so sánh VN với các nước khu vực khác cùng thời gian ấy, có thể thấy rằng mọi chuyện ở VN kể từ ‘CMT8/1945 – khi Việt Minh hay những người CS lên nắm quyền – không phải lúc nào cũng ‘tươi sáng’, ‘rực rỡ’TS. Đoàn Xuân Lộc
 Trong những ‘thắng lợi’, ‘thành tựu’ ấy – như ông Nguyễn Phú Trọng nêu trong diễn văn của mình vào ngày 19/05/2015 – còn có ‘thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp’, ‘thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước’ và ‘thắng lợi bước đầu với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới’. Theo ông Trọng, ‘với những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do’; ‘nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu […] trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có vị thế ngày càng quan trọng trên thế giới’. Đó cũng là lý do ông cho rằng ‘dân tộc Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay, triển vọng phát triển rất tươi sáng’ và coi ‘thời đại Hồ Chí Minh là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam’.
Thực sự rất khó dựa vào những tiêu chí, sự kiện, ‘thắng lợi’ trên để nói rằng Việt Nam ‘thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ’ hơn những thời đại trước của Việt Nam vì các giai đoạn, thời đại lịch sử rất khác nhau.
Hơn nữa, với xu hướng phát triển chung của nhân loại, một thời đại sau phát triển hơn một thời đại trước cũng không có gì là quá lạ, đáng khen.Nhưng nếu nhìn lại Việt Nam trong 70 năm qua và đặc biệt khi so sánh Việt Nam với các nước khu vực khác cùng thời gian ấy, có thể thấy rằng mọi chuyện ở Việt Nam kể từ ‘Cách mạng tháng Tám’ năm 1945 – khi Việt Minh hay những người Cộng sản lên nắm quyền – không phải lúc nào cũng ‘tươi sáng’, ‘rực rỡ’ hay ‘kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội’ mà Việt Nam đã và đang trải qua không hoàn toàn tốt đẹp như lãnh đạo, quan chức Việt Nam ca ngợi, tuyên truyền.
Chiến tranh, xung đột? Tượng đài tưởng niệm cố chủ tịch Hồ Chí Minh ở một tỉnh phía Bắc Việt Nam.Không lâu sau khi ‘Cách mạng tháng Tám thành công’ và ‘nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời’, Việt Nam đã phải đương đầu với ‘cuộc chiến chống Pháp’, rồi cảnh Bắc-Nam chia cắt và sau đó là ‘cuộc chiến chống Mỹ’.Riêng ‘cuộc chiến chống Mỹ cứu nước’ cũng là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cướp đi mấy triệu người Việt và đến giờ những chia rẽ, hận thù, vết thương cuộc chiến đó gây nên vẫn chưa được hoàn toàn hàn gắn, hòa giải, chữa lành.Là người Việt Nam, không ai lại muốn hay chấp nhận bất cứ sự can thiệp, xâm chiếm, đô hộ của bất cứ một ngoại bang nào, dù với bất cứ lý do hay trên danh nghĩa gì. Là người Việt, chắc ai cũng tự hào về truyền thống chống ngoại xâm, dựng và giữ nước của dân tộc mình.
Nhưng khi có cơ hội tiếp cận với nhiều sử liệu mới, xác đáng hay có một cái nhìn tổng quan, đa chiều hơn về lịch sử của đất nước, của các nước khu vực và của thế giới, chắc cũng có không ít người tự hỏi tại sao cùng bị thực dân phương Tây đô hộ và Nhật chiếm đóng, không một quốc gia nào ở Đông Nam Á lại rơi vào một giai đoạn xung đột, chia cắt, tang thương như Việt Nam sau năm 1945?
Vẫn biết rằng bối cảnh của Việt Nam ít hay nhiều khác bối cảnh của các nước Đông Nam Á như Indonesia hay Malaysia trước và sau năm 1945, chắc cũng có người thắc mắc tại sao những quốc gia phi cộng sản này có thể giành và giữ độc lập của mình mà không phải trải qua những xung đột, cuộc chiến đẫm máu như Việt Nam?Ngoài hai cuộc chiến trên, Việt Nam cũng có chiến tranh biên giới 1979 và hải chiến Trường sa 1988 với Trung Quốc. Có điều, khác với cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, hiện tại hai cuộc chiến với quốc gia Cộng sản này không được giới lãnh đạo Việt Nam nhắc đến hay chính thức cho tưởng nhớ.Đáng nói và trớ trêu hơn, quốc gia đe dọa, xâm hại độc lập, chủ quyền của Việt Nam trong hơn 40 năm qua và hiện tại không ai khác là Trung Quốc – quốc gia cùng chung ý thức hệ ‘cộng sản’ và là ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’ của Việt NamTS. Đoàn Xuân Lộc
Trước đó, vào năm 1958 – khi Hà Nội có quan hệ mật thiết ‘môi hở răng lạnh’ với Bắc Kinh – ông Phạm Văn Đồng, Thủ tướng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó, đã ký một công hàm ngoại giao ‘ghi nhận và tán thành’ bản tuyên bố của Trung Quốc về hải phận 12 hải lý của quốc gia này. Dù mục đích, nội dung, giá trị của nó là gì, công hàm ấy đang được Trung Quốc tận dụng triệt để trong tranh chấp biển đảo hiện tại với Việt Nam. Cũng chính quốc gia Cộng sản này đã tiến hành hải chiến Hoàng sa năm 1974 và từ đó đến giờ có vô số hành động khiêu khích, hung hăng, mạnh bạo nhằm lấn chiếm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Nhắc lại những sự kiện trên để thấy, dù nguyên nhân sâu xa là gì, kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam đã phải đối diện với nhiều cuộc chiến, xung đột và độc lập, chủ quyền của mình không phải lúc nào cũng được tôn trọng, toàn vẹn.Đáng nói và trớ trêu hơn, quốc gia đe dọa, xâm hại độc lập, chủ quyền của Việt Nam trong hơn 40 năm qua và hiện tại không ai khác là Trung Quốc – quốc gia cùng chung ý thức hệ ‘cộng sản’ và là ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’ của Việt Nam.
Khủng hoảng, sai lầm? Khi nhìn lại lịch sử Việt Nam kể từ 1945, giới lãnh đạo ĐCS Việt Nam thường chỉ nhắc đến hay nhấn mạnh hoặc ca ngợi ‘thắng lợi’ của ‘Cách mạng tháng Tám’, của cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ và ‘công cuộc đổi mới’ từ năm 1986. Nhưng họ thường né tránh, phủ nhận những khó khăn, khủng hoảng, thất bại do những đường lối sai lầm của họ gây nên.
Chủ trương, chương trình cải tạo và xây dựng ‘xã hội chủ nghĩa’ mà Đảng Cộng sản tiến hành ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975 đã thất bại, dẫn đến những hậu quả vô cùng tệ hại cho đất nước và người dân, không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã hội, đạo đức. Gần đây một số nhân vật từng bị trừng phạt trong vụ án Nhân văn - Giai phẩm đã được báo chí Việt Nam nhắc lại danh tính, sự nghiệp.Chẳng hạn chương trình ‘Cải cách ruộng đất’ ở miền Bắc hay chủ trương ‘đấu tranh giai cấp’ đã gây nên chia rẽ, hận thù, phân biệt đối xử, làm đảo lộn trật tự gia đình, xã hội.Cũng vì học thuyết, chủ trương sai lầm đó, giớ trí thức, nhân sĩ yêu nước bị khinh rẻ, đàn áp – như trong vụ ‘Nhân văn Giai phẩm’ hay vụ án ‘Xét lại chống Đảng’.Rồi khi - và nhiều năm sau khi - ‘miền Nam được hoàn toàn giải phóng’ và đất nước được thống nhất cũng là thời điểm mấy triệu người Việt lần lượt liệu mạng bỏ nước ra đi.
Họ chấp nhận đánh đổi tất cả – ngay cả mạng sống của mình, người thân của mình – vì trong những năm tháng ấy họ cảm thấy không được tự do, không đủ ăn, đủ mặc, không có tương lai, không có hy vọng khi sống trên quê hương, đất nước của mình.Trong lịch sử Việt Nam – và thậm chí hiếm khi trong lịch sử thế giới – lại có làn sóng người vượt biển, vượt biên để tị nạn nước ngoài đông và thê thảm như vậy.Vì những sai lầm về đường lối làm đất nước rơi vào khủng hoảng, cô lập, kinh tế kiệt quệ, người dân cơ cực, năm 1986, Đảng Cộng sản buộc phải đổi mới về kinh tế và đối ngoại.
Chính sự đổi mới đó đã làm thay đổi hình ảnh của Việt Nam và cải thiện đời sống của người dân. Việt Nam đã thoát cảnh đói nghèo; từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình (thấp).Nhưng những gì mà ĐCS gọi là ‘đổi mới’ thực ra chẳng có gì mới đối với nhiều nước trong khu vực khác. Chẳng hạn, mô hình kinh tế thị trường đã được Singapore, Malaysia hay Hàn Quốc tiến hành từ 20 hay thậm chí 30 năm trướcTS. Đoàn Xuân Lộc Vì thế, không có gì là ngạc nhiên khi nói về những ‘thành tựu to lớn’ dưới ‘thời đại Hồ Chí Minh’ hay những ‘thắng lợi’ trong ‘kỷ nguyên’ mới ở Việt Nam, giới lãnh đạo, quan chức của Việt Nam luôn nhấn mạnh, ca ngợi ‘công cuộc đổi mới’ này.Không ai phủ nhận rằng nhờ chương trình đổi mới đó, vị thế, kinh tế của Việt Nam, đời sống của người dân Việt Nam đã tốt hơn rất nhiều so với trước năm 1986.
Nhưng những gì mà ĐCS gọi là ‘đổi mới’ thực ra chẳng có gì mới đối với nhiều nước trong khu vực khác. Chẳng hạn, mô hình kinh tế thị trường đã được Singapore, Malaysia hay Hàn Quốc tiến hành từ 20 hay thậm chí 30 năm trước. Vì vậy, những quốc gia này đã vượt xa Việt Nam.
Đất nước tụt hậu?
Hơn nữa, dù thoát cảnh đói nghèo, Việt Nam hiện giờ cũng chỉ là một nước có thu nhập trung bình thấp và sau 30 năm ‘đổi mới’, Việt Nam vẫn không thể bắt kịp nhiều nước trong khối ASEAN.Điều đáng nói là nếu so sánh với nhiều nước trong khối ASEAN, mức độ phát triển về kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn ‘đổi mới’ không ấn tượng như giới lãnh đạo, quan chức Việt Nam thường ca ngợi.Chẳng hạn, theo số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế, trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam chỉ tăng khoảng bốn lần (từ 556 USD lên 2,234 USD). Năm nay Việt Nam đánh dấu tròn 70 năm cuộc cách mạng tháng 8 giành độc lập và tuyên ngôn độc lập 2/9/1945.
Trong khi đó, cùng khoảng thời gian ấy, con số đó ở Singapore tăng hơn tám lần (từ 6,864 USD lên 57,442 USD), Malaysia tăng hơn bảy lần (từ 1,711 USD lên 12,418 USD), Thái Lan tăng bảy lần (từ 813 USD lên 5,704 USD), Indonesia tăng gần sáu lần (từ 611 USD lên 3,529 USD) và Philippines tăng hơn năm lần (từ 590 USD lên 3,279 USD).
Việt Nam tụt hậu so với những quốc gia trong vùng phần lớn vì trong giai đoạn được coi là ‘đổi mới’, giới lãnh đạo Việt Nam đã không có những cải cách thích hợp, thiết thực, toàn diện. Thực ra, Việt Nam chỉ cải cách nửa vời – theo ‘kinh tế thị trường’ nhưng lại ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’. Vì cải cách kinh tế không triệt để và đặc biệt không có những thay đổi đáng kể về chính trị, thể chế Việt Nam hiện đang thua nhiều nước ASEAN về nhiều mặt khác.Các chỉ số quốc tế – như chỉ số cạnh tranh quốc gia, dân chủ, minh bạch – đều xếp Việt Nam sau Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan.
Cách đây mấy tháng, chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng phải thừa nhận rằng Việt Nam đứng chót trong nhóm ASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore), ‘thậm chí có lĩnh vực còn thấp hơn Lào, Campuchia, Myanmar’ – ba nước được coi là kém phát triển nhất trong khối. Nếu cứ đinh ninh rằng – hay tệ hơn, huênh hoang cho rằng – VN đang sống dưới ‘một thời đại rực rỡ nhất’ – hoặc cứ mãi ‘gặm nhấm quá khứ’, ru ngủ chính mình bằng những ‘thắng lợi’, ‘kỳ tích’, ‘thành tựu’ trong quá khứ – 10, 20 hay 30 năm nữa đất nước vẫn cứ tụt hậu, thua kém so với các nước trong vùng.
Một trong những lĩnh vực mà Việt Nam xếp sau ba quốc gia đó là tự do báo chí.Nói thế để thấy so với các nước khu vực khác, Việt Nam ‘dưới thời đại Hồ Chí Minh’ hay trong ‘kỷ nguyên độc lập tự do và xã hội chủ nghĩa’, không thực sự giàu mạnh, minh bạch, dân chủ và tự do. Chẳng hạn, những quyền bình đẳng, quyền tự do được nhấn mạnh trong Tuyên ngôn độc lập Hồ Chủ tịch đọc ngày 2/9/1945 hay những quyền căn bản khác như quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội được nêu tại ‘Quốc dân Đại hội’ diễn ra tại Tân Trào trong hai ngày 16-17/8/1945 nay vẫn chưa được hoàn toàn biến thành hiện thực.Đến giờ người dân vẫn bị bỏ ngoài cuộc, không có tiếng nói gì trong các vấn đề hệ trọng của đất nước – như bầu chọn lãnh đạo hay hoạch định, thực hiện đường lối, chính sách. Tất cả mọi chuyện đều do ĐCS – hay nói đúng hơn những nhân vật cao cấp, Bộ Chính trị hay Ban chấp hành Trung ương của ĐCS – quyết định.Nói cách khác, nhân dân Việt Nam chưa thực sự ‘trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội’ như ông Nguyễn Phú Trọng và các lãnh đạo, quan chức khác của Việt Nam biện bạch.Sự tụt hậu, thua kém của Việt Nam so với các nước trong vùng càng ngày càng khiến nhiều người cho rằng Việt Nam cần phải có một ‘đổi mới’ khác – hay ‘đổi mới lần hai’ – và thời điểm thuận lợi cho một thay đổi như vậy là Đại hội XII của ĐCS Việt Nam vào năm tới.
Nhưng một cuộc đổi mới như thế chỉ có thể xẩy ra nếu giới lãnh đạo Việt Nam dám can đảm thừa nhận những yếu kém, trì trệ của đất nước mình cũng như những nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự trì trệ đó và có quyết tâm đưa Việt Nam theo kịp các nước phát triển trong khu vực.
Còn nếu cứ đinh ninh rằng – hay tệ hơn, huênh hoang cho rằng – Việt Nam đang sống dưới ‘một thời đại rực rỡ nhất’ – hoặc cứ mãi ‘gặm nhấm quá khứ’, ru ngủ chính mình bằng những ‘thắng lợi’, ‘kỳ tích’, ‘thành tựu’ trong quá khứ – 10, 20 hay 30 năm nữa đất nước vẫn cứ tụt hậu, thua kém so với các nước trong vùng.
Thu nhập người Việt đi sau Hàn Quốc, Thái Lan hàng chục nămGDP bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn quốc khoảng 30-35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm. Tại hội thảo “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015 -2035” do Bộ Kế hoạch & Đầu tư tổ chức sáng nay (28/8), bao trùm bầu không khí là những quan ngại về nguy cơ tụt hậu của đất nước so với khu vực và trên thế giới, những vấn đề của mô hình tăng trưởng hiện nay, nút thắt của thể chế… Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng khá nhưng quy mô còn nhỏ so với các nước trong khu vực. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 1990 - 2014 đạt 6,9% một năm, đưa Việt Nam từ một nước thuộc nhóm các nước nghèo trên thế giới thành nước có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, so với một số nước trong khu vực, mức GDP hơn 186 tỷ USD đạt được năm 2014 vẫn còn nhỏ. Theo tính toán, GDP của Indonesia gấp 4,8 lần GDP của Việt Nam, Thái Lan gấp 2 lần, Malaysia gấp 1,8 lần, Singapore gấp 1,7 lần và Philippines gấp 1,5 lần. Bên cạnh đó, dù đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình nhưng khoảng cách về GDP bình quân đầu người Việt Nam so với các nước trong khu vực còn lớn và nguy cơ bị nới rộng.  | Thu nhập người Việt tăng nhưng vẫn đi sau nhiều nước trong khu vực và thế giới. Ảnh: CityLane |
Từ năm 2008, Việt Nam đã chính thức trở thành quốc gia có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người đạt 1.145 USD, đến năm 2014 tăng lên 2.052 USD. Tuy nhiên, với mức bình quân này, Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình thấp và chỉ ngang bằng mức GDP bình quân đầu người của Malaysia năm 1988, Thái Lan năm 1993, Indonesia năm 2008, Philippines năm 2010 và Hàn Quốc năm 1982. Ông Nguyễn Đình Cung – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) nhận định nền kinh tế Việt Nam đang có nguy cơ tụt hậu lớn. Cụ thể, báo cáo cho hay tăng trưởng bình quân 7%, nhưng rất khác biệt giữa hai giai đoạn, trước năm 2008 là 7,8% mỗi năm, nhưng từ 2008 đến nay chỉ 5,8%,, chênh lệch khoảng 2 điểm phần trăm. So với các nước trong khu vực, nếu tăng trưởng 5%, đến năm 2035, GDP của Việt Nam vẫn thua xa Thái Lan. “Nếu tăng trên 7% may ra mới đuổi kịp được, còn 5% chắc chắn tụt hậu”, ông Cung nhấn mạnh. Thêm vào đó, năng suất lao động chưa cải thiện, tăng chủ yếu nhờ chuyển dịch lao động. Vốn đang được đầu tư vào những ngành năng suất thấp, hiệu quả thấp như tài chính – ngân hàng, bất động sản. “Điều này không hợp lý, nguyên nhân do tín hiệu thị trường sai lệch, các ngành năng suất thấp, hiệu quả thấp thu hút nguồn lực là do có địa tô cao, hơn là tạo ra giá trị gia tăng”, vị này chia sẻ Lãnh đạo CIEM khuyến nghị để nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, cải cách thể chế là nhiệm vụ trọng tâm và không thể chần chừ. Theo ông, mục tiêu ổn định vĩ mô là cần thiết nhưng chưa đủ, nếu không đổi mới thể chế, chức năng của Nhà nước thì nguy cơ tài khóa, tiền sẽ mở rộng và gây ra bất ổn. Tiến sĩ Võ Đại Lược cho hay tình hình kinh tế đang phức tạp, có điểm sáng, có điểm tối, nếu chỉ bàn đến giải pháp kinh tế thì không thể giải quyết được, chẳng hạn như vẫn giữ doanh nghiệp Nhà nước làm chủ đạo thì không thể xử lý được những vấn đề tồn động tại khu vực này. “Ở thời điểm hiện nay, muốn giải quyết thực sự vấn đề thì chuyện không phải là kinh tế mà phải chính trị, phải có sự đổi mới về tư duy quan điểm phát triển, từ đó đổi mới thể chế”, ông Lược nói. Đồng quan điểm, ông Trương Đình Tuyển khẳng định để thể chế kinh tế tốt lên, phải cải cách chính trị, từ đó xây dựng xã hội hiện đại dựa trên ba nội dung: kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cũng cho rằng tuy kinh tế Việt Nam đang phát triển, nhưng có sự thật là năng lực cạnh tranh đang kém hơn các nước, gây nên mối nguy trong quá trình hội nhập mạnh mẽ. “Hội nhập là cạnh tranh, nếu không cạnh tranh được thì chúng ta thất bại”, ông Vinh phát biểu. Phương Linh, VNEpress
Xuất Cảng Thủy Sản Giảm 17% Trị Giá vì bị TQ lấn chiếm biểnTrong 8 tháng qua, xuât cảng nông thủy sản đều giảm. Bản tin Dân Việt ghi rằng vào ngày 26.8, Bộ NNPTNT cho biết, kim ngạch xuất cảng nông lâm thuỷ sản tháng 8.2015 ước đạt 2,38 tỷ USD, đưa giá trị xuất cảng của ngành 8 tháng đầu năm 2015 lên 19,31 tỷ USD, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm 2014. Trong đó, giá trị xuất cảng các mặt hàng nông sản chính ước đạt 9,18 tỷ USD, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2014, giảm rất mạnh ở các mặt hàng như cà phê (33,1%), Bản tin nói, giá trị xuất cảng thuỷ sản ước đạt 4,13 tỷ USD, giảm 17,5% so với cùng kỳ năm 2014.
VN: Nhập siêu với TQ tiếp tục tăng mạnh Nhập siêu với Trung Quốc tiếp tục tăng mạnh trong 8 tháng đầu năm, Tổng Cục Thống kê Việt Nam cho biết.Số liệu được các báo trong nước dẫn lại cho thấy từ đầu năm đến nay, tổng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 32,7 tỷ đôla, tương đương 29,8% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam.Con số này cao hơn 20,4% so với cùng kỳ năm trước, theo báo cáo. Trong khi đó, Việt nam chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc 10,4 tỷ đôla trong thời gian này, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước.Điều này khiến Trung Quốc trở thành thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm, với giá trị khoảng 22,3 tỷ đôla.
Con số này cao hơn 29% so với mức 17,3 tỷ đôla cùng kỳ năm 2014.Tổng Cục Thống kê nhận định việc Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ 4,6% trong tháng này chưa ảnh hưởng lớn đến xuất nhập khẩu tháng 8.'Sẽ bị ép giá' Hôm 20/8, ngân hàng HSBC dự báo Việt Nam có thể phá giá đồng nội tệ thêm 2% từ đây đến cuối năm, nâng tổng mức điều chỉnh tỷ giá VND/USD trong cả năm lên 5%Tuy nhiên cơ quan này cũng cảnh báo hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ bị ép giá trong những tháng cuối năm, trong khi hàng nhập khẩu từ Trung Quốc sẽ có tính cạnh tranh cao hơn, làm gia tăng áp lực nhập siêu từ nước này.Tính từ đầu năm đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã phá giá đồng tiền Việt Nam (VND) 3% và nới biên độ tỷ giá VND/USD lên gấp ba lần, từ 1% lên 3%.Các thông cáo trước đó của Ngân hàng Nhà nước cho biết động thái điều chỉnh tỷ giá là để đáp lại việc Trung Quốc phá giá đồng nhân dân tệ và đón đầu các tác động bất lợi của khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ điều chỉnh tăng lãi suất trong thời gian tới.
Thời gian qua, nhiều ý kiến từ giới chuyên gia cho rằng áp lực hạ giá VND sẽ làm gia tăng tình trạng nhập siêu với Trung Quốc và tăng gánh nặng nợ công.Hôm 20/8, ngân hàng HSBC dự báo Việt Nam có thể phá giá đồng nội tệ thêm 2% từ đây đến cuối năm, nâng tổng mức điều chỉnh tỷ giá VND/USD trong cả năm lên 5%.Mức này cao hơn một số dự đoán từ giới chuyên gia trước đó, vốn cho rằng phạm vi điều chỉnh tỷ giá trong cả năm sẽ từ 3% đến 4%.Bên cạnh đó, HSBC cũng cho rằng Việt Nam sẽ phải phá giá VND thêm 2% trong cả năm 2016.Tỷ giá cuối năm nay, theo ước tính của HSBC, sẽ ở mức 22.800 VND/USDTrung thành với mẫu quốc theo lệnh đảng, Nhập siêu từ Trung Quốc: Ham rẻ ôm lấy cái bất ổn(Doanh nghiệp) - Con số nhập siêu từ Trung Quốc tăng nhanh chóng mặt, trong vòng 8 tháng ước khoảng 22,3 tỷ USD. Các chuyên gia cảnh báo, nguy cơ ôm nhiều bất ổn.Theo số liệu từ Tổng Cục thống kê cho thấy, tổng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 32,7 tỷ đôla, tương đương 29,8% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam. Con số này cao hơn 20,4% so với cùng kỳ năm trước, theo báo cáo.  | | Diễn đàn kinh tế mùa thu 2015 |
Trong khi đó, Việt nam chỉ xuất khẩu sang Trung Quốc 10,4 tỷ đôla trong thời gian này, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Điều này khiến Trung Quốc trở thành thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm, với giá trị khoảng 22,3 tỷ đôla. Con số này cao hơn 29% so với mức 17,3 tỷ đôla cùng kỳ năm 2014. Việc phụ thuộc vào một thị trường nhất là thị trường Trung Quốc khiến không ít chuyên gia trong nước phải lo lắng. Phát biểu tại Diễn đàn kinh tế mùa thu 2015, ông Trương Đình Tuyển nhấn mạnh nhất định phải tìm hướng đi khác Trung Quốc. Ông Tuyển cho rằng nếu cứ tiếp tục phát triển bằng nguồn nguyên liệu từ Trung Quốc, công nghệ Trung Quốc… thì vẫn không thể làm gì vì chi phí sản xuất của họ quá thấp, họ có thị trường chủ động mà Việt Nam không thể cạnh tranh. “Hội nhập của Việt Nam khó nhất là bài toán với Trung Quốc. Khi mà công nghệ lạc hậu, hàng hóa thừa họ chuyển sang ta, còn ta thì dễ dàng nhập và sử dụng thì liệu có phát triển được không?”, đây là câu hỏi được TS. Trần Đình Thiên đặt ra đầy lo lắng. Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam lưu ý, trước diễn biến xấu của nền kinh tế Trung Quốc thời gian qua, nhất là động thái điều chỉnh phá giá đồng nhân dân tệ thì về ngắn hạn, Việt Nam được thụ hưởng hàng hoá giá rẻ. Tuy nhiên, tình hình này chứa đựng nguy cơ thích hàng rẻ, thích hàng hoá đẳng cấp thấp của nền kinh tế Việt Nam. Theo ông Thiên, cấu trúc công nghiệp dựa vào đầu vào từ Trung Quốc hoàn toàn không tốt và diễn biến gần đây có thể là cơ hội để chúng ta thay đổi cấu trúc. “Cũng như sự kiện Trung Quốc đặt giàn khoan trước đây là cơ hội để chúng ta thay đổi thị trường. Nhưng ngược lại, chúng ta vẫn ôm chặt lấy cơ cấu cũ. Vậy làm sao thoát được cơ cấu này? Cần lưu ý là nền kinh tế Trung Quốc trong tương lai dự kiến là xu hướng xấu đi, bài ca oai hùng không còn vang như ngày xưa. Một nền kinh tế bất ổn mà chúng ta ham rẻ ôm lấy tức là ôm lấy cái bất ổn” - TS Trần Đình Thiên thẳng thắn nói. Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Nguyễn Đình Cung lo ngại, lâu nay nói hội nhập thì hay phê phán là doanh nghiệp không tích cực chuẩn bị rồi rất yếu trong cạnh tranh. Nói như vậy, theo ông thì có thể đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ. Bởi doanh nghiệp Việt Nam “như đang đi trên cái cầu khỉ, trên lưng bị đè nặng bởi khối đá đó là chi phí, họ cúi đầu dò dẫm từng bước một để sao cho khỏi rơi xuống sông nên không thể nhìn xa đến bên ngoài được”. An An(Tổng hợp) Nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam ‘hy sinh’ hai lần
QUẢNG TRỊ (NV) - Một cựu sĩ quan công an đã sử dụng hài cốt của 70 liệt sĩ bị Cộng Sản Việt Nam bỏ quên, làm phương tiện để chiếm đoạt khoảng tám tỷ đồng.

“Cậu Thủy” (trái) tại hiện trường một vụ tìm hài cốt liệt sĩ ở Quảng Trị hồi tháng 8 năm 2013. (Hình: Tuổi Trẻ)
Viện Kiểm Sát tỉnh Quảng Trị vừa truy tố: Nguyễn Văn Thúy, 56 tuổi, ngụ tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh; Mẫn Thị Duyên, 53 tuổi, vợ ông Thúy; Nguyễn Văn Hoành, 46 tuổi, em ruột ông Thúy; Mẫn Đức Phương, 27 tuổi, em ruột bà Duyên; Nguyễn Trường Sơn, 28 tuổi và Nguyễn Anh Chiều, 32 tuổi, cùng là con rể ông Thúy. Vũ Đức Chung, 69 tuổi, quản trang Nghĩa trang liệt sĩ huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum - về các tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” “xâm phạm mồ mả, hài cốt,” “trộm cắp tài sản.” Năm 2008, ông Thúy, một cựu sĩ quan công an từng ở tù vì “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” tự nhận và được nhiều cá nhân và tổ chức, kể cả báo giới quảng bá là một “nhà ngoại cảm.” Danh hiệu “nhà ngoại cảm” xuất hiện tại Việt Nam vào khoảng đầu thập niên 2000, dùng để chỉ những người có khả năng liên lạc với người chết để hỏi han về chỗ họ bị vùi thây cho thân nhân tìm tới cải táng. Sở dĩ các “nhà ngoại cảm” được nhiều giới tung hô, có “đất dụng võ” vì tại Việt Nam vẫn còn hàng trăm ngàn liệt sĩ từng “hy sinh” để Cộng Sản Việt Nam thống trị toàn cõi Việt Nam, bị chính quyền Cộng Sản Việt Nam lãng quên. Thân nhân của họ thì không an lòng bởi không biết họ bị vùi lấp ở đâu. Việt Nam có hàng chục “nhà ngoại cảm” nổi tiếng và ông Thúy là một trong số này. Từ khi trở thành “nhà ngoại cảm,” ông Thúy được gọi là “cậu Thủy.” Sau một thời gian giúp nhiều gia đình tìm hài cốt liệt sĩ là thân nhân của họ, tháng 7 năm 2013, “cậu Thủy” chính thức được Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam (hoạt động bằng vốn do ngân sách của nhà cầm quyền trung ương cung cấp) hỗ trợ để “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” tại Quảng Trị, Đắk Lắk, Bình Phước, nhân dịp 65 năm “Ngày Thương Binh-Liệt Sĩ.” “Cậu Thủy” đã tìm được 79 hài cốt liệt sĩ và được Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam bồi dưỡng khoảng bảy tỷ đồng. Sau đó người ta mới phát giác, “cậu Thủy” không có khả năng liên lạc với người chết. Dựa trên thông tin về đơn vị, địa điểm thiệt mạng do thân nhân của liệt sĩ cung cấp, “cậu Thủy” cho người đem hài cốt mà “cậu Thủy” tích trữ đi chôn trước, rồi mới chỉ chỗ cho thiên hạ đi tìm, đào sau. Để tăng độ tin cậy về hài cốt tìm được đúng là của liệt sĩ (có sự tương đồng về mức độ bị phân hủy theo thời gian), “cậu Thủy” cho người đến các nghĩa trang liệt sĩ ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên -Huế, Đắk Lắk... đào trộm. Đồng thời còn làm cũ, chôn kèm: dép râu, ba lô, võng... Đáng chú ý là vì nhu cầu tìm kiếm hài cốt của thân nhân liệt sĩ thì lớn, số lượng hài cốt liệt sĩ có thể đào trộm tại các nghĩa trang liệt sĩ lại có hạn nên “cậu Thủy” thường chia một bộ hài cốt thành... nhiều phần! Theo cáo trạng, “cậu Thủy” tổ chức đào và lấy trộm khoảng 70 bộ hài cốt liệt sĩ nhưng đến khi bị bắt, “cậu Thủy” đã “tìm được” 105 liệt sĩ mất tích. Chưa kể, trong kho của “cậu Thủy” vẫn còn một số hài cốt nữa nhưng không thể xác định là bao nhiêu bộ! Hàng trăm ngàn người đã chết khi giúp Cộng Sản Việt Nam “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.” Họ trở thành liệt sĩ và dù nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam “đời đời nhớ ơn” nhưng đến nay, cha mẹ, anh em, con cháu của họ vẫn không biết thi thể của họ bị vùi lấp ở đâu. Thập niên 1980, 1990, nhà cầm quyền nhiều địa phương ở Việt Nam từng tổ chức một số đợt “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ.” Có hàng chục scandal liên quan đến các vụ “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” đó. Phổ biến nhất là lập khống số lượng hài cốt tìm được và xây mộ giả để lấy tiền. Có nơi như Đồng Nai, các “đồng chí, đồng đội” còn chẻ xương, cắt sọ hài cốt liệt sĩ để tăng số lượng hài cốt tìm được. Đó cũng là lý do phong trào “tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ” xẹp xuống, nhường chỗ cho phong trào “ngoại cảm.” Phong trào nào cũng có nhiều liệt sĩ Cộng Sản Việt Nam “hy sinh” không chỉ một lần. (G.Đ)
Nguyên Nhân Làm Nên Khác Biệt Giữa Campuchia với Việt Nam Xã Nghĩa Le NguyenLời giới thiệu: bài viết nhận định tình hình chính trị trên quan điểm Vương Quốc Campuchia là một nước dân chủ đa đảng khiếm khuyết. Mọi biểu hiện dân chủ đều có bàn tay Hun Sen tác động vào để dễ nhận ra sự khác biệt giữa Campuchia với Việt Nam xã nghĩa. ***-*** Không đầy bốn năm cầm quyền xứ Chùa Tháp. Khmer đỏ, những tên Maoist cuồng tín hô hào, thưc hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa đã giết gần nửa dân số Campuchia. Chúng biến thành phố, tỉnh thành, phố thị đông dân cư thành thành phố ma thiếu bóng người, có chăng chỉ vài chiếc bóng vật vờ, gầy guộc trơ xương thiếu sức sống. Khmer đỏ không những giết dân mà còn thanh toán cả đồng chí và những tên Miên Cộng trong lực lượng Khmer đỏ bị đồng chí truy đuổi trốn chạy sang Việt Nam có Hun Sen - thủ tướng đương nhiệm nhiều quyền lực của Vương Quốc Campuchia ngày nay. Trở lại thời điểm những năm cuối của thập niên 70s của thế kỷ trước, Khmer đỏ ngoài việc tàn sát người dân, thanh toán đồng chí, ỷ vào thế Tàu Cộng, chúng hung hăng quấy rối biên giới Tây Nam Việt Nam. Lợi dụng lý do đó, cộng sản Việt Nam nhân danh làm nghĩa vụ quốc tế, phản công tự vệ đánh chiếm Campuchia dựng lên nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Campuchia, đặt Heng Samrin ngồi vào ghế chủ tịch, Hun Sen làm bộ trưởng ngoại giao và Hun Sen là một thành viên chủ chốt trong thành phần lãnh đạo của nhà nước bù nhìn này. Sự thật của cái gọi là nghĩa vụ quốc tế trên đất nước Campuchia chỉ là hợp đồng làm lính đánh thuê của cộng sản Việt Nam cho những mâu thuẩn, xung đột quyền lợi, tranh giành ảnh hưởng của hai tên đầu sỏ Nga–Tàu trong nội bộ cộng sản, nội bộ hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa, một nhà nước không còn người bóc lột người? Thực chất chiến tranh Campuchia xảy ra là do hai tên đế quốc thực dân mới Nga-Tàu đứng sau giật dây, tên nào cũng muốn các đảng cộng sản đàn em nằm dưới sự chỉ huy của mình nên chiến tranh Campuchia bùng nổ và Việt Cộng ngu ngốc tình nguyện làm tên lính xung kích cho Nga, Miên Cộng cuồng tín xung phong làm lính đánh thuê cho Tàu cộng trên xứ Chùa Tháp! Cộng sản Việt Nam chiếm đóng xứ Chùa Tháp từ đầu năm 1979, mãi cho đến năm 1989 lúc hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Trung, Đông Âu và thành trì cách mạng Liên Xô vỡ trận tự sụp đỗ. Trước nguy cơ bị xóa sổ, Tàu Cộng-Việt Cộng đi đêm đàm phán nối lại bang giao giữa hai nước cộng sản cựu thù vớí tư duy “dù sao cũng là một nước xã hội chủ nghĩa”, giàn xếp cuộc chiến xâm lăng của Việt Cộng trên xứ Chùa Tháp, sắp xếp thành phần nhân sự lãnh đạo chính phủ Campuchia tương lai sau khi Việt Nam rút quân về nước... và trong Hội Nghị Thành Đô năm 1990 còn nhiều thỏa thuận bí mật giữa cộng đảng Tàu và cộng Đảng Việt, không được công bố? Ngoài hai “chủ xị” Tàu Cộng, Việt Cộng còn có sự hổ trợ, góp tiếng nói của các quốc gia dân chủ đóng góp cho tiến trình hòa bình Campuchia. Cuối cùng tháng 05/1993 chính phủ đa thành phần của Campuchia ra đời qua cuộc bầu cử tự do do liên hiệp quốc tổ chức và giám sát. Thế nhưng con đường giải quyết chiến tranh, tranh chấp quyền lực Campuchia bằng đối thoại hòa bình không chỉ toàn hoa hồng mà có rất nhiều cam go, thử thách do tàn dư của Khmer đỏ chống đối và chính phủ bù nhìn do Việt Cộng dựng lên khuynh đảo. Đất nước Campuchia sau chiến tranh phải bắt đầu xây dựng lại từ con số không, khó khăn hơn Việt Nam vạn lần do những nguyên nhân nội tại như sau: Thứ nhất là kết quả bầu tự do có quốc tế giám sát gồm đảng Bảo hoàng đứng đầu với 58 ghế đại diện, đảng nhân dân hành động chiếm 51 ghế và đảng Sam Rainsy được 10 ghế. Với kết quả này, nếu đảng Bảo hoàng bắt tay với đảng Sam Rainsy thành lập chính phủ thì đảng nhân dân hành động bị loại khỏi chính quyền. Nhưng Hun Sen đứa con hoang được cộng sản Việt Nam hậu thuẩn không buông tay dễ như vậy nên chúng sử dụng nòng súng khủng bố tinh thần, ép buộc các vị dân cử lãnh đạo đảng bảo hoàng thành lập chính phủ theo ý chúng. Thứ hai là Hun Sen con đẻ của Việt Cộng có sức mạnh nòng súng trong tay, có lực lượng đặc nhiệm của Việt Cộng cài lại trên xứ Chùa Tháp làm áp lực phe bảo hoàng thành lập chính phủ liên minh không giống ai với các chức danh đệ nhất, đệ nhị phó thủ tướng...cùng với các chức danh song hành trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương do người của đảng nhân dân hành động đảm trách nhằm kiểm soát mọi hoạt động của chính phủ non trẻ của Vương Quốc Campuchia. Thứ ba là Hun Sen với bản chất man rợ cộng sản nằm trong máu, luôn trong tư thế sẵn sàng sử dụng bạo lực thanh toán các thành phần đối lập chống đối để củng cố độc tài của hắn ta và thủ lãnh đối lập nổi tiếng trên chính trường Campuchia hiện nay như Sam Rainsy, Norodom Ranariddh cũng đã từng bị ám sát nhưng thoát nạn và có thời kỳ phải bỏ chạy lưu vong ở nước ngoài để bảo toàn tính mạng, để tránh “bàn tay sắt” của tên độc tài Hun Sen. Thứ tư là Hun Sen gần như nắm giữ quyền hành tuyệt đối trong suốt thời gian nắm giữ chức vụ thủ tướng phủ trùm lên Vương Quốc Campuchia. Hắn mó tay, chi phối vào mọi ngỏ ngách cuộc sống, lãnh đạo toàn diện từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, luật pháp... rập khuôn theo mô hình công an trị, tổ chức cai trị nhà nước- xã hội giống như quan thầy Việt Nam. Đó là một vài vấn đề then chốt bề nổi, những ai có theo dõi chính tình Campuchia đều nhận ra và những điều Hun Sen làm trong mười năm đầu để củng cố thế lực, độc quyền quyền lực Vương Quốc Campuchia. Những hành động vô luật pháp của Hun Sen đã làm chậm tiến trình xây dựng, phát triển Campuchia về hướng văn minh tiến bộ của loài người văn minh là sự thật không thể che dấu hay phủ nhận. Câu hỏi được đặt ra là tại sao Vương Quốc Campuchia được tái lập trên nền tảng chính trị dân chủ, có tam quyền phân lập, có sinh hoạt đa đảng, có báo chí tự do...nhưng Hun Sen bât chấp xây dựng quyền lực nhà nước trên nòng súng, thu tóm quyền lực, chia chác quyền lợi cho phé nhóm đảng nhân dân hành động? Sở dĩ Hun Sen làm thế cũng dễ hiểu, vì gốc hắn xuất thân từ tổ chức man rợ Khmer đỏ, được tái rèn luyện, đào tạo từ lò cộng sản Việt Nam cũng man rợ không kém và được tung trở lại Campuchia hoạt động để thực hiện sách lược bí mật của đảng cộng sản Việt Nam ở Campuchia. Kết luận Hun Sen là con đẻ, là quân cờ của cộng sản Việt Nam trên chính trường Campuchia không phải là không có cơ sở khoa học. Nó được củng cố trên bản lý lịch trích ngang của Hun Sen được công bố công khai trên các phương tiện truyền thông nhưng có một chi tiết quan trọng về Hun Sen không được nhắc tới, là ông ta nói sõi tiếng Việt và có vợ là người Việt Nam. Tại sao lý lịch của Hun Sen “kê khai’ đủ thứ, từ ngày tháng năm sanh, nơi sinh quán, quá trình học tập, tham gia đảng cộng sản, chức vụ trong quân đội, chạy qua Việt Nam tị nạn để tránh cuộc thanh trừng đẫm máu của Khmer đỏ...và có vợ Việt, nói tiếng Việt sõi như người Việt thì lại không “kê khai”? Chính nguồn gốc đỏ từ đầu tới đít, mang tư duy độc tài, có sự liên hệ mờ ám với đảng cộng sản Việt nam nên Hun Sen thời gian đầu cầm quyền thể hiện “tao là luật, luật là tao” của bản chất cộng sản, đã làm cho thiết chế chính trị dân chủ trong thể chế quân chủ đại nghị của Vương Quốc Campuchia rối loạn, không thể đi vào thực tiễn đời sống của người dân Campuchia. Tóm lại là mười năm đầu cầm quyền, Hun Sen ra tay tiêu diệt đối lập, bịt miệng báo chí, vi phạm nhân quyền, cầm tù dân quyền, thủ tiêu quyền chính trị...nhằm thu tóm quyền bính, độc quyền quyền lực chính trị trên lưng Vương Quốc Campuchia. Mười năm kế tiếp cho đến hiện nay, Hun Sen “diễn trò” dân chủ qua việc “cho phép” các lãnh tụ Sam Rainsy, Norodom Ranariddh làm đối lập “cuội”, cho báo chí tư nhân ra báo và giảm bớt ám sát, cầm tù các phóng viên, nhà báo vô cớ trong thời kỳ “vô chính phủ” “có luật như không của Vương Quốc Campuchia. Đặc biệt của “kịch bản” diễn trò dân chủ “cuội” của Campuchia dần dà nới rộng quyền cho người dân được tụ tập biểu tình chống lại những kẻ lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhân danh phát triển kinh tế xã hội, phá rừng, cướp đất của dân. Độc đáo nhất, đỉnh nhất của đối lập “cuội” là việc người dân Campuchia “được” xuống đường biểu tình bày tỏ chính kiến, đốt cờ đỏ sao vàng, hô khẩu hiệu chống quan thầy Việt Cộng trước mũi của Hun Sen và đối lập “cuội” được cho phép kích động người dân Campuchia ùn ùn kéo đến biên giới Việt – Cam phản đối cấm móc, phân định biên giới, buộc Hun Sen phải “diễn trò” trưng dẫn một số bản đồ biên giới Việt – Cam được cộng đồng quốc tế công nhận, có từ thời Việt Nam Cộng Hòa! Ngoài diễn trò đối nội “đánh bóng” cá nhân như vừa kể ra, những năm gần đây Hun Sen còn có những động thái “diễn trò” đối ngoại táo bạo, đáng cho người Campuchia hãnh diện, cụ thể như: Một là Hun Sen cũng như các quan chức lãnh đạo của Vương Quốc Campuchia không một ai kính cẩn nói đời đời cám ơn Việt Nam trước mắt người dân Campuchia trên mọi diễn đàn trong lẫn ngoài nước. Dù rằng đảng cộng sản Việt Nam đã rèn luyện, hậu thuẫn đưa Hun Sen, đưa đảng nhân dân Campuchia lên đỉnh cao quyền lực và Việt Cộng, nguyên là “cứu tinh” giúp Campuchia thoát họa diệt chủng của Khmer đỏ? Hai là Hun Sen dám cả gan “diễn trò” chống mẫu quốc Việt Nam khi làm chủ tịch Hội Nghị Thượng Đỉnh của Asean lần thứ 20 ở Campuchia năm 2012. Hành động chống Việt Nam của Hun Sen là ngăn chận hội nghị đưa vào chương trình nghị sự thảo luận tìm giải pháp ứng xử, tranh chấp của các bên ở Biển Đông và kết thúc Hội Nghị thượng đỉnh lần thứ 20 do Hun Sen “chủ trì”, không có nổi bản tuyên bố chung là một ngoại lệ không có từ trước của khối Asean! Ba là các quan chức lãnh đạo của chính quyền Hun Sen không một ai phải qua Việt Nam trước khi đi quan hệ ngoại giao với một nước thứ ba. Cụ thể là Tea Banh bộ trưởng quốc phòng, kiêm phó thủ tướng Campuchia đưa một phái đoàn hùng hậu qua “giao lưu” với Trung Quốc mà không phải qua Việt Nam “quán triệt” chủ trương, đường lối như tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phải qua diện kiến Tập Cận Bình trước khi thực hiện chuyến Mỹ du. Bốn là trên trường quốc tế Hun Sen không đặt hay không thể đặt quyền lợi đảng nhân dân trên quyền lợi tổ quốc Campuchia. Cụ thể như trong sách lược ngoại giao, lãnh đạo Campuchia không dựa trên ý thức hệ, không đặt nặng trên nền tảng quốc gia theo xã hội chủ nghĩa, cũng như không quan trọng hóa việc quốc gia đó theo chính thể đa đảng hay độc đảng - miễn sao mối quan hệ đối ngoại đó đem lại lợi ích cho dân tộc, đất nước campuchia. Hiện tai mối quan hệ giữa Campuchia với Trung Cộng là nằm trong chủ trương, đường lối ngoại giao “không ngu” của Hun Sen. Trung Quốc viện trợ, cho không hay cho vay nhẹ lãi để xây dựng, phát triển đất nước thì cứ nhận nhưng Hun sen không dẫn dắt Campuchia theo xã hội chủ nghĩa, không lấy chủ nghĩa Mác- Lê làm tư tưởng chủ đạo và cũng không chống đa nguyên đa đảng... Thật lòng mà nói người dân Việt Nam dù có nằm mơ cũng không thấy lãnh đạo cộng sản Việt Nam diễn trò dân chủ với các thủ lãnh đối lập “cuội” đạt hơn, táo bạo hơn những gì thủ tướng Hun Sen của Campuchia đã diễn, đang diễn trong trò chơi dân chủ cho chính hắn viết kịch bản, thủ diễn trên xứ Chùa Tháp. Những ngày qua trong vở diễn dân chủ của Hun Sen liên quan đến xung đột trong sự kiện cấm móc, phân định biên giới Việt-Cam, có đoạn thoại khá nhạy cảm, táo bạo tạo sóng dư luận trong ngoài, nước Campuchia có nội dung như sau: “... Tôi không phải là con rối của Việt nam...tôi không sợ bất kỳ ai, kể cả Việt Nam... Phnom Penh sẽ đưa chính quyền Hà Nội ra Tòa Công lý Quốc tế cũng như Hội đồng Bảo an nếu vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia...”

Thủ Tướng Cam Bốt Trình Diễn, Khai Tài Sản Thủ Tướng Cam Bốt Hun Sen (phải) lấy ngón tay cái ịn lên tờ khai tài sản dưới sự giám sát của Chủ Tịch Ủy Ban Chống Tham Nhũng Om Yin Tieng (trái) trong văn phòng của Ủy Ban này ở Nam Vang hôm 1-4-2011. Hun Sen thúc giục các cán bộ khac hãy theo gương ông để liệt kê tài sản, như một biện pháp chống tham nhũng. Dù vậy, nhiều nhà hoạt động nói tờ khai này chỉ là hình thức, vì không có biện pháp kiểm tra thực tế. (Photo AFP/Getty Images) . Song song với phát ngôn gây sốc, Hun Sen còn sử dụng quyền thủ tướng yêu cầu cảnh sát bắt giữ thượng nghị sĩ đối lập Hong Sok Hour của đảng Sam Rainsy. Theo cáo buộc của chính quyền Hun Sen là do ông này cho đăng một tài liệu giả mạo, đã bị chỉnh sửa của một hiệp ước cũ về đường biên giới Campuchia - Việt Nam lên trang Facebook cá nhân. Dư luận xã hội cũng đang ồn ào bàn tán về sự kiện đàn áp đối lập “cuội” của Hun Sen. Nội dung bài viết này không nhằm vào mục đích phân tích hành động bắt giữ đối lập”cuội” của Hun Sen là tiêu cực hay tích cực có ảnh hưởng, tác động như thế nào đến kịch bản diễn trò dân chủ của Hun Sen trên xứ Chùa Tháp? Nội dung của bài viết là nhắm vào việc chỉ ra một số sự kiên nổi bật trên chính trường Campuchia mà ai có theo dõi chính sự Campuchia đều có thể nghe, thấy. Qua một số điểm cốt lõi, sơ lược về diễn biến chính tình Campuchia, không khó để nhận ra nguyên nhân làm nên sự khác biệt giữa Campuchia với Việt Nam. Nguyên nhân làm nên khác biệt là Vương Quốc Campuchia có thiết chế chính trị dân chủ, có tam quyền phân lập, có báo chí tự do và lãnh đạo Campuchia không kiên trì chủ nghĩa Mác- Lenin, không chống đa nguyên đa đảng, nói không với pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nói không với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nói không với kinh tế quốc doanh làm chủ đạo, nói không với đất đai sở hữu toàn dân, nhà nước thống nhất quản lý...
|
|