SÀI GÒN (NV) –Nhà báo tự do Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, vừa bị bắt ở Sài Gòn lúc 8 giờ sáng Thứ Năm, 25 Tháng Sáu, giờ Việt Nam.
Nhà báo Phạm Chí Dũng. (Hình: Chuacuuthe.com)
Một nguồn tin của báo Người Việt thuật lời của Thụy My của Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp (RFI) cho biết, bà ‘nhận được một tin nhắn vỏn vẹn ba chữ: ‘Anh bị bắt.’
‘Ngay sau đó là một cuộc gọi ngắn gọn của Phạm Chí Dũng, cho biết sáng nay anh vừa ra khỏi nhà thì bị khoảng hai chục người dùng vũ lực buộc anh phải theo họ. Anh tỏ ra rất bình tĩnh.’
Nguồn tin này cho hay, ‘trước đó vài tiếng đồng hồ, anh Phạm Chí Dũng rất vui khi được tin TPA vừa được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua với số phiếu 60-38.’
Và thêm rằng: ‘Những cuộc gọi liên tiếp sau đó vào số điện thoại của anh, tất nhiên là không có hồi đáp – máy bị tắt, hoặc đổ chuông nhưng không ai bắt máy.’
Nhà báo Phạm Chí Dũng được xem là nhà quan sát về chính trị có tiếng ở Việt Nam. Ông cộng tác viết bài, trả lời phỏng vấn của hầu hết các đài phát thanh quốc tế Việt ngữ như RFI, BBC, VOA và RFA. Riêng trên báo Người Việt, ông thường có bài viết nhận định về tình hình Việt Nam cả trên Nhật báo mỗi Thứ Hai hàng tuần và trên Người Việt online.
Phạm Chí Dũng sinh năm 1966, ông từng là nhà báo, là hội viên Hội Nhà văn thành phố Sài Gòn và từng là đảng viên cộng sản.
Ngày 5 tháng 12 năm 2013, ông Dũng làm đơn xin ra khỏi đảng, vì cho là:"Đảng Cộng sản không còn đại diện và phục vụ cho quyền lợi của đại đa số nhân dân."
Ngày 04 tháng 7 năm 2014, Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam tuyên bố thành lập và ông Phạm Chí Dũng được bầu làm chủ tịch.
Khái niệm thành lập hội bắt nguồn từ Câu lạc bộ Nhà báo Tự do mà blogger Điếu Cày (Nguyễn Văn Hải) là thành viên chủ chốt. Tổ chức đó sau khi thành hình năm 2007, ông Nguyễn Văn Hải bị truy tố và tổ chức này tan vỡ.
Trong cuộc phỏng vấn với phóng viên Auskar Surbakti của đài ABC TV 24 Australian vào ngày 28 tháng 7 2014, Chủ tịch Phạm Chí Dũng nói : "Nếu họ có tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam thì họ không cần phải lập hội này. Hội này gồm những người mà muốn có tiếng nói độc lập, muốn chỉ trích những chính sách sai lầm của chính phủ."
Hồi năm ngoái, nhân Ngày Tự do Báo chí Thế giới 3 tháng 5, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) có trụ sở tại Paris, lần đầu tiên đã công bố danh sách « 100 anh hùng thông tin » năm 2014, gồm các nhà báo và blogger ở 65 quốc gia trên thế giới. Trong số ba người Việt Nam được vinh danh có ông Phạm Chí Dũng.
Ông Phạm Chí Dũng từng bị an ninh Việt Nam tịch thu hộ chiếu khi ông ra phi trường Tân Sơn Nhất đi tham dự cuộc hội thảo về vấn đề dân chủ và nhân quyền cùng buổi kiểm điểm nhân quyền UPR do Liên Hiệp Quốc tổ chức mà Việt Nam là một trong những nước phải trả lời việc này vào ngày 5 tháng 2, 2014 ở Geneva, do tổ chức UN Watch mời. (KN)
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry công bố báo cáo nhân quyền hôm 25/6
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hôm 25/6 công bố Báo cáo thường niên tình hình nhân quyền các nước, trong đó có Việt Nam.
Đây là năm thứ 39 Bộ Ngoại giao Mỹ thực hiện báo cáo nhân quyền theo yêu cầu của Quốc hội.
Dưới đây là một phần tóm tắt trong báo cáo về nhân quyền tại 10 nước trong ASEAN:
Brunei
Các vấn đề nhân quyền phổ biến nhất là việc công dân không thể thay đổi chính phủ thông qua bầu cử tự do và công bằng, hạn chế tự do tôn giáo và bóc lột người lao động nước ngoài.
Các vấn đề nhân quyền khác gồm hạn chế tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội.
Myanmar
Các vi phạm nhân quyền ở bang Rakhine là sự trái ngược gây nhiều lo lắng, khác với xu hướng tiến bộ từ 2011, gồm việc thả tù nhân chính trị năm 2012, nỗ lực cải thiện điều kiện trong tù và tiếp tục đàm phán để có ngừng bắn lâu dài.
Tại bang Rakhine, chính quyền trung ương và địa phương hạn chế nghiêm trọng việc tiếp cận nhân đạo và không làm gì mấy để giải quyết nguồn gốc bạo lực và phân biệt. Chính phủ không lập tiến trình công bằng để trao quyền công dân đầy đủ, không phân biệt cho người Rohingya vô tổ quốc. Hồi tháng 11 năm 2014, hơn 16.000 người Rohingya chạy trốn bằng thuyền chỉ trong hai tuần, chủ yếu có sự khuyến khích của an ninh, quân đội, kẻ buôn lậu và buôn người.
Các vấn đề nhân quyền lớn khác tiếp tục trên cả nước, đặc biệt ở các vùng xung đột, gồm hãm hiếp, bạo lực tình dục; các vụ bắt giữ có động cơ chính trị và nói chung là thiếu pháp luật, dẫn đến tham ô và lấy đất sâu rộng mà không đền bù đầy đủ; các vụ bắt nhà báo; và hạn chế tự do truyền thông. Chính quyền không bảo vệ dân ở các vùng xung đột.
Nhiều luật hạn chế tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, tôn giáo, đi lại vẫn tồn tại, và giới chức tiếp tục áp dụng.
Campuchia
Ba vấn đề nhân quyền hàng đầu là việc tùy tiện tạm ngừng quyền tụ họp ở thủ đô, tòa án thiếu hiệu quả và bị chính trị hóa, và hạn chế tự do báo chí.
Các vấn đề nhân quyền khác gồm hành hạ tù nhân, tham nhũng lan rộng, các cơ quan nhân quyền chính phủ thiếu hiệu quả, và buôn người.
Indonesia
Chính phủ không có điều tra công khai minh bạch về một số cáo buộc giết người, tra tấn, hành hạ của lực lượng an ninh.
Chính phủ áp dụng luật mưu phản, báng bổ, phỉ báng, hành vi lịch sự để hạn chế tự do biểu đạt, hội họp. Mặc dù có các vụ kết tội và bắt giữ gây tiếng vang, nhưng tham nhũng rộng khắp trong chính phủ, tòa án và an ninh vẫn là vấn đề.
Sự thụ động của cảnh sát, thiếu bảo vệ nhóm thiểu số sắc tộc và tôn giáo, hành hạ tù nhân và người bị tạm giam, điều kiện vất vả trong tù, buôn người, lao động trẻ em, và không thi hành tiêu chuẩn lao động và quyền công nhân vẫn là vấn đề.
Lào
Các vấn đề nhân quyền quan trọng nhất vẫn là chính phủ không cho công dân quyền thay đổi chính phủ, điều kiện trong một số nhà tù khắc nghiệt, và tham nhũng trong cảnh sát và tòa án khiến cho thiếu tiến trình công bằng, các vụ bắt giữ và tạm giam tùy tiện.
Malaysia
Các vấn đề nhân quyền lớn nhất là chính phủ hạn chế tự do biểu đạt – gồm ngôn luận, hội họp, lập hội và truyền thông. Hạn chế tự do tôn giáo cũng là quan ngại lớn.
Philippines
Các vấn đề nhân quyền lớn nhất vẫn là các vụ giết người và làm mất tích của lực lượng an ninh và các nhóm dân sự; hệ thống luật hình sự quá tải và yếu ớt nổi bật vì thiếu hợp tác giữa cảnh sát và điều tra viên; hồ sơ yếu kém các vụ truy tố và kéo dài thủ tục; và tham nhũng chính quyền và lạm dụng quyền lực rộng khắp.
Singapore
Chính phủ có thể và đã kiểm duyệt truyền thông (từ show truyền hình đến website) nếu cho rằng nội dung gây hại cho hòa thuận xã hội hay chỉ trích chính phủ. Luật An ninh Nội bộ (ISA) cho phép bắt giam mà không cần trát, khởi tố hay quy trình xem xét của tòa án. Trong những năm gần đây, chính phủ dùng luật này với những người bị cáo buộc là khủng bố chứ không dùng với người của phe đối lập chính trị.
Thái Lan
Ngày 22/5/2014, trong một cuộc đảo chính không đổ máu, quân đội và cảnh sát, lấy tên Hội đồng Quốc gia vì Hòa bình và Trật tự (NCPO), do Tướng Prayut Chan-Ocha dẫn đầu, đã lật đổ chính phủ lâm thời của đảng Puea Thai.
Các lãnh đạo đảo chính bãi bỏ hiến pháp (ngoại trừ các điều khoản liên quan nền quân chủ, tạm ngừng quốc hội, tiếp tục thiết quân luật đã áp dụng hai ngày trước đó, và ban hành nhiều nghị định hạn chế tự do dân sự. NCPO công bố hiến pháp tạm thời ngày 22/7, bổ nhiệm người vào quốc hội ngày 31/7, và các thành viên quốc hội thống nhất lựa chọn lãnh đạo đảo chính, Tướng Prayut, làm thủ tướng ngày 21/8.
Ngoài các hạn chế nhân quyền do đảo chính, các vấn đề nhân quyền kéo dài nhất là sự vi phạm của an ninh và tình nguyện viên quốc phòng địa phương trong cuộc nổi dậy Malay-Hồi giáo ở ba tỉnh miền nam, và thỉnh thoảng có sự dùng vũ lực quá tay của an ninh, trong đó có việc giết người của cảnh sát, tra tấn, hành hạ nghi phạm, người bị tạm giữ và tù nhân. Sau đảo chính 22/5, công dân không còn khả năng thay đổi chính phủ thông qua quyền bầu cử trong bầu cử tự do và công bằng.
Việt Nam
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc đoán do một đảng duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - thống trị. Cuộc bầu cử Quốc hội gần đây nhất, tổ chức năm 2011, đã diễn ra một cách không tự do và không công bằng. Chính quyền vẫn duy trì sự kiểm soát có hiệu quả đối với các lực lượng an ninh.
Những vấn đề quyền con người nổi bật nhất trong nước vẫn là: sự hạn chế nghiêm ngặt của chính quyền đối với quyền chính trị của công dân, đặc biệt là quyền của công dân trong việc thay đổi chính quyền thông qua bầu cử tự do và công bằng; hạn chế quyền tự do dân sự của công dân; không bảo vệ đủ quyền pháp lý của công dân, gồm bảo vệ trước sự bắt bớ vô cớ.
Những vi phạm quyền con người cụ thể bao gồm việc làm chết người tùy tiện và phi pháp; các vụ tấn công của công an và tra tấn; bắt giữ và tạm giam tùy tiện vì hoạt động chính trị; công an tiếp tục đối xử không tốt với nghi phạm khi bắt giữ và tạm giam; và từ chối quyền được xét xử nhanh chóng và công bằng. Hệ thống tòa án không minh bạch và thiếu độc lập, ảnh hưởng kinh tế và chính trị thường xuyên tác động kết quả xử án. Chính quyền hạn chế các quyền tự do ngôn luận, báo chí và trấn áp những người bất đồng quan điểm; hạn chế quyền tự do sử dụng Internet, tự do tôn giáo; theo dõi các nhà hoạt động; và tiếp tục hạn chế quyền riêng tư và quyền tự do hội họp, tự do lập hội, và tự do đi lại.
Mục 'Tra tấn' trong Báo cáo Nhân quyền thường niên về Việt Nam của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu một loạt vụ việc:
Đó là các vụ bắt nhà báo tự do Trương Minh Đức (Bình Dương), ông Bùi Văn Luốt và Lê Văn Sóc (Phật giáo Hòa hảo, Vĩnh Long), bà Trần Thị Nga, bà Nguyễn Ngọc Lụa (TPHCM), ông Ngô Thanh Kiều (chết trong đồn công an Tuy Hòa, Phú Yên), các ông Y Ket Bdap (bị đánh chết sau khi vào đồn công an) và Y Abuil Bkrong (bị bắt) ở Đắk Lắk
Một nhà hàng hải Phương Tây (lâu ngày tôi quên mất tên) nhận xét: “Phải đến tận Nhật Bản mới thấy có một dân tộc thông minh như dân tộc Việt Nam”. Chắc chắn câu nói đó không cường điệu, bởi vì trong một trăm giống Việt sống dọc hai bên bờ sông Dương tử mà chỉ còn lại duy nhất dòng Lạc Việt không bị đồng hóa thì phải được kể là thông minh rồi. Tổ tiên ta đã làm nên những chiến công hiển hách là ba lần đánh bại đoàn quân Mông Cổ bách chiến bách thắng từng làm khiếp vía các quốc gia từ Âu sang Á thì đâu phải là một dân tộc tầm thường? Một người anh hùng áo vải đất Tây Sơn đánh tan 20 vạn quân Thanh trong vòng một tuần lễ thì mưu lược đâu kém gì nhà quân sự đại tài Napoléon ở Âu Châu?
Câu hỏi đặt ra: “Tại sao một dân tộc thông minh, kiên cường như thế mà địa vị ngày nay trên trường quốc tế lại bị xếp hạng gần cuối bảng?Phải chăng đến một thời điểm nào đó trong lịch sử thì nguyên khí, trí tuệ giống nòi Lạc Việt tự nhiên biến mất?”
Ông Nguyễn Trường Tộ sau khi du học nước người trở về, đã viết một bản điều trần dâng lên vua để đề nghị canh tân xứ sở thì bị các quần thần phê đó là những lời yêu ngôn, hoặc chúng, không đáng tin cậy. Tại sao vua không cử sứ giả đến các nước văn minh kia để xem hư thực như thế nào mà lại nghe lời xàm tấu của quan lại thủ cựu sợ làm cuộc cách mạng? Giá như vua Tự Đức đừng miệt mài trong thơ phú, sáng suốt một chút thì nước Việt Nam mình đâu đến nỗi tồi tệ như ngày nay? Tôi trộm nghĩ: Sở dĩ nước ta không ngóc đầu lên được là bởi vì hàng ngũ trí thức lãnh đạo xứ sở ta bị rơi vào chứng bệnh khủng hoảng trí tuệ quá lâu.
Khi tôi gọi điện thoại về Việt Nam cho bác sĩ Nguyễn Khắc Viện để hỏi tại sao một người thông minh lỗi lạc như anh mà đi theo Đảng cộng sản, một đảng đã đấu tố thân phụ anh cho đến chết, ông đáp: “Vì mình chống bọn Thực dân, vì mình quá khao khát độc lập tự do nên mình ngây thơ”. Qua câu trả lời ấy, tôi nhận thấy rằng đa số trí thức Việt Nam lúc bấy giờ đều ngây thơ chết người (!) như bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, nghĩa là giống như kỹ sư Hồ Đắc Liên đã nhìn thấy cái ác, cái bất lương, cái gian dối của cộng sản trong kháng chiến, nhưng đặt mục tiêu đánh đuổi Thực dân Pháp cao hơn hết, thành thử vấn đề thanh toán cộng sản sẽ tính sau. Ngờ đâu khi sa vào cái bẫy cộng sản, chẳng những không thể thanh toán chúng được, mà lại còn bị chúng giẫm đạp, tàn hại suốt cả một đời!
Năm 1959, đọc cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của cụ Hoàng văn Chí, tôi quá đỗi xót xa thương cảm những nhà trí thức yêu nước ở Miền Bắc vì mê cái khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” mà bị đày đọa, bị sỉ nhục. Đồng thời, tôi lại tự hỏi: “Tại sao những nhà trí thức thông thái lỗi lạc như quý vị giáo sư Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Tạ Quang Bửu không chịu đọc những tác phẩm “Trại Súc Vật” (Animal Farm) của George Orwell hoặc “Le Retour d’ URSS” (Trở về từ Liên Bang Xô Viết) của André Gide do nhà xuất bản Gallimard phát hành từ tháng 11 năm 1936 để biết cộng sản là như thế nào, mà lại nhắm mắt đi với cộng sản chỉ vì câu khẩu hiệu đểu giả “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” của Hồ Chí Minh? Sự sai lầm (hay ngây thơ, nông cạn) của các bậc đại trí thức thời ấy rất tai hại vì nó khiến cho lớp học trò của thế hệ đàn em cứ thế nhắm mắt đi theo đàn anh.
Tôi biết ghê tởm sự tàn ác bất nhân của cộng sản rất sớm nhờ tận mắt chứng kiến mấy thằng du kích cộng sản chém bay đầu ông phu xe kéo và đập vỡ sọ một thiếu niên bị nghi ngờ làm mật thám cho Tây. Sau khi đọc cuốn “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của cụ Hoàng văn Chí vào năm 1959 thì sự quyết tâm chống Cộng của tôi càng kiên định hơn. Tôi bí mật gia nhập đảng Đại Việt là thể hiện sự quyết tâm của mình. Vì bị ảnh hưởng bởi đảng chống Tổng thống Ngô Đình Diệm, do đó tôi có tư tưởng chống ông Diệm. Nhưng sau cuộc đảo chánh năm 1963, các cuộc đảo chánh giữa các tướng lãnh liên tục xảy ra, hệ phái của các đảng chống Cộng không đoàn kết với nhau thì tôi nghiệm rằng mình có tư tưởng chống ông Diệm là sai lầm. Rất nhiều đêm tôi thầm khấn nguyện vong linh Tổng thống Diệm tha thứ cho tôi.
Do tinh thần ái quốc, những nhà trí thức ở thời điểm gọi là “Cách Mạng Mùa Thu” đã đặt trái tim trên bộ não (tình cảm trên lý trí), nên bị sa chân vào cái bẫy cộng sản, rồi rút chân ra không được. Tôi hoàn toàn chia sẻ, cảm thông và xót xa nỗi bất hạnh của các nhà trí thức đó. Nhưng sau Hiệp định Genève năm 1954 chia đôi đất nước với gần một triệu đồng bào Miền Bắc phải rời bỏ mồ mả tổ tiên, nhà cửa ruộng vườn đi tìm tự do và sau khi cuốn sách “Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc” của cụ Hoàng văn Chí ra đời mà những người trí thức (!) còn chạy theo cộng sản thì tôi hết sức khinh miệt trí tuệ của những con người đó. Những trí thức theo Cộng ấy chống chế rằng họ đấu tranh vì chống ngoại xâm và vì lý tưởng công bằng xã hội. Có lẽ họ nghĩ rằng nhân dân Miền Nam đều ngu cả nên tin vào cái lập luận ấu trĩ của họ dễ dàng. Tôi có thể khẳng định rằng Miền Nam rơi vào sự thống trị của cộng sản Miền Bắc là do bọn mang danh trí thức nhưng ngu xuẩn làm mất chính nghĩa bảo vệ nền tự do của Miền Nam và bọn nằm vùng “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” làm tay sai đắc lực cho bọn xâm lược.
Hoa Kỳ đến giúp Miền Nam không phải là quân xâm lược. Bằng cớ là họ đã giải thoát Âu châu khỏi sự thống trị của Đức quốc xã và Phát xít Ý, nhưng họ không chiếm nước nào làm thuộc địa; lại còn có kế hoạch Marshall giúp nền kinh tế Âu châu phục hồi. Họ đánh bại quân phiệt Nhật, nhưng giúp Nhật trở thành quốc gia hùng cường vào hàng thứ hai về kinh tế. Nhờ Mỹ mới có phương tiện đưa gần một triệu người Miền Bắc đi tìm tự do. Tố cáo Mỹ xâm lược là luận điệu tuyên truyền xảo trá của cộng sản và được bọn trí thức ngu xuẩn ở Miền Nam cất giọng phụ họa.
Có hai nhân vật từ Miền Bắc vào Nam sau 1975 mà tôi trọng vọng và kính nể là nhà văn Dương Thu Hương và nhà lý luận Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ. Một người sinh ra và lớn lên ở đất Bắc, bị nền giáo dục chuyên chính nhồi sọ, trở thành đảng viên cộng sản, lòng phơi phới mừng rỡ trước sự thống nhất xứ sở “từ nay sạch bóng quân thù” (chữ của cộng sản), nhưng bà Dương Thu Hương chỉ sau một buổi vào nhà sách ở Miền Nam thấy bày bán đủ loại tác phẩm văn chương, chính trị, nghệ thuật là nhận ra ngay rằng Miền Nam có tự do. Bà đã ngồi xuống vệ đường và khóc cho một nền văn minh bị bọn man rợ xâm chiếm. Tôi dám nghĩ rằng nếu nhà văn Dương Thu Hương là vị Tổng Tư lệnh đoàn quân “giải phóng” thì chắc chắn bà sẽ thống lĩnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và Quân Đội Nhân Dân quay ngược ra Miền Bắc giải phóng đồng bào. Một người khác là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ, ngành Sinh học, bút hiệu Hà Sĩ Phu, cũng lớn lên ở Miền Bắc nhưng không gia nhập đảng cộng sản để tiến thân. Sau khi Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh đề ra chủ trương “đổi mới hay là chết”, cởi trói văn nghệ sĩ vào năm 1986, ông Hà Sĩ Phu đã viết những bài tham luận chính trị để chỉ ra con đường “xã hội chủ nghĩa” là sai lầm bằng những lập luận hết sức ôn hòa, vừa có lý vừa có tình. Nhưng không ai thấy có “sĩ phu Bắc Hà” nào dám công khai lên tiếng phụ họa. Tội nghiệp cho triết gia Trần Đức Thảo bị đảng yêu cầu viết bài phản bác lập luận của ông Hà Sĩ Phu, nhưng vì quá sợ đảng nên triết gia không dám trích dẫn những gì ông Hà Sĩ Phu đã viết. Ai làm cho trí thức sợ hãi đến độ đánh mất tính chất kẻ sĩ, nếu không phải là Hồ Chí Minh và tập đoàn chuyên chính? Vậy thì tại sao tới giờ này mà vẫn còn có hạng người như ông Nguyễn Trọng Vĩnh tâng bốc, sùng bái “Bác Hồ”? Có phải đúng là do căn bệnh “khủng hoảng trí tuệ” không?
Một số người đi theo cộng sản từ 1945 như các ông Nguyễn Hộ, Trần Độ, Nguyễn văn Trấn … và những trí thức (!) ở Miền Nam sau này như bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, điệp viên Phạm Xuân Ẩn. luật sư Ngô Bá Thành (tên thật là Phạm thị Thanh Vân, con gái ông Phạm văn Huyến) … dần dần mở mắt. Nhưng tiếc thay con số “trí thức mở mắt” quá ít ỏi, nên bọn cầm quyền cứ nhất định xông lên cái đích Xã Hội Chủ Nghĩa” mà chẳng có lực nào cản nổi! Năm ngoái, giáo sư Trần Phương, nguyên phó Thủ tướng, triệu tập một cuộc hội thảo trước Ngày Đại hội Đảng gồm những nhân vật từng là tai to mặt lớn trong đảng, gay gắt đặt câu hỏi: “Trong các anh, ai có thể giải thích cho tôi nghe chủ nghĩa xã hội là gì nào?”. Tuyệt nhiên không nghe một ai có thể giải thích được! Thế mà các vị ấy cứ ở trong cái đảng cương quyết đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Vậy có tội nghiệp cho dân Việt Nam không? Đó không phải là cuộc khủng hoảng trí tuệ, thì là gì?
Mới đây, đọc bài “Suy nghĩ trong lúc nằm bệnh viện” của ông Lê Hiếu Đằng làm tôi nhớ một truyện ngắn đăng trong “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc” có tựa đề “Bức thư gửi người bạn cũ” của nhà văn Trần Lê Văn, cháu nhà thơ trào phúng Trần Kế Xương, tức Tú Xương. Tên người bạn lúc mới đẻ ra được ông bố đặt cho là Nguyễn Vinh Hoa nhằm nói lên sự phú quý con nhà tiểu tư sản, nhưng sau “Cách Mạng” thì Vinh Hoa tự ý đổi sang Nguyễn Hùng Tiến, có nghĩa là anh hùng và tiến bộ để hợp với thời thế. Nhờ giỏi đóng kịch thành con người hoàn toàn dấn thân cho “cách mạng”, Nguyễn Vinh Hoa dễ dàng bước lên địa vị lãnh đạo cơ sở, mặt mũi lúc nào cũng khó đăm đăm, luôn luôn khắc nghiệt “giáo dục” cấp dưới về quan điểm lập trường. Một hôm bị ốm, được người bạn Trần Lê Văn săn sóc, hắn thổ lộ con người thật của hắn: cũng biết nhớ nhà, nhớ cha, nhớ mẹ rất là … tiểu tư sản. Tác giả kết luận bài viết của mình bằng một câu rất hóm hỉnh, “Tôi có ý nghĩ hơi tệ: giá anh ốm mãi lại hoá hay”. Sau khi đọc xong bài viết của ông Đằng đòi “thanh toán”, “tính sổ” với Đảng cộng sản, tôi cũng có ý nghĩ như ông Trần Lê Văn: “Giá như ông Lê Hiếu Đằng bị nằm bệnh viện sớm sủa hơn thì ông ta đã tỉnh ngộ từ khuya rồi!”. Nhờ cơn thập tử nhất sinh, ông Lê Hiếu Đằng mới chịu đọc sách (!) của các tác giả Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Trần Dần rồi ông thổ lộ: “Các nhà văn đã cho tôi thấy thêm sự bi thảm của thân phận con người trong cái gọi là CNXH ở Miền Bắc, một xã hội không có bóng người.”. Nữ ca sĩ Hoa Kỳ, Joan Baez chống chiến tranh Việt Nam, ủng hộ Miền Bắc vì không hiểu dã tâm cộng sản; nhưng sau khi chứng kiến hàng triệu người vượt biên, vượt biển tử nạn trên đường đi tìm tự do thì cô ta lập tức tỉnh ngộ và kêu gọi những trí thức phản chiến danh tiếng trên thế giới như Jean Paul Sartre, Bertrand Russell công bố một bản cáo trạng lên án bọn cầm quyền Việt Nam man rợ; còn ông Lê Hiếu Đằng phải đợi cho đến hơn 38 năm sau, nhờ ốm liệt giường liệt chiếu thì mới biết đường … tính sổ! Cái gì đã khiến cho ông Đằng chậm tiêu, tối dạ, mãi đến bây giờ mới nhìn ra cái ác, cái lưu manh của cộng sản, nếu không phải là do “khủng hoảng trí tuệ” mà người Mỹ gọi là căn bệnh “down syndrome symtoms”?
Tôi nói không sai: Sau năm 1954, gần một triệu người Miền Bắc bỏ lại tất cả để vào Nam tìm tự do; phim “Chúng tôi muốn sống” trình bày cho nhân dân Miền Nam thấy một phần nào sự tàn ác cộng sản trong cải cách ruộng đất; sách của cụ Hoàng văn Chí tố cáo cái chế độ ở Miền Bắc đối xử với con người giống như con vật cũng không mở mắt được bọn mang danh trí thức mắc chứng “khủng hoảng trí tuệ” chạy theo cộng sản. Rõ ràng một bọn ngu, nhưng không chịu nhìn nhận là ngu, cứ dẻo mồm khoe mình chạy theo cộng sản vì yêu lý tưởng công bằng xã hội!
Là con người, ai ai cũng bị phạm lỗi lầm trong đời. Cái lỗi lầm chạy theo cộng sản là ghê gớm nhất, vì nó đã khiến cho đồng bào mình điêu đứng, đất nước mình tan hoang. Sau khi thức tỉnh, nhận ra lỗi lầm mà không dám công khai nói một lời ân hận để chuộc lỗi là hèn, là bất xứng để mang cái nhãn hiệu trí thức. Ông Đằng kể chuyện bị tù trong lao Thừa Phủ, Huế, nhưng đến ngày thi mẹ ông hú họa làm đơn xin cho con ra thi, thì được chính quyền chấp thuận, rồi tự hỏi: “Tôi không biết với chế độ gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”. Tội nghiệp cho ông Đằng, hơn 38 năm sau ông mới thấy sự nhân đạo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, cái chế độ mà ông đã thẳng tay giật sập. Thế mà ông Đằng vẫn xem chế độ nhân đạo ấy là “địch” vì bắt bỏ tù anh cộng sản nằm vùng Nguyễn Ngọc Phương. Nhờ bố ông gửi cho mấy cuốn sách của các giáo sư Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Toàn và các tạp chí Sáng tạo, Hiện đại của nhà văn Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, nhà thơ Nguyên Sa, Tô Hoàng Yên (có phải ông định viết Tô Thùy Yên?) để đọc mà ông Đằng thi đỗ bằng Tú tài hạng thứ. Giá như bố ông gửi thêm cho cuốn “Trăm hoa ..” của cụ Hoàng văn Chí để ông đọc những bài viết của cụ Phan Khôi (nhà cách mạng đồng hương Quảng Nam với ông) và những bài do bọn trí thức bồi bút của chế độ cộng sản chửi cụ Phan Khôi thậm tệ thì có lẽ ông Đằng sẽ không chạy theo cộng sản? Nên nhớ từ hồi bấy giờ, cụ Phan Khôi đã cảnh báo nước nhà sẽ bị nô lệ Tàu một lần nữa; chứ không đợi cho tới bây giờ ông cựu Đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh – tướng Nguyễn Trọng Vĩnh – la hoảng về hiểm họa Hán hóa! Nghĩa là cụ Phan Khôi đã biết chắc chắn rằng Hồ Chí Minh là kẻ bán nước.
Trước đây ông Đằng khoe ông từng bị Tòa án Mặt trận Vùng III Chiến thuật kết án tử hình khiếm diện, nhưng ông vẫn không sợ, vẫn can đảm hoạt động nội thành. Nhưng nay sống trong cái chế độ cộng sản của ông thì ông sợ, chưa bao giờ dám hé môi lên án sự bất nhân, bất nghĩa, bất lương của chế độ. Đợi cho đến khi nữ nghệ sĩ Kim Chi tuyên bố không thèm nhận tấm bằng ban khen của một anh Thủ tướng tham nhũng, ăn cắp tài sản nhân dân thì ông mới lợi dụng cơ hội viết bài khen sự dũng cảm của bà Kim Chi đăng trên trang mạng bauxitevn.
Trong bài viết khi nằm bệnh viện của ông Đằng, tôi thấy có rất nhiều điểm mâu thuẫn nhưng tôi chưa cần nêu lên bây giờ vì ngại bài viết đã khá dài. Tuy nhiên, có một điểm đáng khen ông Đằng tiến bộ hơn ông Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh một chút. Đó là ông Đằmg không còn mang Hồ Chí Minh ra vái lạy như trong cái thư ông viết cho bà Kim Chi. Còn ông Tướng Vĩnh thì hết thuốc chữa! Tôi đã viết cho ông Vĩnh một bức thư nêu rõ cái ác, cái gian trá, phản phúc bán nước của Hồ chí Minh qua những bằng chứng lịch sử, ông Vĩnh càng ca ngợi Hồ Chí Minh mạnh mẽ hơn, có lẽ vì ông Vĩnh vẫn tự cho rằng mình đi làm cách mạng; chứ không hề nghĩ rằng mình là thủ phạm đã nằm trong một Đảng Cướp!
Ông Đằng viết: “Tôi nghĩ trong một thời gian dài ĐCS sẽ là một lực lượng chính trị mà không có bất cứ lực lượng nào có thể tranh chấp được”. E rằng ông Đằng chủ quan quá chăng? Nếu có cuộc bầu cử minh bạch dưới sự kiểm soát quốc tế đàng hoàng, tôi tin chắc rằng các đoàn thể tôn giáo, những nhà tranh đấu cho dân chủ nhân quyền được tự do phơi bày tội ác của cộng sản hơn 70 năm qua thì sẽ họ thu được phiếu của dân oan hoặc phiếu của người dân không phải đảng viên để loại bỏ chế độ cộng sản độc tài toàn trị hiện nay ngay. Chính vì sợ mất vị thế thống trị nên bọn cầm quyền cương quyết thẳng tay đàn áp ngay cả người biểu tình yêu nước. Làm đầu nậu cộng sản sướng lắm! Tha hồ ăn cướp, ăn cắp. Ai phản đối thì cứ việc sai côn đồ, du đãng đánh đập, “Côn An” bỏ tù. Dại gì những ông cộng sản đầu nậu rời bỏ chiếc ghế thơm phức? Chỉ khi nào mất chức mất quyền, mấy ông cộng sản đầu nậu mới nói đôi câu nghe lọt lỗ tai như ông Võ văn Kiệt, Nguyễn văn An, Nguyễn Khoa Điềm …
Ông Đằng viết: “Không nên ngồi tranh luận với nhau về sự đúng, sai khi chọn lựa đứng bên này hay bên kia.” Tôi nghĩ chẳng ai thèm ngồi tranh luận về sự đúng sự sai đối với những người chạy theo cộng sản. Người ta nói về sự sai trái, độc ác của cộng sản là để mở mắt những kẻ còn u tối, mê muội còn tiếp tục đi theo con đường tà. Đối với kẻ có một chút lương tri thì chỉ nhìn vào thực trạng đất nước hôm nay, người dân điêu đứng ra sao, bọn cầm quyền nhu nhược ra sao thì đủ thấy cộng sản là sai bét bè be rồi! Cái loại đần độn, ngu si như Nguyễn Phú Trọng và bè đảng còn bám vào cái gọi là “chủ nghĩa xã hội” là vì cố bám vào chiếc ghế để dễ bề ăn cắp; chứ chẳng phải vì lý tưởng cái quái gì cả đâu. Ai nấy đều thừa biết điều đó.
Tôi không phải là hạng người chống Cộng cực đoan. Tôi rất ý thức về sự hòa hợp hòa giải dân tộc, sự đoàn kết để có sức mạnh chống ngoại xâm. Nhưng tôi không thể đứng chung hàng ngũ với hạng người chẳng nhìn nhận mình đi theo cộng sản là sai, là làm khổ dân tộc, là làm mất nước và cứ xưng tụng, vái lạy Hồ Chí Minh, một kẻ tiêu diệt trí thức (nguyên khí quốc gia), bán nước cầu vinh. Tôi muốn thấy sự ngay thẳng, phân minh, dứt khoát.
Tôi cũng không phải là người theo chủ nghĩa hoài nghi, ngờ vực bất cứ điều gì, nhưng là người có kinh nghiệm cộng sản. Cho nên khi đọc bài viết của ông Đằng kêu gọi đảng viên bỏ đảng tập thể, khen Việt Nam Cộng Hòa nhân đạo mà sau đó ông vẫn bình an viết tiếp và tiếng nói của ông vẫn oang oang trên đài phát thanh quốc tế thì tất nhiên tôi tự hỏi phải chăng Đảng cho phép ông Đằng viết và nói? Bởi vì chỉ cần trương lên tấm bảng “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” như cựu chiến binh Điếu Cày Nguyễn văn Hải là đủ lãnh 16 năm tù vì tội … trốn thuế hoặc nhạc sĩ Việt Khang chỉ làm vài bài nhạc tỏ lòng yêu nước là đi tù. Tôi cứ phân vân tự hỏi rằng những lời tâm huyết của ông Đằng là thực hay giả, giống như khi xưa Đảng bày ra chủ trương “trăm hoa đua nở” là nhằm quăng ra một mẻ lưới để biết ai trung thành với đảng, ai chống đảng để bỏ tù.
Tôi hoan nghênh, cổ vũ những cựu đảng viên hay cảm tình viên cộng sản phản tỉnh, quay về với dân tộc. Đồng thời, tôi cũng phải thận trọng để khỏi bị mắc lừa, rồi hối hận không kịp.
Nhận định sau cùng của tôi về bài viết trên giường bệnh của ông Lê Hiếu Đằng là sau khi đọc vài ba cuốn sách mới nhìn thấy cái tệ hại của cộng sản đối với đồng bào và đất nước. Là luật gia, là nhà hoạt động chính trị, ông Đằng nói đến thành lập đảng đối lập với chính quyền cộng sản có vẻ rất tài tử, khơi khơi. Ít nhất ông phải phác họa vắn tắt về cái chủ trương, đường lối như thế nào để người đọc biết ý ông ra sao. Tôi tự hỏi: Hoặc tại vì bản chất con người ông dễ dãi như khi ông tuyên thệ vào đảng cộng sản, chẳng cần nghiên cứu điều lệ đảng, cứ việc đưa tay tuyên thệ trong “một buổi kết nạp chẳng có lời thề thốt, cờ quạt gì cả”; hoặc ông bỗng nhiên được chỉ thị cấp trên gấp gáp quá nên cứ thế phóng ra bài viết mà chưa kịp sửa soạn!?
Hiện nay các phe cánh trong đảng đang đấu đá lẫn nhau túi bụi. Tôi không chắc ông Lê Hiếu Đằng đứng về phe nào. Dường ông Đằng đứng vào phe ông Nguyễn Tấn Dũng qua đoạn văn ông viết như sau: “Tôi rất mừng nghe Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ở hội nghị Shangri-La chống lại nền chính trị cường quyền và những đối xử vô nhân đạo đối với ngư dân Việt Nam. Trả lời phỏng vấn một thiếu tướng Trung Quốc, Thủ tướng đã khéo léo nói nước đó là nước nào ai cũng biết. Rõ ràng đây là cú đấm đích đáng bọn bành trướng Bắc Kinh trong một diễn đàn quốc tế. Tôi càng thấy vui hơn khi được biết đây là ý kiến của cá nhân Thủ tướng dám chịu trách nhiệm để tuyên bố như vậy chứ không có sự chỉ đạo nào của Bộ chính trị cả. Vì thế mà Hạ Đình Nguyên trong một bài viết về vấn đề này đã hoan hô Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến 5 lần.”
Khi mới lên nhậm chức Thủ tướng, ông Dũng tuyên bố một câu làm cho mọi người “hồ hởi” (chữ của cộng sản): “Trong đời, tôi thích nhất là sự chân thật và ghét nhất là sự dối trá”. Cách đây không lâu, ông Dũng phê phán người xử lý vụ Đoàn văn Vươn là sai pháp luật, nhưng tiếp theo đó ông Dũng lại thăng chức Tướng cho cái anh Đại tá Công An sai phạm và ra lệnh cho tòa án vẫn bỏ tù Đoàn văn Vươn sau khi chống án. Vậy lời nói của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đâu có giá trị khả tín gì ở cái hội nghị Shangri-La mà ông Đằng hoan nghênh nhặng xị lên thế kia? Đó là thêm một sự kiện nữa khiến cho tôi không mấy tin tưởng vào thiện chí dân chủ hóa nền cai trị độc tài, độc đảng hiện nay.
Ông Lê Hiếu Đằng kêu gọi đảng viên cộng sản từ bỏ đảng. Chẳng hay bản thân ông Đằng đã bỏ đảng chưa hay vẫn còn là người cộng sản. Nếu ông Đằng vẫn còn là người cộng sản thì tôi phải nhớ lời dặn của cố Tổng thống Nguyễn văn Thiệu: “Đừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm!”. Tôi chờ đợi những hành động cụ thể kế tiếp của ông Đằng và cầu mong lời kêu gọi các đồng chí bỏ đảng ngày càng đông. Nhất là những đồng chí Công An sống chết với đảng qua câu khẩu hiệu: “Còn đảng còn mình”.
Chúc ông Lê Hiếu Đằng sớm hồi phục sức khỏe để có thể đóng góp một điều gì tốt lành cho nhân dân cơ cực dưới chế độ cộng sản bất nhân, bất nghĩa hiện nay.
Ngày 21 tháng 6 năm nay, ở trong nước ngành tuyên huấn làm om sòm về kỷ niệm chẵn 90 năm “Ngày Báo Chí Cách Mạng.” Có một cuộc họp lớn bao gồm nhiều nhà báo kỳ cựu, được gọi là các nhà báo lão thành.
Nhìn trên ảnh, thì ra toàn các cụ đồng nghiệp, đồng chí cũ của tôi. Họ nói những gì? Thì ra toàn là chung giọng điệu cổ lỗ, ca ngợi báo Đảng Cộng Sản, tâng bốc nhau, một chiều, mẹ hát con khen hay, đến phát ngấy. Thật đáng thương hại.
Việt Nam có hàng trăm tờ báo nhưng đều do Đảng Cộng Sản kiểm soát toàn bộ. (Hình: Getty Images)
Năm 1985, nhân kỷ niệm chẵn 60 năm ngày 21 tháng 6, Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản hồi ấy ra quyết định “từ nay gọi Ngày 21 tháng 6 là “Ngày Báo Chí Việt Nam, không gọi là Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam nữa,” để tỏ rõ ở ta chỉ có một nền báo chí do Đảng Cộng Sản lãnh đạo. Vậy mà bỗng nhiên năm nay người ta lại làm rùm beng trở lại về “Ngày Báo Chí Cách Mạng Việt Nam.” Đúng là cái lưỡi Cộng Sản, nói xuôi, nói ngược, nói lời lại nuốt lấy lời như chơi. Cái lưỡi báo chí Cộng Sản là thế, hay thật!
Báo chí cách mạng. Nhưng cách mạng là gì? Là thay đổi tận gốc, là đổi đời.
Nhưng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa mà không có tự do công dân, không có tự do bầu cử, không có báo chí tự do, tất cả chỉ là bánh vẽ, Quốc hội hơn 90% là Đảng Viên Cộng Sản, là Đảng Hội, vậy Cách Mạng ở cái chỗ nào?
Thật ra hiện nay, hơn 30 mạng thông tin tự do, hơn 30 bloggers trẻ khỏe, năng động, Tuần Báo Việt Nam của Hội Nhà Báo Độc Lập Việt Nam... mới thật là báo chí của dân, do dân, vì dân, là báo chí cách mạng thứ thiệt, được quần chúng tín nhiệm, tin cậy, coi là của mình, dám chiếm ngôi trên báo đảng.
Các bạn cũ của tôi ở trong nước, những người đã thoát đảng hay chưa thoát đảng, đều cho biết sáng dậy mở máy vi tính là đọc các mạng lề trái trước hết vì đó là nguồn thông tin thật nhất, mới mẻ, bổ ích nhất. Tuyệt!
Đã từ lâu báo Đảng CSVN ế ẩm trên thị trường, nằm mốc meo, vàng khè trên các sạp báo. Báo đảng chủ yếu là phát không cho các chi bộ, các cơ quan hành chính, các trường học, thư viện, tủ sách; công dụng xã hội thực sự là để gói đồ, gói hàng khi ra phố, đi chợ, để trải ra làm chiếu khi chè chén liên hoan. Một công dụng rất phổ biến nữa là để phục vụ vệ sinh cá nhân. Điều này ai cũng biết, không tiện nói ra, nhưng là rất thật.
Mỗi nhà báo Việt Nam cũng là một nhà báo quốc tế, một công dân của thế giới. Vậy nên biết Ngày báo chí của mình thật sự là ngày 3 tháng 5 hằng năm, được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20 tháng 12, 1993, mang tên Ngày Tự Do Báo chí Quốc tế 3 tháng 5.
Hằng năm cứ vào dịp này, tổ chức phóng viên không biên giới lại tổ chức Hội Thảo Quốc Tế về tự do báo chí. Theo dõi các cuộc hội thảo bổ ích ấy, rất lý thú là hội thảo năm 1998 ở London (Anh) về tự do báo chí là hòn đá tảng của quyền con người; hội thảo năm 2010 tại Brisbane (Úc) về tự do thông tin: Quyền được biết; và hội thảo năm 2012 tại Tunis (Tunisia) về tự do báo chí giúp cho các xã hội chuyển hoá. Rất thiết thực.
Trong đúng 50 năm làm báo của tôi, điều sâu sắc nhất tôi nghiệm ra là: không có gì mang bản sắc cá nhân hơn là một bài báo. Mỗi bài báo nói lên hiểu biết tự nhiên và xã hội, lương tâm, trách nhiệm, ý chí của người viết ra nó, không trốn tránh, che dấu được. Bài báo mang chữ ký, mang tên của người tạo ra nó, không bao giờ thiếu được. Do đó mỗi người làm báo cần tạo cho mình một dấu ấn cá nhân, một phong cách, một ngòi bút riêng tư không trộn lẫn vào đâu được. Một bài báo cũng là một sản phẩm của tư duy khoa học và của sáng tạo nghệ thuật. Không thể có 2 người viết một bài báo giống y hệt nhau. Mỗi nhà báo là một công dân độc lập, tự do, đơn độc.
Không gì sai lầm tệ hại hơn là xâm phạm quyền sáng tạo cá nhân của nhà báo, tự cho mình có quyền sửa chữa, xóa bỏ, thêm bớt tùy tiện sản phẩm báo chí của người khác. Mọi nhà báo là bình đẳng. Cái sai lầm kinh khủng của báo chí Cộng Sản là phân chia nhà báo tập sự, nhà báo sơ cấp, nhà báo trung cấp, nhà báo cao cấp, mỗi bài báo phải qua xét duyệt 4 đến 5 cấp. Ở báo quân đội Cộng Sản, anh nhà báo thiếu úy phải đưa bài cho anh nhà báo đại úy duyệt qua, rồi đến cấp trung tá duyệt và cấp đại tá duyệt cuối cùng.
Đó là cái căn bệnh sùng bái tập thể. “Tập thể bao giờ cũng sáng suốt hơn cá nhân,” nhiều khi ngăn chận, bóp chết những tài năng cá nhân. Cuối cùng các nhà báo Cộng Sản phải viết theo công thức chết, bao giờ các “cuộc họp của đảng cũng thành công mỹ mãn hay rực rỡ,” bao giờ ta cũng “thắng lợi vẻ vang, vang dội, hoàn toàn,” kẻ địch cũng “thua to, thất bại nhục nhã,” bao giờ bài về kỷ niệm cũng bắt đầu là “trong không khí hân hoan phấn khởi của toàn dân và toàn quân,” bao giờ “sự lãnh đạo của đảng cũng anh minh, tài tình và sáng tạo.”
Cái hệ thống quan liêu trong báo chí Cộng Sản thật khủng khiếp, phải nói là rùng rợn. Nhà báo Cộng Sản trung ương đứng trên nhà báo địa phương, thành tỉnh, quận huyện. Nhà báo Cộng Sản Liên Xô, Trung Quốc được coi là cấp trên nhà báo các nước đàn em, chư hầu. Tôi đã làm việc với họ ở Moscow, Bắc Kinh, Paris và Liên Hiệp Quốc ở New York. Họ quan dạng, kiểu cách. Tổng biên tập của họ trong Ban Bí Thư TƯ, có khi trong Bộ Chính Trị, coi nhà báo bộ hạ, đàn em như tôm tép. Báo Đảng Cộng Sản Pháp cũng theo đẳng cấp, quan dạng như thế, phân biệt các cấp bậc khách từ ghế ngồi to, nhỏ, trên dưới, phòng nghỉ, phụ cấp, xe đi, giải trí, tiếp đãi, xưng hô, còn quá thời phong kiến.
Không gì khổ, nhục bằng là nhà báo tập thể Cộng Sản, phải để cho các cấp xét duyệt, cắt xén, bắt bẻ tác phẩm con đẻ mang nặng đẻ đau của mình.Không gì sướng bằng là nhà báo tự do thời thông tin mạng, tha hồ học hỏi, tra cứu, tham khảo mọi nguồn. Bài viết xong, đưa lên mạng, có ngay hàng chục, có khi hàng trăm phản hồi, nhận xét, góp ý, tâm đầu ý hợp, cứ như được trò chuyện một lúc với trăm, ngàn bạn đọc ở khắp nơi. Sướng, khoái thật!
Tôi cảm thấy hạnh phúc được là nhà báo tự do hơn 25 năm nay. Tôi trẻ ra, khỏe ra nhờ cái số, vận may là nhà báo tự do. Các bạn thân nhất của tôi là các bạn nhà báo Việt Nam cũ và mới, rất đông đảo; là các nhà báo Pháp, Anh, Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Hồng Kông, Nga... Nếu như được sống lại đời sau tôi cũng sẽ chọn cái nghề làm báo tự do. Và cũng sẽ không bao giờ là nhà báo tập thể của Cộng Sản, tôi ớn sợ đến tột đỉnh rồi.
Nhân ngày 21 tháng 6, xin gửi các nhà báo trẻ tự do của Việt Nam vài cảm nghĩ tản mạn thân thiết.