Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2026
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 4
 Lượt truy cập: 29342149

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 15.06.2026 21:52
'Việt Nam lại như thời Tự Đức'?
24.06.2015 18:35

Trần VũTác giả hiện sống tại Texas, Hoa Kỳ
Ngay cả khi Đại Nam đạt đến sức mạnh của một đế quốc Đông Dương, quân đội Đại Nam chưa biết vận dụng sức lực của các sắc tộc Chàm, Ai Lao hay Thủy Chân Lạp.

Khác với quân đội của các đế quốc, quân đội Việt Nam đã luôn phải xây dựng sức mạnh trên chính lòng ái quốc của dân tộc mình.

Sức mạnh của quân đội Việt Nam là sức mạnh của sự đoàn kết, chết để giữ đất và chết để mở đất, của sắc tộc Kinh. Mạc Cửu ở Hà Tiên là một biệt lệ.

Ngược hẳn, quân La Mã hay Thập Tự Chinh là một hỗn hợp các sắc dân tham chiến vì lý tưởng chinh phục hoặc chống Hồi giáo.

Gần hơn, quân đội Anh trong hai thế chiến tập hợp lính Ái Nhĩ Lan (Ireland), Tân Tây Lan (New Zealand), Gia Nã Đại (Canada), Úc, Nam Phi và Ấn Độ, tinh thần ái quốc không hẳn là động cơ tham chiến của những người lính này.

Trường hợp Quân đội Liên hiệp Pháp không khác. Quân đội Pháp sử dụng một bộ phận lớn lính Ma-rốc, Algérie, Tunisie, Sénégal, Congo, Cameroun và binh chủng Lê dương.

Trên chiến trường Việt Nam, lính ngoại quốc đông hơn lính Pháp, 52% quân số Lê dương là cựu binh Đức.

Có thể viết: Sức mạnh của các quân đội đế quốc là sức mạnh tổng hợp, xây dựng trên sức tổng hợp các lý thuyết, nhân chủng, nguyên vật liệu, kỹ thuật, tài chánh và cả lý tưởng.

Quốc gia Việt Nam chưa đạt đến sức mạnh này, tinh thần ái quốc vẫn là sức mạnh duy nhất.

Đến chiến tranh Việt-Pháp, quân đội của Đại Nam gặp thử thách lớn khi lần đầu tiên phải đương đầu với quân đội Tây phương.

Quân nhà Nguyễn thất bại liên tiếp khiến triều đình Huế phải ký các hòa ước Nhâm Tuất 1862, Giáp Tuất 1874, Quý Mùi 1883, rồi đến hòa ước Giáp Thân 1884, tức hòa ước Patenôtre, công nhận vĩnh viễn nền bảo hộ Pháp.

Lòng ái quốc đã không tạo ra đủ sức mạnh để thắng các phương tiện kỹ thuật của đối phương.

Chiến thắng của quân viễn chinh Pháp là chiến thắng của một nền công nghiệp nặng đã nghiền nát một nền nông nghiệp lạc hậu.

Một cách khác, quân đội nhà Nguyễn tụt hậu kỹ thuật đến mức mà tinh thần ái quốc và lòng can đảm không thể bù đắp.

Cái chết tiết tháo của các đại thần Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu để lại trong lòng dân tộc vô vàn thương tiếc, cùng kính trọng.

Nhưng những cái chết này không cứu vãn được nền độc lập quốc gia, chúng chỉ cứu vãn duy nhất danh dự của tầng lớp quan lại và triều đình.

Cơ hội đến và đi

null
Mấy thế kỷ trước, sức mạnh Phương Tây ập đến áp đảo châu Á

Canh tân trở nên cần thiết.

Nhưng không phải lúc nào quốc gia cũng có đủ thời gian và đủ khả năng canh tân. Lịch sử là một chuỗi cơ hội mà chỉ những quốc gia nào biết kịp nắm bắt mới có thể giành lấy những cơ hội kế tiếp.

Hệ thống dân vận và Viện Sử học Hà Nội cố gắng tìm ra những điểm tương đồng giữa phong trào Tây Sơn với Chính quyền Cộng Sản.

Trong thực tế, nhìn theo chiều dài lịch sử, chính phủ Việt Nam đương quyền có nhiều điểm tương đồng với nhà Nguyễn và rất khác Tây Sơn trong cách đối đầu với phương Bắc.

Trên mặt quân sự, quân nhà Nguyễn đã tiến vào Nam Vang lập Trấn Tây thành nhưng không bình định được Chân Lạp, Quân đội Nhân dân cũng đã trải qua kinh nghiệm này.

Trên mặt chính trị, chính quyền Tây Sơn không thật sự thần phục nhà Thanh trong lúc các triều vua Nguyễn đã luôn nhìn về phương Bắc và phụ thuộc vào động thái của Thanh triều trong phương cách ngoại giao với Tây phương.

Chính quyền Việt Nam hiện nay ứng xử tương tự.

Điểm tương đồng lớn nhất giữa chính phủ hiện tại với nhà Nguyễn nằm ở sự chậm trễ canh tân sau khi thống nhất đất nước.

Kể từ thế kỷ 19, lịch sử dân tộc cho phép duy nhất hai thời kỳ khả dĩ có thể canh tân quân đội: Bốn triều vua đầu nhà Nguyễn và từ thập niên 90 đến nay. Các giai đoạn khác, quốc gia chìm đắm trong chiến tranh và loạn lạc.

Hoàng đế Gia Long có nhiều thuận lợi: Mối giao hảo ban đầu khá tốt đẹp với Pháp hoàng, ngay cả khi Pháp hoàng Louis XVI bị cách mạng đánh đổ, đường dây ngoại giao đã thiết lập, và ngay cả khi mối quan hệ này đứt đoạn, Âu châu đang chìm trong chiến tranh của Nepoleon cho phép Đại Nam một thời kỳ dài bình yên.

Các giám mục, giáo sĩ, kỹ sư theo phò Gia Long đã chứng tỏ trung thành và đắc lực. Một chính sách phổ biến kiến thức của các kỹ sư này, một cách quy mô, mở mang công xưởng và tận dụng tri thức Tây phương bằng cách thuê mướn người Âu châu như Nhật Bản sẽ thực hiện về sau, đã có thể cải tổ quân đội Đại Nam một cách hữu hiệu.

Gia Long còn thừa hưởng âm vang của hai chiến thắng Rạch Gầm và Đống Đa của Nguyễn Huệ, khiến Xiêm La và Đại Thanh quốc nể vì nhưng Gia Long đã không tận dụng những ưu thế này.

Các hoàng đế kế nhiệm Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức đã không nhìn thấy bối cảnh thế giới vẫn còn thuận lợi và Đại Nam là một trong những quốc gia mạnh ở Á châu, kể cả khi so sánh với Nhật Bản.

Phía Bắc, Thanh triều phải đối đầu với các nội loạn triền miên ở Lưỡng Quảng cho đến 1864 mới dẹp yên Hồng Tú Toàn.

Cuộc chiến với Thái bình Thiên quốc làm Thanh triều kiệt quệ.

Phía Đông Bắc, Cao Ly đang bị Mãn Thanh chiếm đóng, còn Nhật Bản vẫn đóng cửa không giao tiếp với thế giới.

null
Nhật Bản đã kịp canh tân nhưng Việt Nam, Triều Tiên và Trung Hoa đều thất bại

Nhật Bản liên tiếp trải qua 11 trận đói trong suốt một thế kỷ rưỡi, mà nạn đói sau cùng diễn ra vào năm 1837. Các sứ quân Tokugawa suy yếu dần.

Phía Nam, Mã Lai không đủ sức uy hiếp Đại Nam. Phía Tây Nam, Xiêm La với 4 triệu dân không cản được Trương Minh Giảng tiến vào Chân Lạp.

Phía Tây Bắc, vương quốc Miến Điện với 3 triệu dân không có cả quân đội chính quy để gây hấn với Đại Nam. Lính Miến, trưng binh khi chiến tranh, không được tổ chức thành một đạo quân thường trực.

Phía Đông, biên giới Hoa Kỳ chỉ chạm đến Thái Bình dương vào năm 1848 sau khi giành lấy California từ tay quân đội Mexico.

Hiểm nguy đến từ Âu châu. Tuy nhiên, ngoài các thương điếm, Hà Lan và Bồ Đào Nha không đủ sức mở những cuộc viễn chinh lớn. Tây Ban Nha tuy hiện diện ở Phi Luật Tân đã bắt đầu chu kỳ suy tàn.

Đế quốc Phổ, một sức mạnh lục địa, không ưu tiên xây dựng hạm đội và hãy còn đang tìm cách chế ngự quân đội Pháp.

Trường hợp Pháp, tiềm năng khoa học kỹ thuật và tham vọng vẫn tràn đầy nhưng hải quân Pháp bị tiêu hủy trong thủy chiến Trafalgar chưa vực dậy.

Đế chế Nga tập trung sức lực hoàn thành tuyến đường hỏa xa xuyên Tây Bá Lợi Á để tiến vào Mãn châu bằng đường bộ, vì Bắc Băng dương đóng băng quanh năm, khiến tham vọng Nga giới hạn vào Bắc Á.

Hoàng gia Anh đã bắt đầu xuất hiện ở miền duyên hải Miến Điện và Mã Lai ngay từ 1826, mở các thương điếm và ký thương ước.

Trước yêu sách của các công ty hàng hải Peninsular and Oriental và Cunard Line, các triều vua George rồi Nữ hoàng Victoria sẽ gửi thêm chiến thuyền sang Á châu nhưng tập trung vào các vùng đất vừa khám phá ở Úc và Tân Tây Lan, rồi Trung Hoa, khiến lãng quên Đại Nam.

Các vua đầu triều Nguyễn, như thế, vẫn còn thời gian.

Ngoài hai năm khởi loạn của Lê Văn Khôi và động loạn của vài bộ tộc thiểu số ở miền Thượng du Bắc Việt, nhà Nguyễn có sự ổn định ngai vàng và đã biết đến sự hiện diện của một nền văn minh khác ở Tây bán cầu.

Chính sự hiện diện của nền văn minh này mới có thể giúp canh tân nếu có một chính sách đối ngoại vừa trung lập, vừa tương tác với nhiều quốc gia, vừa mở cửa tiếp nhận kỹ thuật Tây phương.

null
Đạo Khổng nay bỗng được Hà Nội đề cao

Trong suốt sáu thập kỷ, từ lúc Gia Long tiến vào Phú Xuân cho đến khi Tự Đức nhận tối hậu thư của Pháp, triều Nguyễn đã không canh tân.

Phó mặc số phận?

Chính sự thụ động này đã kết án số phận dân Việt, một kết án chung thân khi những canh tân quyết định thế giới diễn ra trong thế kỷ 19.

Nhà Nguyễn đã không áp dụng phương châm của Otto von Bismarck: "Chính trong thời bình phải đúc súng."

Sang thế kỷ 20, đầu thập niên 90, lịch sử đem đến cho dân tộc một cơ hội thứ nhì. Trước đó, Chính quyền Cộng Sản đã bị cả hai đế quốc Trung Hoa và Hoa Kỳ cô lập.

Trong mặt nội chính, chính quyền này đã tự cấm vận tri thức của dân tộc khi không cho phép bất kỳ một giao dịch nào với thế giới.

Thập niên 90, cánh cửa mở ra bên ngoài phơi bày hình ảnh của một quốc gia tụt hậu.

Dân chúng ý thức rất rõ: Việt Nam đã bị nhân loại qua mặt.

Tuy vậy, quốc gia không nội loạn, đầu tư thế giới đã vực dậy kinh tế, sự thay đổi chiến lược của các đế quốc, sự thay đổi các ý thức hệ, vị trí và tiềm năng quốc gia dần khôi phục cho phép dân tộc một hy vọng.

Nhưng cho đến phút này, tiến trình công nghiệp nặng và hiện đại hóa toàn diện quân đội vẫn còn phôi thai.

Có thể giải thích vì Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo, dân trí thấp.

Câu trả lời là nếu không canh tân, sẽ không bao giờ có thể nâng cao dân trí và nâng cao mức thu nhập quốc dân mà không vay mượn.

Hiểm nguy Trung Hoa còn là một lý do cấp thiết. Thời Mã Viện, dân tộc bị đô hộ vì thua kém binh lực mà quyết tâm không để bị đồng hóa còn cho phép khởi nghĩa giành lại đất đai, quyền làm người.

Dưới triều Tự Đức, dân tộc bị đô hộ vì không thể bắt kịp kỹ thuật Tây phương, vì đã không hiểu các cuộc xâm chiếm nằm trong một chuyển động toàn cầu, trong phân chia giữa các đế quốc.

Cả hai nguy hiểm hôm nay nhập một.

Với kẻ thù truyền kiếp Trung Hoa.

null
Các đại cường đã chia vùng ảnh hưởng ở hội nghị Yalta

Nếu thập niên 70 tương đương với nội chiến Nguyễn Ánh-Tây Sơn và chấm dứt khi Nguyễn Ánh vào Phú Xuân, thập niên 80 tương đương với triều Minh Mạng tiến quân vào Chân Lạp rồi đồn trú và sa lầy, thì thập niên 90 cũng tương đồng với giai đoạn chuyển tiếp của triều Thiệu Trị.

Hôm nay, sang thập niên 2010, dân tộc đã ở vào giữa triều Tự Đức và hiểm nguy thì hiện ra trông thấy.

Nếu chậm trễ, quốc gia sẽ lâm vào hoàn cảnh của Tự Đức còn chưa đầy một thập niên trước khi nhận tối hậu thư của giặc.

Một cách khách quan, ở vào giữa triều Tự Đức là đã muộn. Vì vận tốc canh tân của quốc gia, nếu thực hiện, vẫn chậm hơn vận tốc phát triển kinh tế, binh lực, vũ khí hiện đại của Bắc Kinh đã đạt đến tầm mức lớn.

Nhưng dân Việt vẫn muốn tin hãy còn kịp, chưa muộn.

Phải canh tân trước khi một Yalta thứ nhì chia chác các vùng ảnh hưởng được ký kết giữa các đế quốc Nga, Hoa, Mỹ, như đã xảy ra vào tháng 2-1945 giữa Churchill, Roosevelt và Stalin, trao những tiểu quốc này vào tay đế quốc kia và những tiểu quốc khác vào tay đế quốc nọ.

Với một phân vùng như vậy, Việt Nam sẽ không thoát được số mệnh trở thành chư hầu của Trung Hoa và tương lai dân Việt sẽ tùy thuộc hoàn toàn vào lương tâm Bắc Kinh.

Hạn chót của canh tân đất nước đã điểm.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, hiện sống ở Texas, Hoa Kỳ. Bài cũng đã được tác giả đăng tại Hoa Kỳ.

Công nhân Việt Nam: Cộng Sản Việt Nam không còn là con người, nói chi là Công nhân Việt Nam!


tmp-danlambao.jpg

 Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam (Danlambao) – Khi đảng cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh sáng lập theo chỉ thị của hai đảng cộng sản Nga Tàu, ông ta bảo là đảng của giai cấp công nhân bị bọn chủ tư bản bốc lột.


Đảng cộng sản dùng mồi “công nhân, nông dân là chủ… tập thể” nhử công nhân, nông dân và người dân làm con thiêu thân cho chúng. Nghe theo lời dụ dỗ đường mật nhiều công nhân và nông dân đã tham gia và hy sinh xương máu để cho cộng sản cướp được chính quyền tại miền Bắc vào năm 1954 và tiếp tục với chiêu bài chống đế quốc “Mỹ” giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nhân, đánh lừa người dân cả nước tiếp tục hy sinh của cải và hàng triệu sinh mạng để đảng cs nắm chính quyền và cướp đoạt cả nước, hoàn thành sứ mệnh được cộng sản quốc tế Nga Tàu giao trong âm mưu nhuộm đỏ toàn cõi đất nước Việt Nam và sau đó cả thế giới theo thuyết domino.


Từ ngày cộng sản cướp được cả nước (30/04/1975) thì người dân Việt Nam, người công nhân – tầng lớp mà “người” cộng sản luôn tuyên truyền là giai cấp tiên tiến của đảng cộng sản VN, có thực sự được giải phóng khỏi sự bóc lột của bọn chủ nhân, bọn tư bản, có thật sự được giải phóng và làm chủ “tập thể” cơ sở sản xuất như từng được Hồ Chí Minh và đảng CSVN rỉ tai tuyên truyền?


Đảng cộng sản VN cướp tiền tiết kiệm của công nhân


Thực tế cho thấy dưới chế độ độc tài toàn trị CSVN, người công nhân chẳng những không được giải phóng mà càng lúc càng bị bóc lột tồi tệ hơn. Họ không những bị bóc lột tận xương tủy bởi những bọn chủ nhân là các tập đoàn công ty ngoại quốc, nhưng ác độc và vô nhân hơn là bọn quan chức cộng sản đóng vai lãnh đạo “Công đoàn lao động” lại công khai cấu kết với bọn chủ nhân cướp đoạt tiền lương vốn đã ít ỏi, bóc lột tồi tệ sức lao động và đối xử công nhân như nô lệ thời trung cổ.


Bọn nhà nước cộng sản các cấp dùng những thứ luật rừng rú do chúng tạo ra để trắng trợn cướp đi số tiến tiết kiệm ít ỏi qua việc bị bắt buộc rút bớt tiền lương bỏ vào cái gọi là “Quỹ bảo hiểm xã hội” nhưng cấm không cho rút ra sau khi nghỉ việc mà phải đợi đến tuổi 55-60 mới được phép rút ra. Và khi đó nếu có thể được rút ra thì cũng chẳng có giá trị thực tế nào và chỉ là những tờ giấy lộn. Vào những ngày đầu tháng 04/2015, hơn 100.000 công nhân đã đình công và đồng loạt xuống đường biểu tình phản đối hành động cướp ngày của đảng cộng sản VN, đòi hỏi phải xóa bỏ một sắc luật mới về bảo hiểm xã hội do đảng CSVN – qua quốc hội bù nhìn – ban hành nhằm cướp đoạt có “văn hóa cộng sản” số tiền tiết kiệm của hằng triệu công nhân lên đến hằng ngàn tỷ đồng.

O3X2Aab49Z58RWMsLcba2aVo9LZwnzBm78oAw0nSlMU03OjNJmNBQ2UO2tjKHZX5fGL1aw4dxfQ8YnH-cuFeP2ir0vej7paD2JmQqXYGMflpJTTdRn59p4cp9lDuNrW6SO8yfXuP1PlyHICP


Cảnh hằng chục ngàn công nhân tại Sài Gòn và các tỉnh đình công và xuống đường đòi quyền lợi


Đảng cộng sản Việt Nam cấu kết với bọn chủ nhân đối xử công nhân như dân nô lệ


Điều tệ hại đến tân cùng của xấu xa mà đáng lẽ chỉ xảy ra vào thời xa xưa khi chế độ nô lệ còn thịnh hành nhưng lại đang xảy ra vào thế kỷ 21 tại Việt Nam với những người công nhân mà chính đảng cộng sản của Hồ Chí Minh/Nguyễn Tất Thành luôn luôn huênh hoang tuyên truyền là giai cấp tiên tiến của đảng cộng sản Việt Nam, giai cấp đã hy sinh để bọn đảng cộng sản hôm nay nắm toàn quyền cai trị Việt Nam và làm chủ nhân ông cả đất nước. Người công nhân bị tước đi cả nhu cầu tự nhiên mà tạo hóa đặt ra cho không những cho loài người mà cho tất cả sinh vật đang sinh sống trên trái đất này: nhu cầu vệ sinh đi tiểu tiện khi cơ thể đòi hỏi.


Bọn công đoàn cộng sản VN vì chia chác quyền lợi với bọn chủ nhân nên đã không còn tính người, cấu kết vời bọn tập đoàn chủ nhân nhà máy đưa ra những luật lệ vô nhân đạo cấm đoán công nhân đi tiểu tiện ngoài giờ qui định – chỉ được đi tiểu tiện 2 lần trong ngày làm và bị bắt buộc đeo thẻ bài khi đi vệ sinh. Bọn đảng viên công đoàn CSVN là bọn súc sinh không phải là con người mới đối xử người công nhân thua cả loài cầm thú.dB-5Hk_oGbbqBnm9lc3U1nGLa0669NXhtaj4v1QMQa_lGw-UlxFZljHn_UNONB634geaQj8v31QB4G07wTh7ey4kUSskvQlc0pm5HkkK2r890hIrKS45PhS0wW8TREHb_z242r36LVXvFCFY

6xxglQHqyY9LdJgf7DxpuKPXORCnwhpyJZQU8mIdioR754OV-OlzPOrnajgfc5E3NwxilQVPZPk6rNSAYjqbZW1C3gGxNyZcWY8KxvB15aBZNsKKOr9WzuNpHt7t2egPjjwJ87WQJvA3o7yJ

Gần 900 công nhân Cty Shilla Bags ngừng việc đòi quyền…. đi vệ sinh. Công nhân bị đối xử như là súc vật: phải mang thẻ bài khi đi vệ sinh!

Đây là một vài bằng chứng về những gì mà những chị công nhân đáng thương dưới chế độ xấu xa gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa bị bọn chủ nhân và bọn đảng viên đảng cộng sản VN đối xử:

“CN khi làm việc phải đội nón màu xanh, đi vệ sinh đội nón màu cam và báo cáo với giám sát, ghi rõ giờ ra, giờ vào nhà vệ sinh”

“Tai họa ập đến với chị công nhân khi chị bị ‘tào tháo rượt’ khi trong khu dây chuyền không còn nón cam, vì ‘nhu cầu bức thiết’ nên chị ‘liều mạng’ đi mà không đội nón cam như quy định. Chị bị giám sát bắt quả tang, nhắc nhở”

“Hôm đó đã 11 giờ trưa, một nữ CN lên xin ‘nữ hoàng vệ sinh’ (cách CN gọi người kiểm soát thẻ đeo, giờ giấc đi vệ sinh – PV) thẻ đi vệ sinh nhưng không được chấp thuận với lý do không đúng giờ. Bạn nữ ôm bụng ngồi khóc”

“Những quy định hạn chế quyền đi vệ sinh khiến những CN như tôi thấy nước không dám uống, trong giờ làm lại thấp thỏm lo ‘nhu cầu bức thiết’ đột ngột ập đến, không có ‘thẻ bài’ thì ‘bí đầu ra’ “

“Cty vẫn giữ quan điểm mình làm đúng, cán bộ (đảng CSVN) Phòng Lao Động Thương Binh Xã Hội quận 12 cũng khẳng định, trong Bộ luật LĐ năm 2012 không có mục nào nói về chuyện đi vệ sinh của CN nên quy định của Cty cũng không sai!”

Đọc những lời than thở bộc bạch của những chị công nhân và những lời tuyên bố của bọn cộng sản trong cái gọi là công đoàn mà phải uất hận thốt lên:

Bọn Cộng Sản Việt Nam không còn là con người, nói chi là người Việt Nam!

Ngày 14/06/2015


Nguyễn Hùng, Trần Hoài Nam



Phá nát đất nước, vẫn xưng là người yêu nước!

FB Trương Nhân Tuấn

24-06-2015

Lãnh đạo nào của VN, không ngoại lệ, đều vỗ ngực xưng mình là người « yêu nước ».

Ông Hồ tự xưng mình yêu nước. Ông Diệm, rồi ông Thiệu cũng xưng như vậy. Một bên yêu nước, mọi giá phải thống nhứt đất nước. Một bên yêu nước mọi giá phải bảo vệ tự do.

Đất nước chia đôi, bên nào cũng dành yêu nước.

Yêu nước có trăm ngàn cách thể hiện. Vấn đề là lãnh đạo lựa chọn việc « tương tàn », thay vì việc « tương tranh », thi đua xây dựng đất nước xem bên nào là thực sự yêu nước.

Cuộc « tương tàn » rồi cũng hết, đất nước được thống nhứt.

Yêu nước bằng mọi cách cho nên giờ đây đất nước « điêu tàn ».
Một số tỉnh miền Trung hiện hạn hán nặng, nguy cơ mùa tới sẽ đói. Người dân, sau chiến tranh tương tàn 40 năm, đời sống vẫn dính liền với ruộng nương, hạt gạo.

Nếu làm một việc so sánh, Đài Loan, sau 1949 là một đảo tiêu sơ. Năm 1960 90% dân sống bằng nghề nông. Đến thập niên 70, tỉ số nông nghiệp đóng góp vào GDP là khoảng trên dưới 20%. Hiện nay con số này là khoảng 3 đến 4%. Công nghiệp đảo quốc này chiếm đóng góp phần lớn GDP, thu hút đa số sinh viên tốt nghiệp. Những nghề hạ tiện như con ở, làm lao động chân tay nặng nhọc, lao động nguy hiểm… dân Đài Loan không ai làm, phải nhập lao động từ Việt Nam.

Kết luận gì ? đó là hệ quả của việc phát triển « tương tranh ». Đảo quốc cạnh tranh với lục địa, mỗi bên một chế độ chính trị, thi đua xem chế độ nào ưu việt đem lại phồn thịnh cho đất nước, hạnh phúc đến cho nhân dân. Lục địa dân số đông gấp trăm lần, lãnh đạo ở đây sớm nhìn thấy sự tụt hậu so với đồng bào hải ngoại, với cộng đồng thế giới, cố gắng « dò đá qua sông », hội nhập với thế giới. Đến nay TQ, tuy chưa bắt kịp mức sống dân Đài Loan nhưng cũng đã vượt xa VN hàng trăm năm.

Nếu lãnh đạo Bắc Kinh « noi gương » lãnh đạo VN, mở cuộc « tương tàn », chắc chắn là hai bờ sẽ điêu tàn vì chiến tranh, dân tình nghèo khổ không khác chi dân các tỉnh miền Trung VN đang gặp hạn hán.

Nhìn gương hai bên Triều Tiên, hai miền Đông, Tây Đức. Cuộc tương tranh nào cũng đem lại lợi lộc cho đất nước và dân tộc. Ngoại trừ đất nước lọt vào tay những tên hôn quân ngu xuẩn (theo kiểu họ Kim, họ Hồ…)

Hôm qua tôi đọc một tin tức bên ông Nguyễn Quang Lập, nói về nạn hạn hán ở quê ông Quảng Bình. Tôi không hề biết địa phương Quảng Bình ra sao, tôi chưa đặt chân đến đó bao giờ. Nhưng có lẽ vì nghĩa đồng bào, nên hình như con tim mình đập cùng nhịp với dân quê ở đây. Tư nhiên mình cảm thấy đau nhói trong lòng.

Khẩu hiệu « công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước » đang trở thành ảo ảnh. Vấn đề là hệ quả của việc « công nghiệp hóa » bằng mọi giá đã tàn phá môi sinh, môi trường sống ở các thôn làng VN. Những giòng sông cạn kiệt. Những đồng ruộng nứt nẻ, khô khan. Vườn tược không cây không trái.

Người dân sinh sống bằng cái gì ?

Người dân không thể sống mãi bằng khẩu hiệu, bằng bánh vẽ.

Cuộc tương tàn đã phá hoại đất nước đến tận cùng. « Tát cạn Biển Đông, đốt cháy Trường Sơn », hô hoán « thay trời làm mưa »… chắc chắn không phải lời nói của những người yêu nước.

Yêu nước là làm cho đất nước ngày tốt đẹp hơn, người dân sung túc, hạnh phúc hơn.

Lãnh đạo nào cũng có thể làm được điều này. Miễn là đặt mục tiêu hàng đầu là người dân, là đất nước chớ không phải là đảng, là ý thức hệ, là xã hội chủ nghĩa.

Bao giờ mọi người mới ý thức được điều này ?

40 năm sau: Lich sử đang lặp lại

Nguyễn Quang Dy

24-06-2015

Có lẽ chúng ta đã tạo ra một quái vật Frankenstein”

(Richard Nixon nói với William Safire (bình luận gia của New York Times) năm 1994, trước khi chết).

40 năm sau Chiến tranh Viêt Nam, cuối cùng người Mỹ và Việt Nam đang làm những gì mà họ đáng lẽ phải làm từ năm 1978 khi nước Việt Nam thống nhất rất cần hòa giải và hợp tác với Mỹ (là kẻ thù cũ) để tái thiết và đối phó với hiểm họa mới từ Trung Cộng (là anh em bạn thù); hoặc từ năm 1945 khi nước Việt Nam mới do Ho Chi Minh đứng đầu đang cố giành sự ủng hộ của Mỹ để hóa giải sự thù nghịch của nước Pháp thực dân và Trung hoa Dân quốc; hoặc từ năm 1875 khi vua Tự Đức cử ông Bùi Viện sang Mỹ tìm kiếm sự ủng hộ để chống lại ý đồ nước Pháp thực dân muốn biến Annam thành thuộc địa. Nhưng hai nước đã để tuột mất những cơ hội lịch sử, bây giờ phải “trở về tương lai”, sau khi bị bầm dập bởi cuộc chiến tranh sai lầm đẫm máu, và lãng phí quá nhiều thời gian, sức lực và mạng sống vào những trò chơi hậu chiến điên khùng, bao gồm cái gọi là “Chiến tranh Đông Dương lần thứ ba” không kém khôc liệt giữa “anh em bạn thù” và những đồng minh mới của họ.   

Đấy là phác thảo nhanh bức chân dung đầy bi kịch của quan hệ Việt-Mỹ. Thật trớ trêu là tương lai quan hệ Việt-Mỹ lại gắn liền với tương lai của Biển Đông, mà tương lai của Biển Đông nay lại gắn liền với quan hệ Trung-Việt, cũng như quan hệ Trung-Mỹ. Để làm rõ những khía cạnh đầy uẩn khúc của những mối quan hệ này, hãy bình tâm xem lại một số bối cảnh lịch sử có liên quan và một số biến chuyển gần đây, như những dấu hiệu mới.      

Ngăn chặn Trung Quốc: Trở về tương lai?   

Ai quan tâm đến lịch sử chắc vẫn nhớ 60 năm về trước (sau chiến tranh Triều Tiên và Điện Biên Phủ), Mỹ đã triển khai chiến lược Ngăn chặn Trung Cộng bằng cách sử dụng SEATO (South East Asia Treaty Organization) làm cơ chế an ninh tập thể ở Đông nam Á. Chẳng có gì sai khi Mỹ ngăn chặn Trung Quốc lúc đó cũng như bây giờ khi họ hung hăng trỗi dậy và bành trướng ở khu vực, bằng cách “xoay trục sang Châu Á” để tái cân bằng lực lượng, và sử dụng TPP (Tran-Pacific Partnership) làm khuân khổ hợp tác mới ở khu vực. Nhưng mục đích kinh tế của TPP có lẽ không quan trọng bằng mục đích chiến lược.

Nói cách khác, đây là trò “rượu cũ bình mới”. “Rượu cũ” là mối đe dọa tiềm ẩn của chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán (không hề thay đổi). “Bình mới” là Trung Quốc nay áp đặt “Đường Lưỡi bò” và dùng dàn khoan để lấn chiếm Biển Đông, và ráo riết xây dựng các đảo nhân tạo và công trình quân sự tại các đảo san hô mà họ chiếm ở Hoàng Sa và Trường Sa, hòng kiểm soát Biển Đông (như “lợi ích cốt lõi”). “Rượu cũ” là Mỹ “Ngăn chặn” Trung Cộng, và “bình mới” là trò chơi TPP (thay cho “SEATO”). Quan hệ Trung-Việt đầy phức tạp vừa là đối tác chiến lược (cùng ý thức hệ), vừa là đối thủ chiến lược (do tranh chấp chủ quyền). Đó là mối quan hệ bất bình thường (vừa yêu vừa ghét) như “anh em thù địch”. Nhưng lúc này thật là dại dột và bất khả thi, nếu Việt Nam cố duy trì nguyên trạng mối quan hệ bất bình thường đó bằng cách đong đưa và đi trên dây để căn bằng quan hệ với cả Trung Quốc và Mỹ.   

Cách đây 60 năm, Mỹ đã ngăn chặn một Trung Quốc nghèo nàn (như con “hổ giấy”), tuy ngoài mặt thách thức Mỹ nhưng trong bụng rất muốn bắt tay. Còn bây giờ, Mỹ đang ngăn chặn một Trung Quốc giàu có như một “quái vật kinh tế và quân sự”, vừa muốn giữ nguyên trạng (bên trong), lại vừa muốn thay đổi nguyên trạng (bên ngoài), thách thức vai trò cầm đầu của Mỹ. Trước đây, Mỹ ngăn chặn Trung Quốc bằng cách đánh Việt Nam (tưởng là kẻ thù ý thức hệ). Còn bây giờ Mỹ ngăn chặn Trung Quốc đang hung hăng trỗi dậy bằng hợp tác với Việt Nam (như đối tác chiến lược mới).

Đây là một sự chuyển đổi đầy kịch tính, để sửa chữa một sai lầm lớn mà cả hai nước đã mắc phải. Chiến lược Ngăn chặn và chiến tranh Việt Nam là hai chuyện khác nhau, không nên nhầm lẫn. Đáng lẽ Mỹ không nên can thiệp vào Việt Nam bằng “một cuôc chiến tranh sai lầm, tại một địa điểm sai, vào một thời điểm sai, với một kẻ thù sai” (Omar Bradley, 1951). Nhưng phải 20 năm sau cuộc chiến, ông Robert McNamara mới công khai thừa nhận sai lầm này (trong cuốn sách xuất bản năm 1995). Thực ra, ngay từ năm 1965, ông George Ball (trợ lý ngoại trưởng) đã nhìn thấy trước một cuộc chiến sai lầm, đã cảnh báo và khuyên can tổng thống John Kennedy đừng quyết định đưa quân sang Việt Nam để can thiệp trực tiếp.

Nhưng đáng tiếc là không ai muốn nghe George Ball, mà người ta còn cười nhạo ông ấy. Theo tôi, George Ball giỏi không kém gì George Kennan. Họ là những người Mỹ thông minh, dũng cảm, có tầm nhìn xa. Nếu Chính quyền biết lắng nghe họ, thì nước Mỹ đã tránh được bao tổn thất về xương máu và nguồn lực tại Việt Nam (và Iraq sau này). Việt Nam và Iraq là những bài học đẫm máu, còn tiếp tục ám ảnh người Mỹ. Thomas Vallely (cựu chiến binh, giám đốc chương trình Việt Nam tại Harvard) đã nói rất đúng (trong tư liệu TV, 1985), “chúng ta không nên làm cái việc sai lầm là đưa thanh niên đến chỗ chết, chỉ vì lòng tự hào của mấy ông già”.   

Khi ông Archimedes Patti (cựu sĩ quan OSS) ký tặng tôi cuốn sách “Why Vietnam” (Bangkok, 1990), tôi có hỏi ông ấy, “lúc đó họ có đọc sách của ông không”. Ông Patti nói với ánh mắt buồn rầu, “chẳng ai đọc nó cả, chẳng ai nghe tao cả”. Trong một lần báo chí phỏng vấn (năm 1981), ông Patti đã nói rất rõ, “Theo tôi, chiến tranh Viêt Nam là một sự lãng phí khồng lồ. Trước hết, nó không cần phải xảy ra. Hoàn toàn không. Không đáng tí nào cả. Trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam, không ai đến gặp tôi để tìm hiểu xem điều gì đã xảy ra năm 1945 hoặc 1944. Trong suốt những năm tôi làm việc ở Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại Giao, và Nhà Trắng, không một ai có quyền hành đến gặp tôi cả…”

Điều đó làm tôi nhớ lại sự kiện “Blood Telegrams” (mà chắc nhiều người đã quên). Ông Archer Blood, tổng lãnh sự Mỹ tại Dacca (thủ phủ Đông Pakistan lúc đó) đã gửi điện khẩn về Washington (ngày 6/4/1971, có 29 cán bộ ngoại giao Mỹ ký tên) cảnh báo về nạn “diệt chủng có chọn lọc” đang biến Dacca trở thành “thành phố ma” (3/4 dân số bị giết hoặc bỏ chạy). Họ công khai phản đối chính sách của Mỹ ủng hộ chính quyền quân sự (của tướng Yahya Khan) đàn áp dã man người Bengali đòi độc lập cho Bangladesh. Nhưng tổng thống Nixon và Tiến sĩ Henry Kissinger lúc đó đã lờ đi, vì muốn tướng Yahya Khan làm cầu nối với Trung Quốc để tổng thống Nixon đến Thượng Hải bắt tay Mao Chủ tịch, như một “bước ngoặt lịch sử”. Tôi xin trích một đoạn bức điện đó, “Chính phủ chúng ta đã không lên án việc đàn áp dân chủ. Chính phủ chúng ta đã không lên án tội ác. Chính phủ chúng ta đã không có biện pháp mạnh mẽ để bảo vệ công dân của mình, trong khi đó ra sức làm vừa lòng chính phủ do người Tây Pakistan nắm quyền và làm giảm bớt đi mọi sức ép tiêu cực của dư luận quốc tế đối với chính phủ Pakistan. Chính phủ chúng ta đã chứng tỏ một điều mà tất cả mọi người đều coi là phá sản về đạo đức…”.  

Tham dự tích cực: Trò chơi kết thúc?  

Tôi không biết tổng thống Nixon thực sự nghĩ gì khi ông ta bắt tay Mao chủ tịch tại Shanghai năm 1972. Nhưng tôi tin ông Nixon đã một lần nói thật khi ông ấy nhận xét một cách chí lý (năm 1994, trước khi ông ấy chết), “Có lẽ chúng ta đã tạo ra một quái vật Frankenstein”. Ông Nixon lúc sắp chết đã trở thành “thiên tài”! Thực tế là phải 42 năm sau, đến tận 2014, đa số người Mỹ mới nhận ra “hệ quả không định trước” này và bắt đầu lo ngại về sự trỗi dậy “không hòa bình” của Trung Quốc (tuy vẫn tranh cãi về nguy cơ xung đột Trung-Mỹ).

Công bằng mà nói, không nên đổ lỗi cho ông Nixon vì Dr Henry Kissinger mới chính là kiến trúc sư của chính sách Trung Quốc, từ “Shanghai Communique” để cho Mỹ rút quân khỏi Việt Nam “trong danh dự” và chia sẻ quyền lực với Trung Quốc tại Đông Á, đến “Constructive Engagement” để thay thế “Containment” giúp Trung Quốc “trỗi dậy trong hòa bình”, và “China Card” để biến Trung Quốc thành đồng minh “trên thực tế” chống Liên Xô, và cuối cùng “China Lobby” để vận động hành lang ủng hộ Trung Quốc trong mọi chuyện làm ăn khác.   

Trong nửa thế kỷ qua (nói chính xác là qua 8 đời tổng thống Mỹ, cả Cộng hòa lẫn Dân chủ), Washington vẫn cho rằng chủ trương “Can dự tích cực” là cách duy nhất để khuyến khích Trung Quốc cởi mở dần trong quá trình mà ông Kissinger gọi là “co-evolution” (hay diễn biến hòa bình) theo các giá trị của Mỹ, và “trỗi dậy trong hòa bình”. Chỉ gần đây, người Mỹ mới bắt đầu thất vọng như bị bạn tình Trung Quốc phản bội. Các chuyên gia về Trung Quốc bắt đầu nói đến sự cần thiết phải “ngăn chặn” Trung Quốc, và hai bên bắt đầu coi nhau như đối thủ (thay cho đối tác). “Đồng thuận Washinton” về lợi ích của “Constructive Engagement” bắt đầu đổ vỡ.  

Điều này làm ta nhớ lại trận Trân Châu Cảng (7/12/1941) khi hạm đội Mỹ tại đây đã bị hải quân Nhật đánh đắm, nhưng đa số người Mỹ lúc đó vẫn không tin là Nhật Bản dám khởi chiến. Có lẽ “Đồng thuận Washington” giống như một con voi quá lớn và quá chậm để dễ dàng chuyển động. Không biết người Mỹ có thật ngây thơ về Trung Quốc không, hay là cái bóng của ông Kisinger quá lớn, nhưng gần nửa thế kỷ qua, chính sách của Mỹ tại Châu Á-Thái Bình Dương vẫn xoay quanh “cái trục Trung Quốc” mà ông Kissinger đã thiết kế.

Dù nguyên nhân Trung Quốc trỗi dậy ngày càng hung hăng (như đầu gấu tại khu vực) có phải do chính sách “Can dự tích cực” hay không, thì nhiều người cho rằng Mỹ và Trung Quốc khó tránh khỏi chiến tranh lạnh (thậm chí xung đột)Gần đây, tỷ phú George Soros lập luận rằng nếu không nhân nhượng Trung Quốc về vấn đề tài chính sống còn đối với họ, thì lãnh đạo Trung Quốc có thể phải dùng đến xung đột vũ trang để tồn tại, dễ gây ra chiến tranh thế giới mới. Điều này làm ta nhớ lại chính sách “Appeasement” của chính phủ Anh (Neville Chamberlain) đã thỏa hiệp quá nhiều với Hitler (tại Munich, năm 1938). “Constructive Engagement” nếu đi quá đà, mà không có điều kiện khắt khe ràng buộc, sẽ phản tác dụng hơn cả “Appeasement”.

Michael Pillsbury (một chuyên gia kỳ cựu về Trung Quốc) nhận xét, “Trung Quốc không đạt được hầu hết những mong muốn màu hồng của chúng ta”. David  Lampton (một học giả về Trung Quốc tại Johns Hopkins) kết luận, “Quan hệ Trung-Mỹ đã đi đến chỗ đổ vỡ”. Robert Blackwill (một chuyên gia về an ninh quốc tế tại Belfer Center, Harvard) cho rằng “Constructive Engement với Trung Quốc chỉ giúp cho đối thủ mạnh lên”. Kevin Rudd (cựu thủ tướng Australia, một chuyên gia về Trung Quốc) đã tóm tắt quan điểm của người Trung Quốc về mục tiêu của Mỹ là “nhằm cô lập, ngăn chặn, làm suy yếu, phân hóa Trung Quốc, và phá hoại lãnh đạo chính trị của Trung Quốc”. Ông ấy còn khuyến nghị “Constructive Realism” để thay cho “Constructive Engagement”.

Tôi cũng không rõ liệu cao kiến của ông Kevin Rudd, tuy có thực tế hơn, nhưng liệu có hiệu quả hơn không, khi điều chỉnh quan trọng gần đây của Washington vẫn tỏ ra “quá ít và quá muộn”. Thái độ cứng rắn hơn của Mỹ (điều máy bay quân sự đến Biển Đông) là một tín hiệu tích cực và lời cảnh báo rõ ràng đối với Trung Quốc, nhưng có lẽ vẫn chưa đủ thuyết phục Bắc Kinh phải thực sự nghiêm túc, và chưa đủ thuyết phục các nước Asean đang bị Trung Quốc bắt nạt và phân hóa cần phải dựa vào Washington hơn là Bắc Kinh. Ít nhất đó là cách hiểu (không chính thức) về thái độ nhìn nhận của Trung Quốc tại Đối thoại Shangri-La gần đây (May 29-31, 2015).   

Biển Đông: Một thùng thuốc súng?

Hơn một năm nay, từ khi Trung Quốc đưa giàn khoan HD 981 vào Biển Đông và ráo riết xây dựng các công trình quân sự và đảo nhân tạo trên các đảo san hô họ chiếm tại Hoàng Sa và Trường Sa, để chuẩn bị thiết lập khu vực nhận diện phòng không, đe dọa tự do hàng hải, thì Biển Đông đã nóng lên như thùng thuốc súng. Quốc Hội Mỹ và giới nghiên cứu đã chuyển biến mạnh,  buộc Chính quyền Obama phải có thái độ cứng rắn hơn, đưa máy bay quân sự và tàu chiến vào Biển Đông để răn đe, bất chất Trung Quốc phản đối. Nhiều chính phủ và tổ chức quốc tế đã thực sự lo ngại. Một số nước đồng minh của Mỹ (như Japan và Australia) đã thay đổi hẳn thái độ, sẵn sàng tham gia tuần tra hải quân trên Biển Đông.   

Trong khi bức tranh địa chính trị tại khu vực thay đổi nhanh và rõ nét hơn, thì tương lại Biển Đông vẫn mù mịt và bất định. Liệu đối đầu Trung-Mỹ tại Biển Đông có dẫn đến chiến tranh thật không, hay chỉ là chiến tranh lạnh? Liệu Trung Quốc và Mỹ có thể thỏa thuận với nhau để chia sẻ quyền lực (như trước đây)? Liệu căng thẳng Trung-Việt có dẫn đến chiến tranh không, hay tiếp tục nhùng nhằng (không hòa không chiến) và Trung Quốc tiếp tục chiến thuật “cắt lát gặm dần” như “chuyện đã rồi”, không đánh vẫn thắng? Và cuối cùng, liệu sức ép của Mỹ và cộng đồng thế giới, cũng như quá trình dân chủ hóa tại Trung Quốc, có đủ sức xoay chuyển thái độ của Bắc Kinh, và hóa giải được xung đột lợi ích tại Biển Đông để biến thùng thuốc súng này thành khu vực hợp tác hòa bình và cùng khai thác?

Một số chuyên gia về Trung Quốc theo thuyết “cái bẫy Thucydides” (Graham Allison đặt tên) cho rằng xung đột Trung-Mỹ là khó tránh khỏi, và Biển Đông có thể là cái ngòi nổ cho thế chiến thứ ba. Một số khác theo thuyết phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế (phái Neo-liberalism) lập luận rằng chiến tranh Trung-Mỹ rất khó xảy ra vì hai nền kinh tế khổng lồ này đã quá phụ thuộc vào nhau, nên khả năng cùng bị hủy diệt do chiến tranh là một sự răn đe hiệu quả. Số còn lại đưa ra nhiều giả thuyết và kịch bản khác nhau, chủ yếu dựa trên phân tích học thuật, thường làm rắc rối hơn là làm sáng tỏ vấn đề, và góp phần làm cho Biển Đông nóng hơn (trên mặt báo và các diễn đàn nghiên cứu) như thêm gia vị vào các thực đơn nghiên cứu.

Graham Allison dựa vào thực tế lịch sử để rút ra quy luật, chủ yếu nhằm cảnh báo về một nguy cơ tiềm tàng khó tránh, để biết mà phòng tránh chứ không phải để kết luận như đinh đóng cột rằng chiến tranh nhất thiết sẽ xảy ra. Trong thế giới đầy biến động khôn lường và đầy biến số này, không ai có thể chắc chắn về một điều gì như hằng số.

Sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia trong thế giới phẳng là một thực tế hiển nhiên. Trong trường hợp quan hệ Trung-Mỹ thì sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới càng lớn hơn. Nhưng sự phụ thuộc lẫn nhau càng lớn thì mâu thuận cũng càng lớn và rủi ro cũng càng cao, rất khó kiểm soát. Sự khác biệt về hệ thống giá trị cơ bản giữa hai quốc gia này như mặt trăng và mặt trời. Trong khi Mỹ dẫn đầu thế giới trong việc phát triển phương tiện truyền thông xã hội, thì Trung Quốc dẫn đầu thế giới trong việc kiểm soát nó. Trong khi Mỹ muốn Trung Quốc áp dụng hệ thống giá trị của mình, thì lãnh đạo Trung Quốc coi đó là lật đổ.

Nếu cả hai xu hướng chính là “cái bẫy Thucydides” và “phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế” cùng tồn tại trong quan hệ Trung-Mỹ thì nó có thể triệt tiêu lẫn nhau, dẫn đến nhùng nhằng (không hòa không chiến) như chiến tranh lạnh kiểu mới (như xu hướng thứ ba). Nếu tình huống này thắng thế, thì Trung Quốc càng có lợi, tiếp tục “cắt lát” để gặm nhấm, biến thành “chuyện đã rồi”, và cuối cùng đạt được mục tiêu kiểm soát Biển Đông mà không tốn một viên đạn.

Có lẽ cả Trung Quốc và Mỹ đều qúa bận tâm về các vấn đề chính trị nội bộ nên muốn hướng dư luận vào các vấn đề chính trị quốc tế. Họ cũng có thể gây căng thẳng tại vài nơi trên thế giới để thử gân nhau. Nhưng có lẽ lúc này cả hai đều không muốn và không sẵn sàng chiến tranh tổng lực. Kết quả có thể là chiến tranh lạnh kiểu mới, một dạng chiến tranh nửa dơi nửa chuột (hybrid warfare) hoặc mượn tay người khác (proxy warfare). Tuy nhiên, khi căng thẳng được đẩy lên thành kịch tính thì rủi ro càng lớn, và hai bên cần một cơ chế kiểm soát rủi ro để tránh sử dụng vũ lực. Dù sao, người ta cho rằng chiến tranh lạnh vẫn còn hơn là “Thế chiến thứ 3”.

Trong khi chưa biết là chiến tranh lạnh hay thế chiến thứ ba, thì các học giả về Trung Quốc cho rằng màn chót của chế độ Trung Cộng có lẽ đã bắt đầu. Bề ngoài, Trung Quốc có vẻ giàu có và hùng mạnh, nhưng nó che đậy một hệ thống đã đổ vỡ bên trong. Không phải chỉ có ông Gordon Chang lâu nay dự báo “Trung Quốc sắp sụp đổ”, mà cả giáo sư Paul Krugman (được giải Nobel kinh tế) cũng báo động rằng “Trung Quốc đã kịch đường” (tới điểm giới hạn). Đáng chú ý là cả giáo sư David Shambaugh (một chuyên gia hàng đầu về Trung Quốc tại George Washington University) đã tuyên bố “màn chót của chế độ Trung Cộng đã bắt đầu”…

Chiến dịch “đả hổ” chống tham nhũng quyết liệt của ông Tập Cận Bình để cứu chế độ (hay củng cố địa vị) đang đẩy màn chót đến nhanh hơn. Việc tăng cường đàn áp càng bộc lộ sự rạn nứt của hệ thống và đẩy nhanh quá trình sụp đổ. Thay vì mở cửa, ông Tập Cận Bình đang tăng cường kiểm soát gấp đôi. Giới tinh hoa ở Trung Quốc sẵn sàng ra đi hàng loạt nếu hệ thống bắt đầu sụp đổ. Theo Elizabeth Economy (Council o­n Foreign Relations) 2/3 (hoặc 64%) người Trung Quốc có tài sản trên 1.6 triệu USD đang di cư hoặc định như vậy. 

Anh em bạn thù: Làm sao để thoát?

Định mệnh về địa lý

Dù muốn hay không, Việt Nam vẫn phải sống cạnh người láng giềng khổng lồ, như một định mệnh về địa lý, không thể thay đổi được. Vì vậy về lâu về dài, Việt Nam phải tìm cách chung sống hòa bình tử tế với các nước láng giềng, trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và cùng có lợi. Là một nước nhỏ hơn, muốn bảo vệ độc lập, chủ quyền của mình, Việt Nam phải thay đổi và mạnh lên để Trung Quốc phải tôn trọng. Nếu Việt Nam yếu đi trong khi Trung Quốc mạnh lên, thì chắc chắn Việt Nam sẽ mất độc lập, chủ quyền vì trở thành miếng mồi ngon cho tham vọng bành trướng bá quyền Trung Quốc. Đáng tiếc tình trạng hiện nay đúng là như vậy. Không phải Việt Nam chỉ mất đất biên giới và hải đảo tại Biển Đông, mà có thể sẽ mất tất cả, để “trở về tương lai” như thời kỳ Bắc thuộc.

Tương quan lực lượng

Trung Quốc đã trở thành cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới, đang thách thức vai trò số một của Mỹ, và muốn kiểm soát toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc không chỉ là con quái vật kinh tế, mà còn là con quái vật quân sự và ý thức hệ, với tham vọng bành trướng bá quyền như đầu gấu trong khu vực. Họ đang lợi dụng chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hướng dân Trung Quốc vào “Giấc mộng Trung Hoa”, hòng che đậy những mâu thuẫn cơ bản đang đe dọa sự tồn tại của chế độ. Biển Đông chỉ là một mảnh trong ván cờ lớn của họ. Trung Quốc muốn giữ chặt Việt Nam trong cái bẫy ý thức hệ, như một nước chư hầu, không được thân với Mỹ và Phương Tây. Vì vậy, Việt Nam phải mạnh lên, để thoát khỏi cái bẫy ý thức hệ đó. Nếu không mạnh được như Israel, thì chung ta cũng phải đi theo hướng đó. Để khai thác được cái mỏ người hơn 90 triệu dân, chúng ta phải nâng cao dân trí, đổi mới thể chế kinh tế và chính trị. Việc này không thể một sớm một chiều mà cần vài thập kỷ. (Đáng tiếc là chúng ta đã đánh mất ít nhất bốn thập kỷ).

Chủ nghĩa dân tộc cực đoan.

Chủ nghĩa dân tộc luôn là động lực chính trong quan hệ quốc tế. Trong lịch sử, chủ nghĩa dân tộc Việt Nam và Trung Quốc đã chứng tỏ sức mạnh và sức sống tiềm tàng, như những đối thủ truyền kiếp. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bành trướng bá quyền là hiểm họa cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Khi chủ nghĩa dân tộc trở thành cực đoan và bá quyền, nó như con quái vật, xô đẩy các nước vào lò lửa chiến tranh. Chủ nghĩa dân tộc thường bị các chế độ độc tài thao túng để kích động lòng yêu nước và huy động dân chúng ủng hộ các tham vọng cực đoan của họ, hoặc che đậy những mâu thuẫn xã hội và xung đột nội bộ.  

Người Đức thông minh tài giỏi như vậy, nhưng cũng bị Hitler và đảng Quốc Xã cực đoan thao túng, dẫn đến thảm họa chiến tranh thế giới. Người Trung Hoa có bề dày lịch sử và văn hóa như vậy, nhưng cũng bị Mao và các phái cộng sản cực đoan thao túng, dẫn đến thảm họa Cách mạng Văn hóa. Người Khmer hiền lành như vậy, nhưng cũng bị Pol Pot và Khmer Đỏ thao túng, trở thành nạn nhân của họa diệt chủng. Nguy cơ xung đột tại Biển Đông là do chủ nghĩa dân tộc cực đoan và chủ nghĩa bành trướng bá quyền. Muốn tránh thảm họa chiến tranh và xung đột, cần phải nâng cao dân trí và dân chủ hóa.  

Dân chủ hóa  

Đối với các xã hội chuyển đổi (như Trung Quốc và Việt Nam), dân chủ hóa là quy luật tất yếu và quá trình cần thiết để xã hội phát triển. Quá trình này nhanh hay chậm tùy thuộc vào đặc điểm chính trị và xã hội của từng nước. Dân chủ hóa thường song hành với quá trình phát triển tầng lớp trung lưu và dân trí. Nó vừa là động lực để đổi mới và phát triển kinh tế, vừa là đối trọng để hạn chế chủ nghĩa cực đoan và cuồng tín. Do đặc điểm lịch sử, văn hóa phức tạp nên quan hệ Việt-Trung vừa bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bành trướng bá quyền, vừa bị trói buộc bởi ý thức hệ cộng sản cực đoan. Chỉ có dân chủ hóa và nâng cao dân trí thì Việt Nam và Trung Quốc mới có thể thoát khỏi chủ nghĩa dân tộc cực đoan và nguy cơ xung đột. Sự phát triển bùng nổ của internet và truyền thông xã hội dựa trên kỹ thuật số gần đây có vai trò rất lớn trong quá trình này, như một cuộc cách mạng truyền thông.  

Cất cánh kinh tế

Tuy Trung Quốc và Việt Nam có thể chế chính trị giống nhau (do Đảng cộng sản độc quyền lãnh đạo), nhưng kinh tế hai nước phát triển không giống nhau, làm quan hệ trở thành bất bình đẳng và lệ thuộc. Trong khi kinh tế Trung Quốc cất cánh với tốc độ tăng trưởng 2 con số trong suốt 3 thập kỷ, thì kinh tế Việt Nam không cất cánh lên được, thậm chí còn tụt hậu. Mặc dù đều độc tài và tham nhũng, nhưng Trung Quốc đã trỗi dậy mạnh mẽ và nhanh chóng theo kinh tế thị trường, trong khi Việt Nam vẫn duy trì “định hướng XHCN”, dựa vào các doanh nghiệp nhà nước tham nhũng và yếu kém làm chủ đạo, dẫn đến thua lỗ và phá sản (như Vinashin và Vinalines). Trong khi Trung Quốc vơ vét tài nguyên khoáng sản toàn cầu để nuôi con quái vật kinh tế khổng lồ, xuất khẩu hàng hóa ra khắp thế giới để tích lũy tư bản, thì Việt Nam không công nghiệp hóa và nội địa hóa sản xuất, chỉ bán rẻ tài nguyên khoáng sản lấy tiền nhập siêu hàng tiêu dùng. Đây cũng là một bi kịch quốc gia. Nếu không thay đổi cơ bản về thể chế kinh tế và chính trị, để hội nhập vào thị trường thế giới, thì Việt Nam khó tránh khỏi lệ thuộc vào Trung Quốc và mất chủ quyền tại Biển Đông.  

Đối tác chiến lược. 

Muốn đối phó với một láng giềng lớn chuyên bắt nạt (như Trung Quốc), Việt Nam phải liên kết với đối tác chiến lược mạnh hơn (như Mỹ) làm đối trọng và răn đe. Đó là quy luật tất yếu ai cũng biết, nhưng vận dụng như thế nào là một chuyện khác. Có nhiều bài học lịch sử. Ví dụ, không nên dựa hẳn vào bên này để chống bên kia, gây thù chuốc oán, như trước đây Việt Nam đã dựa hẳn vào Trung Quốc để chống Mỹ, rồi sau này lại dựa hẳn vào Liên Xô để chống Trung Quốc. Nhưng cũng không nên có quan hệ đối tác chiến lược với quá nhiều nước, mà chẳng nước nào có khả năng đương đầu với Trung Quốc để bênh vực Việt Nam. Nó giống như câu thành ngữ “lắm mối tối nằm không”. Việc giữ cân bằng quan hệ với Trung Quốc và Mỹ bằng cách đi trên dây không phải là một chiến lược lâu dài. Càng không phải là một cái cớ để trì hoãn quan hệ đối tác chiến lược sống còn với Mỹ khi Trung Quốc đã lộ rõ bộ mặt thật là mối đe dọa chung đối với khu vực. Không nên nhầm lẫn mục tiêu chiến lược với phương tiện chiến thuật. Nếu không có quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ và gia nhập TPP, Việt Nam dễ bị Trung Quốc bắt nạt và đô hộ. Muốn có quan hệ đối tác chiến lược hiệu quả, trước hết người Việt Nam phải đoàn kết và tự cường mạnh lên, để các đối tác tôn trọng và tin cậy. Quan hệ đối tác chiến lược sẽ trở thành vô nghĩa nếu không dựa trên tầm nhìn chiến lược và lòng tin chiến lược.     

NQD

6/2015

Tham Khảo

  1. “Hitting China’s Wall”, Paul Krugman, the New York Times, July 18, 2013
  2. “Pivot 2.0”, A Report of the CSIS Asia Program, CSIS, Jan 2015
  3. “The Coming Chinese Crackup”, David Shambaugh, the Wall Street Journal, March 6, 2015.
  4. “Revising US Grand Strategy Toward China”, Robert Blackwill & Ashley Tellis, Special Report, Council o­n Foreign Relations Press, April 2015
  5.  “The Future of US-China Relations under Xi Jinping”, Kevin Rudd, Summary Report, Belfer Center, Harvard Kennedy School, April 2015,
  6. “A Tipping Point in US-China Relations is upon us”, David Lampton, speech at the Carter Center conference, May 6-7, 2015
  7. “Retaining America’s balance in the Asia-Pacific: Countering China’s Coercion in South East Asia”, Patrick Cronin, Crongressioanl Testimony, May 13, 2015
  8. “China’s Place in US Foreign Policy”, Karl Eikenberry, the American Interest, June 9, 2015
  9. “Can China Be Contained”, Andrew Browne, the Wall Street Journal, June 12, 2015

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 23-6-15

Vô trách nhiệm và vô cảm

Nguy cơ mà Việt Nam đang đối diện, trong đó có cả nguy cơ mất nước, nhưng hầu như ai cũng chỉ thở dài ngao ngán: Trung Quốc bây giờ mạnh quá, làm sao chống lại được? Rồi thôi. Người ta xem đó như những chuyện không thể tránh khỏi. Và vì không thể tránh khỏi, chúng cũng không còn là vấn đề nữa. Sau đó, người ta an tâm tập trung hết tâm trí vào việc kiếm sống. Chuyện nước non như thuộc về ai khác”.

Nguyễn Hưng Quốc

25-06-2015

Xã hội Việt Nam hiện nay có nhiều khuyết tật, nhưng hai khuyết tật chính, theo tôi, có ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng nhất đối với sự phát triển của đất nước là: Một, sự vô trách nhiệm của các cán bộ, kể cả các cán bộ lãnh đạo; và hai, sự vô cảm của dân chúng, kể cả các thành phần trí thức.

Đã có nhiều người viết và nói về sự vô cảm của dân chúng. Nói một cách tóm tắt, sự vô cảm ấy có ba biểu hiện chính.

Thứ nhất, vô cảm trước những đau khổ của người khác. Đã đành ở Việt Nam vẫn có những người quan tâm đến dân oan, đến những người bệnh tật và nghèo khổ trong xã hội. Nhưng rõ ràng đó chỉ là thiểu số, một thiểu số cực kỳ ít ỏi. Còn đại đa số thì vẫn dửng dưng. Tai nạn xảy ra ngoài đường: người ta dửng dưng. Vô số người không có đủ cơm ăn, áo mặc: người ta dửng dưng. Bao nhiêu người bị chà đạp: người ta dửng dưng. Hình ảnh tiêu biểu nhất cho loại dửng dưng này là các youtube ghi hình ảnh một số học sinh bị bạn bè đánh đập một cách tàn nhẫn: Tất cả những người chung quanh đều yên lặng đứng nhìn, không có chút nỗ lực can thiệp hay thậm chí, cũng không bày tỏ một thái độ nào cả. Họ nhìn một cách hờ hững như không có chuyện bất bình thường nào đang xảy ra ngay trước mắt mình cả.

Thứ hai, vô cảm các các tệ nạn trong xã hội. Ai cũng biết xã hội Việt Nam đầy những tệ nạn. Tệ nạn từ trong nhà đến trường học và ngoài xã hội. Tuy nhiên số người thực sự quan tâm rất ít. Thấy kết quả điều tra của quốc tế về chất lượng sống, ở đó, Việt Nam bị xếp vào dưới đáy cùng của thế giới, thậm chí, còn thua cả Campuchia và Lào, cũng không có mấy người động lòng. Mỗi người hầu như chỉ nhìn vào sự thành công hay thất bại của bản thân mình, còn tệ nạn xã hội nói chung là thuộc về trách nhiệm của những ai khác.

Thứ ba, vô cảm trước tình hình của đất nước. Ở đây lại có nhiều khía cạnh. Kinh tế Việt Nam càng lúc càng sa lầy trong nợ nần: người ta mặc kệ. Giáo dục Việt Nam càng ngày càng xuống dốc: người ta mặc kệ. Văn hoá càng lúc càng suy thoái: người ta mặc kệ. Đạo đức càng ngày càng suy đồi: người ta mặc kệ. Quan trọng nhất, Việt Nam càng ngày càng đối diện với nguy cơ bị Trung Quốc xâm lược: người ta cũng mặc kệ. Tất cả những thái độ mặc kệ ấy có một cái tên chung: sợ chính trị. Ai cũng né tránh chính trị. Người ta phó thác chuyện chính trị, từ đối nội đến đối ngoại, cho chính phủ và đảng cầm quyền. Người ta thừa biết chính phủ và đảng cầm quyền cũng đang bế tắc, không tìm ra một phương hướng hay sách lược nào để giải quyết cả, người ta vẫn bất chấp.

Tôi có khá nhiều bạn bè thuộc giới trí thức trong nước. Hỏi chuyện, ai cũng biết tất cả những nguy cơ mà Việt Nam đang đối diện, trong đó có cả nguy cơ mất nước, nhưng hầu như ai cũng chỉ thở dài ngao ngán: Trung Quốc bây giờ mạnh quá, làm sao chống lại được? Rồi thôi. Người ta xem đó như những chuyện không thể tránh khỏi. Và vì không thể tránh khỏi, chúng cũng không còn là vấn đề nữa. Sau đó, người ta an tâm tập trung hết tâm trí vào việc kiếm sống. Chuyện nước non như thuộc về ai khác.

Dân chúng như thế, còn cán bộ, kể cả cán bộ lãnh đạo thì sao? Thì ở đâu cũng thấy một điều: Vô trách nhiệm.

Biển hiện đầu tiên của tinh thần vô trách nhiệm ấy được nhìn thấy trong công việc làm hàng ngày của họ. Ví dụ gần đây nhất là những chuyện liên quan đến cây xanh ở Hà Nội. Thành phố chủ trương chặt hơn 7000 cây xanh mà không hề nghiên cứu cẩn thận những cây nào là đáng chặt. Đến lúc dân chúng phản đối kịch liệt, người ta mới dừng lại. Sau đó, trồng cây thế. Hứa trồng cây vàng tâm nhưng thực tế lại trồng cây mỡ, một loại cây rẻ tiền hơn. Cũng chưa hết. Sau trận dông lốc vừa rồi làm hàng ngàn cây bị bứng gốc đổ nhào, người dân mới phát hiện rễ những cây mới trồng còn để nguyên cả bao ny lông chung quanh. Đến lúc dân chúng tố cáo, người ta mới lén lút để cào đất và cắt các bao ny lông ấy ra. Tất cả diễn tiến chặt cây rồi trồng cây ấy cho thấy điều gì? – Sự vô trách nhiệm. Không phải chỉ những người thợ chặt cây hay trồng cây vô trách nhiệm mà cả giới lãnh đạo của họ, thậm chí, lãnh đạo của cả thành phố cũng vô trách nhiệm.

Những hành động vô trách nhiệm ấy xuất hiện ở khắp nơi: xây đường thì chỉ vài tháng, hay có khi, vài tuần là bị sụp lún. Trồng trụ điện thì không có cốt sắt nên cứ gặp gió lớn là bị đổ. Dây điện treo lằng nhằng và lòng thòng ngay trên đầu dân chúng cũng không ai để ý.

Nhưng nguy hiểm nhất là thái độ vô trách nhiệm đối với đất nước. Trong cái gọi là đất nước ấy, khía cạnh quan trọng nhất là độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ; trong khía cạnh ấy, yếu tố nòng cốt là các hiểm hoạ đến từ Trung Quốc. Chỉ nêu các sự kiện gần đây nhất làm ví dụ. Đó là việc Trung Quốc cho bồi đắp các bãi đá ngầm hoặc rạn san hô làm đảo nhân tạo. Việt Nam phản ứng ra sao? Cũng chỉ là những lời phản đối lấy lệ của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao. Ngay trên diễn đàn cuộc đối thoại Shangri-la ở Singapore vừa rồi, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh cũng không tham dự. Chỉ có Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh hiện diện. Nhưng ông Vịnh cũng không phát biểu gì cả. Ông chỉ làm một việc như ông tự nhận là “lắng nghe”. Như những diễn biến mới nhất liên quan đến cuộc tranh chấp ở Biển Đông là thuộc trách nhiệm của ai khác.

Theo dõi tin tức từ báo chí những tháng gần đây, người ta thấy rõ quốc gia có phản ứng gay gắt nhất trước hành động xây đảo nhân tạo ở Trường Sa chính là Mỹ. Cho máy bay vờn qua vờn lại chung quanh các hòn đảo nhân tạo ấy là Mỹ. Tố cáo và phản đối âm mưu xây đảo nhân tạo ấy của Trung Quốc cũng là Mỹ. Vận động dư luận thế giới, đặc biệt các quốc gia thuộc nhóm G7, để mọi người thấy rõ âm mưu của Trung Quốc cũng lại là Mỹ. Việt Nam, từ trước đến sau, giữ một sự im lặng rất khó hiểu.

Dường như nhà cầm quyền Việt Nam xem chuyện mang Trung Quốc ra các toà án quốc tế là trách nhiệm của Philippines và lên án các hành động xây dựng đảo nhân đạo trái phép ở Trường Sa là nhiệm vụ của Mỹ. Giới chức Việt Nam thì chỉ khoanh tay đứng nhìn.

Khoanh tay thật ra cũng là một hình thức bó tay.

Bó tay ngay cả trước khi nỗ lực làm một cái gì đó là một sự bó tay rất vô trách nhiệm.
Tin nóng : Vụ Bưu điện Cầu Voi - Hung thủ là cháu Trương Mỹ Hoa.
TIN NÓNG: Vì sao vụ án Hồ Duy Hải ở Long An: thêm một trận thua của truyền thông.
Tin nóng : Vụ Bưu điện Cầu Voi - Hung thủ là cháu Trương Mỹ Hoa.

 (Huỳnh Bá Hải) …Khi đụng đến bức tường cấm của Bộ Chính trị thì 100 hay 1000 tờ báo hay cho dù có 1 vạn người như Luật sư Trần Văn Tạo cũng sẽ thất bại chứ xá gì một gia đình liệt sĩ như bà Nguyễn Thị Loan mẹ tử tù Hồ Duy Hải…
Trên trang Facebook của chị Thủy Cúc, cựu phóng viên báo Tuổi Trẻ đang đếm lùi thời hạn cho ngày sống còn của tử tù Hồ Duy Hải. Liệu lần này áp lực truyền thông có cứu được mạng sống cho anh thanh niên này?
Chúng ta trở lại Long An với vụ nhà báo Hoàng Hùng bị sát hại vì dám viết bài chống tiêu cực vào năm 2011. Sau những vụ án các nhà báo Nguyễn Văn Hải của Tuổi Trẻ, Nguyễn Việt Chiến của Thanh Niên bị bắt vì chống tiêu cực thì vụ án của nhà báo Hoàng Hùng là cơ hội cho báo chí lê đảng phục thù. Nhưng rồi thêm một trận thua đau tức tưởi cho làng báo. Cái đau đớn nhục nhã không chỉ dành cho Báo Người Lao động mà là một tang thương ê chề cho cả làng báo trong và ngoài ngoài nước. Các phiên tòa xét xử bà Liễu vợ cố nhà báo Hoàng Hùng diễn ra tại Long An như những tấn tuồng tấu hài. Tình nhân bà Liễu là ông Nguyễn Văn Tâm, một cán bộ Quản Lý thị trường của tỉnh Long An được cho là vô can trong cái chết của nhà báo Hoàng Hùng.

Giới nghiên cứu luật pháp và truyền thông của Việt Nam đang ngỡ ngàng bởi các quyết định của Tòa án tỉnh Long An về việc sát hại nhà báo Hoàng Hùng thì thêm một việc chấn động lần đầu tiên xảy ra trong ngành tố tụng Việt Nam : Tòa án tỉnh Long An trích xuất dẫn độ bà Liễu từ trong tù để tham gia vụ kiện dân sự đòi nợ của ông Nguyễn Văn Tâm dành cho bà Liễu.
Nhân thân của ông Nguyễn Văn Tâm là ai có quyền trên cả sự thật khách quan và pháp luật tại Việt Nam đang hiện hành?
Nguyễn Văn Tâm, cán bộ quản lý thị trường tỉnh Long An, là con trai của một cựu chủ tịch tỉnh Long An vừa mới về hưu trước đó.
Chỉ là con trai của một vị cựu chủ tịch, trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội khóa X, mà ông Nguyễn Văn Tâm được cho là vô tội trong vụ án sát hại nhà báo Hoàng Hùng dù chứng cứ rành rành trong các tin nhắn hay thư từ trao đổi giữa ông Tâm và bà Liễu. Rồi ông Tâm còn yêu cầu trích xuất bà Liễu từ trong tù ra tham gia vụ kiện đòi nợ của ông.
Quay trở lại vụ án được cho là oan khiên chấn động hiện này: tử tù Hồ Duy Hải đang bị đếm lùi ngày chờ chết. Anh ta lẽ ra bị tiêm thuốc ngày 5/12/2014 vừa qua, nhưng nhờ dư luận lên tiếng nên thi hành án hình sự tỉnh Long An gia ân cho 30 ngày để báo chí cung cấp những tình tiết mới cho Viện kiểm sát tối cao và Tòa án tối cao để xem xét.
Ngày 13/1/2008 hai nhân viên bưu điện Cầu Voi ở Long An bị sát hại. Sau đó nghi can Hồ Duy Hải bị bắt và kết án tử hình vì bị kết án sát hại 2 nhân viên bưu điện này. Có nhiều tình tiết cho thấy quá trình điều tra vi phạm tố tụng : nạn nhận ra tòa khai bị ép cung, bị dùng nhục hình ép nhận tôi, từ chối luật sư, kết quả khám nghiệm hiện trường không khớp dấu vân tay bị cáo, các nhân chứng, vật chứng bị cho là ngụy tạo. Gia đình kêu oan suốt 6 năm trời. Khi truyền thông Chúa Cứu Thế vào cuộc cùng với mạng xã hội Facebook làm cho vụ án được quan tâm.

Người có công thổi vụ án này lên báo lề đảng là luật sư Trần Văn Tạo, nguyên Phó giám đốc công an thành phố. Cái kích ban đầu này sẽ có hiệu quả hơn nếu ở trên trung ương mà cụ thể là trong Bộ chính trị hiện nay có một người chịu là " bà đỡ " cho vụ án. Vì ở Việt Nam không vụ án nào có hiệu quả khi không có 1 người trong Bộ Chính trị bật đèn cho đi tiếp. Truyền thông cũng bị cấm đề cập đến chứ nói chi là vụ án được xem xét thấu đáo.
Lần theo dấu vết về các quan hệ tình cảm của hai nạn nhân bị sát hại năm 2008 thì các phóng viên của một tờ báo công an trong nước cho biết là thủ phạm chính là cháu của một cựu Phó Chủ tịch nước. Thực chất là một vụ án tình. Hồ Duy Hải chỉ là vật tế thần. Y hệt bản chất trong vụ người đàn ông bị sát hại trong xe Lexus ở Hà Nội. Thủ phạm giết người là cháu nội của Nông đức Mạnh còn cô sinh viên Vũ Kim Anh chỉ là vật tế thần. Toàn bộ vụ án năm xưa được Dân Làm Báo phanh phui thì ngay sau đó trang Dân Làm Báo bị hacker trong nước đánh sập.
Một phóng viên của báo công an trong nước quá uất ức khi biết rõ bản chất vụ án Hồ Duy Hải bị oan lên facebook thở than. Ngay lập tức phóng viên này bị đe dọa và BBT của tờ báo dọa sẽ kỷ luật. Báo chí chỉ là công cụ thì làm sao mà thắng được ông chủ sử dụng thành thạo cái công cụ đó.

Thời hạn 30 ngày cho tử tù Hồ Duy Hải sắp hết. Khi đụng đến bức tường cấm của Bộ Chính trị thì 100 hay 1000 tờ báo hay cho dù có 1 vạn người như Luật sư Trần Văn Tạo cũng sẽ thất bại chứ xá gì một gia đình liệt sĩ như bà Nguyễn Thị Loan mẹ tử tù Hồ Duy Hải.
Anh nhà báo Hoàng Hùng của báo Người Lao động cũng con liệt sĩ đấy. Nhưng vụ án của anh chỉ gặp con của cán bộ tỉnh về hưu mà báo chí còn thua thì xá gì thủ phạm là cháu của cựu Phó chủ tich nước lại có họ hàng với ông bác đang làm chủ tịch nước hiện nay. Thêm một nén nhang tang thương nữa cho trận thua nhục nhã tiếp theo của báo lề đảng trong nước.
Huỳnh Bá Hải



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Tin tức thế giời mới nhât song ngữ Việt Anh để học sinh ngữ [Đã đọc: 364 lần]
Kiều bào phát triển quê hương [Đã đọc: 358 lần]
Làm Giàu Bằng Đầu Tư Chứng Khoán [Đã đọc: 349 lần]
Siêu đô thị Đà Nẵng mở rộng, siêu đầu tư địa ốc làm giàu [Đã đọc: 342 lần]
Một châu Âu đứng trước ngã ba lịch sử [Đã đọc: 329 lần]
Cách mạng chiếc đòn gánh của phụ nữ VN [Đã đọc: 291 lần]
“NHỮNG NGƯỜI CUỐI CÙNG CÒN GIỮ LẠI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN”** [Đã đọc: 289 lần]
Nghệ Thuật Làm Giàu Của Người Việt Hải Ngoại - “The Art of Wealth for Overseas Vietnamese”. [Đã đọc: 281 lần]
Làm thế nào đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa từ Trung Cộng [Đã đọc: 279 lần]
Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ [Đã đọc: 271 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.